Luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài “Vận dụng tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay” là kết quả của quá tr
Trang 1
PHẠM THÀNH LUÂN
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ CỦA HỒ CHÍ MINHVÀO VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC QUỐC PHÒNGCHOSINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2
PHẠM THÀNH LUÂN
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC QUỐC PHÒNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS CAO THỊ SÍNH
Hà Nội - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài: “Vận dụng
tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay” là công trình nghiên cứu
của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Cao Thị Sính
Các tài liệu tham khảo, trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thành Luân
Trang 4Luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài “Vận dụng tư tưởng quân sự của
Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại
học Tây Bắc hiện nay” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng của bản
thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy cô, bạn bè đồng
nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những
người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với cô giáo TS Cao
Thị Sính đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin
khoa học cần thiết cho luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Tây Bắc, trường Đại
học sư phạm Hà Nội, khoa Triết học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt
công việc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thành Luân
Trang 5BGD & ĐT : Bộ giáo dục và đào tạo CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội
GDĐT : Giáo dục đào tạo Nxb : Nhà xuất bản QPTD : Quốc phòng toàn dân
TCCB : Tổ chức cán bộ XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5 Giả thuyết khoa học 6
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Kết cấu của đề tài 7
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 8
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUÂN SỰ VÀO VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC QUỐC PHÒNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC HIỆN NAY 9
1.1 Cơ sở lí luận của sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc 9
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh 15
1.1.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự 20
1.2 Cơ sở thực tiễn của sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc 35
1.2.1 Khái quát về Trường Đại học Tây Bắc 35
Trang 7Đại học Tây Bắc hiện nay 411.2.3 Nội dung và yêu cầu của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về quân sự vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay 44Tiểu kết chương 1 49
Chương 2:VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ CỦA HỒ CHÍ MINHVÀO
VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC QUỐC PHÒNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC HIỆN NAYTHỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 50
2.1 Thực trạng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay 50
2.1.1 Những kết quả đã đạt được trong giáo dục ý thức quốc phòng
cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay 502.1.2 Những hạn chế của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
quân sự vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay - Nguyên nhân 622.1.3 Nguyên nhân của hạn chế việc vận dụng tư tưởng quân sự
của Hồ Chí Minh vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay 692.1.4 Một số vấn đề đặt ra trong việc vận dụng tư tưởng quân sự
Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay 70
2.2 Một số giải pháp cơ bản về việc vận dụng có hiệu quả tư tưởng của Hồ Chí Minh về quân sự vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay 72
2.2.1 Giải pháp về phía nhà trường 72
Trang 8KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
BẢNG BIỂU 101
PHỤ LỤC 103
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra biết bao anh hùng từ thế hệ này qua thế hệ khác Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dân tộc Việt Nam phải đương đầu với những kẻ thù ngoại xâm hoàn toàn khác trước Chúng là bọn đế quốc thực dân, xuất phát từ một quốc gia tư bản, có nền công nghiệp phát triển, có đội quân nhà nghề được trang bị vũ khí hiện đại Lịch sử đòi hỏi phải có một đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, phù hợp với những biến đổi của tình hình, mới có thể giành được thắng lợi Bế tắc về đường lối, dân tộc không có đường ra, đất nước vẫn không thoát được thân phận của một nước thuộc địa dưới sự thống trị của thực dân đế quốc Chính trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, con đường đánh bại thực dân đế quốc Đó là con đường cách mạng vô sản, con đường gắn độc lập dân tộc với CNXH, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bằng việc tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên CNXH Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô giá, nhiều giá trị nhân văn cao cả, trong đó đặc biệt tư tưởng về quân sự đến cách mạng Việt Nam
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống những quan điểm sâu sắc và toàn diện của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam Người đã phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đến với cách mạng vô sản, dựa trên nền tảng lí luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát triển truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa quân sự của nhân loại Tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh là một bộ phận trong tư tưởng về cách mạng Việt Nam, linh hồn và
Trang 10nền tảng đường lối quân sự của Đảng cộng sản Việt Nam - nhân tố chủ yếu quyết định thành công trong thực hiện các nhiệm vụ quân sự của cách mạng nước ta Chính những tư tưởng đó đã được Đảng cộng sản vận dụng đưa cách mạng Việt Nam khởi nghĩa dành chính quyền về tay giai cấp vô sản, người lao động Với những thành quả như thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm
1945 đã giành lại nền độc lập cho dân tộc Việt Nam, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời Đến thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa mùa xuân năm 1975 thống nhất đất nước Đây là những chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, là quá trình vận dụng mềm dẻo, linh hoạt mưu kế, nghệ thuật dụng binh cũng như tư tưởng quân sự kiệt xuất của Người Sau đại thắng mùa xuân năm 1975 thống nhất đất nước, cả nước ta đi lên con đường CNXH Trong quá trình đó, Đảng đã xác định đây là con đường còn gặp nhiều khó khăn và thách thức Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, các thế lực luôn mọi thủ đoạn chống phá nhà nước ta rất quyết liệt, với nhiều mưu kế nham hiểm như: chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật
đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam, Vì vậy, Đảng xác định hai nhiệm vụ cần phải thực hiện thường xuyên và xuyên suốt đó là xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Trước những vấn đề này việc nghiên cứu, học tập di sản tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được xem như một yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ đặc biệt lực lượng sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng
Bởi vì, lực lượng sinh viên là những người đã và đang được trang bị các mặt về lí luận, khoa học kỹ thuật để sẵn sàng phục vụ và gắn bó lâu dài với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, đây là lực lượng có tuổi đời còn rất trẻ, nông nổi, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tiêu cực nên các đối tượng thường xuyên lợi dụng và tác động vào Chính vì vậy, sinh viên rất cần được học tập những tư tưởng quân sự của các anh hùng dân tộc và trước
Trang 11hết là tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh - nhà lãnh tụ kiệt xuất của đất nước Việt Nam Xây dựng cho sinh viên nền tảng ý thức quốc phòng vững chắc trang bị đủ hành trang về lí luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam XHCN hiện nay
Từ các lí do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng quân sự
của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Hồ Chí Minh, một con người vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một vị anh hùng biểu tượng của đất nước, một vị tướng tầm cỡ thế giới - niềm tự hào của dân tộc Việt Nam Người để lại cho dân tộc Việt Nam và nhận loại trên thế giới những bài học, những tư tưởng, tri thức khoa học của nhân loại tiến bộ
Sự nghiệp và công trình, công lao của Hồ Chí Minh được xem một đề tài mở cho nhiều bài báo, cuốn sách, cũng như các cuộc hội thảo trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đạo đức, trí tuệ, tư tưởng nghệ thuật quân sự của Người được nhiều công trình trong nước và ngoài nước đề cập nghiên cứu Trong đó tư tưởng về quân sự của Hồ Chí Minh được bàn đến trong nhiều công trình và lĩnh vực khác nhau
Nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của các tác giả:
Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam của Đại
tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia 1997; “Tư duy
quân sự Hồ Chí Minh, tiếp cận từ góc độ văn hoá” của Quang Cận, Tạp chí
Giáo dục quốc phòng toàn dân, số 5 - 2000; Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện của Thành Duy,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Học viện chính trị, Hà Nội, 2010; Bí quyết thành công Hồ Chí Minh của
Trang 12GS.TS Phùng Hữu Phú, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Các tác phẩm trên đều tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, chi tiết về nguồn gốc quá trình hình thành phát triển tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng, lực lượng vũ trang, nghệ thuật quân sự, quốc phòng toàn dân Giáo trình đã thể hiện rõ sự phát triển mới về mặt lí luận và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu và vận dụng tư tưởng quân sự của Người
Tiến Hải, “Nước lấy dân làm gốc - nét chủ đạo trong tư tưởng Hồ Chí
Minh”, Tạp chí Triết học, số 02, tháng 6 năm 1992; Phạm Bá Lượng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy dân làm gốc, Tạp chí Triết học, số 02, tháng 02 năm 2005 Hồ Chí Minh - Nhà chiến lược quân sự thiên tài, Bộ quốc phòng
Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2013 Những tác phẩm trên cũng phân tích những khía cạnh của Hồ Chí Minh về tư tưởng quân sự, phân tích những nét tiêu biểu ở những tư tưởng khác nhau nhưng đều làm nổi bật lên tư tưởng quân sự kiệt xuất của người
Nhóm các công trình nghiên cứu về con người và giáo dục tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ, có thể liệt kê các tác phẩm sau:
Hồ Chí Minh với thế hệ trẻ của Lê Văn Yên - Võ Tú Oanh, Nxb
Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2010 Cuốn sách đã tuyển chọn hệ thống các bài viết và bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp cách mạng, tầm quan trọng cần thiết của việc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ
Thành Duy với công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2001 Tác giả đã đề cập đến bản chất con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh
ở hai mặt tự nhiên và xã hội Hai mặt đó luôn tác động biện chứng qua lại với nhau, gắn liền với quá trình phát triển của xã hội
Trang 13Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Đại tướng
Võ Nguyên Giáp, Nxb Công an nhân dân, 2006 Tác phẩm đã làm nổi bật tầm quan trọng tư tưởng của Hồ Chí Minh ở nhiều khía cạnh khác nhau Đặc biệt tầm quan trọng trong việc học tập tư tưởng của Người cũng như tư tưởng quân sự cho giáo dục ý thức quốc phòng thế hệ trẻ
Nguyễn Văn Tài với công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
và phát huy nhân tố con người”, Tạp chí triết học, số 2, tr11- 14,2004 Tác giả
đã phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với tư cách là một thực thể
xã hội, bao hàm sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội, sự thống nhất giữa con người, dân tộc, giai cấp và nhân loại
Lê Sĩ Thắng với công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và
chính sách xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996 Tác giả đã đi sâu
phân tích quan niệm Hồ Chí Minh về con người Con người trong tư tưởng
Hồ Chí Minh không phải con người chung chung, trừu tượng mà một con người cụ thể, tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định, con người được đặt trong các mối quan hệ với vũ trụ, tự nhiên, cộng đồng
Ngoài ra, còn nhiều những bài viết đề cập về việc giáo dục tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ được đăng trên các tạp chí như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và nhân cách con người Việt Nam” của
Phạm Minh Hạc, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 3, tr3-8, 2005 Nhìn
chung những bài viết trên đều thể hiện tầm quan trọng của việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt, thế hệ trẻ trong đó có lực lượng là sinh viên
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến vấn đề ở những khía cạnh khác về tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh nhưng đều mới chỉ ở các góc độ khác nhau, chưa có công trình nào đi nghiên cứu về việc vận dụng tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên các trường đại học ở Việt Nam Trên cơ sở kế thừa và phát huy
Trang 14những kết quả đã thu được của các công trình nghiên cứu trên, tôi chọn đề tài:
“Vận dụng tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay”góp phần làm
rõ tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng về quân sự của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Nếu các giải pháp vận dụng tư tưởng về quân sự của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay được thực hiện đồng bộ, đạt hiệu quả cao sẽ đem lại sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động trong sinh viên của nhà trường đối với công cuộc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ chí Minh và nâng cao ý thức quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đưa lại chất lượng và hiệu quả cao trong việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc nói riêng và sinh viên Việt Nam nói chung trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ở nước ta với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở bối cảnh hiện nay
Trang 156 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, Luận văn làm rõ cơ sở khoa học của việc vận dụng tư tưởng về
quân sự của Hồ Chí Minh đối với việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay
Hai là, Luận văn phân tích làm rõ thực trạng của việc vận dụng tư
tưởng về quân sự của Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay
Ba là, Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm vận dụng có
hiệu quả tư tưởng về quân sự của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng về quân sự của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường đại học Tây Bắc hiện nay
Đề tài chỉ chỉ khảo sát với đối tượng là sinh viên hệ Đại học chính quy tập trung đang học tập tại địa điểm trường Đại học Tây Bắc từ năm học 2013 cho đến nay học
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như: Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp logic- lịch sử, phương pháp điều tra, phương pháp thống kê…
9 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm: 2 chương, 4 tiết
Trang 1610 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản
Luận văn bàn đến tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về quân sự trong giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc Giúp sinh viên đã và đang học tập tại trường Đại học Tây Bắc được trang bị đầy đủ cơ
sở lí luận về quốc phòng, làm cơ sở cho các em có kiến thức vững chắc để vận dụng trong thực tiễn cuộc sống, trở thành một chiến sĩ cách mạng Đây là một nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách vừa mang tính thường xuyên liên tục
Việc vận dụng tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh trong giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc là một nhiệm vụ luôn được ưu tiên và có tính cấp thiết hiện nay tại trường Đại học Tây Bắc
10.2 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm rõ thực trạng vận dụng tư tưởng về quân sự của Hồ Chí Minh trong việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm vận dụng tư tưởng về quân sự của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy về các vấn đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự vào việc giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng; các học viên, giảng viên, cán bộ sỹ quan
ở các Học viện Quân sự, các đơn vị quân đội của Bộ Quốc phòng, trong toàn quân và toàn dân Việt Nam
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ QUÂN SỰ VÀO VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC QUỐC PHÒNG CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC HIỆN NAY
1.1 Cơ sở lí luận của sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân
sự vào giáo dục ý thức quốc phòng cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân ta Tư tưởng Hồ Chí Minh đã định hướng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta vượt qua muôn vàn khó khăn để đi đến những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại và
có tính thời đại sâu sắc
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa
và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” [18,tr.83-84]
Theo Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh do Hội đồng Trung ương chỉ
đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh đã nêu lên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
Trang 18những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp và giải phóng con người” [8,tr.19]
Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với các thời kì hoạt động của Người trong phong trào cách mạng Việt Nam và quốc tế Đó là thời kì hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước (trước 1911); thời kì tìm thấy con đường cứu nước, giải phòng dân tộc (1911 - 1920); thời
kì hình thành cơ bản về cách mạng Việt Nam (1921 - 1930); Thời kỳ vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng(1930 - 1945); thời kì tiếp tục phát triển, hoàn thiện (1945 - 1969)
Toàn bộ tác phẩm của Người, nhất là Tuyên ngôn độc lập và Di chúc, là
một di sản tư tưởng vô giá mà Người đã để lại cho nhân dân ta Từ những
năm 1923 - 1924 qua Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ và những bài
viết về Lênin, một số bài trả lời phỏng vấn, ở Người đã sớm hình thành một thái độ độc lập, sáng tạo trong nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác, biểu thị một nhân cách, một phong thái sống và ứng xử của "một con người mới"
trong một "xã hội tương lai"
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại và tính thời đại sâu sắc, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng
và dân tộc ta Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Người làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam
1.1.1.2 Tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng trong tư tưởng cách mạng của Người Tư tưởng đó được hình thành phát triển trong quá trình giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đường lối cách mạng và phương pháp
Trang 19cách mạng, xuất phát từ đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng Đứng trước kẻ thù là thực dân đế quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: không có con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng cho dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ đất nước Vì vậy, khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng
là con đường duy nhất đúng đắn để giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là kết quả hoạt động tư duy và thực tiễn trong những điều kiện lịch sử nhất định của đất nước và thế giới Người
đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo di sản tư tưởng quân sự dân tộc, tinh hoa quân
sự nhân loại, trong đó đặc biệt là lý luận quân sự Mác - Lênin Chính lý luận quân sự Mác - Lênin là nguồn gốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định
sự ra đời và phát triển tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quyết định bản chất cách mạng và khoa học trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam, nền tảng đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh không chỉ được phản ánh trong các bài nói, bài viết mà còn được thể hiện trong hoạt động thực tiễn lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền QPTD của Hồ Chí Minh
Nội dung tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh rất rộng lớn và phong phú, bao gồm hệ thống các quan điểm cơ bản của Người về quân sự nói chung, về các lĩnh vực hoạt động quân sự cụ thể nói riêng Những quan điểm đó thể hiện
tư duy lý luận sâu sắc của Hồ Chí Minh về những vấn đề có tính quy luật trong lĩnh vực quân sự qua các thời kỳ của cách mạng nước ta
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh mang bản chất cách mạng, khoa học, dựa trên nền tảng lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát
Trang 20triển truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa quân sự của nhân loại Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh không phải là tư tưởng quân sự thuần tuý nó được gắn liền với tư tưởng chính trị và nhằm thực hiện mục tiêu chính trị đã được xác định
Từ những điều nêu trên, có thể khái quát: Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
là hệ thống những quan điểm cơ bản, toàn diện của Hồ Chí Minh về những vấn
đề có tính quy luật trong lĩnh vực quân sự của cách mạng Việt Nam, là sản phẩm tổng hợp của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển truyền thống quân sự đặc sắc của dân tộc, tiếp thu tinh hoa quân sự của nhân loại nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH ở Việt Nam
1.1.1.3 Giáo dục ý thức quốc phòng
Giáo dục
Trong lao động và trong cuộc sống hàng ngày, con người tích luỹ được kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết cho nhau Nhu cầu đó là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục Giáo dục là cơ hội giúp cho mỗi cá nhân phát triển toàn diện, cơ hội
để hoàn thiện bản thân Ban đầu giáo dục diễn ra một cách tự phát theo lối quan sát bắt chước, về sau giáo dục diễn ra một cách tự giác, có kế hoạch, có
tổ chức theo mục đích định trước và trở thành một hoạt động có ý thức Ngày nay, giáo dục trở thành hoạt động đặc biệt, đạt tới trình độ cao về tổ chức, nội dung, phương pháp và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người
Giáo dục là phạm trù xã hội chỉ có ở con người Vì ở động vật những hành vi của chúng mang tính bản năng và được lưutrữ trong hệ thống ghen Những kinh nghiệm được loài người tích lũy trong quá trình phát triển của lịch sử được lưu giữ ở nền văn hóa nhân loại, được tiếp nối qua các thế hệ
Trang 21Như vậy, giáo dục được hiểu là quá trình thống nhất của sự hình thành tinh thần và thể chất của mỗi cá nhân trong xã hội Với cách hiểu này, giáo dục đóng vai trò như một mặt không thể tách rời của cuộc sống con người, của xã hội, nó là hiện tượng của xã hội
Giáo dục là một hiện tượng của xã hội thể hiện ở việc truyền những kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy được từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngày nay giáo dục trở thành một hoạt động được tổ chức đặc biệt, thiết kếtheo một kế hoạch chặt chẽ có phương pháp, phương tiện hiện đại, góp phần tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Các mặt trong toàn bộ đời sống xã hội như: đạo đức, trí tuệ, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, tinh thần
và sự phát triểnkinh tế của bất cứ xã hội nào đều phụ thuộc vào mức độ phát triển của giáo dục
Quá trình giáo dục bao gồm sự thống nhất của hai quá trình bộ phận là:quá trình dạy học và quá trình giáo dục Như vậy, ta có thể hiểu giáo dục theo các nghĩa như sau:
Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ
chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình hình thành cho người được giáo
dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét mới của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu
Ý thức quốc phòng
Theo từ điển giải thích thuật ngữ quân sự: Quốc phòng - Hoạt động của một nước nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và nhân dân bằng sức mạnh quân sự Theo điều 3 Luật Quốc phòng (2005) giải thích từ
Trang 22ngữ: Quốc phòng là công việc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng,
ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người một cách năng động sáng tạo, ý thức không phải là bản sao giản đơn, thụ động hiện thực Ý thức là thuộc tính cơ bản của con người, chỉ có ở con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động sáng tạo, ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình con người tác động cải tạo thế giới Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã hội bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử - xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan V.I.Lênin viết: ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn sáng tạo ra nó
Ý thức quốc phòng có nhiều luận giải, hướng nghiên cứu, tiếp cận được đưa ra nhưng chưa đưa đến cái chúng nhất Trong các tiếp cận về ý thức quốc phòng chúng ta nghiên cứu quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin để hiểu nội hàm của nó Người khẳng định: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó tự bảo vệ” Đó là bài học được rút ra một cách sâu sắc từ thực tiễn các cuộc cách mạng trên thế giới Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ông cha ta luôn chăm lo phòng giữ khi nước chưa nguy, lo trị nước từ khi chưa loạn, luôn có phương án tốt để giữ gìn đất nước yên bình Đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa phát huy truyền thống tốt đẹp đó
Như vậy, ý thức quốc phòng là một bộ phận của ý thức chính trị gồm tri thức, tình cảm, ý chí và niềm tin về chính trị xã hội… về phòng thủ và bảo
vệ đất nước của cộng đồng xã hội hình thành trong quá trình dựng nước và
Trang 23giữ nước của dân tộc ta, thể hiện sâu sắc về ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, ý thức về xây dựng nền QPTD, ý thức về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Ý thức quốc phòng thuộc phạm trù ý thức chính trị nhưng không đồng nhất với ý thức bảo vệ Tổ quốc Từ cách tiếp cận của triết học có thể hiểu ý thức quốc phòng là ý thứcbảo vệ Tổ quốc, khả năng phòng thủ đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ chắc khu vực phòng thủ địa phương
Giáo dục ý thức quốc phòng
Giáo dục ý thức quốc phòng là giáo dục tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, luôn cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch nhằm xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là tinh thần kiên cường, bất khuất, dũng cảm, tự lực, tự cường, không bao giờ khuất phục trước kẻ thù, không để mọi
kẻ thù lợi dụng, phân biệt, nhận dạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
Giáo dục ý thức quốc phòng phản ánh tri thức quân sự, nghệ thuật đánh giặc, cũng như bản lĩnh của mỗi công dân trong bảo vệ nền tảng tinh thần độc lập dân tộc, tự chủ của mỗi người Đó là sự giác ngộ về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người đến sự hưng thịnh, suy vong của mỗi quốc gia Cùng với các lực lượng trong ba thứ quân, của toàn dân xây dựng và bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng quân
sự của Hồ Chí Minh
Tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo của học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cách mạng
Trang 24Việt Nam Gồm các tư tưởng như: tư tưởng về cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là con đường đúng đắn để giai cấp công nhân và các dân tộc tự giải phóng mình; tư tưởng vũ trang cho giai cấp công nhân của C.Mác và Ph.Ăngghen; tư tưởng và kinh nghiệm tổ chức xây dựng quân đội kiểu mới của Nhà nước xã hội chủ nghĩa do V.I.Lênin tiến hành
Người đã nghiên cứu một cách sâu sắc và vận dụng một cách tài tình, sáng tạo qua các nguyên lý về khởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác và những bài học về khởi nghĩa vũ trang năm 1917 do V.I.Lênin trực tiếp tổ chức và lãnh đạo
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị, giữa chiến tranh và hòa bình; con người và vũ khí Trong tiến hành khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng, Người luôn thể hiện việc quán triệt và vận dụng đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
về tiến công cách mạng để giành thắng lợi hoàn toàn Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng phù hợp với thực tế của cách mạng Việt Nam về các lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò của nhân tố chính trị - tinh thần, vai trò của nhân tố con người trong lĩnh vực hoạt động quân sự và xây dựng quân đội
Lý luận quân sự chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất quy định hình thành tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, bảo đảm cho tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có sự nhảy vọt về chất, mang tính cách mạng, khoa học Mặt khác, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin
1.1.2.2.Ảnh hưởng của tinh hoa quân sự nhân loại
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu nhiều vấn đề quân sự của các nước văn minh đương thời ở phương Tây, nhất là của các nước Pháp, Anh Người đã đánh giá “Dân Pháp tuy lương thực ít, súng ống thiếu, nhưng chỉ nhờ gan
Trang 25cách mệnh mà trong dẹp nổi loạn, ngoài phá cường quyền Hồi ấy lính cách mệnh gọi là “lính không quần, người không có nón, kẻ không có giày, áo rách quần tua, mặt gầy, bụng đói Thế mà lính ấy đến đâu, thì lính ngoại quốc thua đến đấy, vì họ gan liều hy sinh quá, không ai chống nổi” [34,tr.272] Đến nước Pháp Người nghiên cứu danh tướng Napôlêông với đặc điểm đánh mạnh như vũ bão, đánh nhanh như chớp nhoáng, rút ngắn thời gian tác chiến giành thắng lợi Nghiên cứa thuỷ sư đô đốc người Anh là Nelson, Người đánh giá Nelson đã biết quý trọng thời gian tác chiến từng phút Từ đó, Người đánhgiá tầm quan trọng của yếu tố thời gian tác chiến, mối quan hệ giữa thời gian với mưu lược, phải vừa nhanh, vừa có mưu mới giành được thắng lợi Khi nghiên cứu Hồng quân Xô Viết Người đánh giá đây là một quân đội có tổ chức chặt chẽ, huấn luyện chu đáo, vũ khí tối tân; biết phép chiến đấu; được hưởng một nền văn hóa giáo dục tốt đẹp; có mối quan hệ đặc biệt với dân, quân dân nhất trí; có những người chỉ huy tối cao sáng suốt, đủ đức tài
Trong thời gian hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, Người tìm hiểu quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, kể cả quân đội Quốc dân Đảng và có nghiên cứu một số tài liệu quân sự đương thời, Hồ Chí Minh đã tiếp thu thêm kinh nghiệm về xây dựng quân đội chính quy như: tổ chức biên chế, chỉ huy,
kỷ luật, sinh hoạt, huấn luyện quân sự, giáo dục tư tưởng Cùng với việc nghiên cứu tổ chức lực lượng quân chủ lực, Người còn nghiên cứu tổ chức,
xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn tìm hiểu và học hỏi chọn lọc các giá trị di sản quân sự phương Đông cổ đại Người quan tâm đến những luận điểm quân
sự trong Binh pháp Tôn Tửđối với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta Hồ Chí
Minh đánh giá cao phép dùng binh của ông Tôn Tử về quân sự và chính trị Khi nghiên cứa, Người có một thái độ tiếp thu rất khoa học, không đơn giản
sao chép và vận dụng một cách giáo điều Các nguyên lý trong Binh pháp Tôn
Trang 26Tử được Người sử dụng phù hợp với truyền thống quân sự của dân tộc và điều
kiện, hoàn cảnh của cách mạng nước ta trong từng thời điểm lịch sử cụ thể
Người còn biên dịch cuốn “Phép thuật làm tướng của Gia Cát Khổng Minh”
Trong cuốn sách, Người nói rõ: “Ông Khổng Minh dùng những bài này để huấn luyện cho cán bộ quân sự, cách đối đãi người, cách xét việc, những điều
đó thì cán bộ chính trị và cán bộ khác đều phải hiểu và thực hành thì mới tiến
và thành công Vậy anh em cán bộ biết kỹ phụ trách ngành nào, cũng nên nghiên cứu cuốn sách nhỏ này” [32,tr.6]
1.1.2.3.Ảnh hưởng từ những tư tưởng quân sự trong truyền thống lịch
sử dân tộc Việt Nam
Truyền thống quân sự Việt Nam hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử mà hơn một nữa là dành cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc Mặt khác dân tộc ta thường phải đương đầu với những kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn mạnh Lấy nhỏ đánh lớn là đặc điểm nổi bật trong truyền thống chống xâm lược của dân tộc
ta, “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” Điều
đó tạo nên trường phái quân sự Việt Nam với hệ tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự đặc sắc
Truyền thống đặc sắc của dân tộc ta là cả nước cùng đánh giặc trên cơ
sở xây dựng nền tảng xã hội vững bền, dựa vào sức dân, lấy dân làm gốc Một khi nhân dân được quan tâm, gắn bó với chế độ xã hội, với người lãnh đạo, thì truyền thống yêu nước được phát huy, trở thành chỗ dựa vững chắc nhất cho cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, thực hiện tốt mọi chủ trương của nhà nước, làm cho “nhân dân ai cũng là binh”
Để chống những kẻ thù lớn mạnh, ông cha ta thường dùng lối đánh lâu dài Hồ Chí Minh nhắc đến kinh nghiệm “ngày xưa tổ tiên ta phải kháng chiến trường kỳ mới thắng lợi được ngoại xâm” [39,tr.316]
Trang 27Cách đánh của cha ông ta rất độc đáo và sáng tạo, luôn giành thế chủ động, buộc địch phải đánh theo ta, không cho địch phát huy được sở trường
đó là đánh lâu dài; lấy ít địch nhiều, “lấy đoản binh chế trường trận”; dùng mai phục, tận dụng yếu tố bí mật bất ngờ, kết hợp đánh tập trung và đánh phân tán, đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao; kết hợp quân đội triều đình với lực lượng vũ trang dân chúng; đánh địch bằng mưu cao mẹo giỏi; kết hợp giành thắng lợi về quân sự với giải pháp ngoại giao; cũng có khi vừa đánh vừa đàm buộc địch phải rút về nước
Trong xây dựng lực lượng quân đội, ông cha ta chú trọng yếu tố chất lượng, quân “cốt tinh”, tuyển chọn và rèn luyện đội ngũ tướng lĩnh tài trí, trung thành, có uy tín và năng lực chỉ huy, quân sĩ thiện chiến; giáo dục sự đoàn kết nhất trí của tướng sĩ để xây dựng “đội quân một lòng như cha con” Ông cha ta chú trọng xây dựng chỗ đứng chân, dựng “đất căn bản” để giải quyết vấn đề tiềm lực, tập hợp và rèn luyện lực lượng, tích lũy lương thảo, rèn sắm vũ khí; khi thì dựa vào vùng rừng núi, khi dựa vào đầm lầy, khi thì từ vùng núi tiến về đồng bằng, mở rộng căn cứ địa, khai thác ngày càng nhiều sức người, sức của phục vụ chiến tranh
Truyền thống quân sự và kinh nghiệm chống ngoại xâm của dân tộc là
cơ sở rất quan trọng để làm nên tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh Kế thừa truyền thống đó, năm 1941 Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Đồng bào ta quyết nối gót người xưa, phấn đấu hy sinh đặng phá tan xiềng xích” [35,tr.197]
Xuất phát từ đặc điểm về so sánh lực lượng giữa ta và địch, kế thừa và phát triển lên trình độ mới truyền thống và tri thức quân sự của dân tộc, vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng quân sự
Hồ Chí Minh từng bước hình thành và phát triển, đồng thời được kiểm nghiệm qua thực tiễn đấu tranh và thắng lợi trong khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân
Trang 281.1.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự
1.1.3.1.Tư tưởng về bạo lực cách mạng vận dụng trong cách mạng Việt Nam
Kế thừa quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về ba ̣o lực cách ma ̣ng và tiếp thu nghệ thuật quân sự của dân tộc với trí tuê ̣ và nhãn quan cách ma ̣ng, Hồ Chí Minh đã từng bước vâ ̣n dụng và làm phong phú quan điểm sử dụng ba ̣o lực cách ma ̣ng trong quá trình lãnh đa ̣o, chỉ đa ̣o cách ma ̣ng Viê ̣t Nam Điều
đó được thể hiện như sau:
mạng để giành và giữ chính quyền là mô ̣t tất yếu đố i với các dân tô ̣c bi ̣ áp bức dưới chế đô ̣ thực dân đế quốc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng
Người đi sâu nghiên cứu, vạch trần bản chất chủ nghĩa thực dân và chỉ rõ, bản thân chủ nghĩa đế quố c đã là sư ̣ xâm lươ ̣c, thôn tính là bóc lột và đàn áp, nó chính là ba ̣o lư ̣c của kẻ mạnh đố i với kẻ yếu Các thế lực đế quố c sử du ̣ng ba ̣o lư ̣c để xâm lươ ̣c và thố ng tri ̣ thuô ̣c đi ̣a, áp bức
dã man các phong trào yêu nước: “Chế độ thư ̣c dân, tư ̣ bản thân nó đã là
một hành đô ̣ng ba ̣o lư ̣c của kẻ ma ̣nh đố i với kẻ yếu rồ i” [33,tr.114] Hơn nữa, Hồ Chí Minh cho rằng, no ̣c đô ̣c và sức số ng của con rắn đô ̣c
tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuô ̣c đi ̣a: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thư ̣c dân luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằ ng những châm ngôn lý tưởng:
Bác ái, bình đẳng…” [33,tr.93]
Vì thế, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng đi ̣nh, các dân tô ̣c bi ̣ áp bức muố n được giải phóng triệt để không thể trông chờ ở “lòng thương” của kẻ xâm lươ ̣c, mà phải dùng sức mạnh đấu tranh, phải sử du ̣ng ba ̣o lực cách ma ̣ng chố ng lại bạo lực phản cách mạng
Trang 29Thư ́ hai, mục đích của sử du ̣ng ba ̣o lực cách ma ̣ng là giải phóng dân
tộc, đem la ̣i cuô ̣c sống ấm no, tự do, ha ̣nh phúc cho người dân
Quan điểm Hồ Chí Minh luôn nhất quán sử du ̣ng ba ̣o lực cách ma ̣ng vì mong muốn “tột cùng” là làm cho đất nước đươ ̣c hoàn toàn đô ̣c lâ ̣p, người dân được hoàn toàn tự do, có cuô ̣c sống ấm no, được ho ̣c hành và ha ̣nh phúc
Mục đích cuối cùng của việc sử du ̣ng bạo lực cách ma ̣ng trong quan điểm Hồ Chí Minh là sự theo đuổi đấu tranh đến cùng để đạt đươ ̣c đô ̣c lâ ̣p cho dân tô ̣c,
tự do, hạnh phúc cho nhân dân
lươ ̣ng toàn dân
Hồ Chí Minh cho rằng ba ̣o lực cách ma ̣ng là ba ̣o lực của quần chúng
Có thể thấy, nội dung này xuyên suố t trong toàn bô ̣ quan điểm của Hồ Chí Minh Năm 1942, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cuô ̣c khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng” [33,tr.520] và “cách ma ̣ng là viê ̣c chung cả dân chú ng chứ không phải là viê ̣c một hai người” [34,tr.283].Trong cách ma ̣ng tháng Tám 1945 và hai cuô ̣c kháng chiến chố ng Pháp và chống Mỹ, Hồ Chí Minh lấy nhân dân làm nguồn sức ma ̣nh Quan điểm “lấy dân làm gố c” xuyên xuốt quá trình chỉ đa ̣o chiến tranh của Hồ Chí Minh: “Đối với tôi, câu trả lời
đã rõ ràng: trở về nước đi vào quần chúng, thức tỉnh ho ̣, đoàn kết ho ̣, huấn luyện họ, đưa ho ̣ ra đấu tranh giành tự do, đô ̣c lâ ̣p” [33,tr.209] và quan điểm toàn dân khởi nghĩa, toàn dân nổi dậy là nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hình thái của ba ̣o lực cách ma ̣ng
Có thể thấy, Hồ Chí Minh đã kế thừa, vâ ̣n du ̣ng sáng ta ̣o quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin và truyền thố ng dân tộc về vai trò quần chúng nhân dân, tiến hành chiến tranh nhân dân để chố ng lại kẻ thù xâm lược Trong quá trình
lãnh đa ̣o, chỉ đa ̣o cách ma ̣ng, Hồ Chí Minh đã luôn khẳng đi ̣nh tầm quan trọng đặc biệt của quần chúng nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang: Phải dựa
vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ đi ̣ch không thể nào tiêu diê ̣t được
Trang 30Thư ́ tư, quan điểm ba ̣o lực cách mạng gắn bó hữu cơ với tư tưởng nhân
đa ̣o và hoà bình
Đây là quan điểm xuyên suốt mang tính nhân văn trong sử dụng tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh, quan điểm Người về ba ̣o lực cách mạng luôn xuất phát từ tình yêu thương con người, quý trọng sinh ma ̣ng con người Trong hai cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh luôn tranh thủ khả năng giành và giữ chính quyền ít đổ máu và tìm mo ̣i cách ngăn chă ̣n xung đô ̣t vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết mo ̣i xung đột bằng biê ̣n pháp hoà
bình chủ đô ̣ng đàm phán, thương lượng, chấp nhâ ̣n những nhươ ̣ng bộ có nguyên tắc Quá trình đấu tranh cách mạng đã minh chứng, Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và nhân dân chỉ tiến hành chiến tranh khi kẻ thù đẩy chúng ta
vào con đường cùng, khi chúng ngoan cố bám giữ lâ ̣p trường thực dân, chỉ muốn giành thắng lợi bằ ng quân sự Viê ̣c sử du ̣ng ba ̣o lực, dùng chiến tranh quân sự là giải pháp cuối cùng mà Hồ Chí Minh không mong muốn
Có thể thấy, quan điểm bạo lực cách mạng và quan điểm hoà bình thống nhất biện chứng với nhau trong tư duy và hành đô ̣ng của Hồ Chí Minh Người luôn xuất phát từ tình yêu thương con người, yêu chuô ̣ng hoà bình, tự
do, công lý, tranh thủ mo ̣i khả năng hoà bình để giải quyết xung đột, nhưng một khi không thể tránh khỏi chiến tranh thì phải kiên quyết tiến hành chiến tranh, kiên quyết dùng bạo lực cách ma ̣ng, dùng khởi nghĩa và chiến tranh
cách ma ̣ng để giành, giữ và bảo vê ̣ hoà bình, vì đô ̣c lâ ̣p, tự do của Tổ quốc
tranh trong khi sử du ̣ng quan điểm ba ̣o lực cách ma ̣ng
Theo Hồ Chí Minh, tiến hành sử du ̣ng ba ̣o lực cách ma ̣ng trên tất cả các
mặt trâ ̣n mà đi ̣ch tấn công ta (quân sự, chính tri ̣, kinh tế, văn hoá, ngoa ̣i giao,…) Trong đó , “quân sự là viê ̣c chủ chốt”, nhưng đồng thời phải kết hơ ̣p chặt chẽ với đấu tranh chính tri ̣ và “chắc chắn rằng thắng lợi chính tri ̣ ấy sẽ
Trang 31đẩy ma ̣nh cuô ̣c thắng lơ ̣i quân sự” [39,tr.346] Đấu tranh ngoa ̣i giao cũng là
một mă ̣t trâ ̣n có ý nghĩa chiến lược, có tác du ̣ng thêm ba ̣n bớt thù, phân hoá
và cô lâ ̣p kẻ thù, phát huy yếu tố chính nghĩa của cuô ̣c đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vê ̣ Tổ quốc Đấu tranh kinh tế là ra sức tăng gia sản xuất, thực
hành tiết kiê ̣m, phát triển kinh tế của ta, phá hoa ̣i kinh tế của đi ̣ch: “hâ ̣u phương thi đua với tiền phương”, coi “ruô ̣ng rẫy là chiến trường, cuốc cày là
vũ khí, nhà nông là chiến sĩ”, “tay cày tay súng, tay búa tay súng, ra sức phát triển sản xuất để phu ̣c vu ̣ kháng chiến”, “Chiến tranh về mă ̣t văn hoá hay tư tưởng so với những mă ̣t khác cũng không kém quan tro ̣ng” [36,tr.366]
1.1.3.2 Tư tưởng về khởi nghĩa vũ trang toàn dân
Khởi nghĩa vũ trang ở Việt Nam là khởi nghĩa vũ trang toàn
dânnhằm mục tiêu khởi nghĩa là để giành chính quyền
Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang Sức mạnh của toàn dân vũ trang là một ưu thế tuyệt đối để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược Cách mạng là việc chung của cả dân chúng, dân khímạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi
Khởi nghĩa vũ trang không phải là một cuộc đấu tranh quân sự thuần
túy Trong tác phẩm Con đường giải phóng, Hồ Chí Minh nói rõ: Khởi nghĩa
vũ trang là nhân dân vùng dậy dùng vũ khí đuổi quân cướp nước Đó là một cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc quan trọng, làm đúng thì
thành công, làm sai thì thất bại
Khởi nghĩa vũ trang là cuộc khởi nghĩa phải biết tạo thời cơ vànắm
bắt thời cơ
Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc chuẩn bị lực lượng và vấn đề thời
cơ Tại Hội nghị lần thứ VIII (5 - 1941) của Ban chấp hành Trung ương Đảng
do Người chủ trì đã khẳng định: Cách mạng Việt Nam phải kết liễu bằng một
cuộc khởi nghĩa vũ trang Hội nghị xác định: chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là
Trang 32nhiệm vụ trung tâm; chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng một lực lượng và nhằm vào cơ hội thuận lợi để đánh bại quân thù
Vận dụng luận điểm của Lênin về tình thế cách mạng, trong tác phẩm
Con đường giải phóng, Hồ Chí Minh nêu ba điều kiện của thời cơ khởi nghĩa:
Một là, chính quyền thực dân đế quốc đã lung lay bối rối đến cao độ,
chúng ta cảm thấy không thể ngồi yên nắm giữ địa vị của chúng như trước
Hai là, quần chúng đói khổ đã căm thù thực dân đế quốc đến cực điểm,
đã thấy cần phải đồng tâm hiệp lực, nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân, vì mọi người hiểu rằng nếu ngồi yên cũng chết
tự giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ” [35,tr.554] Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là một điển hình thành công về nghệ thuật tạo thời cơ, dự đoán thời cơ, nhận định chính xác thời cơ, đồng thời kiên quyết chớp thời cơ phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Khởi nghĩa vũ trang là cuộc chiến đấu bằng lực lượng vũ trangkết
hợp với đấu tranh chính trị
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh luôn thể hiện rõ tính chất giai cấp gắn liền với tư tưởng chính trị, không có tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh tồn tại
Trang 33một cách thuần túy, biệt lập, tách rời tư tưởng chính trị mà luôn là tư tưởng quân sự - chính trị Điều này thể hiện đặc biệt rõ rệt qua quan điểm của Người
về mối quan hệ giữa quân sự với chính trị, trong đó khẳng định, quân sự lấy chính trị làm gốc, quân sự phải phục tùng chính trị Quan điểm cơ bản này thể hiện Hồ Chí Minh đã nắm vững nguyên lý “chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực” và bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng đều nhằm thực hiện mục đích chính trị của giai cấp
Để lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân theo Người “trước hết phải
có Đảng cách mệnh” với một đường lối chính trị đúng đắn Luận điểm khái quát của Hồ Chí Minh về vai trò của chính trị đối với quân sự đã được Người chỉ rõ trong bài nói chuyện tại Trường Chính trị trung cấp quân đội vào ngày
25 tháng 10 năm1951: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc,
vô dụng lại có hại” [38,tr.318] Luận điểm này khẳng định vai trò là gốc của chính trị đối với quân sự, theo đó quân sự phải phục tùng chính trị
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự lấy chính trị làm gốc, quân sự phải phục tùng chính trị vẫn giữ nguyên tính đúng đắn khoa học và cách mạng trong điều kiện mới Tuy nhiên, không thể tuyệt đối hóa vai trò của chính trị đối với quân sự mà cần nhận thức đúng sự tác động trở lại của quân sự đối với chính trị
Khởi nghĩa từng phần đi đến tổng khởi nghĩa
Tại Hội nghị lần thứ VIII của Ban chấp hànhTrung ương Đảng do Người chủ trì đã thể hiện quan điểm khởi nghĩa từng phần đi đến tổng khởi nghĩa cả nước được thể hiện: Trong những hoàn cảnh nhất định thì với lực lượng sẵn có ta có thể tiến hành một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể thắng lợi mở đường cho một cuộc khởi nghĩa to lớn để giành thắng lợi trong cả nước
Tiến hành chiến tranh du kích cục bộ và khởi nghĩa từng phần ở nhiều vùng nông thôn, giành chính quyền bộ phận trong cao trào kháng Nhật cứu
Trang 34nước là một quá trình đẩy nhanh sự tích lũy về lượng để dẫn tới bước nhảy vọt về chất khi thời cơ đến Đó là một thành công của nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.3.3.Tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, dựa vào sức mình là chính
Kháng chiến toàn dân
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hồ Chí Minh lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh Quan điểm “lấy dân làm gốc” xuyên suốt quá trình chỉ đạo chiến tranh của Người Người đặt niềm tin ở truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân, “đó là một truyền thống quý báu của ta”
Khi phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (12 - 1946), Người kêu gọi toàn dân đánh giặc và đánh giặc bằng mọi vũ khí có trong tay Trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh đã kêu gọi: Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân, 31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh hùng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng Xuất phát từ tương quan lực lượng lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, Hồ Chí Minh không chủ trương tiến hành chiến tranh thông thường, chỉ dựa vào lực lượng quân đội và tiến hành một số trận sốngmãivới kẻ thù,
mà chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân
Mục đích chiến tranh chính nghĩa làm cho toàn dân tự giác tham gia kháng chiến Tư tưởng chiến tranh nhân dân của Hồ Chí Minh là ngọn cờ cổ
vũ, dẫn dắt cả dân tộc ta đứng lên kháng chiến và kháng chiến thắng lợi, đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh là Pháp và Mỹ
Kháng chiến toàn diện
Kháng chiến toàn dân gắn với kháng chiến toàn diện: “Không dùng toàn lực lượng của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó không thể nào thắng lợi
Trang 35được” Trong chiến tranh, “quân sự là việc chủ chốt”, nhưng đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị “Thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi chính trị, thắng lợi chính trị sẽ làm cho thắng lợi quân sự to lớn hơn”
Đấu tranh ngoại giao cũng là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược Hồ Chí Minh chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, “đánh là chủ yếu, đàm là hỗ trợ”
Đấu tranh kinh tế là ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế của ta, phá hoại kinh tế của địch Người kêu gọi hậu phương thi đua với tiền phương, coi ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, tay cày tay súng, tay búa tay súng, ra sức phát triển sản xuất
để phục vụ kháng chiến “Chiến tranh về mặt văn hóa hay tư tưởng so với những mặt khác cũng không kém quan trọng” [36,tr.319]
Kháng chiến trường kì, dựa vào sức mình là chính
Trước những kẻ thù lớn mạnh, Hồ Chí Minh chủ trương sử dụng
phương châm chiến lược đánh lâu dài
Trong kháng chiến chống Pháp, Người nói: “Địch muốn tốc chiến, tốc
thắng Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất
địch thắng”, “trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” [36,tr.485]
Người phân tích: “Với binh nhiều, tướng đủ, khí giới tối tân, chúng
định đánh mau thắng mau Với quân đội mới tổ chức, với vũ khí thô sơ, ta
quyết kế trường kỳ kháng chiến, thắng lợi với trường kỳ phải đi đôi với nhau
Tự lực cánh sinh là một phương châm chiến lược rất quan trọng Năm
1919, Người nói: muốn cứu nước thì không thể bị động chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài, mà trước hết phải dựa vào sức mạnh của chính dân tộc mình
Mặc dù rất coi trọng sự giúp đỡ quốc tế nhưng Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập tự chủ Người nói: “Kháng chiến trường kỳ gian khổđồng thời lại phải tự lực cánh sinh Trông vào sức mình… Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được
Trang 36ngồi mong chờ người khác Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” [38,tr.522]
1.1.3.4 Tư tưởng về xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang
nhân dân
Tư tưởng về xây dựng lực lượng chính trị
Đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của Người vì đó vừa là cơ sở cho việc xây dựng lực lượng vũ trang, là cơ sở cho đấu tranh quân sự, vừa là lực lượng trực tiếp đánh địch, đấu tranh từ hình thức thấp đến cao
Lực lượng chính trị là đạo quân cách mạng vô cùng đông đảo, bao gồm tất cả quần chúng được giác ngộ và tổ chức “Muốn có đội quân vũ trang phải
có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng đông Phải có quần chúng giác ngộ chính trị tự nguyện cầm súng thì mới thắng được” [3,tr.120]
Tư tưởng về tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân
Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích Nhìn thấy nhu cầu trước mắt và lâu dài của lực
lượng vũ trang, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân, Người nêu lên luận điểm vũ trang toàn dân đi đôi với xây dựng quân
đội: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp
đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho cán bộ này trưởng thành mãi lên” [35,tr.507]
Người coi trọng các yếu tố tạo nên sức mạnh của lực lượng vũ trang Người nhắc nhở các lực lượng vũ trang phải tăng cường huấn luyện quân sự,
ra sức rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, thể lực và nâng cao trình độ văn hóa
Trang 37“Toàn quân ta phải ra sức học tập chính trị, quân sự và văn hóa”, “Quân đội ta nhất định phải tiến từng bước lên chính quy và hiện đại” [41,tr.391]
Hồ Chí Minh luôn coi trọng nâng cao chất lượng mọi mặt của quân đội
Để làm được điều đó, Người chỉ thị: “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội, phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân,phải tăng cường huấn luyện quân sự và kỹ thuật, phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ và kỷ luật, phải hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất” [41,tr.140]
1.1.3.5 Tư tưởng về xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương vững chắc
Xây dựng căn cứ địa, hậu phương vững chắc nhất là lòng dân
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “Có dân là có tất cả”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, “Chúng ta phải dùng tinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém vật chất” [38,tr.163]
Hồ Chí Minh cho rằng:
Chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chú ng, của dân tộc Ở đâu có nhân dân Việt Nam yêu nước thì ở đó có sẵn nhân tố của căn cứ địa, hậu phương Vì thế nhất thiết phải dựa vào dân, triệt để khai thác điều kiện nhân hòa Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được
cả và nhất định thắng lợi Muốn thế phải bảo vệ, giúp đỡ, giáo dục nhân dân Giáo dục không phải là đưa sách vở bắt buộc dân phải học, làm thế tức là phản lại lợi ích của dân, của cách mạng, là quan liêu, mệnh lệnh Phải vận động nhân dân, để dân tự nguyện, tự giác, nếu bắt buộc thì chỉ có thể có kết quả ngay lúc đó thôi, còn sau thì không thấm” [36,tr.525]
Xây dựng căn cứ địa, hậu phương ở khắp nơi
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều loại hình hậu phương của chiến tranh nhân dân: hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ, ở cả rừng núi
và đồng bằng, ở cả nông thôn và thành thị, từ cơ sở chính trị đến căn cứ địa, hậu phương, ở cả phía sau lưng ta và ở cả sau lưng địch, trong lòng địch
Trang 38Nông thôn rừ ng núi là nơi có đủ điều kiện làm chỗ đứng chân và xây dựng căn cứ địa, hậu phương từ nhỏ đến lớn Đó là nơi “có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ” “Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập” “Đội du kích phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa vững vàng, nhất
là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập chính quyền
cách mạng trong địa phương” [37,tr.504]
Trong khi coi trọng xây dựng nơi đứng chân ở rừng núi, Người chủ trương xây dựng ở cả đồng bằng Ở đồng bằng, địa hình không thuận lợi như rừng núi, nhưng nếu biết dựa vào đông đảo quần chúng nhân dân được giác ngộ, đồng sức, đồng lòng thì đó sẽ là “rừng người, rừng núi che chở cho ta”
Hồ Chí Minh chú trọng chỉ đạo xây dựng hậu phương chiến lược ở phía sau lưng ta Trong kháng chiến chống Pháp, Người quan tâm xây dựng căn cứ
đi ̣a Việt Bắc và các vùng tự do ở Khu IV, Khu V…Trong kháng chiến chống
Mỹ, Người động viên nhân dân ra sức xây dựng miền Bắc vững mạnh về mọi mặt để làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, làm căn cứ địa của cách mạng cả nước, làm hậu phương lớn của tuyền tuyến lớn miền Nam
Mặt khác, Người chú trọng xây dựng hậu phương tại chỗ của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân rộng lớn ở khắp nơi, ngay cả trong vùng địch chiếm đóng, nhằm biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta,
“đặt mìn trong bụng chúng”
Trong các đô thị, tuy không thể xây dựng căn cứ địa, hậu phương như ở rừng núi, nhưng có thể xây dựng cơ sở chính trị Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng (5-1941) xác định “mở rộng các tổ chức vào những nơi thành thị xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền …” Đó là điều kiện để phát động quần chúng nổi dậy, đánh vào các cơ quan đầu não của địch, giành thắng lợi quyết định trong tổng khởi nghĩa; là chỗ dựa để làm chỗ dựa để làm rối loạn sào huyệt của địch của kẻ thù trong chiến tranh
Trang 39 Xây dựng căn cứ địa, hậu phương vững mạnh toàn diện
Về chính trị, phải chăm lo xây dựng, củng cố và phát triển tổ chức
Đảng; xây dựng mặt trận và các đoàn thể quần chúng, giáo dục truyền thống yêu nước và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân vì “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi” [38,tr.281] Đặc biệt, Người nhấn mạnh vấn đề xây dựng chính quyền “Chưa thành lập chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được” [35,tr.504]
Về quân sự, phải xây dựng lực lượng vũ trang “Ngoài việc tăng cường
bộ đội chủ lực và xây dựng bộ đội địa phương, vùng tự do và những căn cứ
du kích khá to cần phải xây dựng những tổ chức dân quân,du kích không
thoát ly sản xuất” [39,tr.13]
Về kinh tế, Hồ Chí Minh nói: “phải bảo vệ và phát triển nền tảng kinh
tế của ta, đấu tranh kinh tế với địch”, “Nếu chỉ biết đánh mà không nghĩ đến kinh tế thì khi hết gạo sẽ không đánh được” Người kêu gọi đẩy mạnh tăng gia sản xuất, “hậu phương thi đua với tiền phương”, sản xuất phải gắn liền với tiết kiệm, lập “hũ gạo kháng chiến”, “hũ gạo chống Mỹ cứu nước” để góp phần nuôi quân đánh giặc
Về văn hóa, xã hội, phải “xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con
người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc Phải triệt tiêu
để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và tiếp thu những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới” [38,tr.173]
Trong khi ra sức xây dựng căn cứ địa, hậu phương, khai thác sức người, sức của toàn dân phục vụ khởi nghĩa, chiến tranh cách mạng, Người rất coi trọng vận động quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ từ hậu phương quốc tế
Xây dựng gắn liền với bảo vệ căn cứ địa, hậu phương
Để đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến tranh của địch, bảo vệ căn cứ địa, hậu phương, phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu: “Địch bắn phá ở
Trang 40đâu, chúng không cho ta biết trước, cho nên bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nàochúng
ta cũng phải tích cực chuẩn bị sẵn sàng” [43,tr.572]
Trong chiến đấu bảo vệ căn cứ phải chủ động ngăn địch từ bên ngoài:
“Lúc bảo vệ căn cứ địa của cách mạng, đội du kích cũng phải dùng lối phòng ngự thế công, chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá” [35,tr.419]
Khi địch đã tiến vào căn cứ thì phải:
1 Dùng lối điều quân lanh lẹ mà phòng ngự” “2 Hết sứ c dùng mọi cách ngăn cản quân giặc” “3 Thực hành vườn không nhà trống”
“4 Hô hào dân chúng tham gia vào việc đánh giặc” “5 Lúc quân giặc tiến vào căn cứ địa mình, mình đánh phá đằng sau chúng” “6 Dùng lối đánh chim sẻ hay dùng lối đánh người Mán” [32,tr.493-494]
1.1.3.6 Tư tưởng về đường lối đối ngoại và nghệ thuật quân sự
Tư tưởng về đường lối đối ngoại
Đường lối ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao trên lĩnh vực quân sựlà một trong cácthành tố của nền quốc phòng toàn dân, toàn diện Trong đấu tranh ngoại giao, Người luôn giữ tính chủ động khẳng định tính chất chính nghĩa của
ta, tính chất phi nghĩa của địch, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước anh
em bầu bạn, của nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên toàn thế giới Người đã khéo lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù để phân hóa chúng, thực hiện phương châm “thêm bạn bớt thù” Nhờ vậy, chúng ta đã tranh thủ được sự ủng
hộ giúp đỡ quốc tế to lớn, tăng cường sức mạnh quốc phòng, tập trung chống
kẻ thù xâm lược chính Sức mạnh đấu tranh ngoại giao theo Hồ Chí Minh là kết hợp sức mạnh của thực lực cách mạng với nghệ thuật đấu tranh ngoại giao, nhưng phải coi thực lực là căn bản “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to - tiếng mới lớn” [35,tr.126]
Nghệ thuật quân sự
Nghệ thuật quân sự của Hồ Chí Minh, trước hếtthể hiện tư tưởng chiến