Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.. 2.CHứC NĂNG PHƯƠNG TIệN LƯU THÔNG.Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện
Trang 1ĐỀ TÀI
Lý luận tiền tệ của Các Mác và
sự vận dụng vào nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Trang 2NộI DUNG
Chương 1:Lý luận tiền tệ của Các Mác.
Chương 2: Vận dụng những lý luận về tiền tệ vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Chương 3: Một số mục tiêu và giải pháp hoàn
thiện việc áp dụng lý luận tiền tệ vào Việt Nam.
Trang 3CHƯƠNG 1:
Lý luận về tiền tệ của Các Mác
Trang 4I LịCH Sử RA ĐờI VÀ BảN CHấT
CủA TIềN Tệ
Hàng hóa là sự thống nhất của 2 thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng, thông qua sự nghiên cứu các hình thái biểu hiện của giá trị, qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, chúng ta sẽ tìm ra nguồn gốc phát sinh của tiền tệ, hình thái giá trị nổi bật và tiêu biểu nhất.
Trang 51 ĐầU TIÊN LÀ HÌNH THÁI GIÁ TRị
GIảN ĐƠN HAY NGẫU NHIÊN
Đây là hình thái phôi thai của giá trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hóa, khi trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, người
ta trao đổi trực tiếp vật này lấy vật khác
Gọi là giản đơn hay ngẫu nhiên vì chỉ có 1 hàng hóa đổi lấy 1 hàng hóa và tỉ lệ trao đổi không cố định
Ví dụ: 20m2 vải = 1 cái áo (áo là vật ngang giá)
Trang 62 HÌNH THÁI ĐầY Đủ(Mở RộNG)
Khi quan hệ trao đổi đã trở nên đều đặn thường xuyên thúc đẩy sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển thì hình thái thứ 2: hình thái đầy đủ (hay mở rộng) ra đời Hình thái này xuất hiện trong thực tế khi 1 hàng hóa nào đó được trao đổi với nhiều hàng hóa khác một cách thông thường phổ biến.
Trang 73.HÌNH THÁI GIÁ TRị CHUNG.
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn, hàng hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa dạng và nhiều hơn
Do đó nhu cầu trao đổi trở nên phức tạp hơn, nếu vải muốn đổi lấy chè nhưng chè lại không muốn lấy vải sẽ tạo sự cản trở trao đổi vì thế cần phải có vật ngang giá chung => hình thái thứ 3 xuất hiện: hình thái chung của giá trị.
Ví dụ: 1 cái áo
10 cân chè = 20 m2 vải
0.1 gam vàng
Trang 84 TIềN Tệ
Tuy nhiên khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn nữa, đặc biệt là khi mở rộng giữa các vùng miền đòi hỏi phải có vật ngang giá chung thống nhất thì
hình thái thứ 4 xuất hiện: hình thái Tiền tệ.Giá trị của tát cả các hàng hóa ở đây đều được biểu hiện ở 1 hàng hóa đóng vai trò tiền tệ.
Trang 9
CHƯƠNG 1
Như vậy tiền tệ xuất hiện là kết
quả phát triển lâu dài của sản
xuất và trao đổi hàng hóa của các hình thái giá trị Đến đây giá trị các hàng hóa đã có 1 phương tiện biểu hiện thống nhất tỷ lệ trao đổi được cố định lại.
Trang 10II.CHứC NĂNG CủA TIềN Tệ.
1 Chức năng thước đo giá trị.
2 Chức năng phương tiện lưu thông.
3 Chức năng phương tiện thanh toán.
4 Chức năng phương tiện tích lũy,cất trữ.
5 Chức năng tiền tệ thế giới.
Trang 111.CHứC NĂNG THƯớC ĐO GIÁ TRị.
Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ
đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.
Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/2
Với công thức trên ta thấy được sự khó khăn khi mua nhiều hàng hóa cụ thể như:
Trang 12BảNG Số LƯợNG GIÁ TRONG MộT NềN KINH Tế ĐổI CHÁC VÀ Số LƯợNG GIÁ TRONG MộT NềN KINH Tế DÙNG TIềN Tệ
SỐ LƯỢNG MẶT
HÀNG
SỐ LƯỢNG GIÁ TRONG NỀN KINH TẾ ĐỔI KHÁC
SỐ LƯỢNG GIÁ TRONG NỀN KINH TÊ
SỬ DỤNG TIỀN TỆ 3
10 100 1.000
3 45 4.950 499.500
3 10 100 1.000
Chúng ta có thể thấy rằng việc dùng tiền để đo lường làm giảm hẳn chi phí thời gian để giao dịch trong một nền kinh tế, nhất là giảm hẳn số giá cần phải xem xét Cái lợi của chức năng này của tiền tăng lên khi nền kinh tế trở nên phức tạp hơn.
Trang 13C.Mác đã cho rằng để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải là tiền thực – tiền có đủ giá trị nội tại Để đo lường và biểu hiện giá trị các hàng hóa, có thể sử dụng tiền trong niệm và cần phải có tiêu chuẩn giá cả, tiêu chuẩn giá
cả là đơn vị đo lường tiền tệ của mỗi quốc gia bao gồm hai yếu tố: tên gọi của đơn vị tiền tệ và hàm lượng kim loại quý trong một đơn vị tiền tệ.
VD: Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng.
Ngoài ra tiền tệ có thể mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền xu) do Nhà nước (ngân hàng trung ương, Bộ Tài chính, v.v ) phát hành Khi phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác, người ta dùng cụm từ
"đơn vị tiền tệ"
Với việc đảm nhận chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã
giúp cho mọi việc tính toán trong nền kinh tế trở nên đơn giản như tính GNP, thu nhập, thuế khóa, chi phí sản xuất, vay nợ, trả nợ, giá trị hàng hóa, dịch vụ…
Trang 142.CHứC NĂNG PHƯƠNG TIệN LƯU THÔNG.
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.
Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:
- Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền: H - T
- Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng: T – H
Trang 15 Do vậy muốn tiền thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi đòi hỏi hệ thống tiền tệ của một quốc gia phải có sức mua ổn định, số lượng tiền tệ phải
đủ liều lượng đáp ứng nhu cầu trao đổi trong mọi hoạt động kinh tế, hệ thống tiền tệ phải có đủ các loại tiền, đáp ứng kịp thời, nhanh chóng nhu cầu giao dịch của dân chúng.
Trang 163.CHứC NĂNG PHƯƠNG TIệN THANH TOÁN.
Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan
hệ hàng hóa-tìền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán
VD :như tiền dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua
chịu hàng Trong quá trình thực hiện các chức năng thanh toán ngày càng xuất hiện nhiều hơn các hình thức thanh toán mới không cần tiền mặt như tiền
giấy, tiền vàng,bạc mà là ký sổ, chuyển khoản, séc, thẻ điện tử
Trang 174.CHứC NĂNG PHƯƠNG TIệN TÍCH
Trang 185.CHứC NĂNG TIềN Tệ THế GIớI
Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy
ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ
Trang 21NHữNG NộI DUNG CHÍNH CủA
CHÍNH SÁCH TIềN Tệ ở VIệT NAM
1 Cung ứng và điều hoà khối lượng tiền tệ
Trang 22NHữNG NộI DUNG CHÍNH CủA CHÍNH SÁCH TIềN Tệ ở VIệT NAM
Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản chủ yếu
nhất của Ngân hàng trung ương Có thể nói chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt mọi hoạt động của Ngân hàng trung ương Trong những năm qua, những nội dung chính của chính sách tiền tệ
đã được ngân hàng nhà nước thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ sau:
Trang 23CÔNG Cụ LÃI SUấT.
Lãi suất có tác động mạnh đến tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động vào tăng trưởng kinh tế và giá cả thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn, do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu - về vốn trong nền kinh tế.
Trang 24CÔNG Cụ LÃI SUấT.
Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các nước Ở Việt Nam Ngân hàng Trung ương đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhằm tác động tích cực đến nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi, có thể thấy
rõ tính linh hoạt của chính sách lãi suất qua các thời điểm: Trước
1/2006
Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản Đồng Việt Nam
0.6%/tháng
Từ
1/2006
Cơ chế điều hành lãi suất thỏa thuận Đồng Việt Nam
0.7% 0.72% /tháng
Trang 25-CÔNG Cụ LÃI SUấT.
Ở Việt Nam thời gian qua Ngân hàng Trung ương
cũng đã cố gắng sử dụng công cụ lãi suất để điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi
Trong thực tế, mặc dù ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản nhưng nó ít tác động đến lãi suất thị trường bởi vì nhu cầu vay vốn là rất lớn khách hàng chấp nhận vay vốn với lãi suất cao, các tổ chức tín
dụng đua nhau tăng lãi suất huy động vốn để cho vay, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng tham gia
cạnh tranh tích cực trên thị trường vốn, lãi suất trái phiếu kho bạc được đẩy lên cao, lãi suất trái phiếu địa phương tăng vọt điều đó làm cho thị trường tiền tệ nóng lên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khó kiểm
soát được lãi suất thị trường
Trang 26 KếT QUả LÀ LÃI SUấT HUY ĐộNG VốN Kỳ HạN NGắN ĐÃ GIảM XUốNG.6,0%/năm
Lãi suất tái
5,0%
/năm /năm4,2%
Giảm 0.5%-1%
/năm
So với mức trước đó
Trang 272 CÔNG Cụ Tỷ GIÁ
Từ năm 1992, tỷ giá của Việt Nam được điều hành theo quy luật cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự quản lý của Nhà nước thay cho chế độ tỷ giá cố định trước đó Đầu năm 1999, quản lý tỷ giá lại có thêm bước tiến nữa với việc công bố tỷ giá giao dịch bình quân ngày hôm trước làm căn cứ cho NHTM tự ấn định tỷ giá giao dịch cho mình Tỷ giá chính thức cũng đã được nới lỏng dần dần và đến nay giữ ổn định xê dịch trên dưới 16.000 VND/USD Bên cạnh
đó, tỷ lệ kết hối cũng liên tục được nới lỏng từ mức 80% nay chỉ còn 20%, cũng đang tạo động lực khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu cũng như nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu Gần đây tuy tỷ giá có tăng lên vượt mức 16.000 VND/ USD
Nhằm ổn định cán cân thanh toán quốc tế, trong những năm qua Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng cường củng cố dự trữ ngoại tệ đạt mức dự trữ an toàn Năm 2005, dự trữ ngoại tệ của ta đạt mức lớn nhất từ trước tới nay, đạt trên 14 tuần nhập khẩu Tuy nhiên con số này
là rất nhỏ bé khi so sánh với các nước, ước chỉ bằng 1% lượng dự trữ của các quốc gia như Nhập Bản, Trung Quốc (từ 700 – 1.000 tỷ USD)
Tuy đạt được những bước tiến quan trọng trong tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, song về chính sách quản lý ngoại tệ vẫn còn nhiều điều cần xem xét nguồn ngoại hối dự trữ chỉ mới dừng lại ở việc sẵn sàng cung ứng ngoại tệ để cân bằng cán cân thương mại, trong khi đó cán cân vãng lai, cán cân vốn đang ngày càng tăng, tạo lên một áp lực lớn về ngoại hối do mất cân bằng trong thời gian gần đây
Từ 1/7/2002 NHNN quyết định nới lỏng biên độ quy định tỷ giá của các TCTD trong giao dịch mua bán ngoại tệ đối với khách hàng, quyết định này đã giảm dần những quy định mang tính chất hành chính can thiệp vào quyền tự chủ kinh doanh của các TCTD.Cùng với việc ban hành các chính sách nói trên, NHNN vẫn duy trì và vận hành có hiệu quả hoạt động của thị trường ngoại tệ, liên ngân hàng, thực hiện nghiệp vụ Swap trong giao dịch hoán đổi ngoại tệ lấy đồng Việt Nam giữa NHTM và NHNN.
Với các biện pháp nêu trên, thị trường ngoại hối Việt Nam trong thời gian qua tương đối ổn định, tỷ giá biến động không nhiều góp phần ổn định tiền tệ, ổn định kinh tế.
Trang 283 CÔNG Cụ HạN MứC TÍN DụNG
Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở chỉ tiêu
tăng trưởng kinh tế và chỉ tiêu lạm phát dự kiến hàng năm, ngoài ra còn dựa vào một số tín hiệu thị trường khác: tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá, thâm hụt ngân sách nhà nước, tốc độ lưu thông tiền tệ
Hạn mức tín dụng được Ngân hàng trung ương sử dụng như một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ, khi
mà các công cụ truyền thống khác kém hiệu quả
Đây là công cụ được coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầu của thời kì đổi mới Hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rệt trong việc chống lạm phát Năm 1990 –
1991, do mức độ lạm phát còn ở tỉ lệ cao (67,6%) nên
ngân hàng nhà nước đã chủ trương thi hành chính sách chặt ngay từ đầu Năm 1992, tăng trưởng kinh tế đạt 8.65% mức lạm phát chỉ là 17,6%
Trang 294 CÔNG Cụ Dự TRữ BắT BUộC
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại, mà không được dùng để cho vay hoặc đầu tư Ngân hàng trung ương sử dụng dự trữ bắt buộc để tác động đến lượng tiền cung ứng trên hai phương diện:
Thứ nhất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của
các ngân hàng thương mại Theo thuyết tạo tiền, từ một lượng tiền dự trữ ban đầu, hệ thống ngân hàng thương mại có thể tạo ra một lượng tiền gửi lớn gấp nhiều lần, với công thức tổng quát:
Tiền gửi mới được tạo ra = tiền dự trữ ban đầu x 1/ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Trong đó 1/ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số nhân tiền với hai giả thiết
+ Các ngân hàng thương mại không có tiền dự trữ dư thừa so với tỷ lệ
dự trữ bắt buộc mà Ngân hàng trung ương yêu cầu.
+ Các khoản tiền gửi do các ngân hàng thương mại tạo ra đều được giữ lại trong hệ thống ngân hàng.
Thứ hai, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của hệ
thống ngân hàng thương mại
Trang 305 NGHIệP Vụ THị TRƯờNG Mở
Nghiệp vụ thị trường mở là việc Ngân hàng trung ương mua và bán các chứng khoán có giá mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, nhằm làm
thay đổi lượng tiền cung ứng.
Ngân hàng trung ương mua bán chứng khoán
trên thị trường sẽ làm thay đổi cơ số tiền tệ (tiền đang lưu hành ngoài hệ thống ngân hàng và tiền
dự trữ trong hệ thống ngân hàng )
Đó là nguồn gốc chính gây nên sự biến động trong cung ứng tiền tệ.
Trang 31CHƯƠNG 2
Tóm lại, chính sách tiền tệ với những đổi mới,
hoàn thiện các công cụ của nó đã tác động tích cực tới quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong những năm qua Chính sách tiền tệ
đã duy trì sự ổn định và tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, vượt qua sự ảnh hưởng tiêu cực của những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực, tạo cơ sở vững chắc cho Việt Nam
mở cửa và hội nhập vào cộng đồng kinh tế khu vực
và thế giới an toàn và hiệu quả
Trang 32CHƯƠNG 3:
Một số mục tiêu và giải pháp hoàn thiện việc áp dụng lý luận tiền tệ vào Việt Nam.
Trang 33
1 MụC TIÊU
a. Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng
bản tệ
b. Tạo việc làm
c. Tăng trưởng kinh tế
d. Quan hệ giữa các mục tiêu
Trang 342 MộT Số GIảI PHÁP.
Một là, Chính phủ cần điều hành linh hoạt, có hiệu quả
các công cụ CSTT theo nguyên tắc thị trường như tái cấp vốn, chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc (DTBB) để khuyến khích các TCTD tại các chi nhánh
NHNN là tiền DTBB; điều chỉnh tỷ lệ DTBB phù hợp với diễn biến tiền tệ và không ảnh hưởng lớn tới chi phí hoạt động của TCTD.Xây dựng và hoàn thiện cơ chế điều tiết lãi suất của NHNN theo nguyên tắc thị trường nhằm tác động gián tiếp, có hiệu quả vào lãi suất của thị trường tiền tệ - tín dụng nói chung NHNN điều tiết lãi suất thị trường
thông qua lãi suất định hướng của mình, qua đó sẽ hạn chế cạnh tranh lãi suất huy động vốn như hiện nay và buộc các NHTM tăng cường khả năng huy động vốn bằng cách mở rộng các tiện ích ngân hàng
Trang 352 MộT Số GIảI PHÁP.
Hai là, Chính phủ cần phải kiên quyết không chỉ đạo các ngân
hàng thương mại khoanh nợ, giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ và
dùng quỹ dự phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại để bù đắp cho vấn đề này Đối với các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài cần phải giải quyết theo luật định Đồng thời Chính phủ cần phải chỉ đạo kiên quyết đẩy nhanh tốc độ sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước hơn nữa, cho phép thực hiện một số giải pháp linh hoạt trong định giá doanh nghiệp, trong xử lý nợ của doanh nghiệp khi tiên hành cổ phần hoá Với các doanh nghiệp, nhất là các doanh
nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu lớn, nên tính đến các công cụ phòng ngừa rủi ro như hoán đổi tiền tệ và hoán đổi lãi suất
Đồng thời sớm tham gia các hiệp hội ngành hàng trên thế giới để
có thể được cung cấp thông tin và nắm bắt kịp thời về diễn biến cung cầu, giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới.