Nghiên cứu di sản tư tưởng và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định, quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa tư tưởng, quan điểm dân sinh của nhân loại, dân tộc mà trực tiếp và chủ yếu là quan điểm dân sinh của chủ nghĩa MácLênin, trên cơ sở thực tiễn xã hội Việt Nam, bằng trí tuệ anh minh, bằng tình thương yêu bao la đối với con người và thông qua thực tiễn hoạt động cách mạng đã sớm hình thành nên quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh. Trong đó, Người khẳng định vai trò to lớn của nhân dân, xác định mục tiêu phấn đấu suốt đời là: Độc lậpTự doHạnh phúc cho nhân dân, ba nội dung này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Bởi, nếu nước có độc lập, tự do mà nhân dân vẫn chết đói, không được ăn no, mặc đủ thì thứ độc lập, tự do đó cũng trở nên vô nghĩa, mà người dân chỉ biết rõ giá trị của độc lập, tự do khi họ được ăn no, mặc đủ. Chính vì thế, trong quá trình lãnh đạo mách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống của nhân dân, đồng thời coi việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là trách nhiệm cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, là tiêu chí đánh giá tính ưu việt của chế độ xã hội mới. Quan điểm và thực tiễn chỉ đạo việc giải quyết vấn đề dân sinh ở Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nó là cơ sở, nền tảng, là kim chỉ nam định hướng cho Đảng và Nhà nước ta giải quyết vấn đề dân sinh trong những năm đổi mới vừa qua cũng như những năm tiếp theo.
Trang 1Nội dung Trang
1.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về thực chất và điều kiện, giải
pháp để giải quyết vấn đề dân sinh
24
Chương 2 TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM
DÂN SINH HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
47
2.1 Tình hình vận dụng quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh
trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
47
2.2 Giải pháp vận dụng quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh
trong điều kiện hiện nay
61
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu di sản tư tưởng và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủtịch Hồ Chí Minh, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định, quan điểm dânsinh Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa tư tưởng, quan điểm dân sinh củanhân loại, dân tộc mà trực tiếp và chủ yếu là quan điểm dân sinh của chủ nghĩaMác-Lênin, trên cơ sở thực tiễn xã hội Việt Nam, bằng trí tuệ anh minh, bằngtình thương yêu bao la đối với con người và thông qua thực tiễn hoạt động cáchmạng đã sớm hình thành nên quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh Trong đó, Ngườikhẳng định vai trò to lớn của nhân dân, xác định mục tiêu phấn đấu suốt đời là:Độc lập-Tự do-Hạnh phúc cho nhân dân, ba nội dung này có mối quan hệ chặtchẽ với nhau, nó liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân Bởi, nếu nước cóđộc lập, tự do mà nhân dân vẫn chết đói, không được ăn no, mặc đủ thì thứ độclập, tự do đó cũng trở nên vô nghĩa, mà người dân chỉ biết rõ giá trị của độc lập,
tự do khi họ được ăn no, mặc đủ Chính vì thế, trong quá trình lãnh đạo máchmạng, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống của nhân dân,đồng thời coi việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là tráchnhiệm cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, là tiêu chí đánh giá tính ưu việt củachế độ xã hội mới Quan điểm và thực tiễn chỉ đạo việc giải quyết vấn đề dânsinh ở Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nó là cơ sở, nền tảng, là kim chỉnam định hướng cho Đảng và Nhà nước ta giải quyết vấn đề dân sinh trongnhững năm đổi mới vừa qua cũng như những năm tiếp theo
Kế thừa, vận dụng sáng tạo quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh trong nhữngnăm đổi mới vừa qua, Đảng ta luôn đứng trên quan điểm “lấy dân làm gốc”, mọiquyết sách đều xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân, dựa vàonhân dân để mang lại sự phồn vinh, ấm no cho người dân Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra nhiều chương trình, chính sách để không ngừng chăm lo đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân, và coi đó là nhiệm vụ trung tâm qua các thời kỳ.Chính vì thế, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn và có ýnghĩa lịch sử, đưa đất nước ta vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, khôngngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân Công tác xóa đói giảmnghèo được đẩy mạnh, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống Nhiều công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội cho các vùng nông thôn, miền núi và vùng dân
Trang 3tộc được xây dựng Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt nhiềukết quả, mở rộng mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế ở cơ sở, khống chế và đẩy lùimột số dịch bệnh nguy hiểm; tuổi thọ trung bình của dân số nước ta tăng Sựnghiệp giáo dục có bước phát triển về quy mô, công tác xóa mù chữ và phổ cậpgiáo dục đạt được kết quả to lớn Dân chủ xã hội được hình thành và phát huy.Văn hóa dân tộc được khơi dựng, bảo tồn, phát triển.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì trên thực tế, đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân ta nói chung vẫn tồn tại nhiều hạn chế: Chấtlượng nhiều công trình xây dựng cơ bản còn thấp Quản lý, khai thác, sử dụng tàinguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn lãng phí Đời sống của một bộ phậndân cư, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn Xoá đói, giảmnghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao Khoảng cách chênh lệch giàunghèo còn khá lớn và ngày càng doãng ra Chất lượng công tác bảo vệ, chăm sócsức khoẻ còn thấp, văn hoá phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế.Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm.Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức những hạn chế này tồn tại kéodài sẽ trở thành những thách thức không nhỏ đối với mục tiêu mà toàn Đảng, toàndân và toàn quân ta đang phấn đấu là xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển caodựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nềnvăn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do,hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng ViệtNam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do ĐảngCộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” [14,tr.70], trong đó mục tiêu trước mắt là “đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạonền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại; đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại,theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [14, tr.149]
Để góp phần khắc phục hạn chế, thực hiện thắng lợi những mục tiêu đặt
ra, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải thực hiện đồng bộ, có hệ thống các giảipháp khác nhau, trong đó việc quay trở lại nghiên cứu và vận dụng một cách
Trang 4sáng tạo quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, làvấn đề có tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn trong điều kiện hiện nay.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về vấn đề dân sinh nói chung và quan điểm dân sinh Hồ ChíMinh nói riêng, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết khoahọc đề cập dưới nhiều góc độ, phạm vi khác nhau, khá toàn diện và sâu sắc, tậptrung chủ yếu trên các vấn đề:
Nhóm vấn đề về cơ sở và quá trình hình thành, phát triển quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh Trong các tác phẩm, bài viết như: Võ Nguyên Giáp,
Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam [18]; Chu Đức Tính (chủ biên), Hồ Chí Minh - tiểu sử [91]; Đỗ Huy, Cách thức tiếp thu di sản tư tưởng nhân loại ở Hồ Chí Minh [24]; Học viện Chính trị, Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới [94]; Nguyễn Bá Dương, Học thuyết Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự
vận dụng của Đảng ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc [7]; Đặng Hữu Toàn, Sự kế thừa và phát triển học thuyết Mác-Lênin về chủ nghĩa xã
hội, về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh
[92] Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, song các tác giả đều thừa nhận
và khẳng định, quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh không phải ra đời trên mảnh đất trống cũng như không phải ngay một lúc đã đầy đủ, hoàn thiện,
mà quan điểm ấy ra đời trên nền tảng kế thừa và vận dụng sáng tạo những
tư tưởng, quan điểm dân sinh của nhân loại và dân tộc như: quan điểm của Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, chủ nghĩa nhân văn của phương Tây, truyền thống của dân tộc, đặc biệt là lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề con người, giải phóng con người, giai cấp, nhân loại trên lập trường của giai cấp công nhân Không chỉ kế thừa hệ thống quan điểm, tư tưởng của nhân loại, dân tộc mà
Hồ Chí Minh còn xuất phát từ thực tiễn đất nước ta, từ tình hình đời sống của nhân dân trước, trong và sau khi cách mạng thành công cũng như khi bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong mỗi thời kỳ, giai đoạn cụ thể, quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh có những bổ sung, phát triển thêm trên
cơ sở hướng đến thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Trang 5Nhóm vấn đề thực chất, điều kiện và giải pháp thực hiện dân sinh ở Hồ Chí Minh Luận giải về vấn đề này có rất nhiều công trình, bài viết như: Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam [83]; Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đồng chủ biên), Vấn đề dân sinh và xã hội hài hoà [17]; Nguyễn Trọng Chuẩn, Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh [6]
Theo các tác giả, dân sinh chính là những vấn đề thiết yếu và trực tiếp nhất củacuộc sống con người, gắn liền với lịch sử phát triển xã hội Dân sinh không chỉ làcác vấn đề về ăn, mặc, ở, đi lại của con người, mà còn liên quan đến nhiềuphương diện khác nữa, như giáo dục, việc làm, phân phối thu nhập, vệ sinh y tế,
an toàn thực phẩm, trị an xã hội, đoàn kết và ổn định xã hội, đất đai, môi trường,xây dựng và phát triển đất nước, Nói cách khác, dân sinh đề cập đến mọi mặtcủa cuộc sống con người, từ nhu cầu vật chất tối thiểu đến nhu cầu tinh thần, vănhóa Các tác giả cũng cho rằng, Hồ Chí Minh cũng đã đề cập trực tiếp đến dânsinh, đó là những nhu cầu sống cơ bản của con người trong xã hội, như ăn, mặc,
ở, đi lại, học hành điều này cho thấy nó gắn liền với mục tiêu của chủ nghĩa xã
hội mà chúng ta hướng đến xây dựng, đó là một xã hội “dân giàu, nước mạnh”,
là thay đổi cả xã hội, cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lộtngười, mọi người đều được ấm no và hạnh phúc, đều có quyền được học hành,
có quyền hưởng tự do, dân chủ, công bằng và bình đẳng Như vậy, mục tiêu củachủ nghĩa xã hội là giải quyết vấn đề dân sinh
Ngoài ra còn có các công trình, bài viết của các tác giả luận giải về vấn đề
này như: Bùi Đình Phong, Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh [45];
Song Thành, Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc [50]; Ngô Văn Lương, Tư
tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” [28]; Đặng Xuân Kỳ, Tư tưởng Hồ Chí Minh
về phát triển văn hoá và con người [26]; Nguyễn Minh Hoàn”Công bằng xã
hội trong tiến bộ xã hội [22]; Nguyễn Thế Thắng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội từ góc nhìn xã hội học [85]; Lê Sỹ Thắng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội [86] Các công trình, bài viết trên, dù
dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng đều đi đến khẳng định, để thực hiệnvấn đề dân sinh cần phải giành và giữ vững độc lập dân tộc, đây là tiền đề, điềukiện đi tới hạnh phúc, tự do và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là sự bảo đảm vữngchắc độc lập dân tộc, tạo bước phát triển mới về chất trong tiến trình cách mạng
Trang 6Việt Nam; chăm lo phát triển sản xuất để làm sao cho nhân dân ta có đủ cái ăn,mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh, giải trí, tức là lo sao cho mỗi người dânlao động đều được ấm no, hạnh phúc Vì vậy, phát triển sản xuất, cải thiện đờisống của nhân dân là mục tiêu, đồng thời cũng là thước đo tính đúng đắn, ý
nghĩa, giá trị của mỗi chính sách, biện pháp kinh tế của chúng ta; quan tâm,
chăm lo đến phát triển văn hóa, giáo dục nhằm xây dựng những tình cảm lớnnhư lòng yêu nước, tình yêu thương con người; yêu cái chân, cái thiện, cái mỹ,nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có trithức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ Không những thế, giáo dục còngóp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước; thực hiện côngbằng và bình đẳng xã hội đây là một trong những mục tiêu căn bản nhất của sựnghiệp đấu tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là động lực thúcđẩy sự phát triển của đất nước; thực hiện chính sách xã hội, lấy con người làmgốc, làm xuất phát điểm và đích hướng tới trong việc hoạch định và thực hiện
Nhóm vấn đề về thực trạng và giải pháp giải quyết vấn đề dân sinh trong
sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Được phân tích, luận giải trong các cuốn
sách, bài viết như: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, TS Nguyễn Đình Hòa
(đồng chủ biên), Vấn đề dân sinh và xã hội hài hoà [17]; Vũ Văn Viên, Tư tưởng chỉ đạo, phương châm và nội dung cơ bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam [95]; Phạm Thị Ngọc Trầm, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội-một công cụ quan trọng nhằm thực hiện công
bằng xã hội ở nước ta [93]; Nguyễn Tài Đông, Một số vấn đề xã hội và dân sinh
ở Việt Nam từ đổi mới đến nay” [16] Dưới các cách tiếp cận và luận giải khác
nhau song các tác giả đều đi đến thống nhất, đối với Việt Nam, việc chăm lo vàgiải quyết các vấn đề dân sinh luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu “dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Để đạt được mục tiêu này,theo các tác giả, Việt Nam cần phải có các giải pháp hữu hiệu, như phát triểnkinh tế thị trường kết hợp với thực hiện công bằng xã hội và bảo vệ môi trường,thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, pháttriển kinh tế tri thức, kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới về chínhtrị và các mặt khác của đời sống xã hội
Các công trình nghiên cứu nêu trên, dưới nhiều góc độ, khía cạnh đã tậptrung luận giải những vấn đề dân sinh Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào
Trang 7nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống dưới góc độ triết học về quan điểm dân sinh
Hồ Chí Minh Vì thế, tác giả lựa chọn vấn đề Quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh
với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay làm đề tài nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi của luận văn
Mục đích: Nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống quan điểm dân sinh
Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng trong công cuộc đổi mới ở nước ta,trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống của nhân dân
Nhiệm vụ của luận văn:
- Phân tích cơ sở, quá trình hình thành và phát triển quan điểm dânsinh Hồ Chí Minh
- Phân tích thực chất và các nội dung cơ bản để giải quyết vấn đề dânsinh ở Hồ Chí Minh
- Đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề dân sinh trong những năm đổimới, trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp để hiện thực hóa quan điểm này
ở nước ta trong thời gian tới
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề triết học về đời sống trong quan
điểm dân sinh Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề có liên quan đến quan điểm dân
sinh Hồ Chí Minh Khảo sát sự nhận thức, vận dụng quan điểm dân sinh HồChí Minh của Đảng ta từ đổi mới đến nay
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Hệ thống quan điểm, tư tưởng về vấn đề dân sinh ở Việt
Nam và thế giới, trong đó, trực tiếp và chủ yếu nhất là lý luận của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về vấn đề conngười, giải phóng con người, giai cấp và nhân loại
Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn đời sống của nhân dân trước, trong và sau
khi cách mạng thành công cũng như trong những năm đổi mới vừa qua
Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phươngpháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, lôgíc và lịch sử, điều tra xã hội học
5 Ý nghĩa của luận văn
Trang 8Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần khẳng định tính đúng đắnquan điểm dân sinh Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta trongquá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới.
Làm rõ một số giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng dân sinhtrong điều kiện hiện nay ở nước ta
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có: Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo, phụ lục và các công trình nghiên cứu của tác giả đã được công bố
Trang 9Chương 1 BẢN CHẤT QUAN ĐIỂM DÂN SINH HỒ CHÍ MINH
1.1 Cơ sở và quá trình hình thành, phát triển quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh
1.1.1 Cơ sở tư tưởng, lý luận và thực tiễn của quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh
* Cơ sở tư tưởng, lý luận của quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh
Quan điểm dân sinh trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Một trong những
quy luật cơ bản của dựng nước và giữ nước là phải dựa vào nhân dân, phải xâydựng được khối đại đoàn kết toàn dân, tổ chức nhân dân thành một lực lượngvật chất để dựng nước và giữ nước Nhận thức được tầm quan trọng của vấn
đề “trở thuyền, lật thuyền cũng là dân”, cho nên trong các triều đại phong kiến
ở Việt Nam thì việc quan tâm đến đời sống của nhân dân là một lĩnh vực luônđược chú trọng, với chủ trương “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc làthượng sách giữ nước” [96, tr.89] Họ tập trung vào việc ổn định tình hìnhruộng đất, sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân, tạo nên một nguồnthu nhập vững chắc và ổn định cho triều đình Quan tâm đến việc cải cách,nâng cao tính hiệu quả và thực tiễn của giáo dục, thi cử Mở rộng hệ thống giáodục ở địa phương, đặt các học quan, cấp học điền Cùng với đó là việc đấu tranhchống lại giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia
Chú trọng phát triển cả thiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, mở mangbuôn bán trong nước và giao thương với nước ngoài, đề xuất cải cách phongtục, chủ trương coi trọng dân, sửa đổi chế độ thi cử mở mang việc học hành,thay đổi nội dung giáo dục, lấy quốc âm thay thế chữ Hán, lập trại tế bần chẳng hạn, bước sang cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Phan Chu Trinh đã xác
định vụ cấp bách là phải: Thứ nhất, khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích
cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục
xa hoa Thứ hai, chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế Thứ
ba, hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội
buôn, sản xuất hàng nội hóa
Trong quan niệm truyền thống, mặc dù vai trò của nhân dân đã được đềcao, vấn đề quan tâm đến đời sống nhân dân đã được các vương triều, cá nhân
Trang 10nhận thức và phát huy có hiệu quả trong quá trình dựng nước và giữ nước, xâydựng được mối quan hệ giữa triều đình với nhân dân (tức là, nó đã điều hoàđược những mâu thuẫn giai cấp vốn tồn tại găy gắt ngay trong lòng xã hộiphong kiến), xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động được sứcmạnh của toàn dân, nhưng những quan niệm này về cơ bản vẫn chưa vượt rakhỏi ý thức hệ phong kiến trong việc bảo vệ quyền lợi, địa vị thống trị củamình Suy cho cùng, vua vẫn là người chủ Vua không chỉ sở hữu giang sơn, xãtắc, mà còn là chủ sở hữu dân, đứng trên nhân dân Vì vậy, dân chỉ là “thầndân”, “thảo dân” và mục đích cuối cùng là để “an dân”, để xã hội mà vua là chủduy nhất thái bình thịnh trị, để nghiệp đế “ngàn năm bền vững” mà thôi.
Quan điểm dân sinh trong lịch sử tư tưởng phương Đông
Quan điểm dân sinh của Nho giáo Sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà
Nho yêu nước, sớm được tiếp cận những giá trị của Nho giáo, Hồ Chí Minh đãtiếp thu tất cả những cái hay cái đẹp ấy, phát triển cho thích hợp với yêu cầumới của cách mạng, đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúpđời; lý tưởng về một xã hội bình trị; triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính gópphần đề cao văn hóa, lễ giáo, đề cao tinh thần hiếu học, lấy dân làm gốc Người khẳng định: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước C.N) khởi xướng thuyết đạiđồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bìnhkhi thế giới đại đồng Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều Bình đẳng
sẽ xoá bỏ nghèo nàn, v.v Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử, tiếp tục tư tưởngcủa thầy và vạch ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sự sản xuất và tiêu thụ Sựbảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bứcđối với người lớn, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghỉ ngơi của ngườigià, không có điều gì đề án của ông không đề cập đến Việc thủ tiêu bất bìnhđẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọingười, đấy là đường lối kinh tế của vị hiền triết Trả lời một câu hỏi của vua,ông đã nói thẳng thắn: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” [32, tr.35].Bản chất học thuyết của Khổng Tử là nặng về Đẳng cấp, đề cao tầng lớp thốngtrị Ở đây nêu lại thuyết đại đồng của Khổng Tử là Nguyễn Ái Quốc muốn gắnvới cuộc đấu tranh vì sự công bằng và bình đẳng trong xã hội thuộc địa Trong
Trang 11khi khai thác những nhân tố hợp lý, Hồ Chí Minh đã phê phán, loại bỏ nhữngyếu tố thủ cựu của học thuyết này như: tư tưởng đẳng cấp, coi khinh phụ nữ,khinh lao động chân tay, nói chung là khinh thực nghiệp, danh lợi, khoa-kỹ Những luận điểm này “hoàn toàn xa lạ với tư tưởng Hồ Chí Minh: đấu tranhcho một xã hội bình đẳng, dân chủ; tôn trọng lao động-cả lao động trí óc và laođộng chân tay; tôn trọng phụ nữ, chủ trương nam nữ bình quyền ” [19, tr.677].
Quan điểm dân sinh của Phật giáo Phật giáo là một trong những tôn
giáo du nhập vào Việt Nam khá sớm Những mặt tích cực của Phật giáo đã đểlại những dấu ấn sâu sắc trong tư duy, hành động, cách ứng xử của con ngườiViệt Nam Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thươngngười như thể thương thân; xây dựng nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị,chăm lo làm điều thiện; đề cao tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chấtphác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp Phật giáo Thiền tông coi trọng laođộng, chống lười biếng Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, ý
chí độc lập, tự chủ đã hình thành nên Thiền phái trúc lâm Việt Nam, chủ
trương không xa đời mà sống gắn bó với nhân dân, với đất nước, tham giavào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù dân tộc Phậtgiáo Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động, đểlại dấu ấn sâu sắc trong quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh Bởi theo Người,Mục đích cao cả của Phật Thích Ca là muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc,bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng Giáo sư Trần Văn Giàu, khi nghiên cứutình thương yêu bao la của Hồ Chí Minh, đã viết rằng: “Chủ nghĩa nhân văn
Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn giải thoát của những lớp người hèn yếu,lao khổ, của các dân tộc bị chà đạp, giải thoát chính bằng ý thức, lực lượngcủa mình” [20, tr.92]
Quan điểm dân sinh của Tôn Trung Sơn Chủ nghĩa Dân sinh một bộ
phận quan trọng cấu thành Chủ nghĩa Tam dân (Chủ nghĩa dân tộc, Chủ nghĩadân quyền, Chủ nghĩa dân sinh), nó góp phần giải quyết những vấn đề về “đờisống của nhân dân, sinh tồn của xã hội, sinh kế của quốc dân, sinh mệnh củaquần chúng” [82, tr.313], có giải quyết được vấn đề dân sinh thì mới có điềukiện thuận lợi để giải quyết các vấn đề dân tộc, dân quyền Ông hy vọng rằng,
Trang 12bằng những lý luận đề ra trong Chủ nghĩa Dân sinh có thể kêu gọi quần chúngnhân dân đấu tranh xoá bỏ sự bất bình đẳng về kinh tế, đem lại sự ấm no chotất cả mọi người, làm cho đất nước trở nên hùng mạnh Để thực hiện được vấn
đề này, theo Tôn Trung Sơn, thì cần tập trung thực hiện tốt việc: Bình quânđịa quyền và khẩu hiệu người cày có ruộng; tiết chế tư bản tư nhân, phát triển
tư bản nhà nước; vấn đề ăn, mặc, ở, đi lại, xây dựng xã hội đại đồng
Chính những tư tưởng trong Chủ nghĩa Tam dân nói chung và trong tưtưởng dân sinh của Tôn Trung Sơn nói riêng đã có ảnh hưởng lớn đến các nhàyêu nước của Việt Nam, trong đó tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc và “Nội dungđược Nguyễn Ái Quốc hết sức quan tâm là ba nguyên tắc của bác sĩ Tôn DậtTiên: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc” [87, tr.59] HồChí Minh đã thấy chủ nghĩa ấy thích hợp với điều kiện nước ta Nhất là trongviệc hướng tới một xã hội mà các nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại của nhân dânđược đáp ứng Song, Chủ nghĩa Tam dân, về cơ bản, vẫn là tư tưởng dân chủ
tư sản, nằm trong hệ tư tưởng tư sản và còn nhiều hạn chế cần phải được khắcphục để kết hợp với tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng tư sảnPháp thành lý tưởng độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc mang tính giai cấp, tínhnhân dân, tính dân tộc và tính cách mạng triệt để của cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của chính đảng cách mạng của giai cấp côngnhân
Quan điểm dân sinh trong lịch sử tư tưởng phương Tây Trong hình
trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi qua năm châu, bốn biển, đượctiếp cận với nhiều nền văn hóa khác nhau, trong đó văn hóa phương Tây nóichung và quan điểm dân sinh của phương Tây nói riêng, đã có ảnh hưởng to lớnđến việc hình thành quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh, đó là các vấn đề về tự
do, dân chủ, tiến bộ, điều này được thể hiện rõ khi Người trịnh trọng tuyên bốkhai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và đưa vào các nội dung tinh
túy trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Dân chủ tư sản Pháp 1789 - 1794 để khẳng
định: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”; rằng “Người ta sinh ra tự do
Trang 13và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” [43, tr.1] Và nhấn mạnh
“quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” với tư cách
“những quyền không ai có thể xâm phạm được” của mỗi người và của mọingười điều đó đã thể hiện rõ quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh Hồ ChíMinh Nhận thức rõ những giá trị đích thực trong tư tưởng nhân văn phươngTây, Hồ Chí Minh cũng sớm nhận ra những hạn chế ở nền tự do, dân chủ của
nó, thấy rõ mặt trái của quyền con người trong chế độ tư bản chủ nghĩa Vớinhận thức đó, Người cho rằng, con đường đến với tự do, dân chủ thực sự, đếnvới sự thực hiện an ninh cho cuộc sống của mỗi con người, an sinh cho đờisống của cả cộng đồng xã hội chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, cáchmạng giải phóng - giải phóng con người, giải phóng xã hội Bởi lẽ, chỉ khi conngười và xã hội thực sự được giải phóng thì an ninh cho cuộc sống của mỗi conngười mới được đảm bảo, an sinh cho đời sống của cả cộng đồng xã hội mớiđược thực hiện và thực hiện một cách bền vững
Ngoài ra, Hồ Chí Minh cũng đã biết đến những ước mơ, khát vọngvươn tới một xã hội cao đẹp, con người được hoàn thiện với cuộc sống ấm no,hạnh phúc ở đạo Thiên chúa, biết đến chủ trương cứu vớt chúng sinh của ChúaGiêsu Song, với Người, khát vọng đó, chủ trương đó trước hết phải vì nhữngngười bị áp bức, vì những dân tộc bị đè nén, vì hòa bình và công lý, phải nhằmmục đích cứu loài người khỏi ách nô lệ, đưa nhân loại đến hạnh phúc, tự do.Chính vì thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người luôn luôn giáo dụccán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mangtính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy
Quan điểm dân sinh của chủ nghĩa Mác-Lênin Kế thừa các giá trị trong
quan điểm dân sinh Việt Nam, cũng như của Đông-Tây một cách có phê phán,chọn lọc, không bao giờ sao chép máy móc, không khi nào phủ định một cáchgiản đơn, mà luôn có sự phân tích sâu sắc để tìm ra những yếu tố tích cực, làmgiầu thêm vốn kiến thức của mình, Hồ Chí Minh đã đến với quan điểm dân sinhcủa chủ nghĩa Mác-Lênin bằng hành trang tư tưởng đó Và Người đã tìm thấy ở
Trang 14đây vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân, tìm được con đường giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp và xây dựng chế độ xã hội mới, Người khẳng định: “Chỉ
có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị ápbức và giai cấp công nhân toàn thế giới” [76, tr.474] Điều đó cho thấy, chỉ cógiải phóng giai cấp vô sản thì mọi tầng lớp nhân dân lao động mới được giảiphóng và con đường giải phóng dân tộc mới được mở ra, mới đi đến thắng lợi
Xã hội mà con đường đó sẽ đưa đến là xã hội cộng sản, mà giai đoạn đầu của nó
là xã hội xã hội chủ nghĩa, một chế độ xã hội mới mà ở đó, các cá nhân khôngcòn lệ thuộc vào thứ lao động khiến họ bị tha hoá, không có được tự do thật sự,thứ lao động đã khiến họ trở nên “phiến diện, méo mó và bị hạn chế”, bởi khi đó,
“xã hội điều tiết toàn bộ nền sản xuất” và con người có thể tự hoàn thiện mìnhtrong bất cứ lĩnh vực nào mà mình thích” [29, tr.47]; nghĩa là, lao động trở thànhhoạt động tự giác của con người và như vậy, con người được giải phóng nhữngnăng lực, sức mạnh tiềm ẩn của mình Trong xã hội đó, cá nhân được phát triểnmột cách toàn diện, nhưng theo các ông, cá nhân không thể có được tự do riêng
lẻ của mình, bởi “trong điều kiện có cộng đồng thực sự, các cá nhân có được tự
do khi họ liên hợp lại và nhờ sự liên hợp ấy” [29, tr.108] Quan điểm dân sinhcủa chủ nghĩa Mác-Lênin, không chỉ là cái góp phần làm nên “cẩm nang” thần
kỳ, là kim chỉ nam cho hành động, mà còn là mặt trời soi sáng con đường cáchmạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng Sau này, khi tổng kết kinh nghiệmthắng lợi của cách mạng Việt Nam, Người đã khẳng định rằng, thắng lợi đó là do
nhiều nhân tố, nhưng thắng lợi đó trước hết là “Đảng ta luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác - Lênin vào tình hình thực tế của nước
ta và đề ra đường lối, chính sách đúng đắn” [67, tr.17]
Như vậy, ngoài truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh còn tiếp thuquan điểm dân sinh của nhân loại, “biết kế thừa các học thuyết đó một cách cóphê phán, chọn lọc, không bao giờ sao chép máy móc, cũng không bao giờphủ định một cách giản đơn, mà có sự phân tích sâu sắc để tìm ra những yếu
tố tích cực, làm giàu thêm vốn kiến thức và hành trang tư tưởng của mình”[19, tr.675] Người đánh giá cao tình thương yêu con người, tính nhân đạo
Trang 15trong đạo Phật, đạo Giáo, đạo Khổng Song Người cho rằng các học thuyết đóđều không cách mạng, bởi vì nó không vạch ra cho con người con đường tựgiải phóng mà chỉ khuyên con người cam tâm chịu đựng, trói buộc họ trongtrật tự đương thời, ru ngủ tinh thần đấu tranh của họ, thậm chí còn phát ngônbênh vực kẻ bóc lột, chống lại những người bị áp bức Trong cuộc trả lời
phóng viên báo chí nước ngoài ngay sau lễ công bố bản Tuyên ngôn độc lập
sáng 2-9-1945, Người nói: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡngđạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng bác ái Chủ nghĩa Mác có
ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưuđiểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước chúng tôi Khổng Tử,Giêsu, Các Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đềumuốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội Nếu
họ còn sống trên đời này và họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chungsống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm
người học trò nhỏ của các vị ấy” [18, tr.43] Trong đó, “Tư tưởng dân sinh
khoa học chân chính là quan niệm dân sinh của chủ nghĩa Mác Tư tưởng củachủ nghĩa Mác về vấn đề dân sinh lấy quan niệm duy vật lịch sử làm cơ sở lýluận, lấy học thuyết về bản chất con người, về nhu cầu và phát triển con ngườilàm căn cứ trực tiếp” [17, tr.172]
* Cơ sở thực tiễn của quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh.
Quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh ra đời, được nuôi dưỡng và phát triểnkhông phải chỉ đứng trên tiền đề tư tưởng, lý luận mà nó còn được ươm mầm,nảy nở trên nền tảng truyền thống của gia đình, quê hương, đặc biệt là thực tiễncủa xã hội Việt Nam và yếu tố thời đại
Sinh ra trên trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm.Nơi đây đã nuôi dưỡng nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, đặc biệtngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã đau xót chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, bị đàn
áp, bị bóc lột cùng cực của đồng bào mình ngay trên mảnh đất quê hương.Những tội ác của bọn thực dân và thái độ ươn hèn, bạc nhược của bọn quan lạiNam triều đã thôi thúc Người ra đi tìm một con đường cách mạng mới để cứudân, cứu nước Không chỉ yếu tố quê hương ảnh hưởng đến nhân cách, quyết tâm
Trang 16mà chính truyền thống của một gia đình nhà nho yêu nước, gần gũi với nhân dân
có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến Người Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thânphụ của Người là một nhà nho giàu lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, lao độngcần cù, có ý chí kiên cường vượt qua gian khổ, khó khăn để đạt được mục tiêu,chí hướng Chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị - xã hộicủa cụ Phó bảng đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành tư tưởng chính trị
và nhân cách của Hồ Chí Minh
Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từnăm 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam Saukhi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thựcdân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lộtnhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Do sự du nhập củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biếnđổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới,những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới Nhưng thực dân Pháp không
du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, màvẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng kết hợp hai phương thức bóclột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Chính vì thế, nước ViệtNam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được,nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nềvào kinh tế Pháp
Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy
đàn áp nặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trịngười Pháp, biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai Chúng bóp nghẹt
tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân tatrong biển máu Chúng tiếp tục thi hành chính sách chia để trị rất thâm độc, chianước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó vớinước Lào và nước Cămpuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóatên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung,Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng
họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương Về văn
Trang 17hóa, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, vong
bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục Mọi hoạtđộng yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng bít
và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam vàthi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị Các cuộc khai thác thuộc địa củathực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam Sự phân hoágiai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn
Một xã hội mà như theo lời thú nhận của toàn quyền Đông Dương thì
“đời sống của thợ mỏ quá khổ cực và công việc của họ quá nặng nề nên trong
số 15.907 thợ mỏ thống kê được vào năm 1906, không ai sống đến 60 tuổi Vàbọn tư bản thuộc địa cũng lại viện cớ đó để từ chối không tổ chức quỹ hưu bổngcho thợ thuyền bản xứ! Đời sống nông dân cũng chẳng hơn gì Đất thì xấu,phương pháp canh tác thì lạc hậu, do đó năng suất rất thấp kém Sản lượng mộthécta ở châu Âu là 4.670 kilô thóc, ở Nhật Bản 3.320 kilô, ở Nam Dương 2.150kilô, còn ở Đông Dương sản lượng chỉ có 1.210 kilô” [38, tr.229] và “trong1.000 làng đã có 1.500 đại lý rượu và thuốc phiện, mà trường học thì vẻn vẹn có
10 cái; mỗi năm, người ta đầu độc dân bản xứ, cả đàn bà lẫn trẻ con, bằng 23 tới
24 triệu lít rượu và hơn 100.000 kilôgam thuốc phiện! Bán những thứ thuốc độc
ấy mỗi năm lời gần 130 triệu phrăng Cũng trong thời kỳ ấy, người ta chỉ tiêucho ngành y tế không đầy 400.000 phrăng và chỉ có 1 triệu phrăng cho ngànhgiáo dục” [36, tr.385] Không chỉ vậy, khi người dân gặp thiên tai lũ lụt, Nhànước thực dân đã hoàn toàn không thực hiện nghĩa vụ phúc lợi của mình, ngượclại còn lợi dụng để kiếm lời Nguyễn Ái Quốc viết: “Sau những trận lụt, người
An Nam ở Trung kỳ và Nam kỳ đã tổ chức quyên góp để cứu giúp các đồng bàobất hạnh của mình Nhà chức trách Pháp đã xoáy mất phần lớn số tiền đó bỏ vàoquỹ để nâng giá đồng phrăng lên! Mặc dù những hiện vật quyên góp rất nhiều,nhưng nhà chức trách chỉ phân phát cho những người bị nạn mỗi người mộttháng được có 2 kilô rưỡi gạo thôi!” [39, tr.253-254] Cùng với đó là tình trạngkhông có trường học cho trẻ em, với hàng nghìn đứa trẻ “bị đày vào cảnh ngudốt, chỉ vì không có đủ trường sở cho chúng đi học Người ta sẽ nói rằng, vì ngânsách không đủ cho chính phủ xây thêm trường mới Không hẳn thế đâu Trong số
Trang 1812 triệu đồng của ngân sách Nam kỳ, thì 10 triệu đồng đã tìm được cách lọt vàotúi các công chức” [33, tr.154].
Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và cảĐông Dương nói chung là một chính sách thống trị chuyên chế về chính trị,bóc lột nặng nề về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm
và nô dịch về văn hóa, giáo dục, chứ không phải đem đến cho nhân dân một
sự “khai hoá văn minh” - một sự khai hoá và cải tạo thực sự theo kiểuphương Tây Bản chất của “sứ mạng khai hoá” đó chính là sự khai thác thuộcđịa diễn ra dưới lưỡi lê, họng súng, máy chém, Và nếu dân bản xứ khôngchịu nhục được, phải vùng lên, thì các nhà khai hoá “điều quân đội, súng liênthanh, súng cối và tàu chiến đến, người ta ra lệnh giới nghiêm Người ta bắt
bớ và bỏ tù hàng loạt Đấy! Công cuộc khai hoá nhân từ là như thế đấy!” [37,tr.115] Nước Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biếnthành một xã hội thuộc địa Cùng với đó, các phong trào yêu nước đã diễn ramạnh mẽ, nhưng cuối cùng đều đi đến thất bại và chìm trong bể máu, mộttrong nguyên nhân chính đó là thiếu một hệ tư tưởng khoa học và cách mạng,thiếu một đảng chân chính dân đường, chưa tập hợp, phát huy được quầnchúng nhân dân
Như vậy, trên cơ cở kế thừa những quan điểm, tư tưởng về dân sinh củadân tộc và nhân loại, mà trực tiếp và chủ yếu nhất là quan điểm dân sinh củachủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức rõ vai trò to lớn của quần chúng nhân dân,tìm thấy con đường cứu nước và giải phóng dân tộc-con đường cách mạng vôsản, với mục tiêu là giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại khỏi mọi khổđau, áp bức, để hướng đến xây dựng xã hội lý tưởng, đó là xã hội cộng sản chủnghĩa mà giai đoạn đầu của nó là xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời xuất phát
từ thực tiễn xã hội nước ta, mà cụ thể chính là vấn đề đời sống của nhân dândưới hai tầng áp bức, bóc lột: thực dân và phong kiến, bằng trí tuệ anh minhcũng như tình yêu thương bao la đối với con người, đã góp phần hình thànhnên quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh Đó là hệ thống các quan điểm về vị trí,
Trang 19vai trò, về quyền và nghĩa vụ mà người dân được hưởng trong chế độ do nhândân làm chủ.
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh
Quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh không hình thành ngay một lúc mà đãtrải qua một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện, gắn liền vớiquá trình hoạt động cách mạng phong phú của người Thực vậy, trước yêu cầucấp bách phải tìm một con đường cứu nước mới, bằng thiên tài trí tuệ và nhãnquan chính trị sắc bén, tháng 6-1911, Nguyễn Ái Quốc đã lên đường sang cácnước phương Tây, nơi có khoa học - kỹ thuật phát triển và những tư tưởng dânchủ tự do, xem họ làm như thế nào, để rồi trở về nước giúp đồng bào cởi áchxiềng xích nô lệ Quá trình đó được phân chia ra làm các thời kỳ cơ bản sau:
* Thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945
Đây là giai đoạn mà Hồ Chí Minh tập trung tìm kiếm và khẳng định conđường giải phóng dân tộc Trong khi làm điều này, Người luôn tìm đủ loạinguồn tài liệu để làm sáng tỏ hoàn cảnh sống nghèo khổ và bị áp bức của nhândân qua đó vạch trần bộ mặt tàn ác của bọn thực dân cùng bè lũ tay sai, đồngthời từng bước đấu tranh đòi các quyền dân sinh cơ bản cho nhân dân Đồngthời, cũng dành nhiều tâm sức để suy nghĩ về vấn đề dân sinh sau khi giànhđược độc lập
Dựa vào những tài liệu và sự việc cụ thể, trong thời kỳ này, Người đãviết nhiều bài báo và tác phẩm vạch trần những tội ác của chế độ thực dân đốivới đời sống của người dân xứ thuộc địa Nổi bật là việc nhà nước cai trị đãhầu như không có chi tiêu cho phúc lợi công cộng, duy trì điều kiện làm việctồi tệ trong các khu mỏ, đồn điền, làm đường; không đủ trường học cho trẻem; đầu độc dân chúng bằng rượu và thuốc phiện, bỏ mặc người dân khi gặpthiên tai Chính vì thế, ngay trong thời kỳ đầu hoạt động cách mạng, Hồ ChíMinh đã đề xuất những ý tưởng xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội quốc giasau này
Đầu năm 1930, Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và trong
“Chánh cương vắn tắt” đã xác định cách mạng Việt Nam là: “chủ trương làm
Trang 20tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[40, tr.1] Trong đó tập trung vào việc dân chúng được tự do tổ chức, nam nữbình quyền, phổ thông giáo dục theo công nông hoá, đánh đổ đế quốc chủnghĩa Pháp và bọn phong kiến giành độc lập thành lập chính phủ công nôngbinh, tổ chức ra quân đội công nông, thủ tiêu hết các thứ quốc trái, thâu hếtsản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, ) của tư bản đế quốcchủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý Thâu hết ruộngđất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo Bỏ sưu thuếcho dân cày nghèo Mở mang công nghiệp và nông nghiệp Thi hành luật ngàylàm 8 giờ.
Đến “Chương trình Viện Minh” do Người soạn thảo, đây là một văn
kiện đặc biệt quan trọng, với nội dung rất cụ thể như: Thi hành Luật lao động,bao gồm cả lao động trẻ em Nam nữ bình quyền, hủy bỏ nền giáo dục nô lệ,gây dựng nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục từ bậc sơ học khuyếnkhích nền giáo dục quốc dân, lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lão.Nhà nước chăm nom người già và tàn tật, giúp đỡ gia đình đông con, lập cácnhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dụccho nhân dân Chính mô hình này đã góp phần động viên sức mạnh và sựtham gia của toàn thể nhân dân vào công cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc
Mô hình mà Chương trình đưa ra một mặt liên quan đến những nguyên tắcphúc lợi cơ bản và mặt khác trình bày những nội dung chủ yếu của phúc lợitheo các nhóm xã hội
* Thời kỳ từ cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1945-1954)
Đây là một thời kỳ có những sự kiện vô cùng trọng đại, mở đầu là cáchmạng tháng Tám với sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu
Á Cách mạng đã phải tiếp quản một đất nước bị tàn phá nặng nề sau hàng thậpniên dưới ách thực dân Pháp, phát xít Nhật Đồng thời, cách mạng đã phải bắttay ngay vào việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lạixâm lược Trong bối cảnh đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻphải tiến hành giải quyết ngay hàng loạt yêu cầu dân sinh cơ bản và trước mắt,
Trang 21đồng thời từng bước xây dựng nền tảng cho việc giải quyết vấn đề dân sinhtrong xã hội mới.
Tư tưởng, quan điểm bao trùm của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này là ýchí đấu tranh ngoan cường cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do, hạnhphúc của nhân dân Việt Nam Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc không táchrời với tự do, hạnh phúc của nhân dân Trong “Bài phát biểu tại cuộc họp đầutiên của ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc”, Người nhấn mạnh thêm:
“Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do,độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ” [46, tr.152] Cho nên, chính sách của Chính phủ
là phải đoàn kết toàn dân thực hiện cho được các vấn đề thuộc lĩnh vực dânsinh như sau: “Đạo nghĩa là chính sách của chính phủ đối với dân chúng -chính sách này phải hợp với nguyện vọng và quyền lợi của dân chúng Đối vớidân, Chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết như cải thiện đờisống của nhân dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh
tế, văn hóa, v.v Có như thế, dân chúng mới đoàn kết chung quanh Chínhphủ, ” [45, tr.227]
Xuất phát từ quan điểm cơ bản trên, trong bối cảnh nhiều nhà cách mạngcòn đang say sưa với nền độc lập dân tộc mới giành lại được, Hồ Chí Minh đã
đề ra mục tiêu cấp bách của Chính phủ là: “Chúng ta phải thực hiện ngay: 1.Làm cho dân có ăn 2 Làm cho dân có mặc 3 Làm cho dân có chỗ ở 4 Làmcho dân có học hành Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó ” [35, tr.152].Bốn điều trên thể hiện những nội dung cơ bản của vấn đề dân sinh Sau ngàyđộc lập, trong điều kiện đất nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn nhất là nềnkinh tế đang rơi vào tình trạng kiệt quệ, tiêu điều, đời sống của nhân dân gặpnhiều khó khăn, nổi bật nhất là trên 90% nhân dân mù chữ Chính vì thế, ngày3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước, Hồ Chí Minh
đã nêu sáu vấn đề cấp bách để cứu nguy dân tộc: Một là, giải quyết nạn đói; Hai
là, thanh toán nạn dốt; Ba là, tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử; Bốn là, xoá bỏ
hủ tục, xây dựng đời sống văn hoá mới, đạo đức mới, đạo đức cách mạng; Năm
Trang 22là, xoá bỏ ngay những thứ thuế bóc lột vô nhân đạo; Sáu là, thực hiện tínngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết
Để giải quyết nạn đói, Người đề nghị với Chính phủ phát động ngaymột chiến dịch tăng gia sản xuất đồng thời mở cuộc lạc quyên trên tinh thầntương thân tương ái “lá lành đùm lá rách”, với các hình thức phong phú “Hũgạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm nhịn ăn”, Chỉ sau một tuần quyên góp, cảnước đã có hàng vạn tấn gạo cứu đói Cùng với giặc đói, giặc dốt cũng làmột trong những thứ giặc nguy hiểm, Hồ Chí Minh đề nghị mở một chiếndịch chống nạn mù chữ, với phương châm: người biết chữ dạy người chưabiết chữ, những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chưabiết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ chưa biết thì con bảo.Nổi bật trong đó là vấn đề phụ nữ như: việc cần phải học để theo kịp namgiới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứngcử
Nhằm mang lại những quyền lợi thiết thực cho nhân dân, Hồ Chí Minh
và Chính phủ đã ký một loạt sắc lệnh bãi bỏ chế độ thuế khoá bất công của
thực dân Pháp, như: thuế thân, thuế chợ, thuế đò, đồng thời ban hành Luật Lao động, bảo vệ quyền lợi cho công nhân; quy định giảm tô 25% cho nông
dân; chia ruộng của bọn thực dân và ruộng công cho nông dân, ban bố sắclệnh tự do tín ngưỡng Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá I (từ ngày 1 đến ngày
4-12-1953), đã thông qua Luật Cải cách ruộng đất Ngày 19-12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 197/SL công bố thi hành Luật Cải cách ruộng đất Từ đó, hàng triệu nông dân có ruộng; khối liên minh công-nông
được tăng cường; chính quyền và mặt trận được kiện toàn; sự lãnh đạo củaĐảng được đề cao Hậu phương được củng cố và phát triển vững mạnh, nhờ
đó sức chiến đấu của quân đội được nâng cao, kháng chiến có thêm sức mạnhmới để bước sang giai đoạn phản công thắng lợi
* Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954-1969)
Sau hòa bình lập lại năm 1954, nhưng đất nước vẫn bị chia cắt thànhhai miền Nam-Bắc, cho nên nhiệm vụ của cách mạng nước ta là phải đồngthời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: tiếp tục hoàn thành cách mạng dân
Trang 23tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Trongthời gian này, quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh được thể hiện trong hoàncảnh đặc biệt của miền Bắc Việt Nam vừa chuẩn bị góp phần giải phóngmiền Nam, thống nhất đất nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội Một trongnhững quan tâm của Người trong giai đoạn này là làm sao cho kinh tế pháttriển, cải thiện đời sống nhân dân Với việc gắn chặt giữa chủ nghĩa xã hộivới dân sinh, xem đây là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, khẳng định vai tròlãnh đạo của Đảng đối với vấn đề dân sinh, xem đây là trách nhiệm của mọicán bộ Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề dân sinh là sựnghiệp của chính nhân dân.
Khi bước sang giai đoạn mới, Hồ Chí Minh xác định chăm lo đời sốngcủa nhân dân là một mục tiêu hàng đầu của Nhà nước, để nâng cao dần mứcsống của nhân dân, trước hết là của công nhân, bộ đội và công chức, đồng thờigiảm nhẹ dần sự đóng góp của nông dân Nói cách khác, tất cả những việcĐảng và Chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân Mục tiêunày gắn với chủ nghĩa xã hội, khi ta thấy trong mọi định nghĩa về chủ nghĩa xãhội, bao giờ cũng thấy Hồ Chí Minh nêu vấn đề đời sống của các tầng lớp nhândân: Chủ nghĩa xã hội “trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạnbần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đờihạnh phúc” [67, tr.17], “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm cơm
no, nhà ở tử tế, được học hành”
Trong công tác lãnh đạo nói chung của Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng,cần đặc biệt quan tâm đến dân sinh, xem đây là một nội dung công tác chínhtrong mọi giai đoạn của cách mạng, nhất là trong giai đoạn đồng thời tiến hànhhai nhiệm vụ chiến lược Cùng với việc phê phán xu hướng một số cán bộthiếu quan tâm đến việc phát triển đời sống công nhân Người nhấn mạnh đếncông tác làm nhà ở, nhà giữ trẻ, câu lạc bộ, vệ sinh, an toàn lao động, cải thiệnđiều kiện làm việc và coi việc chăm nom đến đời sống của nhân dân là tráchnhiệm của Đảng và Chính phủ Mặc dù nhấn mạnh đến trách nhiệm lãnh đạo
và chăm lo của Đảng đến phúc lợi, song, giải quyết vấn đề dân sinh là sựnghiệp của chính người dân Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền
Trang 24biển (10-4-1956), Người chỉ rõ: “Cứ chờ Đảng và chờ Chính phủ giúp đỡ thìkhông đúng đâu Đảng và Chính phủ đề ra chính sách, phái cán bộ về hướngdẫn, thế là giúp đỡ Nhưng đó là phụ Lực lượng nhân dân tổ chức nhau lại làchính Không nên ỷ lại, mà phải tự lực cánh sinh”, “Đảng và Chính phủ cũng
sẽ giúp thêm, như thu mua lâm sản, và thổ sản cho nông dân, giúp thêm cán
bộ, cho vay vốn… Nhưng các cô, các chú chớ có ỷ lại, phải cố gắng tự lựccánh sinh là chính, việc giúp đỡ là phụ”
Đặc biệt, trong bản Di chúc - một phác thảo toàn diện cho vấn đề dânsinh sau chiến tranh, Người nhấn mạnh sau khi thắng lợi, Đảng cần phải có kếhoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng caođời sống của nhân dân; phát triển công tác vệ sinh, y tế; sửa đổi chế độ giáodục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, đồng thời, phải làm tốt côngtác ưu đãi xã hội cho những người đã có cống hiến trong chiến tranh Ngoài
ra, Hồ Chí Minh còn chú ý đến cả những người lầm lỗi cần sự giúp đỡ xã hội:
“Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờbạc, buôn lậu,v.v , thì nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng phápluật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện” [75,tr.504]
Trong từng thời kỳ cách mạng, Hồ Chí Minh luôn có những chủ trương,chỉ đạo cụ thể để giải quyết vấn đề dân sinh Xuất phát từ yêu cầu thực tế mà tậptrung vào những mắt xích quan trọng nhất để đột phá Điều này chỉ có thể làmđược trên cơ sở vừa có một quan điểm rõ ràng về dân sinh, vừa có khả năng nắmbắt được những yêu cầu của đời sống nhân dân
1.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về thực chất và điều kiện, giải pháp
để giải quyết vấn đề dân sinh
1.2.1 Thực chất quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh
Vấn đề dân sinh là vấn đề căn bản của xã hội loài người Lịch sử nhânloại, theo một nghĩa nhất định, “chính là lịch sử mà loài người không ngừngcải tiến điều kiện sinh tồn, giải quyết vấn đề dân sinh, thực hiện nhu cầu pháttriển tự thân Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau đều có những vấn đề dânsinh đặc thù cần phải giải quyết, song tình hình dân sinh và trình độ giải quyết
Trang 25luôn quyết định sự ủng hộ hay phản đối của mọi người và sự được mất củachính quyền cùng sự hưng vong của quốc gia Cho nên, các thánh hiền và triếtnhân của các thời kỳ đều xuất phát từ yêu cầu củng cố chính quyền và duy trì
sự ổn định xã hội mà đề xướng những chủ trương, quan niệm dân sinh muônhình muôn vẻ” [17, tr.169] Điều đó cho thấy, vấn đề dân sinh trong lịch sửphát triển của nhân loại, về thực chất, là vấn đề chính trị được đại đa số cácquốc gia trên thế giới quan tâm Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề này phụthuộc vào rất nhiều yếu tố, trước hết là chủ trương và chính sách của giai cấpthống trị, sau đó đến các tổ chức xã hội khác hoạt động trong nhiều lĩnh vựckhác nhau tạo thành chỉnh thể của một quốc gia Nói cách khác, vấn đề dânsinh, xây dựng xã hội có liên quan đến lợi ích, cuộc sống ấm no, hạnh phúc củanhân dân, do đó cũng có quan hệ trực tiếp đến tính hợp pháp của bộ máy nhànước, thậm chí có thể làm thay đổi bộ máy nhà nước
Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà trực tiếp là chủ nghĩa duy vật lịch
sử, đã khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và con người trước hết
họ cần phải ăn, mặc, ở rồi mới làm chính trị, nghệ thuật đồng thời khẳng địnhvai trò to lớn của quần chúng nhân dân-chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử:
là lực lượng sản suất cơ bản của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là
cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội; là động lực cơ bản của mọi cuộccách mạng xã hội; là người sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần Tuynhiên, tuỳ vào điều kiện lịch sử mà vai trò chủ thể của quần chúng nhân dâncũng biểu hiện khác nhau
Đứng vững trên nền tảng lý luận khoa học và cách mạng ấy, Người đãnhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề dân sinh đối với sự thành bại của cáchmạng, cũng như thể hiện tính ưu việt, mục tiêu của chế độ mới, song vấn đềđặt ra ở đây là, chữ “Dân” trong quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh, họ là ai?Chúng ta có thể nhận thấy, đó là toàn bộ những người lao động và nhữngngười yêu nước, bao gồm nhiều giai tầng, tầng lớp, thậm chí có cả ngườithuộc giai cấp bóc lột Đó là mọi người dân Việt Nam có chung lòng yêunước, hy sinh vì độc lập dân tộc mà bộ phận nòng cốt là bộ phận trung thành
với bản chất giai cấp công nhân, Người khẳng định: “Nhân dân là bốn giai cấp
Trang 26công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước Đốivới nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới-(Chính phủ, pháp luật,công an, quân đội, vân vân)-là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân” [53, tr.219-220] Dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng, là gốc của các cuộc cách mạng,
vì “mọi lược lượng đều ở nơi dân”, “Nước lấy dân làm gốc Gốc có vững câymới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [50, tr.409-410] Chính vì “dân làgốc của nước” cho nên dân là quí nhất, là quan trọng hơn hết nên phải chăm sócđến gốc, vì: “gốc có vững cây mới bền”, dân có giàu nước mới mạnh Dân là chủcủa đất nước, của xã hội, là chủ vận mệnh của chính mình, hay nói cách khác,Dân là chủ chứ không phải là nô dân, thần dân, thứ dân như trong các xã hội
cũ, cũng không phải là công dân trong xã hội tư bản vì công dân ở đấy cũngkhông bao giờ là người chủ
Với Hồ Chí Minh, dựa vào dân, coi dân là gốc và lấy dân làm gốc hoàntoàn không phải là một khẩu hiệu, một “nghệ thuật” chính trị, mà đó là mộtchiến lược cách mạng xuyên suốt trong các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử.Người cũng không coi dân là phương tiện, công cụ để phục vụ riêng lợi ích củaĐảng và Nhà nước, mà xem đây chính là động lực vĩ đại và vĩ đại nhất của cáchmạng, là mục đích cao nhất của Đảng và Nhà nước Vượt lên trên hết, Hồ ChíMinh đã đề xướng ra một quan điểm rất mới mẻ, một triết lý nhân sinh sâu sắc
về nền độc lập của đất nước: “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tù
do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Như vậy, từ xác định dân là hạtnhân, là gốc của đất nước, tiến đến xem dân là con của đất nước và tiến hơn nữacoi việc dân được hưởng hạnh phúc tự do là tiêu chí quan trọng nhất của mộtnước độc lập
Không chỉ đưa ra quan niệm về Dân, cũng như đánh giá cao vai trò củaDân, mà xuất phát từ quan điểm dân sinh của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí
Minh chỉ rõ: “bất kỳ ai, muốn sống thì phải có bốn điều (nhiều chỗ Hồ Chí Minh
có bổ sung thêm vấn đề việc làm-NNN) ăn, mặc, ở, đi lại Muốn có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đường đi, thì phải làm Từ trước đến giờ, ta vẫn có làm, vẫn có cơm,
áo, nhà, đường sá” [47, tr.95] Và khi trả lời câu hỏi: Dân sinh là gì?, Người đãkhẳng định, đó: “Là cái ăn, cái mặc, cái ở Ba cái đó đều quan trọng Ăn, mình
Trang 27tăng gia sản xuất được Mặc, mình tăng gia sản xuất được Chứ còn nhà ở thìsao? Muốn làm nhà ở phải có cái gì? Gỗ Muốn có gỗ thì phải trồng cây Nếu bâygiờ trở đi không trồng cây cho tốt thì lấy gỗ đâu? Khi trước nhà nào lo làm nhànấy, làm thế nào cũng được Nhưng bây giờ không phải như thế Bây giờ mìnhphải đổi mới nông thôn Nông thôn mình phải quang đãng sạch sẽ Đồng bàomuốn ăn ở tươm tất thì phải có gỗ Muốn có gỗ thì phải trồng cây Đã trồng câythì phải chăm bón” [68, tr.446].
Việc quan tâm đến đời sống hàng ngày của nhân dân như: ăn no, mặc
ấm, có nhà ở là việc cần có ý nghĩa thiết thực, mang giá trị nhân văn sâu sắc.Cùng với sự quan tâm đến đời sống vật chất, thì việc nâng cao đời sống tinhthần của nhân dân là điều không thể coi nhẹ, việc làm cho dân có học, gột rửađược những tàn dư, thói hư tật xấu của xã hội cũ là điều vô cùng cần thiết đểxây dựng chế độ mới Vì vậy, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủlâm thời nước Việt Nam mới, Người đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần giảiquyết nhằm đáp ứng những đòi hỏi trước mắt của nhân dân là chống nạn đói;chống nạn dốt và các tệ nạn xã hội khác; xoá bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò;
thực hiện tín ngưỡng tự do; lương giáo đoàn kết Trong “Lời kêu gọi thi đua
ái quốc” ngày 11/6/1947, Người cũng đã chỉ ra rằng: chúng ta vừa phải diệt
giặc đói, giặc dốt và giặc ngoài xâm Để kết quả đầu tiên của Thi đua ái quốc
sẽ là: Toàn dân đủ ăn đủ mặc Toàn dân biết đọc, biết viết Toàn bộ đội đầy
đủ lương thực, khí giới, để diệt ngoại xâm Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập Dân quyền tự do Dân sinh hạnh phúc
Theo Hồ Chí Minh, giải quyết vấn đề dân sinh thực chất là mục tiêu,bản chất của chủ nghĩa xã hội Trả lời câu hỏi: “Chủ nghĩa xã hội là gì?”.Người đã diễn giải rằng: là làm sao cho dân giàu, nước mạnh, làm cho nhândân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm,được ấm no và sống một đời hạnh phúc Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vậtchất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt Vậy thì, muốn có CNXH, muốnlàm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta không ngừng đượcnâng cao thì chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải: phát triển kinh tế và văn
Trang 28hoá và các chính sách phát triển và cải tạo kinh tế theo chủ nghĩa xã hội, cácđạo luật về tự do dân chủ, đó là những vấn đề rất quan trọng về quốc kếdân sinh Người cho rằng, trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đềphải chú ý, coi trọng ngang nhau là: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá - đây
là bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội và các vấn đề này có mối quan hệrất mật thiết với nhau Vì thế, trong cuộc xây dựng đất nước, cả bốn vấn đềnày phải được coi trọng như nhau Phát triển kinh tế để bảo đảm cơm ăn, áomặc, đời sống vật chất cho nhân dân, và nền kinh tế ấy không tách rời cácnội dung, ý nghĩa của việc xây dựng văn hoá, phải phục vụ cho mục đíchphát triển văn hoá của nhân dân
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định: Quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh là một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là kết quả của
sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm dân sinh của chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta; tiếp thu, kế thừa và phát triển các quan điểm dân sinh trong lịch sử của dân tộc, nhân loại Đó là hệ thống quan niệm về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân với các nhu cầu sống thiết yếu, cơ bản của con người trong xã hội, như ăn, mặc, ở đi lại, học hành, thực thi dân chủ và các biện pháp nâng cao đời sống đó nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện con người.
-Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có quan điểm dânsinh, tuy không được tách ra làm một nội dung riêng biệt, nhưng quan điểm dânsinh ấy đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau trong tưtưởng Hồ Chí Minh, bởi nó giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến đờisống của nhân dân, mà tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất xét cho cùng đó chính
là tư tưởng giải phóng: giải phóng dân tộc, xã hội và nhân loại, để đưa ngườidân thoát khỏi mọi ách nô dịch, nghèo khổ, để hướng đến một cuộc sống được
tự do, ấm no, hạnh phúc, được giải phóng và phát triển toàn diện
Quan điểm dân sinh Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan niệm về đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân, cụ thể:
* Đời sống vật chất
Trang 29Theo Hồ Chí Minh, chăm lo đời sống vật chất là bảo đảm cho mọi ngườiđược ăn no, mặc ấm, có nhà ở, có thuộc chữa bệnh khi ốm đau Người đã nói:
“Dân sinh là cái gì? Là cái ăn, cái mặc, cái ở Ba cái đó đều quan trọng” Cụthể:
Vấn đề ăn Đây là vấn đề luôn được Người quan tâm, bởi “Việt Nam ta
có câu tục ngữ: “Có thực mới vực được đạo” Trung Quốc cũng có câu tụcngữ: “dân vĩ thực vi thiên” Hai câu ấy tuy đơn giản, nhưng rất đúng lẽ Muốnnâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn (rồiđến vấn đề mặc và các vấn đề khác)” Để giải quyết vấn đề ăn, thì nhất thiếtphải giải quyết tốt vấn đề lương thực thông qua việc giải quyết vấn đề sảnxuất, phải trồng lúa và hoa màu để cung cấp lương thực, đẩy mạnh phong tràochăn nuôi càng nhiều càng tốt để cung cấp thực phẩm như thịt, cá, trứng Phải làm cho lương thực thật đầy đủ, sau đó thực hiện việc phân phối côngbằng Khi vấn đề ăn được giải quyết, mọi vấn đề khác cũng sẽ được giải quyếttheo một cách thuận lợi
Vấn đề mặc Ngay sau khi giành được chính quyền, Người đã khẳng định
nhiệm vụ mà chính quyền mới phải làm là làm cho dân có mặc Mặc cũng là mộtnhu cầu quan trọng không thể thiếu trong cuộc sống Việc mặc của con người pháttriển từ chỗ mặc những thứ cần thiết sang mặc những thứ tiện lợi, thoải mái; từ chỗtiện lợi thoải mái đến chỗ mặc những cái đẹp, sang trọng Vì vậy, Người luôn nhắcnhở nhân dân phải trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm để có sợi dệt vải tùy theo điềukiện của từng địa phương Tức là, phải chú trọng phát triển nông nghiệp để tạo ranhiều nguyên liệu, tiến hành cải tiến khoa học kỹ thuật, tạo tiền đề phát triển côngnghiệp
Vấn đề ở Ngoài vấn đề ăn, mặc, để nâng cao đời sống vật chất của nhân
dân, Người còn quan tâm đến vấn đề ở của dân, đây là một vấn đề quan trọng, vìvậy, Người vận động nhân dân trồng cây lấy gỗ, bởi “Đồng bào muốn ăn ở tươmtất thì phải có gỗ Muốn có gỗ thì phải trồng cây”
Vấn đề việc làm Đây là nội dung rất quan trọng trong việc giải quyết vấn
đề dân sinh, vì có làm thì mới có ăn Trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, thì Người nhắcđến vấn đề này dưới các chiều cạnh khác nhau Tại buổi nói chuyện ở trường cán
Trang 30bộ công đoàn năm 1957, Người chỉ rõ: “Của cải mình lao động ra là của nướcnhà, của nhân dân, là của mình, là của công Nhân dân, đặc biệt là giai cấp côngnhân phải bảo vệ của cải ấy Để bảo vệ của cải chung đó, đối với thói tham ô,lãng phí, ta phải chống lại , mỗi một công nhân, đã là chủ của xí nghiệp, chủ
nước nhà, phải tự nguyện tự giác giữ kỷ luật lao động” [58, tr.296] Đặc biệt,
trong bản Di chúc viết năm 1968, Người cũng đã nhấn mạnh việc Đảng, Chínhphủ cũng như chính quyền các cấp cần phải quan tâm đến đời sống của nhân dân,nhất là “Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức laođộng và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền
xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp,quyết không để họ bị đói rét” Còn đối với những người trẻ tuổi đã qua chiến đấu
và tỏ rõ sự dũng cảm của mình thì “Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu túnhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành nhữngcán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vữngchắc Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xãhội ở nước ta” [75, tr.503-504]
Xuất phát từ quan điểm như vậy, trong mọi hoàn cảnh, Hồ Chí Minh luônđặt vấn đề cải thiện đời sống cho nhân dân như một nhiệm vụ hàng đầu Tại Hộinghị Bộ Chính trị ngày 30-7-1962, Người đặt vấn đề: “ta phải tính cách nào, nếucần có thể giảm bớt một phần xây dựng để giải quyết vấn đề ăn và mặc cho quầnchúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá Vấn đềcon người là hết sức quan trọng Nhà máy cũng rất cần có thêm, có sớm nhưngcần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng Làm tất cả là do conngười làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn” Như vậy, tất cảmọi vấn đề, từ kinh tế, chính trị, xã hội đều phải nhằm một mục tiêu duy nhất,
đó là con người, là tạo dựng con người, phát triển và hoàn thiện con người
* Đời sống tinh thần
Có thể nói, quan điểm hướng tới con người, vì con người, hướng tới việctạo lập cuộc sống tốt đẹp cho đông đảo quần chúng nhân dân lao động đã thểhiện rõ triết lý nhân sinh cao đẹp ở Hồ Chí Minh Với triết lý này và cùng với
nó là tư duy biện chứng, Người còn khẳng định, lợi ích vật chất, dù là rất quan
Trang 31trọng và cần thiết, nhưng không phải là duy nhất Ngoài lợi ích vật chất, conngười còn có những nhu cầu và lợi ích tinh thần Do vậy, với tư tưởng làm cáchmạng, xây dựng chế độ xã hội mới không chỉ để giải phóng con người, mà còn
để con người được tự do phát triển toàn diện, Hồ Chí Minh cho rằng, quan tâmđến con người không đơn giản chỉ là chú ý đến đời sống vật chất của họ, màcòn phải chăm lo đến đời sống tinh thần cho họ Bản thân Người, trong suốtcuộc đời đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xãhội trên đất nước quê hương, đã luôn quan tâm đến việc chăm lo đời sống tinhthần cho quần chúng nhân dân lao động thông qua việc giáo dục, giác ngộ quầnchúng, tổ chức quần chúng, “chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất,chúng ta vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chấtcàng khổ tinh thần càng sướng” [48, tr.148]
“Tinh thần” mà Người nói đến ở đây là sự giác ngộ giai cấp, là lý tưởngcộng sản, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, là đạo đức cách mạng trong sáng, là trình
độ văn hóa, lý luận tiên tiến Với Hồ Chí Minh, bồi dưỡng con người về trí tuệ,
về nhân cách, đạo đức là điều quan trọng, có ý nghĩa hàng đầu và xuyên suốt sựnghiệp cách mạng Bởi, “dốt thì dại, dại thì hèn” và “một dân tộc dốt là một dântộc yếu” [42, tr.8] Do vậy, làm cách mạng, xây dựng xã hội mới, chúng ta cầnphải bồi dưỡng, chăm lo sức dân, phải làm sao cho dân tộc ta trở nên một dântộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt
Nam độc lập Đồng thời, “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh
tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [77,
tr.511] Đời sống tinh thần của nhân dân còn bao hàm nội dung tự do, tínngưỡng, mọi người trong xã hội có cuộc sống tinh thần phong phú, mọi hủ tụclạc hậu của xã hội cũ bị xóa bỏ, mọi người được học hành Để đạt được mụcđích đó, thì “Tất cả những việc Đảng và Chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đờisống cho nhân dân Làm gì mà không nhằm mục đích ấy là không đúng Muốnlãnh đạo cho đúng tất nhiên phải theo đường lối chung Song cách làm phải tuỳ
theo chỗ, tuỳ theo mùa, tuỳ theo hoàn cảnh thực tế địa phương Đừng máy móc”
[56, tr.150]
Trang 32Vấn đề dân sinh là mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội: đem lạicuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân để mọi người ai cũng được ăn no,mặc đủ, ai cũng được học hành, con người được giải phóng và phát triển toàndiện Cho nên, để giải quyết vấn đề dân sinh, Đảng và Chính phủ phải có kếhoạch phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, các chính sách phát triển vàcải tạo kinh tế theo chủ nghĩa xã hội, các đạo luật về tự do dân chủ, cùng với
đó là sự phấn đấu, nỗ lực của quần chúng nhân dân vì đây thực chất là sựnghiệp của nhân dân Theo Người, mọi công việc của sự nghiệp cách mạng,của công cuộc xây dựng xã hội mới đều là công việc của dân, do dân và vì
dân Tức là, “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” [49, tr.241], cho nên, mọi công việc của sự nghiệp cách
mạng, của công việc xây dựng xã hội mới đều phải “đem tài dân, sức dân, củadân làm lợi cho dân”
1.2.2 Điều kiện và giải pháp thực hiện vấn đề dân sinh
Vấn đề dân sinh có nội hàm phong phú, liên quan rộng rãi với các vấn
đề khác, giải quyết nó là cả một hệ thống công trình phức tạp và to lớn Cầnkiên định bám chặt lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân, xoay quanhcác vấn đề cơ bản, như “độc lập”, “tự do” để “ai cũng được học hành, aicũng có cơm ăn áo mặc”, người lao động có việc làm, người có bệnh đượcchữa bệnh, người già được chăm sóc, ai cũng có chỗ ở nâng cao chất lượngcuộc sống và hạnh phúc của nhân dân Để giải quyết được điều đó, theo HồChí Minh, cần có và thực hiện tốt các vấn đề cơ bản sau:
* Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là điều kiện, tiền đề để giải quyết vấn đề dân sinh
Với khát vọng giải phóng con người, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân,với cách nhìn sáng suốt và khoa học về thời cuộc và với tài năng sáng tạotrong phân tích thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt mục tiêu giải phóng,giành độc lập cho dân tộc lên vị trí hàng đầu Xác định rõ, giải phóng dân tộc,giành độc lập cho đất nước là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để giải phóng conngười, thực hiện các quyền con người và đem lại cuộc sống hạnh phúc chonhân dân , và khi đã có độc lập dân tộc phải từng bước mang lại cuộc sống ấm
Trang 33no, hạnh phúc cho đồng bào Nói cách khác, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộiluôn gắn bó chặt chẽ với nhau, làm tiền đề, điều kiện để giải quyết vấn đề dânsinh Đó là một nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn không lệ thuộc vào bất
cứ lực lượng nào cả về đối nội, lẫn đối ngoại, phải gắn liền với thống nhất chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Nước Việt Nam là một, dân tộc ViệtNam là một, Bắc - Trung - Nam là một khối thống nhất không thể phân chia,
Đó là quan điểm nhất quán, mang tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh Chủnghĩa xã hội là con đường bảo vệ và phát triển thành quả của độc lập dân tộc.Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, ai cũng
có công ăn, việc làm, được ăn no, mặc ấm, được học hành, các dân tộc trongnước bình đẳng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, có quan hệ hòa bình, hữu nghị, làmbạn với tất cả các nước chính vì thế, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộngsản mới bảo đảm cho một nền độc lập dân tộc chân chính, mới giải phóng cácdân tộc một cách thực sự, hoàn toàn Điều đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước và mỗingười dân phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để tạotiền đề, điều kiện giải quyết vấn đề dân sinh
* Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
Phát triển nông nghiệp, công nghiệp và các ngành kinh tế khác Việt Nam
vốn là một nước nông nghiệp, với hơn 90% dân số là nông dân, cho nên, pháttriển nông nghiệp làm gốc, làm chính để giải quyết vấn đề lương thực cho đời
sống của nhân dân, cung cấp nguyên liệu, vật liệu để khôi phục tiểu công nghiệp,
thủ công nghiệp, công nghiệp và cung cấp lâm thổ sản để mở rộng quan hệ buônbán với các nước ngoài Để làm được điều đó, “Chúng ta phải phấn đấu cho
nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, trước hết bảo đảm cho
lương thực được dồi dào” [71, tr.312], gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi; hảisản và các ngành kinh tế gắn với biển, làm muối; lâm, thổ sản; các ngành kinh tếkhác ở nông thôn (nghề phụ gia đình ở nông thôn), phải chú ý đến mặt năngsuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; từng bước đưa nông dân vào con đườnghợp tác hoá nông nghiệp bằng những hình thức, bước đi thích hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của cán bộ cũng
như sự nhận thức và giác ngộ của nông dân Mục đích là để cải thiện đời sống
Trang 34nông dân, làm cho nông dân được no ấm, mạnh khoẻ, được học tập, làm cho dângiàu, nước mạnh; “là làm cho thu nhập chung của xã và thu nhập riêng của xãviên ngày càng tăng”
Phát triển nông nghiệp phải gắn với các ngành kinh tế khác Tức là, phảichú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giaothông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế, Các ngành này phải lấy phục vụnông nghiệp làm trung tâm Trong đó, nông nghiệp và công nghiệp có quan hệkhăng khít với nhau “như hai chân của một người Nông nghiệp và côngnghiệp có khoẻ, kế hoạch mới hoàn thành” [63, tr.353] Công nghiệp pháttriển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết làcho nông dân; cung cấp máy bơm nước, phân hoá học, thuốc trừ sâu để đẩymạnh nông nghiệp; và cung cấp dần dần máy cấy, máy bừa cho các hợp tác xãnông nghiệp Khâu then chốt để đẩy mạnh phát triển công nghiệp là phải gắnchặt việc cải tiến quản lý kinh tế-xã hội, cải tiến kỹ thuật và cải tiến tổ chức,phải ra sức đẩy mạnh việc hợp lý hoá sản xuất, nâng cao chất lượng, nâng caonăng suất lao động, làm đúng khẩu hiệu: nhanh, nhiều, tốt, rẻ Đây là cái chìakhoá để phát triển kinh tế quốc dân
Việc xây dựng và phát triển các ngành thương nghiệp, tài chính, ngânhàng, giao thông, kiến trúc, văn hoá, y tế, giáo dục theo hướng xã hội chủnghĩa, làm sao cho các lĩnh vực này thực sự trở thành một đòn bẩy kinh tế, trong
đó ngành thương nghiệp cần làm tốt vai trò giao lưu kinh tế giữa công nghiệp vớinông nghiệp, giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa địa phương với trung ương, giữacông nhân với nông dân, giữa trong nước với ngoài nước Tất cả sản phẩm củangành nông nghiệp và công nghiệp nhờ có thương nghiệp mới có thể cung cấptới nhân dân và thúc đẩy sản xuất phát triển Nông nghiệp, công nghiệp vàthương nghiệp là ba mặt quan trọng trong nền kinh tế, nhưng nếu khâu thươngnghiệp bị đứt thì không nối được công nghiệp với nông nghiệp; không gắn đượcsản xuất với tiêu dùng và như vậy sẽ làm cho nền kinh tế không phát triển, trì trệ
Phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế Nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa phải tạo lập trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sảnxuất Tuy nhiên, ở thời kỳ quá độ, nền kinh tế đó còn tồn tại bốn hình thức sở
Trang 35hữu chính: “Sở hữu nhà nước tức là của toàn dân Sở hữu hợp tác xã tức là sở
hữ tập thể của nhân dân lao động Sở hữu của người lao động riêng lẽ Một ít tưliệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản” [64, tr.588] Người chỉ rõ mục đíchcủa chế độ ta là xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa, làm chonền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở thành một nền kinh tế thuầnnhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể
Về thành phần kinh tế: trong thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều thành phần
kinh tế Từ năm 1953, trong bài “Thường thức chính trị”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: A -
Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân)
B - Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội)
C - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác
xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội) D - Tư bản của tư nhân E - Tư bản của Nhànước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh) Trong nămloại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả Cho nên kinh tế ta
sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tưbản” [53, tr.247-248]
Phải phát triển các thành phần kinh tế, phát triển kinh tế quốc doanh đểtạo nền tảng cho kinh tế xã hội chủ nghĩa; khuyến khích kinh tế hợp tác xã vớicác hình thức đa dạng, nhấn mạnh các nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi vàquản lý dân chủ, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất cho họ,hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn Đối với các nhà công thương, họ
đã tham gia ủng hộ cách mạng dân tộc dân chủ thì sẵn sàng cải tạo, hướng họhợp doanh với Nhà nước để góp phần xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa
xã hội, không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ,hướng dẫn họ phục vụ cho quốc kế dân sinh phù hợp với kế hoạch Nhà nước
Ngoài ra, cần phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, mở rộng vànâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cùng với đó, cần phải đẩy mạnh tăng giasản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí Đây là ba mắt xíchquan trọng trong tư duy phát triển kinh tế - xã hội của Hồ Chí Minh Ba mắt
Trang 36xích này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Muốn phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước không thể coi nhẹ một mắt xích nào.
Bảo vệ môi trường sống Với tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chí Minh đã
sớm nhận ra những nguy cơ đối với môi trường sinh thái do tác động tiêu cựccủa con người gây ra Vì vậy, Người đã sớm cảnh báo: “Nếu rừng kiệt thìkhông còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất màu, gây ra lụt lội vàhạn hán Vì vậy đồng bào miền núi và trung du cũng như đồng bào miền xuôilên tham gia phát triển kinh tế ở đây phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà cửa củamình” [73, tr.243], Hồ Chí Minh xem việc chặt, phá rừng là hành vi “đemvàng đổ xuống biển” Không chỉ yêu cầu mọi người không được phá rừng màNgười còn yếu cầu mọi người phải ra sức trồng cây gây rừng Điều đó khôngchỉ xuất phát từ tình yêu thiên nhiên mà còn là xuất phát từ mục đích kinh tế:
“Chúng ta đang chuẩn bị xây dựng nông thôn mới Việc đầu tiên của nông
thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng Muốn vậy, thì ngay từ bây giờphải trồng cây nhiều và tốt để lấy gỗ Chỉ một việc đó đủ thấy cần phải đẩy
mạnh phong trào Tết trồng cây Cây ăn quả, cây làm củi, cây công nghiệp
cũng là nguồn lợi to lớn Cũng nên ra sức trồng cây để chống gió cát, bảo vệ
ruộng, chống xói mòn” [74, tr.357]
Để có một cuộc sống tốt đẹp con người không những phải ra sức cải tạo
xã hội mà còn phải đấu tranh nhằm chinh phục tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụlợi ích của mình Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta được phép tác độngvào tự nhiên một cách bừa bãi, mù quáng mà phải tác động vào tự nhiên trên
cơ sở những tri thức khoa học, những hiểu biết đúng đắn về tự nhiên, tác độngphù hợp với quy luật khách quan của tự nhiên Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
“Cách đây độ 100 năm, Các Mác đã nói: Người cộng sản hiểu biết thiên nhiên
để buộc thiên nhiên phục vụ hạnh phúc loài người và hiểu biết xã hội để cảitạo xã hội cũ, xấu xa, thành một xã hội mới tốt đẹp, một xã hội cộng sản” [65,tr.535] Các yếu tố thiên nhiên để phát triển sản xuất như: đất, nước, khôngkhí nhưng đôi khi cũng chính là nguyên nhân gây ra các tai họa khủng khiếpcho người dân và cho xã hội như lụt lội, hạn hán là một trong những nguyênnhân dẫn đến đói nghèo: “Nước cũng có thể làm lợi nhưng cũng có thể làm
Trang 37hại, nhiều nước quá thì úng, lụt, ít nước quá thì hạn hán Nhiệm vụ của chúng
ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau để nâng cao đời sống nhân dân,xây dựng chủ nghĩa xã hội Vậy ta phải làm sao cho dân có đủ nước để tănggia sản xuất” [66, tr.506]
* Phát triển văn hoá, xã hội và con người
Phát triển văn hóa, giáo dục Để nâng cao đời sống của nhân dân, không
chỉ dừng lại ở việc chăm lo đời sống vật chất, mà phải đặc biệt chú trọng đếnđời sống tinh thần, trong đó trực tiếp là văn hoá, giáo dục Trong lĩnh vực vănhóa, ngay từ năm 1943, Hồ Chí Minh đã nêu ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽsinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phátminh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn” [41, tr.431]
Điều đó cho thấy, văn hoá bao gồm hai lĩnh vực cơ bản đó là, văn hoá vậtchất và văn hoá tinh thần Mặc dù, hiểu và khái quát văn hoá theo nghĩa rộng,nhưng trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh thường đề cập đếnkhái niệm văn hoá theo nghĩa hẹp Nghĩa là, văn hoá bao gồm hàng loạt hoạtđộng về giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật, đạo đức, lối sống Theo đó,hoạt động văn hoá là hoạt động sản xuất ra những giá trị tinh thần nhằm giáodục cho con người có khát vọng hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ Với cáchhiểu đó, Người coi văn hoá là một mặt của đời sống xã hội, và là một bộ phậnthuộc kiến trúc thượng tầng Do vậy, việc xây dựng đất nước phải coi trọng cảkinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá, không được coi nhẹ mặt nào, đó là tưtưởng phát triển toàn diện của đời sống xã hội Không chỉ thấy vai trò quyếtđịnh của kinh tế và chính trị đối với văn hoá, Hồ Chí Minh còn thấy được vaitrò to lớn của văn hoá đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội Văn hoá lànền tảng, động lực tinh thần cho sự phát triển mọi mặt cũng như sự tiến bộ củađời sống xã hội Người viết: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp
Trang 38chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ cần thiết
để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ vàgiàu mạnh” [57, tr.281-282] Văn hoá đứng ở trong chính trị và kinh tế cũng cónghĩa là chính trị và kinh tế phải có tính văn hoá
Nền văn hóa mới phải bao hàm các tính chất dân tộc, hiện đại và nhân văn
để tạo nên một nền văn hóa mới đa dạng và thống nhất, mà trước hết, đó là lòngyêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thứccộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, Tổ quốc, lòng nhân ái, khoandung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; dũngcảm, thông minh trong chiến đấu, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lốisống; tình nghĩa thủy chung với người thân, bạn bè Nền văn hóa ấy không chỉ
có yếu tố dân tộc, mà nó còn là việc kiên quyết phê phán và loại bỏ những tậptục lạc hậu, cổ hủ; đủ bản lĩnh để mở rộng giao lưu với thế giới, tiếp thu cóchọn lọc những cái hay, cái tốt đẹp, tiến bộ của văn hóa nhân loại, tỉnh táochống lại sự xâm nhập của mọi thứ văn hóa độc hại Nền văn hóa mới ấy, theoquan điểm của Hồ Chí Minh, còn phải là một nền văn hóa thấm sâu phẩm chấtnhân văn và dân chủ, “hợp với tinh thần dân chủ”, mà trước hết là sự tôn trọng
và yêu thương góp phần cho sự phát triển toàn diện của con người, đặc biệt làbồi dưỡng nâng cao đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm phong phú, cao đẹpcủa con người
Thấu hiểu đặc trưng và sức mạnh riêng của văn hóa, Hồ Chí Minh luônluôn có niềm tin sâu sắc về khả năng của văn hóa có thể và cần phải nuôidưỡng, xây đắp cho con người những lý tưởng cao quý, những tư tưởng và tìnhcảm lớn, những phẩm chất tốt đẹp cho con người để giúp con người vươn tớicái chân, cái thiện, cái mỹ và từ đó con người có năng lực và khát vọng khôngngừng hoàn thiện bản thân Quá trình tự hoàn thiện ấy chính là quá trình conngười vươn lên cái tốt đẹp, cái tiến bộ và đấu tranh với cái xấu xa, đen tối, lạchậu Người nhiều lần nhắc nhở: Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm
lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng,phù hoa, xa xỉ văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độclập, tự do làm thề nào cho mỗi người dân Việt Nam từ trẻ đến già, cả đàn ông
Trang 39và đàn bà ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mìnhđáng được hưởng Theo yêu cầu của từng thời kỳ của cuộc đấu tranh cáchmạng, Người thường xuyên nhấn mạnh các nhiệm vụ lớn lao trên của văn hóa:
“Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao vàđời sống tươi vui hạnh phúc” [59, tr.494]
Hồ Chí Minh còn đưa ra hệ tiêu chí để xây dựng nền văn hoá Việt Nam
với chủ trương: “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc: 1 Xây dựng
tâm lý: tinh thần độc lập tự cường 2 Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làmlợi cho quần chúng 3 Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúclợi của nhân dân trong xã hội 4 Xây dựng chính trị: dân quyền 5 Xây dựngkinh tế” [41, tr.431] Việc chỉ ra những điểm lớn trên chứng tỏ rằng, khi phânđịnh nội hàm khái niệm văn hoá, Người nhận thức rất rõ rằng, xây dựng nềnvăn hoá dân tộc phải đặt trong mối quan hệ qua lại với các mặt khác của đời
sống dân tộc như: tâm lý, luân lý, xã hội, chính trị, kinh tế Xây dựng văn hoá
phải gắn liền với từng bình diện ấy, làm cho văn hoá trở thành phẩm chất tốtđẹp, đặc trưng riêng có và ý nghĩa tích cực của những lĩnh vực đời sống đó
Trong lĩnh vực giáo dục, Hồ Chí Minh không chỉ coi giáo dục là một
nhiệm vụ quan trọng của cách mạng mà còn là lực lượng, một mặt trận trong
cuộc đấu tranh giành, giữ chính quyền, xây dựng đất nước Người coi dốt là
một thứ giặc và cần đánh đổ nó đi, bởi, dốt thì dại, dại thì hèn, “một dân tộc
dốt là một dân tộc yếu” Mục đích giáo dục: đào tạo những người công dân và
cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà Hay nói cách khác, là
để mở mang dân trí, nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đúng và tình cảmcao đẹp, những phẩm chất trong sáng và phong cách lành mạnh cho nhân dân,giúp mọi người hiểu nghĩa vụ, trách nhiệm của mình là người công dân của
nước Việt Nam độc lập, để mỗi người là một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá Nội dung giáo dục: để hoàn thiện con
người, thì phải xây dựng một nền giáo dục toàn diện bao gồm các mặt: đạođức, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất; phải coi trọng giáo dục nhâncách, lý tưởng, đạo đức, trí dục, thể dục và mỹ dục Trong quá trình đào tạo,phải gắn dạy chữ với dạy nghề, trong đó dạy người là mục tiêu cao nhất
Trang 40Thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội Theo Hồ chí Minh, đi lên chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là phương thức duy nhất đúng hợp lòng người
để thực hiện công bằng xã hội, Bởi, “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhânloại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bìnhđẳng bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọingười, niềm vui, hòa bình và hạnh phúc” [34, tr.461] Cụ thể, trong công tác lưuthông phân phối, Người chỉ rõ: “Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng Không
sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên” Điều đó cho thấy công bằng không cónghĩa là cào bằng, bình quân chủ nghĩa, tất cả đều như nhau, bởi con người có trítuệ, năng lực, thể chất khác nhau nên có cống hiến khác nhau, cho nên, “phânphối phải theo mức lao động Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động
ít thì được phân phối ít Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thìđược phân phối ít Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc
dễ, cũng công điểm như nhau Đó là chủ nghĩa bình quân Phải tránh chủ nghĩa bình quân” [69, tr.410].
Công bằng xã hội phải được gắn kết với bình đẳng xã hội tức là mốiquan hệ giữa quyền lợi với nghĩa vụ, bình đẳng giữa nghĩa vụ với quyền lợi,bình đẳng giữa người với người trong việc thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụquyền lợi ấy, đó chính là thực hiện công bằng xã hội Trong phân phối côngbằng, theo Người là: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiềuhưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng Nhữngngười già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom” [61,tr.175] Đây cũng là nguyên tắc phân phối công bằng cơ bản trong điều kiệnnước ta hiện nay Do đó, sự bình đẳng của những người lao động trong mốiquan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, mà cụ thể là sự ngang bằng nhau về địa
vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất, bảo đảm cho mỗi người đều
có thể phát huy mọi khả năng của mình để vươn tới một cuộc sống ấm nohạnh phúc
Cùng với đó là phải kiên quyết chống lại chủ nghĩa bình quân: “đồng camcộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lạikhông đúng Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết Bình