+ Thời kỳ đồ đá mới Neolithic khoảng 10.000 năm trớc đây đã bắt đầu xuất hiện các công cụ đợc chế tạo từ đá và họ sử dụng cung tên để săn bắn và đất nung để nấu ăn.+ Thời kỳ Jomon khoảng
Trang 1I Vài nét về đất nớc Nhật bản
1 Địa lý:
Trớc đây hàng triệu năm từ đáy đại dơng sâu thẳmnhững vụ nổ của núi lửa đã nâng lên khỏi mặt nớc một dãyquần đảo hình cánh cung hẹp ôm lấy lục địa Châu á nằm
ở vùng Đông Bắc á - đó chính là quần đảo Nhật bản vớidiện tích 377.815km2 Quần đảo này gồm 4 đảo chínhHonshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku và khoảng 3.900 đảonhỏ Trong đó đảo Honshu chiếm đến 60% diện tích Khíhậu của Nhật Bản có 4mùa rõ rệt: mùa hè ấm và ẩm bắt đầukhoảng giữa tháng 7, mùa đông phía Thái Bình dơng thờng
ôn hoà với nhiều ngày nắng còn phía biển Nhật bản thì u
ám, mùa xuân và mùa thu là những mùa tốt nhất trong nămkhí hậu êm dịu và rực ánh mặt trời Ngợc lại với khí hậu ônhoà Nhật bản lại có một địa hình khá phức tạp, Nhật bản cómột bờ biển dài nhiều đá với nhiều hải cảng nhỏ, theo điềutra của Viện địa lý thuộc Bộ xây dựng Nhật bản năm 1972thì núi chiếm khoảng 70% tổng diện tích đất Nhật bản.Hơn 532 ngọn núi trong số này cao trên 2000 mét, núi Phú sĩcao nhất tới 3776m Cùng với sự hoạt động của các núi lửa Nhậtbản còn phải chịu những trận động đất lớn nhỏ khác nhau
Sự khắc nghiệt của thiên tai đã làm cho ngời dân Nhật bảnrất vất vả trong cuộc sống Nhng với địa hình phức tạp này
đã tạo cho Nhật bản những cảnh đẹp dễ gây xúc động lòngngời đây chính là tiềm năng thu hút khách du lịch nớc ngoàicủa Nhật bản
2 Lịch sử:
Nhật bản đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau,giai đoạn này cũng mang một vẻ hào hùng riêng biệt mà ítquốc gia nào có đợc
a Giai đoạn cổ xa.
Trang 2Quần đảo Nhật bản có ngời c trú hơn 100.000 năm trớc
đây khi nó vẫn còn gộp là một với một phần của lục địaChâu á Trong giai đoạn cổ xa này ngời Nhật đã trải quanhiều thời kỳ
+ Thời kỳ đồ đá cũ (Paleolithic) chủ yếu sống bằng sănbắn và hái lợm
+ Thời kỳ đồ đá mới (Neolithic) khoảng 10.000 năm trớc
đây đã bắt đầu xuất hiện các công cụ đợc chế tạo từ đá
và họ sử dụng cung tên để săn bắn và đất nung để nấu ăn.+ Thời kỳ Jomon khoảng 8000 năm - 300 năm trớc côngnguyên, trong giai đoạn này nông nghiệp chủ yếu là trồnglúa và các kỹ thuật chế tác kim loại đã đợc du nhập từ lục
địa Châu á và Nhật bản, việc phân công lao động đã mởkhoảng cách giữa giai cấp bị trị và giai cấp cai trị
+ Thời kỳ YaYoi kéo dài từ 300 năm trớc công nguyên đến
300 năm sau công nguyên
+ Thời kỳ từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VI là sự pháttriển to lớn trong nông nghiệp cũng nh việc du nhập văn hoá
từ Trung Quốc vào Nhật bản kể cả đạo Khổng tử và đạophật
+ Thời kỳ Heian từ năm 794 - 1192 đây là thời kỳ cónhững phát triển nghệ thuật to lớn ở Nhật bản Thời kỳ Heiancũng là thời kỳ cuối cùng của thời đại cổ xa
b Thời đại phong kiến.
Vào cuối thời kỳ Heian, trong nội bộ triều đình Nhật bản
đã có mâu thuẫn nội bộ và cuộc chiến tranh giữa hai gia
đình quân sự kình địch với nhau là Minamotos vfa tairas
đã đánh dấu sự suy giảm thực sự quyền lực chính trị củahoàng đế và mở ra thời đại phong kiến
Trang 3+ Năm 1192 Yorimoto ngời đứng đầu dòng họ chiếnthắng Minamoto đã lập ra chính phủ quân sự, trong thời kỳnày các Bushido - võ sĩ đạo - rất đợc thịnh hành.
+ Năm 1213 quyền lực thực sự đã chuyển sang gia
đình Hojo và họ đã duy trì chính phủ quân sự này đếnnăm1331
+ Năm 1938: Chính phủ quân sự mới đợc thành lập đó làchính phủ quân sự của Ashikaga lập ra ở Muromachi thuộcKyoto Thời kỳ này tồn tại trên 2 thế kỷ Đến cuối thế kỷ thứXVI Nhật bản bị chia cắt bởi các cuộc nội chiến Cuối cùng t-ớng quân vĩ đại Toyotomi Hideyoshi đã khôi phục đợc trật
tự vào năm 1590 Nhng phải đến năm 1603 nớc Nhật mới đivào một giai đoạn mới đó là thời kỳ thống nhất trong cô lậpcủa Ieyasu Giai đoạn này kéo dài 265 năm tiếp theo
Nhng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII và XIX Nhật bản ngàycàng chịu sức ép đòi mở cửa bờ biển cho thế giới bên ngoài
mà cơ cấu chính trị cứng nhắc trong nớc do Yeyasu tạo ra đãkhông đáp ứng đợc nhu cầu của ngời dân Điều này làm chochế độ phong kiến của tớng quân Tokugawa sụp đổ vàonăm 1867 và hoàng đế đã khôi phục lại đợc quyền lực trongcuộc phục hng Minh trị năm 1868
c Thời kỳ hiện đại.
Đợc bắt đầu bằng kỷ nguyên Minh trị (1868 - 1912) tronggiai đoạn này Nhật bản đã tạo ra một quốc gia hiện đại vớicác ngành công nghiệp hiện đại và thể chế chính trị hiện
đại, một mô hình xã hội hiện đại mà một quốc gia phơngtây có thể phải mất đến hàng thế kỷ mới có thể tạo lập đợc.Năm 1926 Hoàng đế Hirohito mở ra kỷ nguyên Showa: kỷnguyên này đợc mở ra trong một bầu không khí đầy hứahẹn Các ngành công nghiệp của quốc gia tiếp tục phát triển,
đời sống chính trị của đất nớc dựa vững chắc vào Chínhphủ và Nghị viên Nhng cuộc suy thoái toàn thế giới đã làm
Trang 4đảo lộn đời sống kinh tế đất nớc làm cho chức năng cuảQuốc hội giảm mạnh.
Tháng 8/1945 Nhật bản bị kiệt quệ vì chiến tranh do
đó Nhật bản đã chấp nhận hạ vũ khí đầu hàng bắt tay vàokhôi phục kinh tế và năm 1956 Nhật bản trở thành thành viêncủa Liên hợp quốc
Từ những năm 70 đến nay Nhật bản đã đợc bớc nhảythần kỳ trong kinh tế, Nhật bản đã có nhiều biện pháp để tự
do hoá các thị trờng của mình là một thành viên quan trọngcủa tổ chức Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch và
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế cam kết duy trì mậudịch tự do, Nhật bản hiện có vai trò đáng kể trong các lĩnhvực buôn bán, tài chính và viện trợ kinh tế kỹ thuật Từ năm
1975 Nhật bản đã là một thành viên của Hội nghị kinh tế cấpcao hàng năm của bảy nớc và đợc tổ chức ở Tokyo vào năm
1979 và 1986
3 Con ngời và văn hoá.
Ngời Nhật có mức độ thuần nhất cao, hầu nh chỉ sửdụng một loại ngôn ngữ ở Nhật bản có rất nhiều loại tôn giáokhác nhau từ tôn giáo thực hành nh đạo thần (Shinto) đếncác tôn giáo dân gian truyền thống nh đạo phật và đạo thiênchúa, song ảnh hởng của những tôn giáo này đến đời sốnghàng ngày của ngời dân Nhật bản rất nhỏ Văn hoá và xã hộiNhật bản luôn tồn tại song song các yếu tố truyền thống vàhiện đại Ngời dân Nhật bản bị ảnh hởng đáng kể củaKhổng giáo, chính những giáo lý này đã khuyến khích ngờiNhật tiết kiệm hơn là tiêu dùng và nhờ đó đã góp phần đáng
kể vào mức tiết kiệm cao của ngời Nhật Ngời Nhật còn cótính hiếu kỳ và nhạy cảm với văn hoá nớc ngoài nhng họ vẫnluôn gìn giữ tài sản văn hoá riêng của họ, do đó ngời Nhật
có một nền văn hoá khá đặc sắc
Trang 5Nh chúng ta đã biết Nhật bản là một đất nớc có địahình khá phức tạp nên trong cuộc sống từ xa họ luôn phảidựa vào nhau để sống, điều này đã hình thành một suynghĩ và tập thể cho những ngời dân Nhật bản Trong côngviệc ngời Nhật sẵn sàng gạt bỏ "cái tôi" của mình để hysinh cho tập thể chính điều này đã góp phần tạo điều kiệncho Nhật bản phát triển thành một cờng quốc kinh tế Trên
đây chỉ là một vài nét chủ đạo của ngời dân Nhật bản
nh-ng có thể nói rằnh-ng nhữnh-ng điểm này đã góp phần thúc đẩy
sự đi lên của quốc gia Nhật bản
II Tổng quan về nền kinh tế Nhật bản.
Nền kinh tế Nhật bản là một tổ hợp đang phát triểnmạnh cho các ngành công nghiệp, thơng mại, tài chính, nôngnghiệp và tất cả các yếu tố khác của một cơ cấu kinh tếhiện đại Nền kinh tế quốc dân đang ở giai đoạn côngnghiệp hoá tiên tiến, đợc phục hồi bởi nhiều luồng thông tin
đầy đủ và mạng lới vận tải phát triển cao Một đặc điểmcủa nền kinh tế Nhật bản là sự đóng góp to lớn của cácngành chế tạo và dịch vụ, nh vận tải, thơng nghiệp, bánbuôn và bán lẻ và ngân hàng vào sản phẩm thuần nội địa cảnớc, trong đó những ngày công nghiệp thứ nhất nh nôngnghiệp và ng nghiệp hiện chiếm một phần rất nhỏ Một
đặc điểm khác là mối liên hệ to lớn của mậu dịch quốc tế
đối với nền kinh tế Nhật bản
Nhật bản là một nớc đảo nhiều nghèo tài nguyên thiênnhiên và phải chu cấp cho một số dân trên 120 triệu ngờitrên một diện tích tơng đối nhỏ Tuy nhiên bất chấp những
điều kiện hạn chế này và việc cơ sở chế tạo của đất nớc bịtàn phá trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật bản đã khôngnhững có thể xây dựng lại đợc nền kinh tế của mình màcòn trở thành một trong những quốc gia công nghiệp hàng
đầu trên thế giới Tuy vậy, đồng thời quá trình mở rộngcông nghiệp nhanh chóng này, cùng với những thay đổi cho
Trang 6những điều kiện kinh tế trong nứơc và quốc tế trong vàinăm qua đã nảy sinh những vấn đề kinh tế khác nhau màhiện nay quốc gia này đang phải đối phó.
* Sự phục hồi sau chiến tranh
Trong một vài năm sau khi Nhật bản bị thất bại trongchiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế của quốc gia hầu nhhoàn toàn bị tê liệt do sự tàn phá trong chiến tranh, với nạnthiếu lơng thực gay gắt, lạm phát không thể kìm hãm và nạnbuôn bán chợ đen lan tràn Quốc gia này đã mất toàn bộ lãnhthổ của mình ở nớc ngoài và dân số đã tăng quá 80 triệungời cộng với 6 triệu ngời hồi hơng từ nớc ngoài Các nhà máy
đã bị triệt phá trong các vụ ném bom Nhu cầu trong nớcgiảm cùng với việc tạo nên nhu cầu làm hàng quân sự vàongoại thơng bị các lực lợng chiếm đóng hạn chế Nhng nhândân Nhật bản đã bắt tay lại nền kinh tế bị chiến tranh tànphá của mình dới sự giúp đỡ ban đầu của viện trợ tái thiết từ
Mỹ Năm 1951, TSPQD đã trở lại mức 1934 - 1936 Số nhânviên quân sự giải ngũ và số công chức không có việc làm đãgia nhập lực lợng lao động, tạo thành nguồn cung cấp côngnhân dồi dào cho quá trình tái thiết kinh tế thời kỳ ngay sauchiến tranh
Những cải cách xã hội khác nhau sau chiến tranh đã tạo ramột khuôn khổ cơ bản cho sự phát triển kinh tế sau đó.Việc phi quân sự hoá sau chiến tranh và việc cấp tái vũtrang đợc ghi trong Hiến pháp đã loại bỏ việc chi phí quân
sự to lớn làm cạn kiện các nguồn lực kinh tế của quốc gia, việcgiải tán các Zaibatsu (các tổ hợp kinh doanh lớn) đã giải thoátcho các lực lợng cạnh tranh tự do, và quyền sở hữu đất canhtác đã đợc phân phối lại một cách rộng rãi cho các tá điền trớc
đây, đã khuyến khích họ hăng hái cải tạo đất đai Nhữngtrở ngại cho việc hoạt động các công đoàn cũng đợc loại bỏ,
do đó sự đảm bảo về việc làm của công nhân đã đợc bảo
vệ tốt hơn và khả năng tăng lơng đều đặn đã đợc mở ra
Trang 7Theo "chế độ sản xuất u tiên", việc tăng sản lợng than
và thép, hai trụ cột của nền công nghiệp quốc gia đã đợcchú trọng Sản xuất thép tăng đã tạo cơ sở cho cất cánh toàndiện của sản xuất thép, tiêu biểu là đầu t t bản tăng liên tục
do sự phục hồi của tiêu dùng Sau đó sản xuất tăng khôngchỉ trong các ngành công nghiệp then chốt, nh thép và hoáchất mà cả trong các ngành công nghiệp mới sản xuất nhhàng tiêu dùng, vô tuyến truyền hình và ô tô
*Sự tăng trởng kinh tế nhanh chóng.
Kinh tế Nhật bản liên tục phát triển nhanh từ giữa nhữngnăm 50 đến những năm 60, và chỉ phải chịu hai cuộc suythoái ngắn vào năm 1962 và 1965 Tốc độ tăng trung bìnhhàng năm thực tế đạt 11% trong thập kỷ những năm 60, sovới 4,6% của CHLB Đức và 4,3% của Mỹ trong thời kỳ từ 1960 -
1972 Và tốc độ đó gấp trên hai lần so với tốc độ tăng trungbình khoảng 4%/năm của chính Nhật bản trớc chiến tranh.Ngời ta nhất trí cho rằng sự phát triển nhanh của nềnkinh tế Nhật bản từ cuối những năm 50 đến những năm 60
là do đầu t mạnh mẽ của công nghiệp t nhân vào nhà máy
và thiết bị mới tạo ra Mức tiết kiệm cao của các gia đìnhNhật bản đã tạo cho các ngân hàng và các tổ chức tài chínhkhác rất nhiều tiền vốn để đầu t mạnh cho khu vực t nhân.Việc tăng chi tiêu t bản đi liền với việc áp dụng kỹ thuật mới,thờng dới hình thức bằng sáng chế của các công ty nớc ngoài
Đầu t để hiện đại hoá đã tạo cho các ngành công nghiệpNhật bản có sức cạnh tranh hơn trên thị trờng thế giới, tạo ra
đợc những sản phẩm mới, và mang lại cho các xí nghiệp Nhậtbản những lợi ích của sản xuất hàng loạt và cải thiện đợcnăng suất lao động của mỗi công nhân
Một nhân tố khác hỗ trợ cho sự tăng trởng kinh tế củaNhật bản trong suốt thời kỳ này là sẵn có một lực lợng lao
động dồi dào có trình độ giáo dục cao Hàng năm một lợnglớn hợp lý thanh niên tham gia vào lực lợng lao động và cũng
Trang 8có rất nhiều công nhân nông nghiệp di chuyển tới từ cácvùng quê, kiếm đợc việc làm trong các ngành chế tạo và dịch
vụ ở các thành phố lớn
Sự tăng trởng kinh tế nhanh chóng đợc thể hiện rõ nhất
là kế hoạch 10 năm làm tăng gấp đôi thu nhập quốc dân đề
ra vào năm 1960, các chính sách kinh tế của chính phủ thời
đó nhằm khuyến khích tiết kiệm, đẩy mạnh đầu t, bảo vệcác ngành công nghiệp tăng trởng và khuyến khích xuấtkhẩu Nhật bản đã đợc lời nhờ môi trờng kinh tế mở rộng vàviệc cung cấp dồi dào nguồn năng lợng tơng đối rẻ từ nớcngoài suốt từ thời kỳ này
Sau cuộc suy thoái năm 1965, nền kinh tế Nhật bản đã cómột thời kỳ phồn vinh dài cho đến khoảng mùa hè năm 1970,với tốc độ tăng trởng trong một thời kỳ này đạt trung bìnhxấp xỉ 12% Nhân tố chủ yếu đằng sau sự tăng trởng này là
đầu t t bản tăng nhanh, nhằm tạo ra các nền kinh tế qui mô,xây dựng thêm các điều kiện để tăng khả năng xuất khẩu,
và tạo đợc các thiết bị để đáp ứng đợc những thay đổitrong môi trờng kinh tế và xã hội nh những thiết bị tiết kiệmlao động và giảm ô nhiễm môi trờng Việc gia tăng xuấtkhẩu do sức cạnh tranh giá cả mạnh hơn của các sản phẩmNhật bản cũng tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh liêntục phát triển
* Nền kinh tế đi đến bớc ngoặt.
Nhờ sự gia tăng nhanh chóng của TSPQD, năm 1968 Nhậtbản đã đứng thứ hai chỉ sau có Mỹ trong số các nền kinh tếthị trờng, xét về qui mô kinh tế quốc dân Nhng đồng thời,
sự gia tăng nhanh chóng này đã làm nảy sinh những vấn đề
và những mất cân đối khác nhau: nh sự chậm trễ tơng đốitrong việc hiện đại hoá các lĩnh vực nh nông nghiệp và kinhdoanh nhỏ, giá cả tiêu dùng có xu hớng tăng, thiếu nhà ở và cơ
sở hạ tầng nh đờng xá và những điều kiện thuận tiện hàngngày khác, ô nhiễm môi trờng và sự huỷ hoại thiên nhiên, và
Trang 9việc suy giảm dân số ở các vùng nông thôn và việc quá đông
ở các thành phố
Sự phồn vinh liên tục của Nhật bản đã nâng cao vị tríquốc tế của nó, nhng việc xuất khẩu và d thừa cán cânthanh toán tăng nhanh đã tạo chiều hớng chủ nghĩa bảo hộngày càng mạnh ở các nớc khác Những thay đổi trong hoàncảnh quốc tế và trong nớc xung quanh nền kinh tế Nhật bảnvốn phát triển thầm lặng suốt nửa sau những năm 60 đãdiễn ra một cách bất ngờ trong thời kỳ từ năm 1970 - 1975.Tháng 8/1971, Mỹ tuyên bố đình chỉ đổi đôla ra vàng,thực tế đã chấm dứt hệ thống tiền tệ quốc tế BrettonWoods, vốn là một trong những trụ cột hỗ trợ cho sự pháttriển kinh tế của thế giới tự do trong thời kỳ sau chiến tranh.Tháng 2/1973, những nớc lớn trên thế giới, kể cả Nhật Bản, đãchuyển sang chế độ tỉ giá hối đoái thả nổi Sự rối loạntrong hoạt động tiền tệ quốc tế đã góp phần tạo ra một lànsóng lạm phát toàn thế giới Trong phạm vi Nhật Bản, lạm phát
có xu hớng trầm trọng hơn do các chính sách tiền tệ thả lỏngnhằm khuyến khích hoạt động kinh tế và giảm d thừa tàikhoản hiện hành của đất nớc Cú xốc dầu mỏ lần thứ nhất,vào mùa thu năm 1973, đã khiến ngọn lửa lạm phátl bốc caohơn nữa làm giá cả tiêu dùng tăng 20% vào năm 1974
Trớc tình hình đó Chính phủ đã nâng lãi suất, giảm
đầu t công cộng, và áp dụng cả những biện pháp khác đểkiềm chế tổng cầu, làm giảm mạnh tốc độ tăng trởng kinh
tế Tốc độ tăng trởng thực tế trong năm tài chính 1974 (từtháng 4/1974 đến tháng 3/1975) đã giảm tới -0,2%, và đất n-
ớc rơi vào tình trạng kinh tế khó khăn nhất kể từ những năm
đầu sau chiến tranh.Cú xốc dầu mỏ đã làm nổi rõ sự mongmanh của nền kinh tế Nhật bản vốn dựa chủ yếu vào dầu
mỏ nhập khẩu làm nguồn cung cấp năng lợng Vào những nămtiếp sau, hoạt động kinh tế đã hồi phục chút ít, nhng khôngbao giờ đạt đợc mức thời kỳ tăng trởng nhanh Và bớc tranhtài chính có vẻ ảm đạm do thu nhập từ thuế giảm vì tình
Trang 10hình kinh tế trì trệ Trong ngân sách bổ sung của năm tàichính 1975, lần đầu tiên từ sau chiến tranh chính phủ buộcphải dùng đến biện pháp tài chính thiếu hụt và cho tới nămtài chính 1990 ngân sách vẫn trong tình trạng thiếu hụt.Cuối năm 1978, từ lúc nền kinh tế Nhật Bản có nhữngdấu hiệu phục hồi từ những ảnh hởng của cú xốc dầu mỏ lầnthứ nhất thì cuộc cách mạng ở Iran đã lại gây ra đợt tăng giádầu mỏ lần thứ hai Rút kinh nghiệm từ cú xốc lần thứ nhất,chính phủ đã nhanh chóng phản ứng bằng cách thặt chặttiền tệ và bằng các biện pháp khác để kiểm soát lạm phátvào mùa hè năm 1980 giá cả đã ít nhiều đợc ổn định Nhngnền kinh tế đã ít nhiều bớc vào giai đoạn suy thoái do các cơ
sở kinh doanh cắt giảm mức hàng tồn kho và giảm chi tiêucơ bản và do các cá nhân giảm chi tiêu vào tiêu dùng và đầu
t nhà cửa Lãi suất cao ở Mỹ đã làm kéo dài hơn sự suy thoái
ở Nhật Bản
Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai vào đầunhững 80 thì đến những năm 90 kinh tế Nhật Bản lại lâmvào một cuộc khủng hoảng do nạn đầu cơ và buôn bán bất
động sản, một lần nữa kinh tế Nhật Bản lại lâm vào tìnhtrạng suy thoái đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính Nhữngkhó khăn trong lĩnh vực tài chính đã tác động đến mọimặt của nền kinh tế Nhật Bản cụ thể là: Để ổn định vàphát triển nền kinh tế nớc này Chính phủ Nhật Bản đã phảithực hiện chính sách mạnh mẽ, chấp nhận phá sản một loạtcông ty làm ăn yếu kém.Theo công ty dữ liệu TeikokuDatabank một số vụ phá sản ở Nhật Bản trong tháng 2 năm
2000 tăng 51% so với cùng kỳ năm trớc Các công ty của NhậtBản đang phải đối phó với tình trạng giá tài sản giảm mạnh
và doanh số bán hàng trì trệ đang bị sức ép cải cách, cắtgiảm quan hệ kinh doanh thông thờng không hiệu quả Số vụphá sản trong tháng 2/2000 là 1.441 công ty Theo AP ngày14/4 năm 2000 số vụ phá sản công ty trong tháng 3/2000 là
1770 công ty Năm tài chính 1999 kết thúc vào 31/3/2000 số
Trang 11công ty đã phá sản là 16.887 công ty giảm 3,5% so với năm tàichính trớc đó Các công ty phá sản làm thất nghiệp tăng cao,giám đốc điều hành hãng sản xuất ô tô lớn thứ hai của NhậtBản đã tuyên bố sẽ đóng cửa 5 nhà máy cắt giảm quan hệ vớihàng trăm nhà cung cấp và sa thải 21.000 công nhân Haingân hàng lớn ở Nhật Bản là Sakura và Sumitomo đã hợp nhất
để tồn tại và cắt giảm 9.300 nhân viên Ngân hàng ĐaiichiKangyo và ngân hàng Fuji cùng ngân hàng công nghiệp NhậtBản dự tính sẽ cắt giảm 6000 nhân viên Sony và hãng viễnthông NTT bắt đầu cải tổ cơ cấu cũng có xu hớng cắt giảmnhân viên, hãng Toshiba đang giải tán nhiều chi nhánh khôngsinh lợi Quan niệm truyền thống thiếng liêng có việc làmsuốt đời cho mọi công dân Nhật Bản đang bị rạn nứt
Không chỉ thất nghiệp tăng nhanh mà Nhật Bản còn bịgiảm xuất khẩu do nhu cầu bên ngoài giảm gây trở ngại chophục hồi kinh tế Tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bảnnăm 1996 chỉ đạt 43.496, tỷ yên tăng 0,9% so với năm 1994
và 0,5% so với năm 1995 Chủng loại hàng hoá xuất khẩu cũnggiảm cùng với việc đình trệ trong địa bàn xuất khẩu ởnhững thị trờng xuất khẩu chính nh Mỹ và EU, thậm chí cảkhu vực Châu á Trong năm tài chính 2000 nền kinh tế NhậtBản có thể sẽ tăng hơn 1% đây là chỉ tiêu của chính phủNhật Bản đề ra và nền kinh tế Nhật Bản đang tiến tới sựkhôi phục và bền vững hơn do những nỗ lực của chính phủNhật Bản trong mấy năm qua Tổng sản phẩm quốc nội(GDP) thực tế trong năm 1999 kết thúc vào 31/3/2000 đạt đ-
ợc chỉ tiêu 0,6% Những nguy cơ về tình hình tài chính
đang xấu đi sau khi chính phủ Nhật Bản đã phát hành một
số lớn trái phiếu nợ để tài trợ một loạt các biện pháp kíchthích phát triển sẽ có thể làm cho nền kinh tế của Nhật Bảnlại rơi vào khủng hoảng Chính phủ Nhật Bản đã thông quamột ngân sách kỷ lục trị giá84.990 tỷ yên cho năm tài chính
2000 để đạt đợc một sự phục hồi thực sự bền vững nềnkinh tế vẫn còn mong manh
Trang 12III Các chính sách về kinh tế của Nhật Bản.
1 Những xu hớng kinh tế vĩ mô
Tốc độ tăng trởng kinh tế hai con số đợc Nhật Bản duytrì trong suốt những năm 60 và đầu những năm 70 đã kếtthúc cùng với cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai (1979 -1980) tốc độ tăng phổ biến chỉ đạt cha đầy 4% Đứng trớc
sự gia tăng cả chi phí năng lợng lẫn lao động do các cuộckhủng hoảng dầu mỏ công nghiệp Nhật Bản đã hết sức cốgắng để giảm nhu cầu về năng lợng lao động, áp dụng kỹthuật mới những cố gắng này đã thực sự tạo cho Nhật Bản cósức cạnh tranh quốc tế mạnh hơn so với thời kỳ trớc khủnghoảng dầu mỏ
Vào đầu những năm 80, suy thoái kinh tế toàn cầu đãkhiến cho tiêu dùng dầu mỏ giảm mạnh và làm yếu đáng kểtình đoàn kết của tổ chức các nớc xuất khẩu dầu mỏ(OPEC) OPEC đã tuyên bố giảm giá dầu vào tháng 3/1983, và
điều này đã đánh dấu sự mở đầu một thời kỳ giá dầu rẻhơn Sự thay đổi này cùng với việc yếu đi của đồng Yên và
sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ đã có tác động tích cực đếnnền kinh tế Nhật Bản vào đầu những năm 80 Việc tăngmạnh đầu t t bản t nhân vào xuất khẩu cuối cùng đã đa nềnkinh tế thoát khỏi đờng hầm suy thoái Tốc độ tăng trởngthực tế đã lên tới 4,5% vào năm tài chính 1984 và 4,3% trongnăm tài chính 1985
Tháng 9/1985, năm quốc gia công nghiệp lớn đã nhất trícùng hành động để giảm giá đồng đôla đang tăng cao,trong 12 tháng sau đó đồng đôla đã giảm mạnh từ trên 240yên xuống dới 160 yên Điều này đã làm cho nền kinh tế NhậtBản bị suy thoái Do đó, năm 1987 chính phủ và ngân hàngNhật Bản đã có những biện pháp tài chính và tiền tệ đểtăng nhu cầu trong nứơc, nhằm khuyến khích sự phục hồikinh tế giảm d thừa tài khoản hiện hành Quan trọng nhấttrong những biện pháp này gồm có việc hạ thấp tỉ suất
Trang 13chiết khấu chính thức xuống còn 2,5%, đầu t thêm 5.000 tỷyên cho các công trình công cộng và giảm tới trên 1000 tỷ yênthuế thu nhập Đáp lại, khu vực chế tạo đã có những chínhsách nhằm đẩy mạnh nhu cầu trong nớc Do đó suy thoái đãchấm dứt năm 1986, mở đầu một thời kỳ phục hồi nhờ nhucầu trong nớc và nền kinh tế đã duy trì đợc sức mạnh củamình bằng tốc độ tăng thực tế trung bình 5,3% từ năm tàichính 1987 đến năm 1990 Những mất cân đối đối ngoạicũng bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi D thừa tàikhoản hiện hành, đạt mức cao nhất 4,4% TSPQD vào năm tàichính 1986, đã giảm còn 1,1% vào năm tài chính 1990.
Trong khi đó, cái gọi nền kinh tế bong bóng đã xuất hiện
từ năm 1988, với việc giá đất và chứng khoán tăng nhanh đểkhắc phục hiện tợng này và ngăn ngừa lạm phát có thể xuấthiện do cuộc khủng hoảng vùng vịnh nổ ra vào tháng 8/1990chính phủ và ngân hàng Nhật Bản đã chuyển sang chínhsách thắt chặt dây lng Từ khoảng năm 1991 nền kinh tế đã
bị suy thoái nặng nề do vậy chính phủ và ngân hàng NhậtBản laị một lần nữa áp dụng những chính sách ít chặt chẽhơn Đặc biệt đáng lu ý chơng trình kinh tế toàn diệntháng 8/1992 bao gồm chi tiêu phụ thêm cho các công trìnhcông cộng và nhằm phục hồi kinh tế nhờ nhu cầu trong nớc
Số tiền chi cho các biện pháp này đạt tổng công 10.700 tỷyên
Trong suốt thời gian này, Nhật Bản đã duy trì đợc vị trícủa mình nh là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới Theo báocáo các tài khoản quốc gia của tổ chức hợp tác và phát triểnkinh tế (OECD) và những thống kê của Cục kế hoạch kinh tếNhật Bản, TSPQD của Nhật Bản năm 1990 là 3000 tỷ USD
đứng thứ hai sau Mỹ là 5400 tỷ USD Tổng sản phẩm quốcdân theo đầu ngời của Nhật Bản đứng thứ ba trong số 24thành viên của OECD năm 1988 và 1989 Nhng năm 1990 tụtxuống vị trí thứ bảy với 24.184 đô la, tuy nhiên Nhật Bảntiếp tục có tổng sản phẩm quốc dân theo đầu ngời cao
Trang 14nhất trong các nớc thuộc nhóm 7 nớc công nghiệp (G7) từ năm
1986 Về tài sản thuần ở nớc ngoài, Nhật Bản đứng thứ nhấtvào cuối năm 1985, Nhật Bản đã bị Đức vợt vào cuối năm
1990 song đã giành lại vị trí đứng đầu của mình vào cuốinăm 1991 vào 383 tỷ USD
đẹp nh Hoa Anh Đào đang nở Vào đầu năm tài chính ,các
bộ và các cục khác nhau trình yêu cầu về ngân sách củamình cho năm tài chính sắp tới lên Bộ Tài Chính vào cuốitháng 8 Bộ Tài Chính sẽ cấn đối những yêu cầu này với cáckhoản thu dự tính và thờng hoàn thành dự thảo ngân sáchvào cuối tháng 12 đề trình lên nội các Sau khi đợc nội cácphê chuẩn, Chính phủ sẽ trình ra Quốc hội vào tháng 1 vàtìm cách để đợc thông qua trớc khi bắt đầu năm tài chínhmới
Luật Tài Chính Nhật Bản năm 1947 chỉ cho phép Chínhphủ phát hành công trái dới dạng "công trái xây dựng" đểgây quỹ đầu t vào các dự án công trình công cộng; luật nàykhông có điều khoản nào về phát hành công trái để cấptiền cho việc chi tiêu thông thơngf Vì vậy Chính phủ đakìm chế không phát hành công trái tài trợ thiếu hụt suốt cho
đến hết năm tài chính 1974 Nhng vào năm 1975, thu nhập
từ thuế giảm do khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất đã buộcChính phủ phải có một đạo luật đặc biệt cho phép pháthành thêm gần 2000 tỷ yên (khoảng 14 tỷ đôla theo tỷ giá
135 yên một đôla) công trái bù thiếu hụt nh là một phần củangân sách bổ sung của năm đó
Trang 15Chi tiêu tiếp tục do chi phí hệ thống phúc lợi xã hội củaNhật Bản tăng lên, đặc biệt tiền hu trí và dịch vụ y tế Do
đó, công trái bù thiếu hụt đã đợc phát hành hàng năm từ năm
1975 đến năm 1990
Chính phủ đã tăng chi tiêu cho các công trình công cộngsuốt thời gian cuối những năm 70 để kéo nền kinh tế trongnớc ra khỏi cuộc suy thoái sau khủng hoảng dầu mỏ, đồngthời đóng góp vào sự phục hồi kinh tế toàn cầu Công tráixây dựng đã tạo đợc nhiều quỹ cho hoạt động này, và vàocuối năm tài chính 1978, tổng nợ quốc gia, kể cả công trái bùthiếu hụt, đã vợt mức 10.000 tỷ yên (71,4 tỷ đôla) Vào nămtài chính 1979, công trái mới phát hành của Chính phủ đãchiếm tới 34.7% các khoản chi tài khoản chung
Việc tăng phát hành khối lợng công trái Chính phủ loại này
đã làm thay đổi trò truyền thống của chính sách tài chính phân bổ các nguồn tài nguyên và điều chỉnh các hoạt độngkinh tế Điều đó có khả năng làm giảm đầu t nhân dân,gây ra lạm phát và đặt gánh nặng lên vai thế hệ tơng lai.Những lo ngại lúc này đã thúc đẩy chính phủ nhanh chóngtiến hành xây dựng một chơng trình xây dựng lại nền tàichính Cải cách tài chính đã là chủ để trung tâm trongchính sách đối nội những năm 80, đặc biệt trong suốtnhiệm kỳ của Thủ tớng Nakasone yasuhiro từ tháng 11/1982
-đến tháng 10/1987 Mục tiêu xây dựng lại nền tài chính củachính phủ là chấm dứt phát hành công trái bù thiếu hụt vàonăm tài chính 1990 Do những nỗ lực này, nên mục tiêu côngtrái bù thiếu hụt bằng 0 đã đạt đợc trong ngân sách năm
1991 Sự phụ thuộc vào công trái chính phủ đã giảm còn10,1% tài khoản chung trong ngân sách năm 1992
Năm 1987 - 1988, hệ thống thuế đã đợc xét lại một cáchcăn bản nhằm tạo ra sự cân đối tốt hơn giữa các loại thuếthu nhập và thuế thu nhập, tiêu dùng và thuế tài sản Thuếthu nhập có 15 hạng thuế từ 10,5% - 70%, đã đợc đơn giản
Trang 16hoá còn 5 hạng từ 10% - 50% Đồng thời, chế độ miễn thuếcho lợi tức của các tài khoản tiết kiệm nhỏ đã đợc bãi bỏ Tỷsuất thuế thu nhâp công ty đã đợc giảm từ 42% xuống còn37,5% Về thuế gián tiếp, các thuế gián tiếp cá nhân nhthuế hàng hoá đã đợc thay thế bằng thuế tiêu dùng Tỷ suấtthuế chỉ có 3%, nhng nó đợc áp dụng rộng rãi cho toàn bộcác sản phẩm tiêu dùng Khoản chi lớn nhất trong ngân sáchcủa chính phủ là chi phí cho các dịch vụ công trái của chínhphủ, mặc dù có những nỗ lực nhằm phát hành thêm công trái
bù thiếu hụt, Nhật Bản vẫn có tỷ lệ nợ so với TSPQD cao so vớicác quốc gia công nghiệp khác
Chính trong hoàn cảnh này chính phủ Nhật Bản đã phải
đơng đầu với sức ép ngày càng tăng và ở trong nớc lẫn nớcngoài đòi mở rộng nhu cầu trong nớc nh một cách để đẩymạnh sự tăng trởng liên tục, không có lạm phát của nền kinh
tế thế giới và sửa chữa những mất cân đối đối ngoại củanền kinh tế Nhật Bản Trong suốt năm tài chính 1992, chínhphủ đã đáp lại bằng cách đa ra một ngân sách bổ sung lớnnhất cha từng có, phản ánh những điều khoản của chơngtrình kinh tế khẩn cấp đựơc công bố vào tháng 8 Mục
đích của nỗ lực này là dùng chính sách tài chính để thúc
đẩy mở rộng nhu cầu trong nớc
Ngân hàng Trung ơng của Nhật Bản có trách nhiệmgiống nh các ngân hàng Trung ơng ở các nớc khác là duy trìgiá trị đồng tiền quốc gia thông qua những biện pháp nh
điều chỉnh tỷ suất chiết khấu chính thực, cân đối các nhucầu dự trữ của các ngân hàng và các hoạt động trên thị tr-ờng trái phiếu Gần đây ngời ta đã nhấn mạnh đến việcphối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô với các ngân hàngTrung ơng cuả các quốc gia khác để ổn định tỷ suất ngoạihối và tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính quốc tế đợcphát triển