1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nguyễn Văn Lợi/TT38BC

53 211 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cây Lúa (Oryza Sativa) Thuộc Họ Hồ Thảo (Gramiceae)
Tác giả Nguyễn Văn Lợi
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Trồng Trọt
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bình Định
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 680,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây lúa là một cây trồng có khả năng thích ứng rộng nên nó có mặt ở tất cả các lục địa và phân bố trên một phạm vi khá rộng từ 30-400 vĩ tuyến Nam đến 48-490 vĩ tuyến Bắc, chiếm toàn bộ

Trang 1

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Mở đầu.

Cây lúa (Oryza sativa) thuộc họ hoà thảo (Gramiceae) có nguồn gốc

thuộc khu vực nhiệt đới là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hằng ngày Cây lúa là một cây trồng có khả năng thích ứng rộng nên nó có mặt ở tất cả các lục địa và phân

bố trên một phạm vi khá rộng từ 30-400 vĩ tuyến Nam đến 48-490 vĩ tuyến Bắc, chiếm toàn bộ lục địa Ấn Độ, Miến Điện, Indonesia, Nhật Bản, Philippin, Đông Dương… Gạo là sản phẩm chính của lúa, trong gạo có đầy

đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương thực khác, như hàm lượng tinh bột chiếm 62,4%, Protein 7,9%, Lipit 2,2%, Xenlulo 9,9%, Vitamin B1 0,45 mg/100 hạt và các Vitamin B2,B6… Từ đặc điểm dinh dưỡng của hạt nên đã

từ lâu gạo được coi là nguồn thực phẩm và dược phẩm có giá trị, do đó có tổ chức dinh dưỡng Quốc tế đã gọi “ Hạt gạo là hạt của sự sống ”, nó cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho hoạt động của con người Ngoài ra lúa gạo nó còn làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác như chế biến bánh kẹo… Mặt khác,các sản phẩm phụ như: Rơm, rạ, tấm, cám, vỏ trấu còn được dùng trong chăn nuôi, làm phân bón và chất đốt…[8]

Hiện nay trên thế giới đang đứng trước một thảm hoạ đó là: “ Nạn bùng

nổ dân số ”, trong khi diện tích đất đai canh tác ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, lũ lụt , hạn hán thường xuyên xảy ra ở các nước, đặc biệt các nước đang phát triển là khu vực sản xuất lương thực chủ yêu nên vấn đề an ninh lương thực đang là thách thức lớn của không chỉ một nước mà là toàn cầu Theo nghiên cứu của FAO,cứ tăng 1% dân số thì nhu cầu lương thực phải tăng 4%, nên muốn tăng sản lượng lương thực chỉ có một trong hai hướng giải quyết sau:

- Tăng diện tích canh tác và tăng diện tích gieo trồng

Trang 2

- Thâm canh tăng năng suất.

Nếu theo hướng giải quyết thứ nhất thì chúng ta bị hạn chế do quá trình đất đai bị đô thị hoá và giảm cấp (chất lượng), do suy thoái môi trường

Nếu theo hướng giải quyết thứ hai thì chúng ta có nhiều thuận lợi để thực hiện hơn Trong thâm canh tăng năng suất, việc áp dụng các biện pháp

kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây trồng như: Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới hoặc đưa vào sản xuất các giống mới hay bộ giống mới có ưu thế hơn về năng suất và phẩm chất so với các giống cũ và bộ giống cũ là một trong những chương trình an ninh, an toàn lương thực toàn cầu của Liên Hiệp Quốc

và của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, cây lương thực chính để nuôi sống con người là lúa gạo

Ở đâu có dân là ở đó có lúa gạo, nếu tính mức calo cung cấp cho khẩu phần

ăn của người Việt Nam là 2215 kilocalo mỗi ngày, thì 68% nguồn năng lượng

đó là từ lúa gạo (IRRI facts) Ở nhiều vùng nông thôn 60 – 80% chi tiêu trong gia đình phụ thuộc vào lúa gạo, mặt khác cây lúa chiếm một vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, chiếm 90% sản lượng lương thực quốc gia, thực sự đã góp phần giữ vững ổn định nền kinh tế quốc dân, nên những năm mất mùa lúa thường dẫn đến nạn đói Bởi vậy, sự phát triển của ngành trồng lúa gắn bó chặt chẽ với đời sống người dân Việt Nam

Nước ta là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên cũng được coi là cái nôi của cây lúa nước, bên cạnh sự thuận lợi của thời tiết thì diện tích đất trồng lúa của nước ta khá lớn, phân bố khắp đất nước từ Nam ra Bắc, vựa lúa lớn nhất là khu vực phía Nam Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp nước ta liên tiếp thu được nhiều thành tựu to lớn, được bạn bè quốc tế xem là “Một hiện tượng” Thành tựu lớn nhất là trong một thời gian không dài nước ta từ một nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp, hằng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn gạo đã vươn lên thành một nước nông nghiệp hàng hoá, không chỉ sản xuất đủ dùng trong nước mà còn xuất khẩu một lượng lớn ra thị trường thế giới Trong thành tựu lớn này, ngoài sự đúng đắn trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, còn có sự đóng góp tích cực của công tác giống

Trang 3

Hiện nay có rất nhiều giống được dùng trong thâm canh, tuy nhiên một giống được đánh giá tốt nơi này nhưng có thể không tốt ở nơi khác, bởi vì mỗi giống chỉ thích ứng trong một khu vực canh tác nhất định Nước ta có địa hình phức tạp (3/4 diện tích là đồi núi), phân hoá thành nhiều vùng và tiểu khí hậu khác nhau Do đó việc lựa chọn các giống tốt phù hợp với vùng đất thâm canh của mỗi vùng là một vấn đề thực sự cần thiết và có hiệu quả, nhằm phát huy tốt tiềm năng sẵn có của giống.

Trong công tác thâm canh tăng năng suất lúa có nhiều vấn đề cần quan tâm, phần lớn diện tích lúa ở các địa phương đã được thuỷ lợi hoá thì vấn đề còn lại là tạo ra các giống lúa mới, bộ giống mới có năng suất cao, phù hợp với các điều kiện bất lợi của tự nhiên , phù hợp với từng vùng, từng địa phương là việc làm quan trọng và bức thiết

Khu vực Duyên Hải Miền Trung nói chung, xã Cát Nhơn huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định nói riêng là vùng nóng, gió khô hạn và chịu nhiều rủi ro nhất Nên vấn đề đặt ra nhằm đáp ứng phần nào nguyện vọng của người dân

có được những giống lúa thích hợp cho sản xuất, vừa cho năng suất cao ổn định có phẩm chất khá , thích nghi mùa vụ, có sức chống chịu với điều kiện tự nhiên và có hiệu quả kinh tế cao

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự nhất trí của khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Trung tâm Đại học tại chức Bình Định

và sự quan tâm giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “ So sánh năng suất một số giống lúa trong vụ Đông- Xuân

năm2008- 2009 xã Cát Nhơn,tỉnh Bình Định”

1.2 Mục tiêu của đề tài.

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và tính chống chịu của một số giống lúa trong điều kiện vụ đông xuân tại xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định

- So sánh tìm ra giống lúa có năng suất, phẩm chất cao, ổn định để đưa vào phát triển sản xuất

Trang 4

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới:

2.1.1 Tình hình sản xuất:

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, nhất là một quốc gia có nền nông nghiệp là chủ yếu thì cây lương thực nói chung và cây lúa nói riêng luôn được quan tâm hàng đầu Bởi vì nó không những đảm bảo an toàn cho chính nước

đó mà còn đảm bảo lương thực cho khu vực và cả cộng đồng

Cây lúa được trồng ở nhiều địa phương và nhiều vùng khí hậu khác nhau Người ta cho rằng cây lúa bắt nguồn từ vùng Đông Nam Á Hiện nay cây lúa đã được gieo trồng trên một địa bàn khá rộng từ 530 Bắc đến 300 Nam Lúa trồng ở Tây Bắc Trung Quốc ở vĩ độ 530 Bắc ở miền Trung Xumatra trên đường xích đạo và ở cả New South Wales châu Úc ở 300 Nam [12].Địa bàn trồng lúa của thế giới tập trung chủ yếu ở châu Á ( hơn 90% diện tích lúa thế giới ) Riêng vùng Nam và Đông Nam Á có diện tích lúa chiếm 61,2% diện tích lúa thế giới với khoảng 50,6 triệu ha ở Nam Á và 31 triệu ha ở Đông Nam Á [4]

Theo số liệu thống kê cho thấy sản xuất lúa tập trung hầu hết ở châu Á, chiếm 91,4% Ngoài châu Á sản lượng lúa của các khu vực còn lại chỉ chiếm gần 9% Ở châu Mỹ khu vực sản xuất lúa gạo lớn thứ hai và chiếm gần 5% tổng sản lượng lúa gạo toàn cầu, nhưng tập trung phấn lớn ở vùng Mỹ Latinh Sản xuất lúa gạo khu vực châu Phi đứng thứ ba trên thế giới, chiếm tỷ trọng 2,7% và tập trung chủ yếu ở vùng hạ sa mạc Xahara Sau cùng là châu Đại Dương có sản lượng lúa gạo không đáng kể với tỷ trọng 0,7% và 0,35 tổng sản lượng toàn cầu [22]

Trang 5

Bảng 1: Diện tích , năng suất và sản lượng lúa gạo thế giới từ năm

2000-2005.

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(1000 ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(1000 tấn)

(Nguồn: Niên giám thống kê 2004 và http://faostat.org.)

Trong một vài thập kỷ vừa qua sản xuất lúa gạo của thế giới đã có nhiều tiến bộ đáng kể như diện tích và năng suất tăng lên nhưng vẫn chưa xứng với tiềm năng cho năng suất và sản lượng của nó Chính vì vậy việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: Sử dụng những giống mới, bón phân hợp lý, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, hệ thống thuỷ lợi cũng như áp dụng máy móc, công nghệ sau thu hoạch vào sản xuất để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng cao của thế giới trước sức ép về gia tăng dân số là vấn đề cần thiết

2.1.2 Tình hình nghiên cứu :

Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng cao của thế giới, theo tính toán của FAO năm 2000 có khoảng 250 triệu người thiếu lương thực Nguyên nhân bao trùm trên phạm vi toàn thế giới là sản xuất không đáp ứng được nhu cầu lương thực của thế giới Trong những năm vừa qua năng suất và sản lượng lúa đã tăng đáng kể, nhưng trước sự bùng nổ của dân số toàn cầu, đặc biệt là một số khu vực như: Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh thì sản lượng tăng nhưng tính bình quân theo đầu người thì lại giảm đáng kể

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thế giới về cả số lượng lẫn chất lượng, ngoài việc áp dụng các biện pháp thâm canh tăng vụ, sử dụng phân bón hợp lý, phòng trừ sâu bệnh và hoàn thiện những biện pháp kỹ thuật… thì việc nghiên cứu thu thập các nguồn gen có giá trị để giữ và lai tạo nhiều giống

Trang 6

lúa mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh cao, thích hợp với điều kiện sinh thái của nhiều địa phương để đưa ra ứng dụng sản xuất là một vấn đề được thế giới thường xuyên quan tâm và đầu tư.

Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI được thành lập năm 1960 tại Losbonos – Philippin Viện là trung tâm quốc tế về thu thập, bảo tồn và nghiên cứu để cung cấp hạt giống lúa cho các nước Trung tâm quốc tế nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới CIAT được thành lập năm 1967 tại Pamira – Colombia, với nhiệm vụ là thu thập bảo tồn và nghiên cứu các giống đậu, đỗ, sắn, ngô và lúa nhiệt đới…

Nhờ những thành tựu của các tổ chức và các cơ sở nghiên cứu trên mà một số nước sản xuất lúa ở Châu Á ngoài việc áp dụng những biện pháp kỹ thuật thì giống là đòn bẩy để đưa được năng suất lên cao, đạt tổng sản lượng đáng kể Tổng sản lượng của 10 nước Châu Á ( Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêsia, Bănglađet, Việt Nam, Thái Lan, Myanma, Nhật Bản, Philippin và Hàn Quốc ) đạt 488.848 ngàn tấn [3]

Vào những năm 60 của thế kỷ 20 các giống lúa dạng hình thấp cây năng suất cao không đổ ngã , chịu phân như: IR8, IR22, IR5… đã được tạo ra

mở đầu cho “ Cuộc Cách mạng xanh ” Công tác chọn lọc cũng đã tạo ra các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như: B10, CN2… , các giống kháng rầy như: CR203, IR17494…, giống kháng đạo ôn như: IR72, IR1820-210-2 Đặt biệt thành tựu nổi bật, bước nhảy vọt lớn trong công tác chọn giống đó là tạo

ra các giống lúa lai nhờ ông “ Vua lúa lai ” viện Long Bình ( Trung Quốc ) Mùa hè năm 1964 lần đầu tiên ông đã phát hiện được một dòng lúa bất dục đực, ông nghĩ ngay đến việc dùng để sản xuất lúa lai Sau 2 năm thí nghiệm (1974-1975) đến năm 1976 thì lúa lai đã được đưa vào sản xuất đại trà Giống lúa lai cho năng suất cao hơn giống lúa mẹ 20% đến 30% có khi đến 50% Năm 1998 ông đã được tặng giải thưởng lúa quốc tế Fakail Ko Shi Hi Kari (Nhật Bản) cùng với giáo sư tiến sĩ Vũ Tuyên Hoàng (Việt Nam) và tiến sĩ Senathira (Nhật Bản ) [20]

Năm 1976 Trung Quốc đã sản xuất được hạt lúa lai F1, đã gieo được 133,3 ngàn ha (chiếm 0,4% diện tích) đạt năng suất 42 tạ/ha tăng 21% so với

Trang 7

lúa thường Năm 1991 diện tích lúa lai đạt 17.600 ha chiếm 55% diện rích đất trồng lúa của Trung Quốc, năng suất tăng 46,8% so với lúa thường [16]

Năm 1998, Viện lúa IRRI đã phổ biến các giống IR đến IR74 và các nước khác trên thế giới cũng đã tạo ra được 178 giống lúa mới với thành phần

di truyền từ IR và đã thích hợp với mỗi địa phương Về sau Viện lúa IRRI đã cho ra đời các dòng mới có tiềm năng để các nước tự thuần hoá thành giống Giống IR36 đã được Philippin thuần hoá và đã được trồng trên 10 triệu ha ở Châu Á Giống IR38 và các giống IR khác cùng các giống tạo ra từ tạp giao

IR với một số giống địa phương là một loạt giống lúa thấp cây thay thế cho các giống lúa cao cây ở Nam Á và Đông Nam Á [5]

Ngày nay do công nghiệp phát triển ngày càng ồ ạt cùng với sự gia tăng dân số thế giới, diện tích cây lương thực nói chung, cây lúa nói riêng ngày càng giảm, môi trường, môi sinh bị huỷ hoại trầm trọng, thời tiết khí hậu thế giới ngày càng biến động theo chiều hướng không có lợi cho sản xuất nông nghiệp Vì vậy việc tạo ra các giống lúa mới vừa có năng suất cao, ổn định, lại thích hợp với điều kiện môi trường thay đổi là vấn đề không chỉ của một nước mà của toàn cầu

2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở nước ta :

2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trong nước :

Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam cũng có thể nói là cái nôi hình thành cây lúa nước Đã từ lâu cây lúa nước đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta, với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành nên những đồng bằng châu thổ trồng lúa

Trước năm 1945 diện tích trồng lúa ở hai đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ

là 1,8 triệu và 2,7 triệu ha, với sản lượng thóc tương ứng là 2,4 và 3,0 triệu tấn, năng suất bình quân là 13 tạ/ha Nhưng nền nông nghiệp nước ta sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay đã có bước phát triển vượt bậc đáng ghi nhận, đặc biệt giai đoạn 1991-1995 sản lượng lương thực bình quân của ta đạt 19,6-24,9 triệu tấn cao nhất từ trước đến thời điểm hiện tại, mức tương ứng bình quân cao và ổn định đạt 4,28%/năm (1 triệu tấn/năm), giá trị tổng sản lượng lương thực chiếm khoảng 65% tổng giá trị sản lượng tương ứng,

Trang 8

chiếm khoảng 65% tổng sản lượng nông nghiệp của Việt Nam Từ một nước khó khăn, không đủ ăn, phải nhập khẩu lương thực, nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Năng suất lúa bình quân của cả nước

từ 22,3 tạ/ha năm 1976 đã tăng lên 35 tạ/ha năm 1993, đã có 11 tỉnh đạt trên 1triệu tấn lương thực qui thóc (riêng An Giang đạt trên 2 triệu tấn lương thực năm 1995) Nam bộ thực sự là vựa lúa của cả nước, nhiều huyện, nhiều tỉnh đạt năng suất lúa cao

Với nhu cầu lương thực ngày càng lớn, Nhà nước đã có định hướng phát triển nền nông nghiệp Việt Nam từ 2000-2010 là nhanh chóng xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sinh thái bền vững, nông nghiệp sạch và chất lượng cao, kết hợp nông nghiêp,lâm nghiệp và công nghiệp chế biến; thực hiện đa canh, đa dạng hoá sản phẩm, từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng nhanh nông sản hàng hoá, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và xuất khẩu đạt hiệu quả cao; cải thiện đời sống nông dân, xây dựng nông thôn mới, sản xuất lương thực luôn là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp, là nền tảng để ổn định và phát triển toàn diện nền kinh tế quốc dân, bởi vì “không có nông nghiệp không có sự ổn định”

Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa Việt Nam từ 2000-2005

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(nghìn tấn)

Trang 9

Năng suất lúa của Việt Nam từ năm 2000 đến 2005 tăng dần, năm 2000 năng suất lúa đạt 42,4 tạ/ha, nhưng năm 2005 đã tăng lên 49,5 tạ/ha Hằng năm có nhiều giống lúa mới có năng suất cao và phẩm chất tốt… được đưa ra sản xuất, nhằm thay thế cho các giống lúa cũ bị thoái hoá biến chất.

Sản lượng lúa của Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2005 ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, diện tích sản xuất nông nghiệp ngày càng

bị thu hẹp nhưng năng suất ngày càng tăng nên sản lượng lúa gạo của Việt Nam tăng, hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan

Trong dự thảo chiến lược phát triển nông nghiệp giai đoạn 2000-2010 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tháng 3 năm 2000 , lương thực vẫn là quan trọng bậc nhất của nông nghiệp, của Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu an ninh lương thực quốc gia Tiềm năng sản xuất gạo của Việt Nam còn rất lớn và vẫn giữ vị trí quan trọng trong nông nghiệp Giai đoạn 2000-

2010 sẽ duy trì quy mô đất lúa là khoảng 4 triệu ha, đảm bảo sản lượng khoảng 40 triệu tấn/năm [22]

Hiện nay, tiềm năng, sản xuất, năng suất lúa của nước ta còn rất lớn Cùng với các yếu tố: Đất đai, thuỷ lợi, phân bón, đặc biệt là giống lúa… Việt Nam có điều kiện để gia tăng nhanh hơn năng suất lúa

2.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa ở trong nước :

Giống là một trong những yếu tố có vai trò quyết định đến năng suất của cây trồng Trong các yếu tố tăng năng suất và chất lượng của lúa gạo Việt Nam để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của thị trường trong nước và xuất khẩu trên thế giới thì việc nghiên cứu ra những giống mới là yếu tố quan trọng hàng đầu Thấy được tầm quan trọng của công tác giống nên trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, công tác nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và khảo kiểm nghiệm giống của các Viện, các Trung tâm nghiên cứu, các Trường Đại học, Trạm, Trại… như : Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long , Viện cây lương thực và thực phẩm, Viện Di truyền Trường Đại học Nông nghiệp I… đã đạt nhiều thành tựu đáng kể Trong đó, đã đưa ra được nhiều giống lúa mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu được sâu bệnh, thích ứng với điều kiện ngoại cảnh của Việt Nam

Trang 10

Trong giai đoạn 1990-1994, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương đã tiến hành khảo nghiệm giống quốc gia trên 150 giống lúa Riêng các mạng lưới cơ sở của Trung tâm cũng đã thu thập nhập nội, chọn , tạo và đưa vào khảo nghiệm các giống, trình diễn 19 giống lúa lai, 22 giống lúa thuần Trung Quốc, 14 giống lúa thon, hạt dài, chất lượng tốt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu [16]

Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long, tiền thân là Trung tâm kỹ thuật Nông nghịêp Đồng bằng Sông Cửu Long, được thành lập năm 1977, sau 20 năm hoạt động, thực thi các chương trình, dự án và đề tài Quốc gia, như các chương trình 02, 02A, KN01…, các đề tài hợp tác với các tỉnh, dự án quốc tế như chương trình hợp tác Việt Nam – IRRI, dự án song phương Việt Nam -

Ấn Độ, dự án UNDP-VIE/91/005, WB, FAO… , đã đưa được nhiều tiến bộ

kỹ thuật vào sản xuất, trong đó nhiều nhất là giống lúa, Sau 20 năm, Viện đã

có 45 giống lúa được Bộ công nhận, trong đó có 21 giống mang tên OM được lai tạo tại Viện và 18 giống được dùng sản xuất đại trà Viện đã tăng gần 100

bộ giống lúa để cùng khảo nghiệm ở 11 tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, các tỉnh Miền Trung, Miền Bắc…

Để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, Viện đã lưu trữ 1836 mẫu giống, trong đó có 219 giống mùa sớm, ít cảm quang và 1617 giống mùa lỡ

và muộn, có tính cảm quang Viện đã dùng 134 giống lúa địa phương trong chương trình lai tạo giống của Viện [6]

Ngoài các công trình nghiên cứu của Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long thì các Trường Đại học, các Viện cũng đã có những đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu chọn, tạo những giống lúa mới phục vụ cho sản xuất Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam tạo ra giống V14 năm 1981

và được công nhận giống mới năm 1988, giống V18 được khu vực hoá năm

1989 là giống có triển vọng…, giống xuân số 5, xuân số 6 do Viện cây lương thực và thực phẩm chọn tạo năm 1980 được công nhận giống mới năm 1999, giống CH3 được tạo ra bằng chọn dòng, chọn tạo năm 1978 công nhận giống mới năm 1989 [7]

Vụ Đông Xuân 1996-1997, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương tiến hành khảo nghiệm 31 giống lúa mới của các tác giả thuộc

Trang 11

Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện cây lương thực và thực phẩm, Viện Di truyền Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I tại 14 điểm đại diện cho bốn vùng đồng bằng, trung du, miền núi và khu bốn cũ Kết quả 4 giống được đánh giá có triển vọng là DR1, DR2, xuân số 42, DT13, các giống này đã được khảo nghiệm qua 3 vụ, 11 giống tuy mới được khảo nghiệm 1-2

vụ nhưng có nhiều ưu điểm được xếp vào loại giống có triển vọng gồm: D271,CM5, xuân số 11, TV1, nếp BM9603, nếp K12, KC 90, NT 90, N 24, D116 và BM 9611 [10]

Trong 5 năm 1991-1995 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã công nhận 44 giống mới và đã áp dụng vào canh tác với diện tích là 440.000 ha

2.3 Tình hình sản xuất lúa ở Bình Định:

Bình Định là tỉnh ở vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, Nam giáp tỉnh Phú Yên , Đông giáp Biển, Tây giáp tỉnh Gia Lai Với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, được phân thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa thường bị lũ lụt, mùa khô thường có những đợt nắng nóng kéo dài và gió lào Điều kiện tự nhiên như vậy ảnh hưởng rất lớn cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng Bên cạnh đó, sự bùng nổ của dân số cộng thêm quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, xuất hiện thêm nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã làm cho diện tích canh tác nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp

Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng tỉnh Bình Định

giai đoạn 2003-2007

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(tấn)

Trang 12

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006 và Báo cáo của Sở Nông nghiệp

và phát triển nông thôn tỉnh Bình Định năm 2007)

Qua bảng 3 nhận xét:

Diện tích đất canh tác từ năm 2003-2005 giảm dần, riêng năm 2006 thì tăng lên, sang năm 2007 thì lại giảm xuống Năng suất thì tăng dần từ 41,2 tạ/ha năm 2003 lên 51,7 tạ/ha năm 2007 Sản lượng thì có sự tăng, giảm phụ thuộc vào diện tích canh tác hằng năm và năng suất, nhưng vẫn chịu áp lực rất lớn từ việc bùng nổ dân số Đứng trước xu hướng diện tích đất trồng lúa của địa phương dần tới ổn định, năng suất và sản lượng tăng chậm, vì vậy việc khảo nghiệm , nghiên cứu những giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện của địa phương để thay thế cho những giống lúa cũ

bị thoái hóa là một nhu cầu cấp thiết trước mắt và lâu dài của tỉnh

Ở Bình Định thời gian qua được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh đã phối hợp cùng với Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ đã khảo nghiệm và nghiên cứu đưa vào sản xuất một số giống lúa mới phù hợp với điều kiện của địa phương

2.4 Tình hình sản xuất lúa ở huyện Phù Cát:

Huyện Phù Cát là một huyện đồng bằng, là một trong những huyện trọng điểm sản xuất lúa của tỉnh Bình Định, diễn biến về diện tích, năng suất

và sản lượng lúa của huyện được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng và bình quân lương thực

ở huyện Phù Cát giai đoạn 2003-2007

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(tấn)

Dân số(người)

Bình quân lương thực(kg/người/năm)

Trang 13

(Nguồn thống kê Huyện Phù Cát năm 2007)

Qua bảng 4 nhận xét:

Diện tích đất trồng lúa giảm dần , riêng năm 2005 bị nắng hạn kéo dài nên diện tích canh tác giảm mạnh trong năm 2005, năng suất cũng đạt thấp dẫn đến sản lượng năm này đạt thấp nhất trong các năm Năng suất có tăng dần (trừ năm 2005), sản lượng lúa hằng năm tăng giảm không ổn định Mặt khác dân số tăng đều hằng năm, do đó bình quân lương thực đầu người đạt thấp Những năm gần đây Huyện tập trung chỉ đạo làm điểm một số mô hình như: Đưa cây lúa lai vào sản xuất ở một số xã; Chuyển đổi từ 3 vụ lúa bấp bênh sang sản xuất 2 vụ … bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế tương đối cao

2.5 Tình hình sản xuất lúa ở xã Cát Nhơn:

Xã Cát Nhơn là xã đồng bằng nằm gần trung tâm huyện, có diện tích

đất tự nhiên 2802 ha, trong đó đất trồng lúa 647,5 ha Xã có 01 sông La Vĩ và

01 suối chạy qua địa bàn, có 4 hồ chứa nước nhỏ dung tích từ 190.000 – 500.000 m3 đảm bảo tưới khoảng 10-40 ha/vụ Đất trồng lúa chủ yếu là đất cát pha, những năm nắng nóng kéo dài thường bị hạn chết lúa với diện tích lớn Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng qua bảng sau:

Bảng 5: Diện tích, năng suất, sản lượng, dân số và bình quân lương thực của xã Cát Nhơn giai đoạn 2003-2007:

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(tấn)

Dân số(người)

Bình quân lương

thực(kg/người/năm)

Trang 14

làm giảm diện tích trồng lúa Nhìn chung thì năng suất đạt thấp so với mặt bằng chung của huyện (do điều kiện đất đai), tăng giảm không ổn định qua các năm Do đó sản lượng lúa các năm tăng giảm cũng không ổn định Mặt khác dân số xã lại tăng đều qua các năm, là xã có dân số đông, từ đó bình quân lương thực đầu người đạt thấp dao động từ 244-299,2 kg/người/năm.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ X (nhiệm kỳ 2005-2010) phấn đấu đến năm 2010: Diện tích đất trồng lúa 1000 ha, năng suất 52 tạ/ha, sản lượng 5200 tấn, bình quân lương thực đạt 327 kg/người/năm, dân số khoảng 17.404 người Do đó, việc khảo nghiệm, sản xuất tìm ra những giống lúa có năng suất cao, ổn định là nhu cầu hết sức quan trọng mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Cát Nhơn quan tâm mong muốn

2.6 Cơ sở lý luận và thực tiễn:

2.6.1 Cơ sở lý luận:

Ông cha ta ngày xưa có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”

Như vậy, từ ngày xưa nhân dân ta đã coi trọng công tác giống và giống là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất của cây lúa và ngày nay thực tế trong sản xuất đã chứng minh là khi sử dụng giống tốt thì năng suất tăng bình quân 10-15%, đặt biệt có nơi năng suất chất lượng tăng 30-40% Tuy nhiên, mỗi giống lúa có khả năng thích ứng với một điều kiện sinh thái nhất định, tuỳ theo kiểu gen của nó Giống lúa được chấp nhận trong sản xuất thì cần phải đạt được một số chỉ tiêu quan trọng như: Năng suất, phù hợp với tập quán canh tác, điều kiện thâm canh của từng vùng, đồng thời phải đáp ứng được khả năng chống chịu với những điều kiện về thời tiết, khí hậu, sâu bệnh gây hại, có khả năng cho năng suất cao trong điều kiện thâm canh và môi trường thuận lợi và trong điều kiện bất thuận thì phải có năng suất ổn định

Trên cơ sở nắm được những đặc điểm của từng giống như về thời gian sinh trưởng, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh để bố trí mùa vụ, thời vụ thích hợp, nhằm tận dụng, khai thác tiềm năng của mỗi giống cũng như đất đai Khí hậu là yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và cây lúa nói riêng, nó cung cấp năng lượng cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, tạo năng suất cây trồng Bố trí thời vụ hợp lý là tận dụng cao nhất điều kiện khí hậu sẽ cho sản phẩm và giá trị kinh

Trang 15

tế cao Ngoài khí hậu, đất đai là một thành phần quan trọng, nó đóng vai trò là giá đỡ cung cấp dinh dưỡng , nước cho cây lúa Do đó, để phát huy tiềm năng của một giống tốt thì phải kết hợp với các biện pháp kỹ thuật kèm theo.

Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật còn phụ thuộc vào trình độ dân trí, khả năng tiếp thu tiến bộ kỹ thuật, tập quán canh tác của nông dân Vì vậy, trong quá trình so sánh chọn tạo giống mới phải phù hợp với trình độ dân trí, tập quán canh tác của nông dân và phù hợp với điều kiện từng vùng thì mới phát huy hết tiềm năng của một giống và sản xuất mới đem lại hiệu quả kinh tế cao

Thực tế, một giống tốt được đưa vào sản xuất qua nhiều chu kỳ, dưới

sự tác động của điều kiện tự nhiên như: Đất đai, thời tiết và trình độ canh tác của nông dân, giống có xu hướng thoái hoá, giảm năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh Vì vậy, cần có những giống mới là điều kiện tất yếu không thể thiếu được trước mắt và lâu dài

2.6.2 Cơ sở thực tiễn:

Theo số liệu thống kê cho thấy, diện tích đất sản xuất lúa xã Cát Nhơn

có xu hướng ngày càng giảm do quá trình đô thị hoá và quá trình tăng dân số, nhưng năng suất và bình quân lương thực đạt quá thấp (thấp hơn bình quân chung của huyện, tỉnh), bên cạnh đó xã nhà đã có chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển những diện tích thiếu nước bấp bênh sang trồng một số cây trồng cạn như: Đậu đỗ , ngô, rau màu…

Là xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, hơn 80% hộ gia đình tham gia sản xuất nông nghiệp, do đó nông nghiệp vẫn là ưu tiên hàng đầu của xã, việc duy trì diện tích, nâng cao năng suất, sản lượng để đảm bảo nhu cầu lương thực cho nhân dân xã nhà là hết sức quan trọng

Hiện nay, bà con nông dân sản xuất ngày càng gặp nhiều khó khăn do

bà con nông dân sử dụng những giống lúa đã cũ, đang bị thoái hoá, năng suất, phẩm chất giảm dần, khả năng chống chịu sâu bệnh kém Do đó, hiện nay bà con nông dân đang cần có những giống lúa mới có năng suất cao, ổn định, phẩm chất tốt … để đưa vào sản xuất thay thế những giống lúa cũ Đây là một nhu cầu hết sức cần thiết trước mắt và lâu dài của xã Cát Nhơn

Trang 16

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống lúa thí nghiệm

Trang 17

- Nghiên cứu khả năng thích nghi và chống chịu sâu bệnh của các giống thí nghiệm

- Nghiên cứu khả năng cho năng suất của các giống , từ đó xác định giống lúa thích hợp với vụ Đông-Xuân tại địa phương

3.2 Vật liệu nghiên cứu:

Thí nghiệm gồm 5 giống: CH207; IR78905-105-1-2-2; 1; IR78936-139-13-13-13;DV108(Đ/C) Trong đó giống DV108 được sử dụng làm giống đối chứng

IR78905-105-1-2-2

Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

III IR74371-3-1-1 Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

IR78936-139-13-13-13

Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Trang 18

2.5m Ia IVa IIa Va IIIa

Bảo vệ IIb Ib Vb IIIb IVb Bảo vệ

Vc IIIc IVc IIc Ic

Ký hiệu: a lần nhắc lại 1

b lần nhắc lại 2

c lần nhắc lại 3

3.4.2 Điều kiện thí nghiệm:

3.4.2.1 Điều kiện tự nhiên:

Thí nghiệm được tiến hành tại xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Các công thức được bố trí trên đất hai vụ lúa/năm, loại đất cát pha, tưới tiêu chủ động

3.4.2.2 Điều kiện thời tiết , khí hậu:

Cũng như mọi cây trồng khác, quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, trước hết là điều kiện khí hậu , thời tiết Điều kiện sinh thái nói chung và khí hậu , thời tiết nói riêng ảnh hưởng đến các quá trình sinh trưởng, phát triển, quá trình hình thành năng suất lúa cũng như quá trình hình thành các vùng trồng, vụ trồng và phương thức trồng lúa khác nhau Nắm được mối quan hệ này, chúng ta mới có cơ sở

để xây dựng chế độ đồng bộ, để bố trí mùa vụ và cơ cấu cây trồng hợp lý, áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp, nhằm thâm canh tăng năng suất, tăng sản lượng lúa có như vậy, mới sử dụng hợp lý tài nguyên, duy trì được sự cân bằng sinh thái, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững

Trang 19

Điều kiện thời tiết, khí hậu ở xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định vụ Đông-Xuân năm 2008-2009 thể hiện ở bảng 6.

Bảng 6: Điều kiện thời tiết, khí hậu ở xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định vụ Đông-Xuân năm 2008- 2009:

Tháng 1: Cây lúa cấy sống tự lập nhờ bộ rễ và bắt đầu chuyển sang giai đoạn đẻ nhánh Ở tháng 1, nhiệt độ trung bình 21,7 0C, nhiệt độ cao nhất

280C, nhiệt độ thấp nhất 16,40C, ẩm độ trung bình 82%, có 15 ngày mưa mà chủ yếu tập trung ở đầu tháng, do đó điều kiện thời tiết đã ảnh hưởng phần nào đến khả năng đẻ nhánh của lúa

Tháng 2: Giai đoạn này cây lúa ở những ngày đầu tháng tập trung đẻ nhánh, cuối tháng kết thúc đẻ nhánh và bước vào giai đoạn làm đốt làm đòng, nhiệt độ trung bình 240C, nhiệt độ cao nhất 30,40C, nhiệt độ thấp nhất 16,60C,

ẩm độ 89%, đây là điều kiện tương đối thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng phát triển

Tháng 3: Đây là tháng có vai trò quan trọng, nếu thời tiết không thuận lợi sẽ ảnh hưởng đến năng suất sau này Đây là tháng cây lúa kết thúc thời kỳ làm đốt làm đòng, chuyển sang giai đoạn trổ bông, phơi màu, thụ phấn, thụ

Trang 20

tinh để hình thành hạt Nhiệt độ trung bình 25,50C, nhiệt độ cao nhất 34,30C, nhiệt độ thấp nhất 19,30C, ẩm độ không khí 88%, có 230,6 giờ nắng (Trung bình mỗi ngày có 8 giờ nắng) Ở khu vực Duyên hải Nam Trung bộ, đây là điều kiện lý tưởng cho cây lúa trổ bông, phơi màu, thụ phấn, thụ tinh Ở cuối tháng 3 là giai đoạn cây lúa bước vào giai đoạn chín sữa, chín sáp, một số giống chín hoàn toàn, nền nhiệt độ cao đã tạo điều kiện cho cây lúa chín nhanh, tăng sự tích luỹ vật chất khô trong hạt.

Tháng 4: Là thời kỳ lúa chuyển sang giai đoạn chín nên điều kiện thời tiết chỉ có ảnh hưởng nhất định

3.5 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng:

3.5.1 Làm đất:

Đất ruộng được máy cày, sau đó dùng trâu trục lại cho phẳng, làm sạch

cỏ dại, giữ đúng mực nước trên ruộng Tiến hành chia ô thí nghiệm trước khi gieo mạ và cấy

3.5.2 Thời vụ và mật độ:

- Thời vụ: Thí nghiệm được bố trí ở vụ Đông-Xuân năm 2008-2009

- Ngày gieo mạ: Ngày 12 tháng 12 năm 2008

- Ngày cấy: Ngày 30 tháng 12 năm 2008

Lượng phân cho thí nghiệm: Phân chuồng: 150 kg

Phân Superlân : 3,75 kg

Cách bón: Chia làm 5 lần bón

+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và phân lân

+ Bón thúc lần 1(sau cấy 10 ngày): 35% phân urê

Trang 21

+ Bón thúc lần 2 (sau cấy 20 ngày): 25% phân urê và 50% phân kali+ Bón thúc lần 3 (sau cấy 35 ngày): 25% phân urê

+ Bón thúc lần 4 (sau cấy 45 ngày): 15% phân urê và 50% phân kali

3.5.5 Phương pháp theo dõi thí nghiệm:

Mỗi ô thí nghiệm cắm cọc theo dõi 5 cây Theo dõi 7 ngày một lần

3.6 Các chỉ tiêu theo dõi:

- Từ cấy đến bén rễ hồi xanh

+ Thời gian chín hoàn toàn

- Một số đối tượng sâu, bệnh hại chính:

Trang 22

10.000

+ Năng suất thực thu: Phơi mỗi ô riêng lẻ cho đến độ ẩm 14% sau đó quạt sạch rồi đem cân , sau đó lấy trung bình của ba lần nhắc lại cho từng giống

- Một số chỉ tiêu về chất lượng:

+ Tỷ lệ bạc bụng: Hạt bạc bụng là hạt có phần tinh bột màu trắng chiếm 1/4 khối lượng hạt trở lên đếm ngẫu nhiên 100 hạt gạo nguyên xác định số hạt bạc bụng rồi tính

Trang 23

- Đánh giá hình dạng hạt gạo: Chọn 50 hạt nguyên vẹn dùng thước Palme đo chiều dài và chiều rộng :

Bảng 7: Đánh giá hình dạng hạt gạo:

Xếp hạng chiều

dài hạt gạo

Chiều dài hạt (mm)

Điểm Xếp loại dạng

hạt gạo

Tỷ lệ dài/rộng Điểm

Trang 24

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa:

Chu kỳ phát triển của cây lúa gồm hai giai đoạn: Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh thực

Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng được tính từ khi cây lúa bắt đầu nảy mầm đến khi cây lúa phân hoá đòng

Giai đoạn sinh trưởng sinh thực được tính từ khi cây lúa phân hoá đòng đến lúc cây lúa chín hoàn toàn

Nghiên cứu thời gian sinh trưởng của cây lúa qua các giai đoạn và tổng thời gian sinh trưởng, có ý nghĩa lớn trong việc đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống lúa mạnh hay yếu dưới sự tác động của cùng một điều kiện ngoại cảnh như nhau Hiểu biết về mối quan hệ đó giúp cho chúng ta rất nhiều trong quá trình canh tác, để tác động các biện pháp kỹ thuật và bố trí thời vụ một cách hợp lý, giúp cho cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt đưa lại năng suất cao, đặc biệt có định hướng trong việc xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của địa phương Qua theo dõi chúng tôi thu được kết quả ở bảng 8:

Trang 25

Bảng 8: Thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống qua các giai đoạn:

Đơn vị tính: ngày

Chỉ tiêu

Giống

Từ khi gieo mạ-Cấy

Bén

Cấy-rễ hồi xanh

BRHX-Bắt đầu đẻ nhánh

BĐĐN

- Kết thúc

đẻ nhánh

KTĐN

- Bắt đầu trổ

BĐT

- Kết thúc trổ

KTT

- Chín hoàn toàn

Tổng thời gian sinh trưởng

- Giai đoạn từ khi cấy đến bén rễ hồi xanh: Thời gian này đánh dấu quá trình cây lúa chuyển từ sinh trưởng nhờ chất dinh dưỡng trong hạt sang sống

tự lập nhờ bộ rễ, do đó cần có biện pháp kỹ thuật hợp lý Thời gian này dài hay ngắn nó phụ thuộc vào điều kiện canh tác và điều kiện ngoại cảnh Các giống có thời gian hồi xanh đồng đều chênh lệch không đáng kể là 8;9 ngày sau khi cấy

Trang 26

-Giai đoạn từ bén rễ hồi xanh đến bắt đầu đẻ nhánh: Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, đây là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng trong toàn

bộ đời sống của cây lúa và quá trình tạo năng suất của cây lúa Thời gian đẻ nhánh càng ngắn thì cây lúa đẻ nhánh càng sớm, tập trung như vậy sẽ có nhiều nhánh hữu hiệu Qua theo dõi các giống DV108 (đ/c), IR78936-139-13-13-13, có thời gian bắt đầu đẻ nhánh sớm hơn, 8 ngày sau bén rễ hồi xanh, các giống IR74371-3-1-1 và IR78905-105-1-2-2 muộn hơn 1 ngày còn giống CH207 là 10 ngày sau bén rễ hồi xanh

- Giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến kết thúc đẻ nhánh: Có thể nói thời

kỳ này đóng vai trò cực kỳ quan trọng, quyết định đến năng suất của cây lúa Nếu điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, giống tốt, cây lúa đẻ nhánh nhiều, đẻ khoẻ, đẻ tập trung thì tỷ lệ nhánh hữu hiệu sẽ cao Ngược lại gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi thì tỷ lệ nhánh vô hiệu nhiều, làm giảm năng suất lúa rất nhiều Do đó chúng ta cần theo dõi thời gian đẻ nhánh để có biện pháp tác động phù hợp, để lúa đẻ nhánh tập trung, tránh đẻ nhánh lai rai, để tăng số nhánh hữu hiệu Giống có thời gian từ bắt đầu đẻ nhánh đến kết thúc đẻ nhánh thấp nhất là DV108 (đ/c) và IR78936-139-13-13-13 (17 ngày), còn giống IR74371-3-1-1 và IR78905-105-1-2-2 có thời gian này là 18 ngày, giống có thời gian ở giai đoạn này cao nhất là CH207 (20 ngày )

- Giai đoạn từ kết thúc đẻ nhánh đến bắt đầu trổ: Thời gian này cũng cực kỳ quan trọng, sau khi kết thúc đẻ nhánh cây đạt số nhánh tối đa nó sẽ chuyển sang thời kỳ làm đốt, làm đòng Ở thời kỳ này cây lúa tiếp tục ra những lá cuối cùng, nhánh vô hiệu lụi dần, các nhánh tốt thì phát triển để trở thành hữu hiệu Quá trình làm đòng là quá trình phân hoá và hình thành cơ quan sinh sản, giai đoạn này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào giống, thời vụ, kỹ thuật gieo cấy Sau khi phân hoá đòng xong, nhờ sự kéo dài của lóng trên cùng đòng trổ ra ngoài Việc xác định thời gian trổ rất quan trọng, giúp ta bố trí thời vụ hợp lý và tiến hành tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp, tạo điều kiện cho lúa trổ tốt Giống có thời gian từ kết thúc đẻ nhánh đến trổ ngắn nhất là DV108 (đ/c) (27 ngày), giống IR78936-139-13-13-13 ở giai đoạn này

có thời gian là 28 ngày, giống có thời gian dài nhất là IR74371-3-1-1 và

Ngày đăng: 19/08/2013, 12:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Diện tích , năng suất và sản lượng lúa gạo thế giới từ năm - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 1 Diện tích , năng suất và sản lượng lúa gạo thế giới từ năm (Trang 5)
Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng tỉnh Bình Định - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 3 Diện tích, năng suất, sản lượng tỉnh Bình Định (Trang 11)
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng và bình quân lương thực - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 4 Diện tích, năng suất, sản lượng và bình quân lương thực (Trang 12)
Bảng 5: Diện tích, năng suất, sản lượng, dân số và bình quân lương  thực của xã Cát Nhơn giai đoạn 2003-2007: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 5 Diện tích, năng suất, sản lượng, dân số và bình quân lương thực của xã Cát Nhơn giai đoạn 2003-2007: (Trang 13)
Bảng 6: Điều kiện thời tiết, khí hậu ở xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát,  tỉnh Bình Định vụ Đông-Xuân năm 2008- 2009: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 6 Điều kiện thời tiết, khí hậu ở xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định vụ Đông-Xuân năm 2008- 2009: (Trang 19)
Bảng 7: Đánh giá hình dạng hạt gạo: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 7 Đánh giá hình dạng hạt gạo: (Trang 23)
Bảng 8: Thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống qua các  giai đoạn: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 8 Thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống qua các giai đoạn: (Trang 25)
Bảng 9: Chiều cao cây qua các lần đo: (cm) - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 9 Chiều cao cây qua các lần đo: (cm) (Trang 29)
Bảng 10: Khả năng đẻ nhánh của các giống thí nghiệm: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 10 Khả năng đẻ nhánh của các giống thí nghiệm: (Trang 33)
Bảng 11: Một số đặc trưng hình thái: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 11 Một số đặc trưng hình thái: (Trang 35)
Bảng 12: Một số chỉ tiêu khác của các giống thí nghiệm: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 12 Một số chỉ tiêu khác của các giống thí nghiệm: (Trang 37)
Bảng 13: Một số sâu hại chính: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 13 Một số sâu hại chính: (Trang 40)
Bảng 14: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: - Nguyễn Văn Lợi/TT38BC
Bảng 14 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w