1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ quan điểm của v i lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam ở nước ta hiện nay

93 256 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 491,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân tộc, bình đẳng dân tộc luôn là vấn đề chính trị xã hội có ý nghĩa quan trọng, liên quan trực tiếp đến đời sống của mỗi quốc gia. Bình đẳng dân tộc vừa là nhu cầu, mục tiêu, vừa là nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới và giữa các dân tộc (tộc người) trong một quốc gia dân tộc. Bình đẳng dân tộc là cơ sở để mọi dân tộc thực hiện quyền và nghĩa vụ ngang nhau, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, chủng tộc màu ra

Trang 1

Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC - KẾT QUẢ VÀ ĐỊNH HƯỚNG VẬN

2.1 Sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng

dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ

2.2 Những yếu tố tác động và định hướng vận dụng quan điểm

của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam hiện nay 66

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dân tộc, bình đẳng dân tộc luôn là vấn đề chính trị - xã hội có ý nghĩaquan trọng, liên quan trực tiếp đến đời sống của mỗi quốc gia Bình đẳng dân tộcvừa là nhu cầu, mục tiêu, vừa là nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia dântộc trên thế giới và giữa các dân tộc (tộc người) trong một quốc gia dân tộc Bìnhđẳng dân tộc là cơ sở để mọi dân tộc thực hiện quyền và nghĩa vụ ngang nhau,không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, chủng tộc màu ra…Đồng thời, khắc phục tình trạng phân biệt đối xử giữa các dân tộc, áp bức dântộc, đồng hóa dân tộc Trong phạm vi một nước, bình đẳng giữa các dân tộc là

cơ sở để củng cố, xây dựng tình đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển,tạo nên sức mạnh to lớn thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng đề ra Nguyêntắc là vậy, song trên thực tế việc bảo đảm quyền bình đẳng dân tộc ở mỗi quốcgia lại chịu sự chi phối của các yếu tố, điều kiện khác nhau Mặt khác, giai cấpbóc lột luôn tìm cách chia rẽ dân tộc với mưu đồ lợi ích khác nhau

V.I.Lênin là lãnh tụ cách mạng, vừa là một nhà lý luận mác-xit thiêntài Trong quá trình lãnh đạo cách mạng vô sản, Ông đã vận dụng một cáchsáng tạo, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc vào thựctiễn hoàn cảnh lịch sử cụ thể nước Nga Để rồi, nước Nga từ chỗ là nhà tù củacác dân tộc, nhanh chóng trở thành một quốc gia đầu tiên trên thế giới tuyên

bố và bảo đảm quyền bình đẳng dân tộc Những quan điểm, tư tưởng về bìnhđẳng dân tộc đã được V.I.Lênin đúc kết trong những tác phẩm lý luận củamình, là tài sản vô giá để các đảng cộng sản và phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc Ngày nay, dù thế giới

đã có sự phát triển vượt bậc trên mọi phương diện, song vấn đề dân tộc luôn

là vấn đề nóng bỏng đang bị bọn cơ hội chính trị, kinh tế thế giới lợi dụngchia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các dân tộc trong một quốc gia và giữa cácquốc gia trên thế giới với nhau

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng ta luôn vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào

Trang 3

hoạch định, thực thi đường lối cách mạng và đã đem lại nhiều thành tựu to lớn.Trong đó, quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc đã trở thành cơ sởkhoa học để Đảng, Nhà nước ta vận dụng giải quyết đúng đắn những vấn đềdân tộc, góp phần tập hợp lực lượng tạo thành sức mạnh to lớn trong sự nghiệpđấu tranh cách mạng cũng như quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa Ngày nay, chúng ta vững bước trên con đường đổi mới,đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường hội nhập quốctế.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực tiền

ẩn nhiều nguy cơ, khó lường nhất là khu vực biển Đông Trong nước tìnhtrạng tiêu cực, tham nhũng diễn ra phổ biến chậm được khắc phục, sự suythoái phẩm chất chính trị, đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên dotác động của mặt trái nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xãhội chủ nghĩa Đặc biệt, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địchlợi dụng hạn chế yếu kém trong giải quyết một số vụ việc liên quan đếnvấn đề dân tộc để kích động hằn thù dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết dântộc, chia rẽ mối quan hệ giữa dân tộc Việt Nam với các nước trong khuvực và trên thế giới…Thực tiễn đó đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiêncứu sâu sắc hơn quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc, một mặtkhẳng định tính đúng đắn, khoa học trong đường lối lãnh đạo giải quyếtvấn đề dân tộc của Đảng ta thời gian qua, và định hướng trong những năm

sắp tới Với những lý do trên, việc chọn vấn đề nghiên cứu: “Quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở nước ta hiện nay” có ý nghĩa lý luận, thực tiễn thiết thực.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Lâu nay, quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụngcủa Đảng ta trong tiến trình cách mạng Việt Nam đã được nhiều công trìnhnghiên cứu lý luận mácxít và nghiên cứu học thuật thuộc nhiều chuyên ngànhkhác nhau đề cập đến Có thể chia các công trình đó theo các nhóm sau đây:

Các công trình nghiên cứu về dân tộc và vấn đề dân tộc ở nước ta đề

Trang 4

cập đến quan điểm dân tộc của V.I.Lênin

Ở nước ta, nhóm công trình này thường tập trung trong thời kỳ đổi mớivới nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc củacác nhà khoa học, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:

Phạm Thị Hoàng Hà (2012) “Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa

ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay” Luận án Tiến sĩ Triết học,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận án đã trình bày những nhậnthức về bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa và những nội dung cơ bảncủa bình đẳng dân tộc về văn hóa ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu thựctrạng, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng dân tộctrên lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay

Nguyễn Sỹ Họa (2010) “Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị.

Trong đó, tác giả đã đánh giá thực trạng, những vấn đề cấp bách trong bình đẳngdân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Qua đó tác giả đã đềxuất một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn công tác này

Trịnh Quốc Tuấn (chủ biên) (1996), Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp, Nxb CTQG, Hà Nội Trên cơ sở trình bày những

quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vềbình đẳng dân tộc, các tác giả đã phân tích thực trạng tình hình các dân tộc ởnước ta, sự phát triển không đồng đều, tình trạng chênh lệch trên nhiều lĩnhvực giữa các dân tộc; tìm hiểu nguyên nhân của sự chênh lệch đó và nêu racác phương hướng, giải pháp để góp phần từng bước khắc phục sự phát triểnkhông đều giữa các dân tộc, tiến tới thực hiện quyền bình đẳng giữa các dântộc ở nước ta, trong đó có đề cập đến bình đẳng về văn hóa

Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (chủ biên) (1998), Phát triển kinh tế

-xã hội các vùng dân tộc và mền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG, Hà Nội Cuốn sách đã phân tích thực trạng, những khó

khăn, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc vàmiền núi và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội các địa bàn

Trang 5

đã nêu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Các

tác giả đã đưa ra một số khái niệm liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc vàvấn đề dân tộc trên cơ sở đó trình bày thực tiễn vấn đề dân tộc và chính sáchdân tộc ở Việt Nam Trong đó đã đề cập đến quan hệ dân tộc về văn hóa Đồngthời, các tác giả còn đề cập đến một số nội dung như: quản lý xã hội, nội dungcông tác cán bộ, đào tạo cán bộ trong chính sách dân tộc hiện nay ở nước ta

Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội Cuốn sách đã tập trung

làm rõ những khái niệm cơ bản của dân tộc học như: cách gọi tên tộc người, tiêuchí xác định thành phần tộc người, văn hóa tộc người, đồng thời cũng đánh giámối quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị, vănhóa - xã hội, dự báo xu hướng của mối quan hệ này và gợi mở một số phươnghướng để phát triển mối quan hệ dân tộc trong điều kiện mới

Nhiều tác giả (2001), 5 năm công tác dân tộc và miền núi (1996 2001), Nxb CTQG, Hà Nội Đây là công trình tổng kết thành tựu và hạn chế

-trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta -trong giai đoạn

1996 - 2001 Đồng thời các tác giả cũng nêu lên những giải pháp nhằm khắcphục hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nướctrong giai đoạn tiếp theo

Ủy ban Dân tộc và Miền núi (2001), Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, Nxb CTQG, Hà Nội Cuốn sách đã nêu những vấn đề cơ bản về

dân tộc, chính sách dân tộc và công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước ta tronggiai đoạn hiện nay

Nguyễn Quốc Phẩm (2004), Vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng nước ta, Tạp chí

Lý luận Chính trị, số 3-2004 Bài viết đã phân tích vị trí chiến lược của vấn đềdân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc trong các giai đoạn cách mạngnước ta, đồng thời cũng đánh giá những thành tựu, sáng tạo trong việc thực thi

Trang 6

chính sách dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Hoàng Chí Bảo (chủ biên) (2009), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay,

Nxb CTQG, Hà Nội Đây là công trình có nhiều đóng góp về mặt khoa học,

đã nêu rõ những nhận thức lý luận mới về dân tộc, quan hệ dân tộc và chínhsách dân tộc, đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và các quan hệ dântộc, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề dân tộc, các quan

hệ dân tộc, tạo sự công bằng, bình đẳng trong quá trình phát triển kinh tế - xãhội ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay

Đặc biệt, công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quốc Phẩm (chủ

biên) (2006), Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, đã trình bày một cách

hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vềcông bằng, bình đẳng xã hội từ góc độ dân tộc, quan hệ dân tộc Trên cơ sở

đó, tác giả nhìn nhận về những vấn đề dân tộc và sự phát triển của các quốcgia dân tộc trong bối cảnh và xu thế hiện nay của thế giới nói chung, về tăngcường hợp tác giữa các tộc người ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi Việt Namnói riêng Từ đó tác giả đã phân tích các nội dung, điều kiện, biện pháp và nêulên một số kiến nghị để góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng giữa các tộcngười ở các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

Các công trình nghiên cứu chuyên khảo về quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta

Nguyễn Quốc Phẩm (2005), Nhận thức của Đảng ta về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới, bài viết trong tập sách “Nhìn lại quá

trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005”, Nxb CTQG, Hà Nội, tập

2, tr.265-281 Tác giả đã làm rõ sự phát triển nhận thức của Đảng trong thời

kỳ đổi mới về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (chủ biên) (2005), Những vấn đề cơ bản của chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị, Hà

Nội Cuốn sách đã trình bày quan niệm về dân tộc, vùng dân tộc, chính sách

Trang 7

dân tộc của Đảng, Nhà nước qua các giai đoạn cách mạng Đồng thời cuốnsách cũng chỉ ra thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc trong nhữngnăm qua để đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốtchính sách dân tộc trong những năm tới.

Thực hiện chính sách dân tộc, vấn đề và giải pháp (Kỷ yếu hội thảo

của Tạp chí Cộng sản - Ủy ban Dân tộc, Hà Nội, 2004) Các bài viết đều tậptrung vào việc làm rõ những vấn đề như: quan điểm, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc;thực trạng vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta trongnhững năm gần đây; đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chínhsách dân tộc ở nước ta trong thời gian tới

Một số vấn đề về dân tộc và phát triển của PGS TS Lê Ngọc Thắng

-Viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc (Nxb CTQG, H 2005) Trên cơ sở phân tíchmột số nội dung về vấn đề lý luận, chính sách dân tộc, các vấn đề kinh tế, mốiquan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong phát triển; vai trò của cơ quan công tácdân tộc và cơ quan hành chính các cấp trong việc thực hiện chính sách dântộc; đổi mới nội dung công tác dân tộc , tác giả đưa ra một vài ý kiến, gợi ý

về hệ thống các vấn đề thuộc nội dung công tác dân tộc nhằm góp phần nângcao nhận thức về công tác dân tộc, góp phần hoạch định tốt việc thực hiệnchính sách dân tộc trong tình hình mới

Phan Huy Hùng (2015), Một số vấn đề trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG Cuốn sách đã nêu và luận giải,

làm rõ những vấn đề về quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay; các yếu tố tácđộng đến quan hệ dân tộc; nguồn gốc của bất bình đẳng và xung đột dân tộc;vấn đề nghèo, khoảng cách giàu nghèo giữa các dân tộc, các vùng dân tộc…,

từ đó định hướng một số nội dung trong chính sách dân tộc thời gian tới

Ngoài ra, có nhiều công trình và bài viết của các nhà khoa học, các nhàquản lý và hoạch định chính sách đánh giá về tình hình và kết quả thực hiệnchính sách dân tộc Tuy nhiên, tác giả nhận thấy chưa có một công trình nghiêncứu nào đề cập trực tiếp quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận

Trang 8

dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay Với ý nghĩa quan trọng về lý luận

và thực tiễn, vấn đề này cần phải được nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội,tìm hiểu bản chất quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam từ công cuộc đổi mới (Đại hội VI - 1986) đến nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; từ đó, đề xuất địnhhướng một số nội dung vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dântộc ở nước ta trong thời gian tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở khoa học hình thành và nội dung quan điểm củaV.I.Lênin về bình đẳng dân tộc

- Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện bình đẳngdân tộc ở nước ta trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay và định hướngvận dụng quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc và sự vận dụng củaĐảng Cộng sản Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dântộc thông qua các tác phẩm và hoạt động của Ông; sự vận dụng quan điểmV.I.Lênin về về bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳđổi mới từ năm 1986 đến nay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử tư tưởng và phươngpháp liên ngành của các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Phương pháplịch sử - lôgic; phương pháp nghiên cứu tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa xãhội khoa học; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ thống vàphương pháp chuyên gia.

6 Ý nghĩa của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hóa quan điểmcủa V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc, luận giải và khẳng định tính khoa học,cách mạng, những đóng góp thiên tài của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc đốivới các đảng cộng sản và cách mạng XHCN; sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo,phù hợp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay

- Góp phần làm sáng rõ thêm luận cứ khoa học để Đảng, Nhà nước tatiếp tục vận dụng sáng tạo quan điểm về bình đẳng dân tộc của V.I.Lênin vàogiải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảotrong nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở các học viện, nhà trường trong vàngoài quân đội về các nội dung có liên quan

7 Kết cấu của luận văn

Đề tài được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận,danh mục tài liệu tham khảo

Trang 10

Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC

1.1 Cơ sở khoa học quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc

1.1.1 Cơ sở lý luận quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc

* Trước khi nghiên cứu cơ sở khoa học quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc đòi hỏi chúng ta cần phải hiểu quan niệm về dân tộc, vấn

đề dân tộc và bình đẳng dân tộc

Dân tộc

Cho đến nay, dân tộc thường được được quan niệm với hai nghĩa chính:dân tộc theo nghĩa tộc người (ethnic, ethnie) và dân tộc theo nghĩa quốc giadân tộc (Nation - state)

Trong Đại từ điển tiếng Việt khái niệm “dân tộc” lại được hiểu theo banghĩa: (1) Dân tộc là cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch

sử của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý; (2)Dân tộc là một tộc người (DTTS); (3) Dân tộc là một cộng đồng người ổnđịnh làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau trongtruyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi [83, tr.538]

Trong Từ điển Bách Khoa Việt Nam thì khái niệm “dân tộc” được hiểutheo hai nghĩa là:

1 Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hộiđược chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu

do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộngđồng mang tính tộc người (ethnic) của bộ phận tộc người Một cộng đồng dântộc thường bao gồm nhiều cộng đồng người, với nhiều ngôn ngữ, yếu tố vănhóa thậm chí nhiều chủng tộc khác nhau Ngày nay, do không gian xã hộiđược mở rộng mang tính toàn cầu, do phương tiện đi lại, mỗi cộng đồng dântộc lại có thêm nhiều bộ phận của các cộng đồng tộc người tham gia, nên tìnhtrạng dân tộc đa tộc người là phổ biến

2 Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người,thí dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana, v.v Cộng đồng có thể là chủ thể hay thiểu

Trang 11

số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhauđược liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ýthức tự giác tộc người [21, tr.655].

Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là khái niệm được dùng để chỉ một cộngđồng tộc người (ethnic, ethnie) có chung ngôn ngữ, lịch sử - nguồn gốc, đờisống văn hóa và ý thức tự giác dân tộc Ví dụ: dân tộc Kinh, dân tộc Mông,dân tộc Dao, dân tộc Tày, v.v

Theo nghĩa thứ hai, dân tộc được hiểu là quốc gia dân tộc (nation - state),

là cư dân của một quốc gia nhất định bao gồm nhiều dân tộc, nhiều tộc người Vídụ: dân tộc Việt Nam, dân tộc Anh, dân tộc Pháp, dân tộc Đức, v.v

Vấn đề dân tộc thường được hiểu theo 2 nghĩa:

Nghĩa rộng: Vấn đề dân tộc bao gồm mối quan hệ giữa các tộc người trongnội bộ quốc gia dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau, diễn ra trên mọilĩnh vực đời sống xã hội Thực chất của vấn đề dân tộc là giải quyết công bằng vàbình đẳng quyền và lợi ích giữa các tộc người, giữa các quốc gia dân tộc

Nghĩa hẹp: Vấn đề dân tộc là những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữaquốc gia dân tộc, giữa các tộc người trong nội bộ quốc gia dân tộc, diễn ratrên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, tác động gây ảnh hưởng tiêu cực đến mỗidân tộc, mối quan hệ dân tộc, quốc gia - dân tộc đòi hỏi các nhà nước phảiquan tâm giải quyết

Thực chất của giải quyết vấn đề dân tộc dưới CNXH là xác lập quyềndân tộc cơ bản tạo nên những quan hệ công bằng, bình đẳng giữa các dân tộctrong quốc gia dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên mọi lĩnhvực nhằm thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN

Vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay tập trung vào giải quyết tốt đẹp mốiquan hệ giữa các tộc người trong nước, giữa nhà nước với tộc người và quan

hệ nội bộ các tộc người trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡnhau cùng phát triển giữa các dân tộc, thực hiện độc lập dân tộc và CNXH

Bình đẳng dân tộc

Bình đẳng dân tộc là một giá trị xã hội, phản ánh mối quan hệ ngangbằng nhau giữa các dân tộc cả về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm trên mọi

Trang 12

lĩnh vực của đời sống xã hội, được thể hiện và bảo đảm bằng luật pháp haythông lệ quốc tế, được mọi dân tộc thừa nhận và tự giác tuân theo.

Hiện nay, BĐDT thường được quan niệm: là quyền lợi của mọi dân tộc không phân biệt lớn hay nhỏ, đa số hay thiểu số, trình độ văn hoá cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo… trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ.

Bình đẳng giữa các dân tộc không chỉ là một nguyên tắc căn bản trongquan hệ dân tộc mà đây là một quyền lợi cơ bản và tiên quyết của mỗi dântộc Các dân tộc dù lớn hay nhỏ, dân số nhiều hay ít, có trình độ phát triển caohay thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có đặc quyền đặc lợi

về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ cho bất cứ dân tộc nào

Trong quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc, mọi quốc gia đều bình đẳngtrong quan hệ quốc tế Hiện nay, quyền BĐDT là cơ sở pháp lý chung để giảiquyết các quan hệ dân tộc trên thế giới, trong khu vực hay trong một quốc gia

Nó đã được ghi nhận trong công pháp quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia

Trong một quốc gia đa dân tộc, BĐDT vừa là quyền, vừa là một trongnhững nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các dân tộc và giải quyết quan

hệ giữa các dân tộc, đảm bảo cho sự đoàn kết dân tộc và phát triển bền vữngcủa cả quốc gia dân tộc Bình đẳng dân tộc chính là bảo đảm các quyền cơbản của mỗi con người và mỗi dân tộc, trong đó có quyền sống, quyền tự do,quyền mưu cầu hạnh phúc và phát triển

Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dântộc Hiện nay, BĐDT được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc và

là nguyên tắc trong quan hệ quốc gia dân tộc

* Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về dân tộc là cơ sở lý luận quan trọng để V.I.Lênin đề ra quan điểm về dân tộc và vấn đề dân tộc

Tuy C.Mác và Ph.Ăngghen chưa trình bày tập trung, có hệ thống vềdân tộc và VĐDT nhưng những tư tưởng, quan điểm của các ông đóng vai trò

là cơ sở lý luận để V.I.Lênin kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm vềVĐDT và giải quyết VĐDT

Trang 13

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, vấn đề dân tộc gắn liền với vấn đề giai cấp Hai ông đã chỉ ra rằng, áp bức dân tộc bắt nguồn từ chế độ người áp bức bóc lột người trong xã hội phân chia giai cấp Giai cấp và quan hệ giai cấp có

vai trò quyết định tới sự hình thành xu hướng phát triển, bản chất xã hội củadân tộc, tính chất quan hệ giữa các dân tộc với nhau Giai cấp nào lãnh đạo

dân tộc thì dân tộc đó mang bản chất của giai cấp đó Trong tác phẩm “Tuyên

ngôn của Đảng Cộng sản”, hai ông khẳng định: “Hãy xoá bỏ tình trạng ngườibóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ.Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì

sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [53, tr.624].

Vấn đề dân tộc bao giờ cũng được nhận thức và giải quyết theo lập trườngcủa một giai cấp nhất định Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, chỉ trênlập trường của GCVS, cách mạng vô sản mới giải quyết đúng đắn VĐDT Cũngtrong tác phẩm ấy, hai ông đã đề cập mối quan hệ dân tộc và giai cấp: “Giai cấp

vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thànhgiai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo

cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu” [53, tr.623] Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, chỉ

có GCVS mới thống nhất được lợi ích dân tộc - lợi ích của mình với các lợi íchcủa nhân dân lao động và của cả dân tộc Chỉ có xóa bỏ áp bức, bóc lột giaicấp thì mới xóa bỏ áp bức dân tộc, đem lại độc lập thật sự cho dân tộc mình

và cho dân tộc khác

Có thể thấy, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn đề cao vấn đề giai cấp, chorằng VĐDT lệ thuộc vào vấn đề giai cấp, là một bộ phận của vấn đề giai cấp.Ngoài ra, hai ông còn khẳng định: ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, việc giảiquyết nhiệm vụ dân tộc bao giờ cũng thuộc về một giai cấp tiêu biểu

Các ông chỉ ra rằng, giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, tạo ra động lực cách mạng xã hội chủ nghĩa

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, sứ mệnh lịch sử của GCCN là xóa bỏCNTB xây dựng thành công CNXH trên phạm vi mỗi nước và trên toàn thế

Trang 14

giới Xóa bỏ được CNTB là đã giải quyết được VĐDT trên phạm vi quốc gia

- dân tộc và quốc gia - đa dân tộc Chính vì vậy, hai ông kiên quyết chống lạiách áp bức, bóc lột các dân tộc của GCTS nhằm giải phóng các dân tộc bị ápbức, trong đó, GCCN là giai cấp triệt để nhất thực hiện nhiệm vụ này Cácông cho rằng: “Giai cấp vô sản chiến thắng giai cấp tư sản đồng thời còn cónghĩa là khắc phục tất cả những cuộc xung đột dân tộc và xung đột côngnghiệp hiện nay đang sinh ra sự thù hằn giữa các dân tộc Vì vậy mà thắng lợicủa giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản, đồng thời còn là dấu hiệu giải

phóng tất cả các dân tộc bị áp bức” [53, tr.527] Trong tác phẩm “Tuyên ngôn

của Đảng Cộng sản”, hai ông khẳng định: “Hãy xoá bỏ tình trạng người bóclột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ.Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì

sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [53, tr.624]

Không những vậy các ông còn nhận thấy, đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản là chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết quốc tế giai cấp công nhân, lợi ích dân tộc của công nhân mỗi nước phù hợp với lợi ích chung của giai cấp công nhân quốc tế, giải quyết hài hòa dân tộc và quốc tế

Trong khi nhấn mạnh vai trò của nhân tố giai cấp, C.Mác và Ph.Ăngghencũng không xem nhẹ nhân tố dân tộc Vấn đề dân tộc là một trong những vấn

đề quan trọng hàng đầu của cách mạng vô sản song nó chỉ được nhận thức vàgiải quyết đúng đắn trên lập trường của GCCN

Cuộc đấu tranh của GCCN về bản chất mang tính chất quốc tế và đoànkết quốc tế là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi cuối cùng của sựnghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người Hai ông thường xuyên nhấnmạnh rằng, GCCN các nước trước hết là các nước tư bản lớn, phải thoát khỏinhững thiên kiến của chủ nghĩa dân tộc tư sản Các nhà sáng lập chủ nghĩaMác chỉ rõ rằng, đảng của GCCN không lúc nào được coi nhẹ việc giáo dụcchủ nghĩa quốc tế chân chính cho quần chúng nhân dân, nhưng GCCN không

được quên rằng cuộc đấu tranh giải phóng của họ có tính chất dân tộc Dân tộc

là địa bàn trực tiếp của cuộc đấu tranh giai cấp của GCCN Vì vậy, “Giai cấp

Trang 15

vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành

giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” [53, tr.623].

Chủ nghĩa quốc tế vô sản còn được gọi là chủ nghĩa quốc tế của GCCN,hay chủ nghĩa quốc tế XHCN, là những nguyên tắc, phương châm hành độngtrong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN Trong tác

phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” phần Lời tựa cho lần xuất bản bằng

tiếng Ý năm 1893, Ph.Ăngghen coi nhiệm vụ giải quyết vấn đề độc lập dân tộcnhư một tiền đề để GCCN thực hiện tốt chủ nghĩa quốc tế: “Không khôi phụclại độc lập và thống nhất cho từng dân tộc thì về phương diện quốc tế, khôngthể thực hiện được sự đoàn kết của giai cấp vô sản và sự hợp tác hòa bình và tựgiác giữa các dân tộc đó để đạt tới mục đích chung”, còn lời kết của tác phẩmnhư lời kêu gọi và cũng là mệnh lệnh hành động của tất cả những người vô

sản trên thế giới: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” [53, tr.534].

* Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về bình đẳng dân tộc là cơ sở lý luận quan trọng để V.I.Lênin đề ra quan điểm bình đẳng dân tộc

Mặc dù chưa đưa ra một định nghĩa thật đầy đủ về BĐDT, song ở nhiềutác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, những vấn đề xã hội giữa các dân tộcđược xem xét chủ yếu trong các mối quan hệ dân tộc - quốc gia, quan hệ giữagiai cấp - dân tộc, dân tộc và quốc tế đã thể hiện quan điểm của các ông vềBĐDT (theo nghĩa rộng dân tộc - quốc gia)

Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã nêu lên luận điểm nổitiếng về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, gắn với tự do của con người vàmang tính chất chung, vượt ra ngoài khuôn khổ của một quốc gia: “Trong một

hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhau trên một cơ sở bình đẳng

và ở vào trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ nhiên làyêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giớicủa một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố lànhững quyền của con người” [56, tr.153]

Trong thư gửi La Phacgơ năm 1893, Ph.Ăngghen đã từng khẳng định:

“Sự bình đẳng giữa các dân tộc cũng cần thiết như sự bình đẳng giữa các cá

Trang 16

nhân” [57; tr.125] Tuy nhiên, trong xã hội tư bản, quyền bình đẳng giữa cácdân tộc với tư cách là quyền con người đã phản ánh “đặc thù tư sản”.Ph.Ăngghen đã phê phán cái “đặc thù tư sản” ấy thể hiện trong Hiến pháp củanước Mỹ khi thần thánh hóa đặc quyền chủng tộc, tức là tạo nên sự bất công,bất bình đẳng trong quan hệ dân tộc: “Đồng thời sự việc sau đây cũng nói lêntính chất đặc thù tư sản của những quyền con người ấy: hiến pháp của nước Mỹ,hiến pháp đầu tiên đã thừa nhận quyền của con người, đồng thời cũng lại chuẩn

y luôn cả chế độ nô lệ của người da màu đang tồn tại ở nước Mỹ; đặc quyền giaicấp bị cấm chỉ, đặc quyền chủng tộc được thần thánh hóa” [56, tr.153]

Theo quan điểm của hai ông, thực chất của việc thực hiện công bằng,BĐDT là phải xóa bỏ những khác biệt về giai cấp, xóa bỏ áp bức giai cấp, ápbức bóc lột giữa người với người Hai ông đã bày tỏ quan điểm nêu trên khiphê phán những quan điểm mơ hồ, lệch lạc của Látxan: “Thay vào cái câu kếtluận mơ hồ ở cuối đoạn là: “thủ tiêu mọi sự bất bình đẳng về xã hội và chínhtrị” thì đáng lẽ phải nói là: cùng với việc thủ tiêu những sự khác biệt giai cấpthì mọi sự bất bình đẳng về xã hội và chính trị bắt nguồn từ những sự khác

biệt giai cấp đó, tự chúng cũng không còn nữa” [55, tr.43].

Cần phải đặt vấn đề công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộcvới quan hệ giai cấp Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác vàPh.Ăngghen khẳng định rằng: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thìtình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ Khi mà sự đốikháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữacác dân tộc cũng đồng thời mất theo” [53, tr.624], và chỉ có GCCN là giai cấp cókhả năng lãnh đạo toàn xã hội, thủ tiêu mọi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng,bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc

C.Mác và Ph.Ăngghen luôn ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc củacác nước thuộc địa, phụ thuộc, đặt cơ sở đầu tiên cho giải quyết quan hệ giữaquyền tự quyết, tự trị dân tộc với BĐDT và cả việc thành lập các liên bang

khi có điều kiện Trong cuốn “Bàn về Ba lan”, Ph.Ăngghen đã nêu rõ VĐDT

liên hệ chặt chẽ với cách mạng của GCVS, “lấy liên minh anh em công nhân

Trang 17

của các dân tộc để chống lại liên minh anh em GCTS của dân tộc”, đồng thờiđưa ra suy luận phán đoán khoa học nổi tiếng: “Không một dân tộc nào có

thể trở thành tự do trong khi còn tiếp tục áp bức những dân tộc khác” [53, tr.

Dưới chế độ TBCN, nền sản xuất ngày càng phát triển, quy luật cạnhtranh theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” càng đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế,hình thành các tập đoàn tư bản ngày càng lớn Để thắng trong cạnh tranh GCTSphải ra sức tìm ra những biện pháp hữu hiệu để bóc lột GCCN Đây chính làbiểu hiện của bất bình đẳng giữa các dân tộc - tộc người trong từng quốc gia

Để có lợi nhuận cao nhất, GCTS đã tiến hành những cuộc chiến tranh,xung đột thế giới nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên các nước thuộc địacạn kiệt Nó đã để lại hậu quả nặng nề cho quần chúng nhân dân lao động.Tình trạng nghèo đói ngày càng gia tăng, khoảng cách chênh lệch giàu nghèonước các nước ngày càng lớn Chính điều đó cho thấy bất bình đẳng giữa cácquốc gia dân tộc với nhau ngày càng sâu sắc, đòi hỏi phải tiến hành cuộc cáchmạng XHCN lật đổ chế độ áp bức bóc lột, đem lại quyền tự do, bình đẳng,bác ái thực sự cho nhân dân từng quốc gia và cho tất cả nhân loại

Trang 18

Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để V.I.Lênin hình thành và đưa raquan điểm giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh giải phóng dân tộc và đấutranh giải phóng giai cấp trên phạm vi toàn cầu cũng như trong từng quốc giadân tộc trong thời đại đế quốc chủ nghĩa Năm 1920, V.I.Lênin đưa ra khẩu

hiệu nổi tiếng mà ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị: “Vô sản tất cả các nước

và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” Ông đã đánh giá đúng đắn vai trò cách

mạng có ý nghĩa thời đại của các dân tộc bị áp bức, chỉ ra sứ mệnh lịch sử củaGCCN, các dân tộc bị áp bức là nắm ngọn cờ dân tộc để lãnh đạo quần chúnglàm cách mạng

Thứ hai, giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, tình thế cách mạng vô sản đã xuất hiện, V.I.Lênin đã nghiên cứu, chỉ đạo cách mạng vô sản, đề ra cương lĩnh dân tộc

Đặc trưng cơ bản nhất của giai đoạn này là sự ra đời các tổ chức độcquyền và sự bóc lột ngày càng tinh vi hơn đối với nhân dân lao động làm chomâu thuẫn trong xã hội ngày càng gay gắt Sự xuất hiện các tập đoàn tư bảnxuyên quốc gia, đa quốc gia tạo ra khả năng hình thành hệ thống kinh tế thếgiới mới Tính chất đế quốc và tính chất phát triển không đồng đều của CNTBgiai đoạn này thể hiện ở những cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ thế giớingày càng quyết liệt về mức độ, mở rộng về quy mô Mâu thuẫn giữa cáccường quốc tư bản “trẻ” (Đức, Nhật…) và các nước phát triển sớm hơn, có mộtkhu vực thuộc địa rộng lớn, đã đưa đến chiến tranh thế giới, biến hàng triệungười lao động, cả ở “chính quốc” lẫn ở thuộc địa, thành nạn nhân của nó

Sản xuất TBCN được tập trung và cho ra đời các xí nghiệp, công ty lớn.Sau cạnh tranh dẫn đến xu hướng thỏa hiệp, “bắt tay với nhau” và dẫn đến sự

ra đời các tổ chức độc quyền Lợi ích của việc xuất khẩu tư bản thúc đẩy cáccường quốc đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa, chúng tiến hành các cuộc chiếntranh xâm lược các nước chậm phát triển, để biến các nước đó thành thuộc địacủa chúng Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ là sự phân chia thế giới vềmặt chính trị - là kết quả trực tiếp của phân chia thế giới về mặt kinh tế, nhằmbiến các nước khác thành thuộc địa và phụ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc

Trang 19

Sự phân chia thế giới là nguyên nhân dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giớilần thứ nhất (1914 - 1918) và lần thứ hai (1939 - 1945), hình thành hai loạinước: Một nhóm nhỏ các nước đế quốc có sức mạnh kinh tế và quân sự vàphần đông các nước bị áp bức, nô dịch hình thành nên hệ thống thuộc địa củachủ nghĩa đế quốc.

Tóm lại, chủ nghĩa đế quốc không phải là phương thức sản xuất mới mà

là giai đoạn phát triển cao của CNTB Về mặt kinh tế là sự thống trị của các

tổ chức độc quyền; về mặt chính trị là sự hiếu chiến, xâm lược và phản độngtoàn diện Còn chủ nghĩa đế quốc là còn nguy cơ chiến tranh, và chiến tranh

là bạn đường của chủ nghĩa đế quốc Đấu tranh xóa bỏ sự áp bức bóc lột củachủ nghĩa đế quốc là nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng XHCN.V.I.Lênin đã nghiên cứu kỹ bối cảnh chủ nghĩa đế quốc để nghiên cứu chỉ đạocách mạng vô sản, đề ra cương lĩnh dân tộc

Thứ ba, Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) kết thúc, các quốc gia bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, các nước thực dân, đế quốc tiếp tục đẩy mạnh nô dịch và bóc lột các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Từ tháng 11 năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, kết cụccủa cuộc chiến tranh này đã tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến lược quốc

tế, làm thay đổi hoàn toàn tương quan lực lượng cũng như tình hình thế giới,đặc biệt là đối với châu Âu

Đồng thời thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 cũngtạo ra một chuyển biến căn bản của tình hình thế giới CNTB không còn tồntại như một hệ thống duy nhất thống trị thế giới nữa Sự tồn tại của Nhà nướcXHCN đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức to lớn đối với thếgiới TBCN, buộc các nước này phải tìm cách dàn xếp để đối phó Trong bốicảnh đó, để giải quyết những vấn đề do chiến tranh đặt ra, các hội nghị hòabình được triệu tập Hệ thống hòa ước Vecxai (Versailles) và sau đó là Hệthống hiệp ước Oasinhtơn đã được ký kết nhằm tổ chức lại thế giới sau chiếntranh, phù hợp với tương quan lực lượng mới

Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cục diện chính trường thế

giới có nhiều thay đổi, dù thắng hay bại các nước đế quốc đều bị kiệt quệ nặng

Trang 20

nề Song, bên cạnh những nước bị suy yếu, xuất hiện một số nước phát triểnmạnh: Mỹ, Nhật, Tây Âu Do đó, các nước đế quốc đã họp bàn phân chia lại thịtrường thế giới, ra sức áp bức, nô dịch các nước thuộc địa phụ thuộc Đâychính là nguyên nhân châm ngòi nổ cho cuộc cách mạng XHCN.

Thứ tư, trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, V.I.Lênin đã hoạt động cách mạng ở nhiều nước, đã chứng kiến sự nô dịch dân tộc ở trong và ngoài nước Nga Sa Hoàng từ 1913 - 1916.

Những năm 1907 - 1917 là thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng về thếgiới quan ở nhiều nhà vật lý học Điều này tác động không nhỏ đến việc xuấthiện những tư tưởng duy tâm theo quan điểm của chủ nghĩa Makhơ và phủnhận chủ nghĩa Mác V.I.Lênin đã tổng kết toàn bộ thành tựu khoa học tựnhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỳ XX; tổng kết những sự kiện lịch sử giai

đoạn này để viết tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” (1909) Bằng việc đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất, mối quan hệ

giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, những nguyên tắc cơbản của nhận thức v.v, V.I.Lênin đã bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác lên mộttầm cao mới Việc bảo vệ và phát triển này còn thể hiện rõ nét tư tưởng củaV.I.Lênin về nguồn gốc lịch sử, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác trong tác

phẩm “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác” (1913), về phép biện chứng trong tác phẩm “Bút ký triết học” (1914 - 1916), về nhà nước

chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, vai trò của đảng cộng sản và con

đường xây dựng CNXH trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” (1917), v.v

Thứ năm, cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, xóa bỏ “nhà

tù của các dân tộc”, nước Nga bắt tay vào xây dựng xã hội mới, mở ra con đường hiện thực hóa giải quyết vấn đề dân tộc theo Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin.

Thực tiễn hoạt động cách mạng của V.I.Lênin vô cùng phong phú, Ông

đã tích cực đấu tranh cho chủ nghĩa quốc tế vô sản, thành lập Quốc tế Cộngsản để lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tập hợp mọi lựclượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống CNĐQ Ông đã vận dụng sángtạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào giải quyết mối quan hệ giữa yếu

Trang 21

tố dân tộc và yếu tố quốc tế trong cuộc đấu tranh cách mạng của GCVS Ông

đã phát triển VĐDT của chủ nghĩa Mác thành VĐDT và thuộc địa trong thời

kỳ đế quốc chủ nghĩa; đề ra những nguyên tắc có tính cương lĩnh của GCVS

về VĐDT; coi phong trào giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vôsản thế giới; phê phán chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi cũng như chủ nghĩa sôvanh

nước lớn Khẩu hiệu của C.Mác “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” đã được V.I.Lênin phát triển thành “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!” Dưới ngọn cờ của Ông, Liên bang Cộng hòa XHCN Xôviết và

hệ thống XHCN thế giới được hình thành; chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; cácdân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địacủa chủ nghĩa đế quốc tan rã

Ngay sau khi cách mạng vừa thắng lợi, hành động đầu tiên của Chínhquyền Xôviết là thông qua Sắc lệnh của V.I.Lênin về hòa bình Chính phủXôviết đề nghị nhân dân và chính phủ tất cả các nước tham chiến ký kết mộthòa ước với những điều kiện công bằng hợp lý đối với tất cả các dân tộc, tức làmột hòa ước không có sự thôn tính và không có bồi thường chiến tranh Trongbáo cáo của V.I.Lênin và trong Sắc lệnh về hòa bình đã nêu những nguyên tắccủa một kiểu quan hệ quốc tế mới xây dựng không phải trên cơ sở áp bức cácdân tộc nhỏ yếu, mà là trên cơ sở thiết lập một nền hòa bình giữa tất cả các dântộc, thừa nhận quyền bình đẳng của các dân tộc, nền độc lập của tất cả các quốcgia Sắc lệnh của V.I.Lênin đã đem chính sách cùng tồn tại hòa bình giữa cácnước có chế độ xã hội khác nhau, ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị ápbức để giành quyền tự quyết, dân chủ và CNXH, đối lập lại chính sách xâm lược

và tiến hành các cuộc chiến tranh phản động của chủ nghĩa đế quốc

Ngày 02 tháng 11 năm 1917 (theo lịch Nga cũ), Chính phủ Xôviết đãtuyên bố bản “Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc nước Nga” Tuyên bốkhẳng định những nguyên tắc căn bản của Chính quyền Xôviết đối với cácVĐDT, khẳng định quyền bình đẳng không chỉ đối với các dân tộc trong nướcNga mà còn khẳng định quyền tự quyết, bình đẳng của các dân tộc thuộc địacủa Nga hoàng Ngày 10 tháng 01 năm 1918, Đại hội Xôviết toàn Nga lần thứ

Trang 22

III đã khai mạc, Đại hội quyết định hợp nhất các Xôviết đại biểu nông dân với

Xôviết đại biểu công nhân và binh lính, thông qua bản “Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột” Trong bản tuyên ngôn đã chỉ thị

thành lập Hồng quân, đã tuyên bố những nguyên tắc cơ bản của chính sáchđối ngoại hòa bình của Nhà nước Xôviết - thủ tiêu những hiệp ước bí mật, tôntrọng chủ quyền dân tộc của tất cả các dân tộc, đoạn tuyệt hoàn toàn chínhsách thuộc địa man rợ của các nước tư bản Bản “Tuyên ngôn” lần đầu tiêntrong lịch sử loài người đã thực tiễn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản của chuyênchính vô sản: thủ tiêu chế độ người bóc lột người, xóa bỏ các giai cấp bóc lột,xây dựng CNXH Với tính cách là văn bản lập hiến quan trọng nhất, bản

“Tuyên ngôn” đã được đưa vào chương đầu trong Hiến pháp của nước Cộnghòa liên bang XHCN Xôviết Nga, trong đó đã hiến định quyền bình đẳng củacác dân tộc Nga, cụ thể các dân tộc được sử dụng tiếng nói và chữ viết củadân tộc mình, Hiến pháp đã được Đại hội V toàn Nga các Xôviết thông quavào tháng 7 năm 1918 Đại hội đã thông qua quyết định lịch sử cải tổ nướcCộng hòa Xôviết Nga thành Cộng hòa XHCN Xôviết Liên bang Nga, trên cơ

sở liên minh tự nguyện giữa các dân tộc ở nước Nga

Tháng 4 năm 1918, V.I.Lênin viết tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xôviết”, Người kêu gọi cần tổ chức thật chặt chẽ sự kiểm soát

và kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm, củng cố kỷluật lao động, lôi kéo các chuyên gia tư sản, sử dụng những thành tựu mới nhấtcủa khoa học và kĩ thuật Tuy nhiên, trong khi nước Nga đang xây dựng chế độXHCN thì các phần tử bạch vệ với sự giúp sức của 14 nước đế quốc đã ra sức lật

đổ chính quyền Xôviết Trước tình hình đó, nước Nga Xôviết đã áp dụng chínhsách cộng sản thời chiến, xây dựng Hồng quân công nông Cuộc nội chiếnNga đã diễn ra từ đầu năm 1918 đến tháng 11 năm 1920 khi Hồng quân đã đánhtan ngoại xâm và nội phản Cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi thuộc về chínhquyền Xôviết, nước Nga Xôviết được giữ vững

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã mở ra một thờiđại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi quốc tế Sự kiện

Trang 23

này làm nảy sinh những nhu cầu mới về lý luận mà thời C.Mác vàPh.Ăngghen chưa được đặt ra V.I.Lênin tổng kết thực tiễn cách mạng củaquần chúng nhân dân, tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác qua một

loạt tác phẩm nổi tiếng như: “Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản” (1920), “Về chính sách kinh tế mới” (1921), v.v trong đó có tác phẩm nổi tiếng “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn

đề thuộc địa” của V.I.Lênin thường được gọi tắt là Luận cương của V.I.Lênin hay Sơ thảo luận cương Đây là một trong những văn kiện được

Người viết xong vào tháng 6, 7 năm 1920 để trình bày tại Đại hội II Quốc tếCộng sản, họp từ 19 tháng 7 đến 07 tháng 8 năm 1920

Sau chiến tranh Nhà nước Xôviết non trẻ đang cần được bảo vệ hơnbao giờ hết Điều có ý nghĩa là bảo vệ trung tâm của cách mạng vô sản thếgiới, bảo vệ học thuyết cách mạng của C.Mác Do vậy, việc củng cố các đảngchuẩn bị cho việc tiến hành chuyên chính vô sản trên phạm vi toàn thế giới vàliên hiệp tất cả những người vô sản cách mạng ở những nước tư bản tiên tiếnvới quần chúng cách mạng bị áp bức, bóc lột ở các nước thuộc địa, ở cácnước phương Đông được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong chươngtrình nghị sự của Đại hội II Quốc tế Cộng sản

Trong điều kiện như vậy, V.I.Lênin đã soạn thảo những luận cương vềVĐDT và vấn đề thuộc địa Tác phẩm tuy ngắn gọn nhưng vô cùng quantrọng Nó đã củng cố những nguyên tắc mácxít về VĐDT và vấn đề thuộc địa.Theo đó, V.I.Lênin đã chỉ ra VĐDT luôn phải đi đôi với vấn đề thuộc địa,quyền tự quyết của các dân tộc bao gồm quyền tự quyết của các dân tộc thuộcđịa phải đi đến công nhận, thực hiện quyền độc lập tự chủ chứ không phải chỉ có

tự trị văn hóa; V.I.Lênin còn nêu rõ để chiến thắng hoàn toàn CNTB, đảm bảocho các dân tộc giành lại được độc lập, thì phải thực hiện sự liên minh, thốngnhất của GCVS tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới

V.I.Lênin khẳng định rằng: “Điều quan trọng nhất trong chính sách củaQuốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa phải là làm cho vôsản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi

Trang 24

nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ

và giai cấp tư sản Bởi vì, chỉ có sự gần gũi ấy mới bảo đảm việc chiến thắngchủ nghĩa tư bản, nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được

ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng” [47, tr.266].

Tóm lại, Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quan điểm của

V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc cho thấy: Quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc là tập hợp các bài viết, bài nói chuyện được trình bày trong các tác phẩm, phản ánh tư tưởng của V.I.Lênin về những vấn đề liên quan đến dân tộc và bình đẳng dân tộc; là sự vận dụng sáng tạo, phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về dân tộc trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, gắn với hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản công nhân quốc

tế, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới với nhiều cương vị khác nhau

và trí tuệ thiên bẩm của Ông, nhằm khẳng định quyền của mọi dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa cao hay thấp, chủng tộc, màu

da và được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội cùng phương thức hiện thực hóa quyền bình đẳng dân tộc.

1.2 Nội dung quan điểm của V.I.Lênin về bình đẳng dân tộc

1.2.1 V.I Lênin kế thừa, bổ sung, phát triển quan niệm về bình đẳng dân tộc của C.Mác và Ph.Ăngghen

Kế thừa một cách có chọn lọc, bổ sung những quan điểm của C.Mác vàPh.Ăngghen, phát triển thành những quan điểm mang tính hệ thống của chủnghĩa Mác về VĐDT, quan hệ dân tộc, công bằng, bình đẳng xã hội trongquan hệ dân tộc trong điều kiện lịch sử mới Đặc biệt, V.I.Lênin kế thừa, bổsung, hoàn thiện quan niệm mácxít về quyền BĐDT

Theo V.I.Lênin, bình đẳng dân tộc là sự ngang bằng nhau giữa các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ hay trình độ phát triển

Ông cho rằng, lợi ích của GCCN nói chung hay những lợi ích của tự dochính trị nói riêng đòi hỏi phải có sự bình quyền hết sức đầy đủ giữa tất cả mọidân tộc, không trừ một dân tộc nào trên thế giới hay giữa các dân tộc ở trongmột nước nhất định Chỉ có quyền tự do đầy đủ và đảm bảo giải quyết đượcthực sự VĐDT bằng cách thừa nhận quyền bình đẳng hoàn toàn và quyền tuyệt

Trang 25

đối về tự quyết chính trị của tất cả các dân tộc, không trừ một dân tộc nào.V.I.Lênin viết: “Đảm bảo giải quyết được thực sự vấn đề dân tộc bằng cáchthừa nhận quyền bình đẳng hoàn toàn và quyền tự quyết chính trị tuyệt đối củatất cả các dân tộc” [27, tr.249].

Trong tác phẩm “Về bản tuyên ngôn của “Hội liên hiệp những người dânchủ - xã hội”” được viết năm 1903, V.I.Lênin đã nhắc nhở những người trongHội liên hiệp, đó chính là thái độ của Hội liên hiệp đối với VĐDT Ông tríchdẫn trong bản tuyên ngôn: “Nhận thấy thành phần dân tộc ở nước Nga bao gồmnhiều dân tộc khác nhau hiện đang ở các trình độ phát triển văn hóa khác nhau,

và cho rằng chỉ có phát triển rộng rãi chế độ tự trị địa phương mới bảo đảmđược lợi ích của các thành phần không giống nhau ấy” [25, tr.128]

Bình đẳng giữa các dân tộc là không phân biệt dân tộc thuộc các chủng tộc hay các tôn giáo khác nhau Trong những năm 1902 - 1903, khi nói về

VĐDT V.I.Lênin chỉ rõ rằng, một trong những nguyên tắc cơ bản mà tất cảnhững người dân chủ - xã hội phải tuân theo trong VĐDT là yêu sách vềquyền tự quyết của mỗi dân tộc nằm trong thành phần của quốc gia Yêu sách

đó có nghĩa là đảng của GCVS bao giờ cũng phải đấu tranh một cách vô điềukiện chống áp bức dân tộc, chống lại mọi ý đồ muốn dùng bạo lực hoặc dùngthủ đoạn phi nghĩa để từ bên ngoài tác động đến quyền tự quyết của nhân dân.Sau này, V.I.Lênin đã giải thích rằng khi đề ra trong cương lĩnh yêu sách quyềndân tộc tự quyết, Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga hiểu khái niệm tự quyếtvới ý nghĩa là tự quyết chính trị, tức là quyền tách ra và thành lập một quốc giađộc lập Cương lĩnh bao gồm yêu sách về quyền bình đẳng hoàn toàn của côngdân (không phân biệt nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc, dân tộc v.v.) và

quyền tự quyết một cách tự do dân chủ của họ.

Bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực, được bảo đảm bằng pháp luật; xóa bỏ mọi đặc quyền đặc lợi dân tộc Bình đẳng dân tộc là

quyền của mọi dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa caohay thấp, không phân biệt chủng tộc màu da…, và trên tất cả các lĩnh vực trong

Trang 26

kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội Đây cũng là cơ sở pháp lý chung để giảiquyết các quan hệ dân tộc trên thế giới trong khu vực hay trong một quốc gia.

Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộcphải được pháp luật bảo vệ và phải được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội Trên phạm vi giữa các quốc gia, đấu tranh cho quyền BĐDT phảigắn với cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chống chủ nghĩa sô-vanh,chống sự áp bức, bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nướcchậm phát triển về kinh tế Điều đó đã được ghi nhận trong công pháp quốc tế

và pháp luật của mỗi quốc gia

Trong tác phẩm “Đề cương về vấn đề dân tộc” viết năm 1913, V.I.Lênin

đã khẳng định: “Trong khi kiên trì một chế độ nhà nước dân chủ triệt để, đảngdân chủ - xã hội đòi phải có sự bình đẳng tuyệt đối giữa các dân tộc và đấutranh chống bất cứ đặc quyền đặc lợi nào có lợi cho một dân tộc hay cho mộtvài dân tộc nào đó” [30, tr.398], có nghĩa là mọi dân tộc đều bình đẳng vớinhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt dân tộc lớnhay nhỏ và không được ưu ái cho bất cứ một dân tộc nào

Phải xây dựng một chế độ dân chủ thực sự - nền dân chủ công nhân mà

ở đó mọi quyền lợi của các dân tộc được đảm bảo Trong tác phẩm “Giai cấpcông nhân và vấn đề dân tộc” viết năm 1913, Ông cũng chỉ rõ: “Để cho cácdân tộc khác nhau có thể chung sống cùng nhau trong tự do và hòa bình hoặc

để cho các dân tộc đó có thể tách ra thành những quốc gia riêng biệt, thì phải

có một chế độ dân chủ hoàn toàn, chế độ dân chủ mà giai cấp công nhân vẫnbênh vực Không được dành một tí đặc quyền nào cho bất cứ một dân tộc nào,cũng như cho bất cứ một ngôn ngữ nào Không được có một hành động áp chếnhỏ nào, không được có một sự bất công nhỏ nào đối với một dân tộc thiểu số!

- đó là những nguyên tắc của nền dân chủ công nhân.” [28, tr.193].

Bình đẳng dân tộc không chỉ thể hiện trên phương diện quốc gia dân tộc mà còn phải thể hiện sự bình đẳng giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số trong một quốc gia Luận giải về vấn đề BĐDT, V.I.Lênin đã xem xét ở cả hai

góc độ: dân tộc - theo nghĩa quốc gia và dân tộc - theo nghĩa tộc người

Trang 27

Khi xem xét về VĐDT và BĐDT, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Ngay cả trongvấn đề dân tộc, phải đặt lên hàng đầu không phải là những nguyên tắc trừutượng hoặc hình thức, mà thứ nhất là sự đánh giá đúng tình hình lịch sử cụthể, và trước hết là tình hình kinh tế; thứ hai là sự phân biệt rõ rệt lợi ích củagiai cấp bị áp bức, của những người lao động, của những người bị bóc lột, vớicái khái niệm chung về lợi ích của nhân dân nói chung, nó chỉ biểu hiệnnhững lợi ích của giai cấp thống trị; thứ ba là phân biệt thật rõ rệt những dântộc bị áp bức, phụ thuộc không được hưởng quyền bình đẳng, với những dân

tộc đi áp bức, bóc lột, được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi” [47, tr.198-199].

Trong tác phẩm “Giai cấp công nhân và vấn đề dân tộc” viết năm 1913,V.I.Lênin luận chứng chính sách của Đảng Bôn-sê-vích về VĐDT, coi đó là bộphận hợp thành của vấn đề chung về cách mạng Người tiến hành cuộc đấutranh kiên quyết chống mọi mưu toan xét lại cương lĩnh của Đảng về VĐDT,triệt để bảo vệ yêu cầu có tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa Mác về quyền cácdân tộc được tự quyết và được tồn tại độc lập về mặt nhà nước

Đảng dân chủ - xã hội đòi ban bố một đạo luật chung cho cả nước đểbảo vệ các quyền của mọi dân tộc ít người ở bất kỳ nơi nào trong nước Theođạo luật đó, mọi biện pháp mà thông qua đó dân tộc nhiều người định tạo racho mình một đặc quyền dân tộc hoặc giảm bớt các quyền của dân tộc ítngười trong một số lĩnh vực đều phải được tuyên bố là không có hiệu lực, và

kẻ nào thi hành biện pháp ấy sẽ bị trừng trị

Ông chỉ ra rằng: “Không được có một hành động áp chế nhỏ nào,

không được có một sự bất công nhỏ nào đối với một dân tộc thiểu số! - đó lànhững nguyên tắc của nền dân chủ công nhân” [28, tr.193]

Hay trong tác phẩm “Dự thảo cương lĩnh cho đại hội IV của Đảng dân chủ

- xã hội xứ Lát-vi-a” viết năm 1913, Ông đã nhấn mạnh: “Chúng ta đòi hỏi một

sự bình đẳng tuyệt đối về mặt quyền lợi cho tất cả các dân tộc trong quốc gia và sựbảo vệ vô điều kiện các quyền lợi của mọi dân tộc ít người Chúng ta đòi hỏinhững quyền hành chính rộng rãi và quyền tự trị cho các khu vực, mà ranh giớicần phải được quy định, có căn cứ cả vào đặc trưng dân tộc nữa” [29, tr.268]

Trang 28

Bàn về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong phạm vi nội bộ quốcgia, V.I.Lênin khẳng định, quyền này không chỉ được thừa nhận mà còn phảiđược đảm bảo thực thi trong thực tế; đấu tranh với những hiện tượng vi phạm

quyền bình đẳng giữa các dân tộc, Ông viết: “Trong toàn bộ công tác tuyên

truyền và cổ động của các đảng cộng sản - ở diễn đàn nghị viện cũng như ởngoài - không những cần phải luôn luôn không ngớt tố cáo những việc viphạm thường xuyên nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc và những sự đảmbảo quyền lợi của các dân tộc thiểu số trong tất cả các quốc gia tư bản chủ

nghĩa ” [48, tr.201].

V.I.Lênin cũng khẳng định: “Nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liềnchặt chẽ với việc đảm bảo quyền lợi của các dân tộc thiểu số…, bất cứ mộtthứ đặc quyền nào dành riêng cho một dân tộc, và bất cứ một sự vi phạm nào

đến quyền lợi của một dân tộc thiểu số đều bị bác bỏ” [35, tr.179].

Theo V.I.Lênin, thái độ vô sản thực sự trong quan hệ của dân tộc lớnđối với những dân tộc nhỏ trong nước là phải “cực kỳ thận trọng, ân cần niềm

nở và nhân nhượng” và “thà nhân nhượng và mềm mỏng quá mức đối với các

dân tộc ít người còn hơn là không đủ mức” vì “không có gì kìm hãm việc phát

triển và củng cố sự đoàn kết giai cấp của giai cấp vô sản hơn là sự bất công

Thực hiện BĐDT là nhân tố quyết định để củng cố và tăng cường khốiđại đoàn kết dân tộc trong cách mạng XHCN Đại đoàn kết dân tộc là đườnglối chiến lược của cách mạng XHCN, là động lực và là nhân tố có ý nghĩaquyết định đối với sự thắng lợi của cách mạng XHCN Xét về cả mặt lý luận

và thực tiễn thấy rằng, nếu không xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc thì

Trang 29

không có sự bình đẳng giữa các dân tộc Và để xây dựng khối đại đoàn kếtdân tộc thì phải thực hiện BĐDT, đại đoàn kết dân tộc không những phải dựatrên nền tảng của khối liên minh giữa GCCN với giai cấp nông dân, mà cònphải thực hiện đoàn kết các dân tộc Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc làBĐDT, vì lợi ích của tất cả các dân tộc trong một quốc gia Khi các dân tộcđược đối xử bình đẳng, cả về nghĩa vụ và quyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung

và tạo nên sự đồng thuận giữa các dân tộc và ngược lại Vì thế, nếu khôngđảm bảo và không có những chính sách và hành động cụ thể để thực hiệnBĐDT, làm cho BĐDT ngày càng trở thành hiện thực thì khối đại đoàn kết dântộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợp lực lượng của cách mạng

Xây dựng thành công CNXH chính là tạo lập sự bình đẳng giữa các dântộc Để thực hiện quyền BĐDT cần phải có một xã hội mà ở đó, quyền bìnhđẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện Xã hội đó, khôngthể khác là xã hội XHCN Chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thểgiải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức, xây dựng thành công CNXH chính

là phương thức để thực hiện BĐDT thực sự

1.2.2 V.I.Lênin chỉ rõ nguồn gốc của bất bình đẳng dân tộc

Trong xã hội có áp bức giai cấp tất yếu có áp bức và nô dịch dân tộc, bất bình đẳng dân tộc, nhất là thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc

Trong thực tiễn V.I.Lênin chỉ ra áp bức giai cấp là nguyên nhân cănbản, sâu xa của áp bức dân tộc Hiện tượng dân tộc này thống trị, áp bức dân tộckhác trong lịch sử, về thực chất là giai cấp thống trị của dân tộc này áp bức bóc lộtdân tộc khác mà bộ phận bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất là nhân dân lao động

Thời đại V.I.Lênin, khi chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thốngthế giới, cách mạng giải phóng dân tộc trở thành bộ phận của cách mạng vôsản, V.I.Lênin mới phát triển VĐDT thành học thuyết về cách mạng thuộcđịa Người cho rằng, cách mạng vô sản ở chính quốc không thể giành thắnglợi nếu không liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc

địa Từ đó, V.I.Lênin đã bổ sung vào khẩu hiệu chiến lược của C.Mác: “Vô

Trang 30

sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!” Điều đó cho thấy

V.I.Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong cácnước thuộc địa Ông đã đánh giá đúng đắn vai trò cách mạng có ý nghĩa thờiđại của các dân tộc bị áp bức, chỉ ra sứ mệnh lịch sử của GCCN, các dân tộc

bị áp bức là nắm ngọn cờ dân tộc để lãnh đạo quần chúng làm cách mạng.Nhiệm vụ của GCCN các nước tư bản, đế quốc là vì lợi ích căn bản của chínhmình, phải ra sức ủng hộ cách mạng giải phóng dân tộc Tuy nhiên, sau khiV.I.Lênin mất, Ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản một thời gian dài đã nhấnmạnh vấn đề giai cấp, coi nhẹ VĐDT, vì vậy không mấy quan tâm đến chủnghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc của các nước thuộc địa, thậm chí còn coi đó

là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, trái với chủ nghĩa quốc tế vô sản

Chủ nghĩa tư bản chỉ đưa đến chủ nghĩa dân tộc dưới mọi mầu sắc tinh

vi, nghi kỵ, hiềm khích và mâu thuẫn dân tộc không lối thoát Giai cấp tư sản

khi tiến hành cuộc cách mạng dân chủ tư sản với khẩu hiệu tự do, bình đẳng,bác ái đã tập hợp quần chúng nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh lật đổgiai cấp quý tộc, phong kiến Nhưng khi GCTS giành được chính quyền thìmọi quyền tự do, dân chủ của quần chúng nhân dân lao động không được tôntrọng Tự do trong chế độ tư bản chủ nghĩa là tự do bóc lột của GCTS, tự bánsức lao động của người công nhân, tự do bóc lột của nước giàu đối với nướcnghèo, tự do thống trị của nước lớn với nước nhỏ; bình đẳng là bình đẳng đốivới GCTS; bình đẳng giữa các nước lớn, giàu có với nhau…Do vậy, khẩuhiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” mà chủ nghĩa đế quốc đưa ra chỉ là hình thức,

là xảo trá, lừa bịp Bởi vậy, V.I.Lênin hoàn toàn nhất trí với kết luận của C.Mác

và Ph.Ăngghen: “Tất cả những phong trào lịch sử, từ trước đến nay đều là dothiểu số thực hiện hoặc đều mưu lợi ích cho thiểu số Phong trào vô sản là phong

trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số” [53, tr.611].

Khi phân tích về giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin đã nhấn mạnh

về bản chất của chủ nghĩa đế quốc là: CNTB phát triển thành một hệ thống cótính chất toàn thế giới của một “nhúm nhỏ các nước tiên tiến đi áp bức thuộc

địa và dùng tài chính để bóp nghẹt đại đa số nhân dân thế giới” [39, tr.375].

Trang 31

Hệ quả của nó là làm cho mâu thuẫn giai cấp tăng lên với quy mô rộng lớn,làm cho đời sống quần chúng trở nên khốn quẫn trầm trọng cả về kinh tế lẫnchính trị Chủ nghĩa quân phiệt phát triển, các cuộc chiến tranh tăng lên gấpbội, thế lực phản động phát triển mạnh, áp bức dân tộc và sự cướp bóc thuộcđịa nặng nề thêm và mở rộng thêm V.I.Lênin khẳng định: “Nguyên tắc củachủ nghĩa dân tộc tư sản là sự phát triển dân tộc nói chung, do đó mà sinh ratính đặc biệt của chủ nghĩa dân tộc tư sản, những cuộc xung đột dân tộc không

có lối thoát” [35, tr.169] Do đó, CNTB chỉ đưa đến chủ nghĩa dân tộc dưới

mọi màu sắc tinh vi, nghi kỵ, hiềm khích và mâu thuẫn dân tộc không lối thoát

Kế thừa, bảo vệ và phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen vềVĐDT, tập trung nghiên cứu về VĐDT, dân tộc thuộc địa V.I.Lênin khẳngđịnh nội dung cơ bản giải quyết VĐDT là: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng;các dân tộc được quyền tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại”[39, tr.375] Và cuộc đấu tranh cho quyền độc lập và tự quyết, BĐDT cầnđược tiến hành dưới nhiều hình thức, biện pháp, từ đấu tranh nghị trường, đấutranh chính trị đến đấu tranh vũ trang Trong mọi trường hợp cần phải lôi cuốnquần chúng thuộc mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội và tranh thủ sự đoàn kết,giúp đỡ của GCCN quốc tế

V.I.Lênin vạch rõ giai cấp tư sản và chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa cơ hội của phong trào công nhân chỉ nêu lên bình đẳng dân tộc về hình thức, lừa bịp công nhân và quần chúng lao động.

Chủ nghĩa cơ hội xét lại là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩaMác - Lênin, là tàn dư của tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong phong trào côngnhân, là sự hy sinh quyền lợi cơ bản lâu dài của phong trào công nhân vìnhững lợi ích trước mắt cục bộ của một bộ phận, là sự đầu hàng trước hệ tưtưởng tư sản và là sự phản bội chủ nghĩa Mác Trào lưu này xuất hiện từ nội

bộ phong trào cộng sản và công nhân còn có những phần tử chưa gạt bỏ được

sự tác động, ảnh hưởng của tàn dư tư tưởng tiểu tư sản Từ những âm mưu thủđoạn của các thế lực thù địch với chính sách hai mặt - dùng bạo lực “từ chốimọi nhượng bộ đối với phong trào”, “phủ nhận triệt để mọi sự cải cách”; đồng

Trang 32

thời dùng “dụ dỗ mua chuộc” những biện pháp theo hướng cải cách chính trị,thực hiện những “cuộc cải cách nhượng bộ” Kết quả của nó là một bộ phậncông nhân, thậm chí một số người cộng sản đã bị khuất phục trước áp lực vàlừa mị của kẻ thù, sa xuống hàng ngũ kẻ cơ hội.

Về lý luận, quan điểm và hành động thì thực dụng chủ nghĩa và ngụybiện, về thủ đoạn thì rất gian ngoan, lắt léo V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: phái cơhội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát,quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi lẫn nhau.Bên cạnh đó bọn chúng còn phủ nhận học thuyết Mác - Lênin về giai cấp và

đấu tranh giai cấp; từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản Họ cố tình nhấn đậm nét

đến “bình đẳng”, “tự quyết” trở thành khẩu hiệu lừa bịp và thực chất khôngvượt khỏi giới hạn quan điểm của GCTS Với tư duy chính trị mới họ từ bỏthuật ngữ chủ nghĩa quốc tế vô sản, họ sáng tạo ra thuật ngữ mới, chủ nghĩaquốc tế mới đó là “đoàn kết thế giới lại”, chứ không chia thế giới ra thànhnhững phe đối địch nhau, người ta đã tước mất bản chất giai cấp của chủnghĩa quốc tế GCVS, chỉ còn lại những lời kêu gọi đoàn kết chung chung vônguyên tắc, không quan tâm đến những sự khác biệt về giai cấp, chế độ chínhtrị, thực chất là sự thỏa hiệp đầu hàng đối với chủ nghĩa đế quốc Do vậy,V.I.Lênin đòi hỏi phải áp dụng những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa cộngsản (Chính quyền Xôviết và chuyên chính vô sản) sao cho những nguyên tắc

ấy được cải biến đúng đắn trong những vấn đề chi tiết, được làm cho phù hợp,cho thích hợp với những đặc điểm dân tộc và đặc điểm nhà nước - dân tộc

1.2.3 V.I.Lênin bổ sung, phát triển nội dung bình đẳng dân tộc

Theo V.I.Lênin, bình đẳng giữa các dân tộc phải được thể hiện trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội Đây lànguyên tắc cơ bản trong thực hiện quyền BĐDT, trong giải quyết các quan hệdân tộc trên thế giới hay quốc gia

Thứ nhất, bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực chính trị

Bình đẳng về chính trị cũng là quyền của mỗi dân tộc Đối với các dântộc bị áp bức, bị lệ thuộc, đấu tranh giành quyền bình đẳng về chính trị chính là

Trang 33

điều kiện để có bình đẳng trên các phương diện khác của đời sống xã hội.V.I.Lênin cũng nêu rõ, vấn đề bình đẳng về chính trị chính là quyền tự quyếtcủa các dân tộc Để thực hiện bình đẳng về chính trị, những người mácxít phảiđấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa dân tộc dưới mọi mầu sắc.V.I.Lênin chỉ rõ: “Chủ nghĩa Mác không thể điều hòa được với chủ nghĩa dântộc, dù là chủ nghĩa dân tộc “công bằng”, “thuần khiết”, tinh vi và văn minh

đến đâu đi nữa” [35, tr.167]

Năm 1903, V.I.Lênin đã viết những tác phẩm đầu tiên về cương lĩnh dântộc mácxít như tác phẩm “Về bản tuyên ngôn của “Hội liên hiệp những ngườidân chủ - xã hội Ác-mê-ni-a””, “Về bản tuyên ngôn của phái Bun”, “Vấn đềdân tộc trong cương lĩnh của chúng ta” Trong đó V.I.Lênin luận giải sâu sắc

và đã kiên định bảo vệ quyền bình đẳng về chính trị của các dân tộc Trong tácphẩm: “Vấn đề dân tộc trong cương lĩnh của chúng ta” V.I.Lênin khẳng định:

“Trong cương lĩnh của mình, họ chẳng những đề ra quyền bình đẳng hoàn toàn

về ngôn ngữ, dân tộc, v.v., mà còn đề ra việc thừa nhận cho mỗi dân tộc có

quyền tự mình quyết định lấy vận mệnh của mình nữa” [26, tr.296].

Về nội dung của quyền dân tộc tự quyết lúc này, theo V.I.Lênin đượcthể hiện trên hai nguyên tắc cơ bản: “Thứ nhất, không phải yêu sách về chế độ

tự trị dân tộc mà là yêu sách tự do về chính trị, tự do công dân và bình quyềnhoàn toàn; thứ hai, yêu sách về quyền tự quyết cho mỗi dân tộc trong nước”[25, tr.128] Sau này, V.I.Lênin giải thích rằng khi đề ra trong cương lĩnh yêusách quyền dân tộc tự quyết, Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga hiểu kháiniệm tự quyết với ý nghĩa là tự quyết chính trị, tức là quyền tách ra và thànhlập một quốc gia độc lập Ông đòi hỏi cho mỗi dân tộc phải có quyền tự quyếtđịnh vận mệnh chính trị của mình

Quyền bình đẳng dân tộc về chính trị biểu hiện ở mỗi dân tộc có quyền

tự quyết, là quyền làm chủ của mỗi dân tộc, quyền tự quyết định vận mệnhchính trị, con đường phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của dân tộc mình.Quyền dân tộc tự quyết bao gồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng quốc

Trang 34

gia dân tộc độc lập và quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác trên

cơ sở bình đẳng

Theo V.I.Lênin, việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc về chính trị,tức quyền tự quyết dân tộc sẽ không những xóa bỏ áp bức dân tộc, tạo điềukiện để các dân tộc phát triển tự do mà còn tăng cường các mối liên hệ dântộc về kinh tế, thắt chặt những quan hệ văn hóa, nâng cao lòng tôn trọng lẫnnhau giữa các dân tộc; đem lại lợi ích văn hóa, lợi ích dân chủ và lợi ích củaGCCN V.I.Lênin viết: “Bảo vệ, tuyên truyền, thừa nhận quyền đó, tức là bảo

vệ quyền bình đẳng dân tộc, bác bỏ những mối liên hệ cưỡng bức, đấu tranhchống đặc quyền về mặt nhà nước của bất cứ dân tộc nào” [38, tr 84]

Đề cập đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc - quốc gia trong điều kiện

hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đang mở rộng trên thế giới,V.I.Lênin khẳng định, đảm bảo quyền tự quyết của các dân tộc cũng là mộtnguyên tắc quan trọng để đảm bảo quyền BĐDT

Theo V.I.Lênin, quyền bình đẳng dân tộc phải được pháp luật khẳng định, mọi công dân thuộc mọi dân tộc đều bình đẳng Trong tác phẩm “Dự

luật về quyền bình đẳng dân tộc và về việc bảo vệ quyền của các dân tộc ítngười” được viết năm 1914, V.I.Lênin vạch trần chính sách dân tộc của chế

độ chuyên chế Nga hoàng, một chính sách dựa trên cơ sở áp bức dân tộc,Người chỉ ra một cách rõ ràng rằng nước Nga đang sống trong trạng thái mộtcuộc nội chiến được che đậy một cách vụng về, khi “chính phủ không cai trị

mà giao chiến” với nhân dân V.I.Lênin coi việc đưa dự luật về quyền BĐDT

ra trước Đu-ma là một việc làm có ý nghĩa to lớn, Người cho rằng GCCN cótrách nhiệm phải lên tiếng chống sự áp bức dân tộc, đòi hủy bỏ những hạn chế

có tính chất dân tộc đối với tất cả các dân tộc, mọi công dân thuộc mọi dântộc đều bình đẳng và quyền bình đẳng ấy đã được ghi trong hiến pháp.V.I.Lênin viết: “Tất cả các dân tộc trong nước đều tuyệt đối bình đẳng và mọiđặc quyền của bất cứ dân tộc nào hoặc ngôn ngữ nào đều bị coi là không thể

dung thứ và trái với hiến pháp” [36, tr.158].

Trang 35

Trong tác phẩm “Dự thảo cương lĩnh cho Đại hội IV của Đảng dân chủ

- xã hội xứ Lat-vi-a” viết năm 1913 phần nói về VĐDT, V.I.Lênin cùng vớiĐảng công nhân dân chủ - xã hội Nga đã luôn bảo vệ các dân tộc, Ông viết:

“Là những người dân chủ, chúng ta hết sức phản đối mọi sự áp bức, dù là nhỏnhất, đối với bất cứ một dân tộc nào, phản đối mọi đặc quyền dành cho mộtdân tộc này hay một dân tộc khác…, chúng ta đòi quyền tự do tự quyết chocác dân tộc hiểu theo nghĩa chính trị của từ đó nghĩa là quyền tự do phân lập.Chúng ta đòi hỏi một sự bình đẳng tuyệt đối về mặt quyền lợi cho tất cả cácdân tộc trong quốc gia và sự bảo vệ vô điều kiện các quyền lợi của mọi dântộc ít người Chúng ta đòi hỏi những quyền hành chính rộng rãi và quyền tựtrị cho các khu vực, mà ranh giới cần phải được quy định, có căn cứ cả vào

đặc trưng dân tộc nữa” [29, tr.268].

Bình đẳng dân tộc về chính trị của các dân tộc thiểu số trong quốc gia được thể hiện thông qua sự tự trị dân tộc; tham gia vào thể chế chính trị…

V.I.Lênin nhận thấy thành phần dân tộc ở nước Nga bao gồm nhiều dân tộckhác nhau hiện đang ở các trình độ phát triển văn hóa khác nhau và Ngườicho rằng, chỉ có phát triển rộng rãi chế độ tự trị địa phương mới bảo đảmđược lợi ích của các thành phần không giống nhau ấy, cho nên những ngườimácxít cho rằng trong nước Nga tự do tương lai cần thiết thành lập chế độcộng hòa liên bang V.I.Lênin khẳng định: “Đặc biệt cần phải thực hiện mộtchế độ tự trị khu vực rộng rãi và một chế độ tự quản địa phương hoàn toàndân chủ, quy định địa giới của những khu vực tự quản và tự trị căn cứ vàonhững điều kiện kinh tế và sinh hoạt do bản thân dân cư địa phương tự xác

định, cũng như căn cứ vào thành phần dân tộc của dân cư, v.v ” [34, tr.76].

Thứ hai, bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực kinh tế

Ở phương diện này, BĐDT phụ thuộc vào sự đồng đều về trình độ pháttriển kinh tế của các dân tộc, cốt lõi là sự phát triển đồng đều của lực lượngsản xuất Chính vì vậy cần không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, vượtqua tình trạng lạc hậu về kinh tế, vươn lên trình độ sản xuất tiên tiến của thờiđại là con đường đưa dân tộc lên địa vị bình đẳng với các dân tộc khác

Trang 36

BĐDT, trước hết phải là sự bình đẳng về kinh tế Nếu tách rời sự bình đẳng

về kinh tế với sự bình đẳng trên các lĩnh vực khác thì bình đẳng đó không đầy

đủ về mặt nội dung và sẽ chỉ trở thành khẩu hiệu mang tính chất cải lương

Bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trong nội dung kinh tế hay bìnhđẳng về kinh tế Lợi ích kinh tế gắn liền với lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc gia,bởi vậy giải quyết các mối quan hệ liên quan đến dân tộc đều phải tính đếnquan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế Bất cứ sự áp đặt nào trong hợp tác, giao lưu,liên kết, bất kỳ đặc quyền kinh tế nào dành riêng cho các dân tộc, đều dẫn đếnviệc vi phạm lợi ích của các dân tộc, dẫn đến sự bất BĐDT

Ngày nay, trong xu thế giao lưu, liên kết, hợp tác quốc tế về kinh tếgiữa các dân tộc, bình đẳng trên phương diện kinh tế là tạo điều kiện thực hiệntốt nguyên tắc bình đẳng, hợp tác cùng có lợi trong phát triển kinh tế của các dântộc, các quốc gia V.I.Lênin cho rằng: “Giai cấp vô sản không thể tiến hành cuộcđấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, cũng như không thể bảo vệ được những lợi ích kinh

tế hàng ngày của mình, nếu không có sự liên minh chặt chẽ nhất và đầy đủ nhất vớicông nhân thuộc tất cả các dân tộc trong tất cả các tổ chức công nhân không trừ tổ

chức nào.” [30, tr.398] Đồng thời Ông cũng nhấn mạnh: “Trong khi kiên trì một

chế độ nhà nước dân chủ triệt để, đảng dân chủ - xã hội đòi phải có sự bình đẳngtuyệt đối giữa các dân tộc và đấu tranh chống bất cứ đặc quyền đặc lợi nào có lợi

cho một dân tộc hay cho một vài dân tộc nào đó” [30, tr.398].

Thứ ba, bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa, xã hội và ngôn ngữ

Văn hóa là biểu hiện kết tinh những giá trị nổi bật của mỗi dân tộc.Mỗi dân tộc có một nền văn hóa mang đậm bản sắc của dân tộc mình Chínhtrên lĩnh vực văn hóa, các yếu tố tộc người - những yếu tố mà nhờ đó phânbiệt được dân tộc này với dân tộc khác được biểu hiện đầy đủ nhất Văn hóakhông chỉ là kết quả của sự phát triển KT-XH mà còn là động lực của sựphát triển KT-XH Mức độ phát triển văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia làmột trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định địa vị bình đẳng của mỗi dântộc trong quan hệ với dân tộc khác

Trang 37

Bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa - xã hội có tầm quan trọng đặc biệt vàliên quan đến nhiều yếu tố dân tộc Cương lĩnh về VĐDT do V.I.Lênin soạnthảo đã vạch trần mưu đồ chính trị của những kẻ cơ hội khi nêu khẩu hiệu “tựtrị dân tộc về văn hóa” V.I.Lênin chỉ rõ rằng: đòi “tự trị dân tộc về văn hóa”chính là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tinh vi nhất, độc hại nhất - thứ chủnghĩa này là hệ tư tưởng của GCTS, hoàn toàn thù địch với chủ nghĩa Mác.V.I.Lênin khẳng định: “Đối với những người mácxít, vấn đề khẩu hiệu “vănhóa dân tộc” có một ý nghĩa to lớn, chẳng những vì nó xác định nội dung tư tưởngcủa toàn bộ công tác tuyên truyền và cổ động của chúng ta về vấn đề dân tộc, làcông tác khác với công tác tuyên truyền tư sản, mà còn vì toàn bộ cái cương lĩnh

về tự trị dân tộc về văn hóa trứ danh đều dựa trên khẩu hiệu đó” [35, tr.166].

C.Mác và Ph.Ăngghen khi đề cập đến BĐDT trên lĩnh vực văn hóa thìphải luôn gắn liền với bình đẳng về kinh tế, chính trị Ngày 25 tháng 01 năm

1894, trong thư gửi V.Bacguix, Ph.Ăngghen viết: “Sự phát triển của chính trị,

triết học, luật pháp, tôn giáo, văn học, nghệ thuật… đều xây dựng trên cơ sở

sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh

hưởng đến cơ sở kinh tế” [57, tr.271] Sau này V.I.Lênin cũng khẳng định:

“tách lĩnh vực trường học riêng ra - trước nhất đó là một điều không tưởngphi lý, vì không thể nào tách trường học (cũng như “văn hóa dân tộc nóichung”) ra khỏi kinh tế và chính trị được” [35, tr.170] Ông cũng thẳng thắnchỉ ra rằng: “Lối nói giáo dục “tách rời chính trị”, hoặc “không cần đến chínhtrị”- đó là lối nói giả dối của giai cấp tư sản, đó không phải là cái gì khácngoài sự lừa bịp quần chúng mà 99% bị giáo hội và chế độ tư hữu, v.v thống

trị” [49, tr.473] Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và các hình thức tinh vi

xảo quyệt của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi núp dưới chiêu bài “tự trịdân tộc về văn hóa” hoặc đấu tranh cho mọi sự phát triển dân tộc cho “nềnvăn hóa dân tộc” là xác định đúng đắn quan hệ giữa kinh tế, chính trị và vănhóa trong xã hội tư bản

Liên quan trực tiếp đến bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa là quyền bìnhđẳng về ngôn ngữ - một quyền tự nhiên của mỗi dân tộc dù là đa số hay thiểu

Trang 38

số Vấn đề ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ dân tộc - tộc người là nhu cầu máuthịt, thiêng liêng của cư dân các dân tộc Bởi vậy, đảm bảo quyền bình đẳng

về ngôn ngữ là đóng góp tích cực vào thực hiện BĐDT nói chung và BĐDTtrên lĩnh vực văn hóa nói riêng Ý thức rõ điều này, V.I.Lênin khẳng định:

“Tất cả các dân tộc trong nước đều tuyệt đối bình đẳng và mọi đặc quyền củabất cứ dân tộc nào hoặc ngôn ngữ nào đều bị coi là không thể dung thứ và trái

với hiến pháp” [38, tr.158].

V.I.Lênin chỉ rõ rằng: “Sự bình đẳng tuyệt đối của các dân tộc và ngôn

ngữ Nhà nước bảo đảm ngôn ngữ cho dân cư địa phương” [37, tr.400];

“Nhân dân có quyền học bằng tiếng mẹ đẻ, mỗi công dân đều có quyền phátbiểu bằng tiếng mẹ đẻ ở các cuộc họp và ở các cơ quan xã hội cũng như các

cơ quan nhà nước” [35, tr.159].

Để đảm bảo sự bình đẳng giữa các ngôn ngữ trong thực tế, V.I.Lênin nêu

rõ quan điểm cần thiết phải xây dựng những quy tắc và sớm có một bộ luật chitiết về vấn đề này, Ông nêu rõ: “Cần phải đưa ra những quy tắc hết sức nghiêmngặt về vấn đề sử dụng tiếng dân tộc ở các nước cộng hòa dân tộc trong liênbang của chúng ta và kiểm tra những quy tắc ấy hết sức chu đáo… Ở đây phải

có một bộ luật chi tiết, mà chỉ có những người dân tộc sống ở nước cộng hòa

ấy mới có thể soạn ra một cách tương đối có kết quả” [50, tr.413].

V.I.Lênin còn nhấn mạnh: “giải phóng các dân tộc thuộc địa và tất cảcác dân tộc bị áp bức hoặc bất bình đẳng, không những làm cho quần chúnglao động các dân tộc được bình đẳng thật sự, mà cả việc phát triển ngôn ngữ

và văn học của họ” [44, tr.136].

Song song với ngôn ngữ, để đảm bảo BĐDT trên lĩnh vực văn hóa,V.I.Lênin cũng chú ý tới vấn đề bình đẳng về giáo dục và sự đầu tư cho cácnhu cầu văn hóa, giáo dục giữa các dân tộc Ông viết: “Bất kỳ biện phápnào của Hội đồng giáo dục vi phạm bất kể như thế nào đến quyền hoàntoàn bình đẳng của các dân tộc và ngôn ngữ của dân cư các địa phươnghoặc đến tỷ lệ kinh phí giành chi nhu cầu văn hóa, giáo dục phù hợp với tỷ

lệ các dân tộc ít người trong dân cư, đều bị coi là không có hiệu lực và phải

Trang 39

hủy bỏ theo kháng nghị của bất cứ công dân nào trong nước không kể

người đó cư trú ở đâu” [38, tr.159].

Như vậy, bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa gắn bó chặt chẽ với bình đẳng

về kinh tế, chính trị Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa là đảm bảo giữvững và phát triển bản sắc văn hóa, ngôn ngữ của mỗi dân tộc, làm phong phúthêm nền văn hóa của cộng đồng dân tộc Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực vănhóa còn thể hiện ở việc bảo đảm cơ hội phát triển về văn hóa cho các dân tộc

1.2.4 V.I.Lênin chỉ ra phương thức thực hiện bình đẳng dân tộc

Giai cấp công nhân và chính đảng của mình phải đoàn kết quần chúng lao động trong nước, đoàn kết công nhân quốc tế tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm xóa bỏ chế độ tư bản và giai cấp tư sản, thực hiện bình đẳng dân tộc.

Theo quan điểm của V.I.Lênin thì đoàn kết GCCN tất cả các dân tộcchính là điều kiện giải quyết tốt các quan hệ dân tộc, thực hiện quyền bìnhđẳng và quyền tự quyết dân tộc trên thực tế Đây là tư tưởng, nội dung cơ bảntrong “Cương lĩnh dân tộc” của V.I.Lênin Tư tưởng này là sự thể hiện bản chấtquốc tế của GCCN, phong trào công nhân và phản ánh tính thống nhất giữa sựnghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp Đoàn kết GCCN các dân tộc

có ý nghĩa lớn lao đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Nó có vai trò quyếtđịnh đến việc xem xét, thực hiện quyền BĐDT và quyền dân tộc tự quyết.Đồng thời, đây cũng là yếu tố tạo nên sức mạnh đảm bảo cho thắng lợi củaGCCN và các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

Do bản chất quốc tế và sứ mệnh lịch sử thế giới của GCCN là thủ tiêuCNTB, xây dựng CNXH Do đó, đoàn kết GCCN các dân tộc, thực hiện nhữngnhiệm vụ của cuộc đấu tranh giai cấp của mình là thiết thực tiêu diệt mọi ápbức dân tộc, mọi đặc quyền đặc lợi dân tộc Quan điểm của V.I.Lênin là: “Lật

đổ mọi ách áp bức phong kiến, mọi ách áp bức dân tộc, mọi đặc quyền cho mộtdân tộc nào đó hoặc cho một ngôn ngữ nào đó, đó là nhiệm vụ tuyệt đối củagiai cấp vô sản, với tư cách là một lực lượng dân chủ, đó là lợi ích tuyệt đối của

Trang 40

cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, cuộc đấu tranh đang bị những sự

phân tranh dân tộc làm lu mờ đi và trì hoãn lại” [35, tr.168].

V.I.Lênin cho rằng, xét đến cùng, con đường cơ bản để thực hiện BĐDT làtiến hành thủ tiêu sự áp bức bóc lột giai cấp bởi có áp bức dân tộc tất yếu có đấutranh dân tộc Về ý nghĩa sâu xa của quyền BĐDT V.I.Lênin chỉ ra: “Ý nghĩa thực

sự của việc đòi quyền bình đẳng chung quy chỉ là đòi thủ tiêu giai cấp” [37, tr.446]

V.I.Lênin chỉ rõ, trong cuộc đấu tranh của GCVS, điều cực kỳ cần thiết

là phải giành được lòng tin tối đa của các dân tộc khác nhau, vì vậy phải xóa bỏ

tư tưởng “sô vanh, nước lớn”, đối xử thật sự bình đẳng giữa các dân tộc Ngườiyêu cầu: “Không phải chỉ cần có sự bình đẳng về hình thức, mà còn phải bằngcách này hay cách khác, thông qua thái độ đối xử của mình hoặc những sựnhân nhượng của mình đối với những người thuộc các dân tộc khác mà bù đắplại sự không tin tưởng, lòng ngờ vực, những điều sỉ nhục mà trong quá khứ lịch

sử chính phủ của dân tộc “nước lớn” đã trút lên họ” [50, tr.411].

Theo V.I.Lênin, thái độ vô sản thực sự trong quan hệ của dân tộc lớnđối với những dân tộc nhỏ, lạc hậu là phải “cực kỳ thận trọng, ân cần niềm nở

và nhân nhượng” và “thà nhân nhượng và mềm mỏng quá mức đối với cácdân tộc ít người còn hơn là không đủ mức” vì “không có gì kìm hãm việc pháttriển và củng cố sự đoàn kết giai cấp của giai cấp vô sản hơn là sự bất công

dân tộc” [50, tr.411].

Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa dântộc hẹp hòi, sô vanh, GCCN các dân tộc cần liên hợp lại Vì lợi ích, vì mụcđích chung, V.I.Lênin chỉ rõ: “Lợi ích của giai cấp công nhân đòi hỏi côngnhân thuộc tất cả các dân tộc ở trong một nước nhất định phải hợp nhất lạitrong các tổ chức vô sản thống nhất Công nhân thuộc các dân tộc khác nhau

có hợp nhất lại trong những tổ chức thống nhất như thế, thì giai cấp vô sảnmới có thể tiến hành được một cuộc chiến đấu thắng lợi chống tư bản quốc tế

và thế lực phản động” [35, tr.77].

V.I.Lênin vạch ra lập trường, nguyên tắc bình đẳng dân tộc: trên cơ sở lợi ích cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và lợi ích của quần chúng

Ngày đăng: 05/01/2019, 07:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w