1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đô thị hoá tới phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam

13 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 225,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó tốc độ đô thị hoá nhanh cùng với việc gia tăng dân số đô thị đang gây một áp lực rất lớn đến môi trường đô thị đó là: tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm tiến

Trang 1

Đô thị hoá và phát triển đô thị trên thế giới và khu vực là một động lực quan trọng góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội của một đất nước.Đặc biệt nó có ý nghĩa to lớn trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ

Ở Việt Nam, quá trình đô thị hoá đang phát triển rất nhanh và lan rộng trên phạm vi cả nước Đô thị hoá không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần tích cực trong việc cải thiện đời sống dân cư đô thị và các vùng lân cận Bên cạnh đó tốc độ đô thị hoá nhanh cùng với việc gia tăng dân số đô thị đang gây một áp lực rất lớn đến môi trường đô thị đó là: tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm tiếng ồn, chất thải… đang là mối quan tâm của mỗi quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển có tỷ lệ đô thị hoá cao Nếu không có những giải pháp nhằm bảo vệ môi trường thì đô thị

sẽ không thế phát triển bền vững, đi ngược lại với mục tiêu phát triển bền vững mà Chính Phủ mỗi quốc gia đã cam kết

Vấn đề cấp thiết đặt ra là việc nghiên cứu quá trình đô thị hoá và những tác động của nó đến môi trường để tìm ra những giải pháp thích hợp mà trong

đó việc xây dựng các đô thị được tiến hành một cách toàn diện, cân đối và vững chắc trên cơ sở phát triển kinh tế, duy trì và phát huy những hiểu biết về văn hoá, xã hội, có ý thức tiết kiệm và việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và

có thái độ đúng đắn hữu hiệu với công tác quản lý và bảo vệ môi trường

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên Đề tài “Tác động của đô thị hoá tới phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam” với mong muốn giúp cho các nhà quản lý đô thị, các chuyên gia thiết kế đô thị có một cái nhìn tổng quan trong việc lựa chọn mô hình phát triển đô thị mà ở đó giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường

Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận được trình bày thành ba chương:

Trang 2

Chương I: Cơ sở lý luận về Đô thị hoá và tác động của Đô thị hoá tới phát triển bền vững về môi trường

Chương II: Tác động của Đô thị hoá tới phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam

Chương III: Giải pháp nhằm thực hiện Đô thị hoá gắn với phát triển bền vững

về môi trường ở Việt Nam trong thời gian tới

Tại chương I, với mục đích nghiên cứu về Đô thị hoá và Tác động của đô thị hóa đến môi trường tác giả đã tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề sau:

- Khái niệm đô thị hoá: theo quan điểm của tác giả đó là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ nông thôn sang thành thị tạo nên những trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của khu vực Đô thị hoá có những đặc điểm sau:

+ Đô thị hoá phản ánh quá trình chuyển dịch các hoạt động nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp và tập trung trên một địa bàn thích hợp hình thành nên những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của các tụ điểm dân cư, các vùng, miền quốc gia;

+ Tạo ra cơ hội gia tăng qui mô dân số tại các đô thị lớn Đây được coi là một trong số các nguồn lực đầy tiềm năng để tạo ra hiệu quả kinh tế cao đô thị

+ Đô thị hoá đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế đô thị, dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nâng cao mức sống cho người dân đô thị góp phần tích cực trong việc tạo ra ảnh hưởng lan toả đối với tăng trưởng kinh tế cuả các vùng kinh tế trọng điểm cũng như của cả đất nước

Trang 3

+ Bên cạnh đó Đô thị hoá cũng gây ra áp lực quá tải cho hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, gia tăng sức ép về nhà ở, ô nhiễm môi trường đô thị, nguy cơ dẫn đến phát triển đô thị không bền vững cũng như sự suy giảm chất lượng môi trường sống

- Đô thị hoá khu vực và trên thế giới là một xu thế tất yếu của lịch sử, việc xuất hiện nhiều những thành phố lớn trên thế giới đã đóng góp to lớn cho tổng thu nhập quốc dân, nâng cao mức sống của người dân thành thị, … tuy nhiên vấn đề phát triển các thành phố lớn cũng đang là nguy cơ gây mất cân đối môi trường sinh thái như: vấn đề nhà ở, hệ thống giao thông đô thị, vấn đề

ô nhiễm không khí, thiếu nước sạch… đang là vấn đề được rất nhiều quốc gia quan tâm

- Một số vấn đề về phát triển bền vững trong quá trình đô thị hoá, những tiêu chí cụ thể trong cân đối môi trường đô thị đó là:

+ Hoạch định phân bố các khu-cụm công nghiệp cho các loại đô thị khác nhau Xác định tiêu chuẩn và tổ chức cách li giữa khu công nghiệp và khu dân

+ Các tiêu chuẩn về môi trường cho các khu đô thị, giải pháp cải thiện môi trường cho người có thu nhập thấp

+ Bố trí phối kết hợp với tổ chức hạ tầng xã hội, đặc biệt là dịch vụ nghỉ ngơi - giải trí với phát triển cây xanh - mặt nước đô thị Tiêu chuẩn cây xanh m2/người theo qui mô đô thị và đặc điểm khí hậu từng vùng

+ Tổ chức qui hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ giữa diện rộng theo vùng trong phạm vi đô thị Có giải pháp hợp lý trong quá trình xây dựng, sử dụng, di tu bảo dưỡng giữa các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác nhau, sử dụng hợp lý các tiêu chuẩn hạ tầng kỹ thuật tính theo đầu người cho các loại đô thị

về đường xá, cấp điện, cấp nước

Trang 4

- Đô thị hoá và phát triển đô thị tác động đến phát triển bền vững về môi trường được thể hiện ở các nội dung sau:

+ Cây xanh và cảnh quan đô thị: Cây xanh có rất nhiều tác dụng như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm không khí, thu hút và ngăn cản sự lây lan của bụi

ô nhiễm, giảm thiểu tiếng ồn Tuy nhiên trong quá trình đô thị hoá nhanh làm cho bộ khung bảo vệ môi trường không được qui hoạch, tỷ lệ diện tích cây xanh/ đầu người ở mức thấp… làm cho môi trường đô thị ngày càng trở nên ngột ngạt hơn, ô nhiễm hơn

+ Vấn đề dân cư và môi trường đô thị: Gia tăng dân số là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hoá Đô thị hoá làm cho tỷ lệ dịch cư vào đô thị không kiểm soát nổi dẫn đến đô thị đã quá tải càng trở nên quá tải về hạ tầng kỹ thuật, môi trường xuống cấp ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân đô thị Vấn đề chôn cất tại các khu đô thị cũng làm ô nhiễm nguồn nước tại các khu nghĩa trang ven đô

+ Vấn đề ô nhiễm nguồn nước trong quá trình đô thị hoá cũng trở nên hết sức nghiêm trọng Các dòng xả nước thải gây ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, gây ô nhiễm đất Vấn đề nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt đang không qua xử lý đang là vấn đề nhức nhối trong công tác quản lý bảo vệ môi trường đô thị Đây cũng là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường

+ Vấn đề ô nhiễm không khí: Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm không khí tại các đô thị Tốc độ đô thị hoá cao dẫn đến sự gia tăng các hoạt động công nghiệp, xây dựng, gia tăng dân số tại các đô thị, quản lý giao thông bất cập… nguyên nhân được coi là thủ phạm chính của ô nhiễm không khí và các rủi ro về sức khoẻ tại các đô thị đó là khí thải từ các phương tiện giao thông cơ giới Các chất gây ô nhiễm không khí tác động đến sức khoẻ con người đó là: SO2, CO, NO2

Trang 5

+ Ô nhiễm tiếng ồn đô thị: Nguyên nhân chính của hiện tượng này chính là hoạt động giao thông vận tải Ô nhiễm tiếng ồn tỷ lệ thuận với sự phát triển

đô thị, các đô thị càng phát triển mức độ ô nhiễm tiếng ồn ngày càng cao vì

âm thanh và tiếng ồn đô thị gắn chặt với hoạt động sống của đô thị Tiếng ồn

có tác động xấu đến sức khoẻ con người và hạ thấp chất lượng cuộc sống của

xã hội

+ Chất thải rắn và chất thải nguy hại: Trong quá trình đô thị hoá, cùng với mối lo về ô nhiễm môi trường thì chất thải đang là mối lo trực tiếp Hàng ngày các đô thị lớn có hàng trăm tấn chất thải rắn từ các nhà máy, xí nghiệp, công trường, bệnh viện, rác thải sinh hoạt thải ra môi trường nhưng việc thu gom và xử lý luôn trong tình trạng quá tải đã làm cho ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng hơn Chúng không những làm ô nhiễm môi trường không khí mà còn làm ô nhiễm cả môi trường nước xung quanh

- Kinh nghiệm của nước ngoài trong việc giải quyết vấn đề môi trường trong quá trình đô thị hoá:

+ Kinh nghiệm của Singapore trong việc giải quyết vấn đề môi trường trong quá trình đô thị hoá bằng cách Hội đồng phát triển nhà ở (HDB) đã xây dựng những ý tưởng phát triển qui hoạch tập trung vào các vấn đề như Làm thông thoáng khu trung tâm vùng nội đô, xác định ảnh hưởng của qui hoạch thông qua quá trình phát triển các khu đô thị và thực hiện bảo vệ môi trường nhờ vào các vành đai xanh xung quanh thành phố;

+ Kinh nghiệm của Úc trong xây dựng đô thị sinh tháivới các đặc điểm là Bảo tồn nước và năng lượng, Tái sử dụng và tái sinh vật liệu; Tạo ra các không gian công cộng thân thiện có lợi cho sức khoẻ con người

Tại chương II, với mục đích tìm hiểu thực trạng của quá trình đô thị hoá và tác động của đô thị hoá tới phát triển bền vững về môi trường ở Việt nam trong thời gian qua Tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

Trang 6

- Thực trạng phát triển đô thị ở Việt nam trong thời gian qua: đó là việc các đô thị ở nước ta tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, tạo nên một khối xây dựng gấp hàng chục lần trước đây Hàng loạt các khu đô thị mới được hình thành trở thành những nhân tố tích cực và chủ yếu của quá trình phát triển hệ thống đô thị nói riêng và phát triển kinh tế nói chung Cho đến nay cả nước có 708 đô thị các loại Các đô thị đã đảm nhiệm được vai trò là trung tâm phát triển công nghệ, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…

- Đánh giá chung quá trình đô thị hoá ở Việt Nam thời gian qua gồm các nội dung sau:

+ Động lực về cơ sở kinh tế kỹ thuật phát triển đô thị chưa thật mạnh mẽ, nhất là đối với các đô thị loại thấp III, IV và V;

+ Quĩ đất xây dựng được khai thác từ đất nông nghiệp là nguy cơ tiềm ẩn

về an ninh lương thực quốc gia trong tương lai;

+ Sự phân bố không gian đô thị hoá đã tạo ra khoảng cách chênh lệch ngày càng lớn giữa khu vực đô thị và nông thôn

+ Quá trình đô thị hoá và qui hoạch xây dựng đô thị chưa phản ánh sâu sắc bản chất văn hoá dân tộc trong không gian quy hoạch và kiến trúc đô thị

+ Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển vừa yếu, vừa thiếu, chưa thực đồng bộ nên chưa tạo được bộ khung để phát triển đô thị bền vững

- Thực trạng tác động của Đô thị hoá tác động đến phát triển bền vững về môi trường ở Việt Nam thời gian qua được đánh giá như sau:

Trước những thách thức về môi trường trong quá trình phát triển mà đặc biệt

là trong quá trình đô thị hoá Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường phát triển bền vững đô thị như các biện pháp xử lý khí thải, tiếng ồn của giao thông; các giải pháp thoát nước, cải tạo kênh rạch

và xử lý nước thải sinh hoạt đô thi; các biện pháp quản lý chất thải rắn và chất

Trang 7

thải nguy hại thông qua các chương trình dự án Tuy nhiên kết quả mang lại không được như mong muốn đó là:

+ Vấn đề cây xanh và mặt nước đô thị: Ở các đô thị hiện nay, chỉ tiêu đất trồng cây xanh quá thấp, trung bình mới chỉ đạt 0.5m2/người Các đô thị tuy đã chý ý trồng cây xanh dọc các đường phố nhưng chưa có sự chọn lọc cây đẹp, cây đặc trưng cho từng vùng; trồng cây xong ít chăm sóc, bảo vệ nên

ít hiệu quả làm đẹp cảnh quan đô thị, các khu công nghiệp, đường giao thông liên tỉnh đều không có khoảng cây xanh cách ly

+ Các khu nhà ổ chuột và khu nghèo đô thị: Khu nhà ổ chuột, khu nhà sống trên kênh rạch đô thị… vẫn còn tồn tại nhiều, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh, và Hà Nội Đây là các khu dân cư hình thành và phát triển một cách tự phát, không theo định hướng phát triển đô thị, không hợp pháp Đa phần các khu dân cư ở đây có điều kiện nhà ở rất kém, diện tích ở chỉ 2-4m2/người, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thấp kém dẫn đến môi trường đều bị ô nhiễm, nhất là hệ thống các kênh, mương bị ô nhiễm nặng nề

+ Về cấp nước đô thị: Hiện tại trên toàn quốc mới chỉ có 190 nhà máy

xử lý nước với tổng công suất 2.6trm3/ngđ, phần lớn được xây dựng từ những năm 60 trở lại đây với công nghệ cũ kỹ, lạc hậu, mạng lưới đường ống cũ nát dẫn đến tình trạng người dân không được cấp nước sạch lớn, tỷ lệ thất thoát cao Trừ một vài nhà máy nước mới được xây dựng với vốn tài trợ quốc tế có dây chuyền công nghệ hiện đại còn lại đa phần nước cấp từ các nhà máy không đảm bảo vệ sinh, nhiều chỉ tiêu lý hoá, vi sinh không đạt tiêu chuẩn nước sạch, thậm chí một số nơi nước được bơm trực tiếp từ giếng khoan, sông, hồ chưa qua xử lý cho dân xử dụng đây là những nguyên nhân gây nên bệnh tật từ cấp nước sinh hoạt

+ Về thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị: Hệ thống thoát nước ở các đô thị hiện nay đều là hệ thống chung cho cả thoát nước mưa, nước thải

Trang 8

sinh hoạt và nước thải công nghiệp; hầu hết các đô thị chưa có trạm sử lý nước thải tập trung Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước đô thị Các dự án thoát nước ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ cơ bản giải quyết vấn đề ngập úng của thành phố Nói chung nước thải hiện nay vẫn chưa được xử lý, nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nước cao như chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, kim loại nặng… nước mặt có màu đen hôi thối Hàm lượng chất BOD5 trong nước thường lớn hơn trị số cho phép đối với nguồn nước mặt loại B từ 2-8 lần, Hàm lượng COD cao hơn trị số cho phép từ 2.3-11.4 lần Nước các sông, kênh, rạch không những bị ô nhiễm nặng các chất ô nhiễm hữu cơ mà còn ô nhiễm váng

mỡ, kim loại nặng…

+ Về thu gom, vận chuyển, xử lý và quản lý chất thải rắn đô thị: Hiện nay tỷ lệ thu gom mới chỉ đạt khoảng 50% tổng lượng chất thải Ở các thành phố tỷ lệ thu gom chất thải rắn giao động từ 40-70%, ở nhiều thị xã tỷ lệ thu gom chất thải rắn trung bình chỉ đạt từ 20-40% thậm chí ở một số thị xã và thị trấn chưa có tổ chức thu gom chất thải rắn và chưa có bãi đổ rác chung đô thị Biện pháp xử lý chất thải rắn đô thị hiện nay chủ yếu là chôn lấp, nhưng chưa

có bãi chôn lấp chất thải rắn đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Trong một vài năm gần đây có những dự án xử lý chất thải rắn và vệ sinh môi trường đã được triển khai xây dựng ở các địa phương nhưng chủ yếu mới tập trung ở các thành phố lớn Nói chung đa số các tỉnh, thành phố chưa có qui hoạch xử

lý chất thải; chưa có biện pháp công nghệ và thiết bị phù hợp để xử lý chất thải độc hại do các xí nghiệp và các bệnh viện thải ra Việc thải bỏ một cách bừa bãi các chất thải không hợp vệ sinh ở các đô thị và khu công nghiệp là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, làm nảy sinh các bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người

Trang 9

+ Về ô nhiễm môi trường không khí đô thị: Hầu hết các đô thị đều bị ô nhiễm bụi; nhiều đô thị bị ô nhiễm trầm trọng, tới mức báo động Ô nhiễm không khí ở các đô thị đều do các hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải và hoạt động xây dựng gây ra Nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần các đường giao thông đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1.5-3 lần Nồng độ bụi ở các thành phố, thị xã lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép từ 1.2-2 lần Nồng độ các khí độc SO2, NO2, và CO tại các thành phố đều thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép, chưa bị ô nhiễm khí độc hại Tuy vậy ở một số khu dân cư gần các khu công nghiệp vượt trị số tiêu chuẩn cho phép từ 1.7 đến 4 lần Ô nhiễm chì trong không khí đô thị chủ yếu

do các phương tiện giao thông cơ giới gây ra

+ Về tiếng ồn, giao thông đô thị là nguồn chính gây ra ô nhiễm tiếng ồn

đô thị Mức ồn giao thông ở các đô thị Việt Nam còn nhỏ hơn so với các đô thị nước ngoài So sánh với tiêu chuẩn Việt Nam, phần lớn các đô thị nước ta

có mức ồn ban đêm đều dưới hoặc xấp xỉ 70dBA Mức ồn cực đại ở cạnh đường phố biến thiên từ 94-104dBA

+ Công tác quản lý và xây dựng đô thị tuy đã được quan tâm, chỉ đạo

và quán triệt đến các cấp hành chính đô thị nhưng vẫn đang có nhiều tồn tại điều này ảnh hưởng nhiều đến yêu cầu phát triển đô thị vừa hiện đại vừa đảm bảo được môi trường sinh thái trong quá trình phát triển bền vững Hiện trạng phát triển đô thị lộn xộn, vi phạm trong khâu qui hoạch, coi thường pháp luật xây dựng … còn đang khá phổ biến nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn Kiến trúc đô thị phát triển chưa có định hướng, tồn tại lịch sử trong quản lý nhà đất đô thị chậm được giải quyết Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nhiễm môi trường đô thị

Tóm lại: Các áp lực nêu trên do quá trình đô thị hoá đem lại đã vượt quá khả năng “Dung nạp” của môi trường và tài nguyên thiên nhiên, vượt quá khả

Trang 10

năng “đáp ứng” của môi trường đô thị, dẫn đến môi trường đô thị ngày càng

bị ô nhiễm, khi đó sự phát triển đô thị sẽ không bền vững Vấn đề đặt ra là cần phải có giải pháp hạn chế tác động của môi trường trong quá trình đô thị hoá trong thời gian tới Mục này sẽ được đề cập ở chương III

Chương III:Giải pháp nhằm thực hiện Đô thị hoá gắn với phát triển bền vững

về môi trường ở Việt Nam trong thời gian tới Phần này tác giả trình bày các nội dung sau:

- Qui hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam nghiêu cứu quan điểm và mục tiêu phát triển, các cơ sở chủ yếu hình thành và phát triển đô thị, Định hướng tổ chức không gian hệ thống các đô thị Việt Nam như mạng lưới đô thị được hình thành và phát triển trên cơ sở các đô thị trung tâm, gồm thành phố trung tâm cấp quốc gia, thành phố trung tâm cấp vùng, các thành phố, thị xã trung tâm cấp tỉnh, các đô thị trung tâm cấp huyện và các đô thị trung tâm cấp tiểu vùng Các đô thị trung tâm được phân bố hợp lý trên 10 vùng đô thị hoá trên đều khắp địa bàn cả nước

- Các yêu cầu cụ thể trong quá trình đô thị hoá ở Việt Nam trong thời gian tới bao gồm:

+ Các vấn đề về qui hoạch tổng thể các đô thị lớn

+ Quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực tạo động lực để phát triển

đô thị

+ Xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị đảm bảo theo qui hoạch tổng thể phát triển đô thị đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai của dân cư đô thị + Yêu cầu xây dựng những chính sách quản lý môi trường các đô thị lớn + Thúc đẩy kinh tế đô thị tăng trưởng nhanh

+ Thực hiện đồng bộ các chính sách xã hội

Ngày đăng: 05/11/2016, 19:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w