1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận định luật cạnh tranh

42 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 101,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật cạnh tranh có 2 loại hành vi cạnh tranh, trong đó hành vi hạn chế cạnhtranh không nhất thiết phải xem xét có hậu quả hay không, chỉ cần thỏa mản yếu tố hành vithì có thể xem xé

Trang 1

LUẬT CẠNH TRANH

* Cấu trúc đề thi:

- 3 câu nhận định (3 điểm)

- 1 câu lý thuyết (3 điểm)

- 1 bài tập tình huống (4 điểm)

I NHẬN ĐỊNH

1 Pháp luật cạnh tranh có mục đích trực tiếp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- SAI Mục đích của luật cạnh tranh là tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ quyền

và lợi ích của người tiêu dùng, luật cạnh tranh chỉ bảo toàn năng lực cạnh tranh, và thôngqua việc bảo toàn dán tiếp làm doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh Đồng thời nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp không phụ thuộc vào sự hổ trợ của pháp luật cạnh tranh màphụ thuộc vào các yếu tố kinh tế - kỹ thuật

2 Khi xác định hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của doanh nghiệp, không cần xem xét hậu quả, thiệt hại cụ thể.

- SAI Pháp luật cạnh tranh có 2 loại hành vi cạnh tranh, trong đó hành vi hạn chế cạnhtranh không nhất thiết phải xem xét có hậu quả hay không, chỉ cần thỏa mản yếu tố hành vithì có thể xem xét, tuy nhiên không nhất thiết chứ không phải là không cần xem xét hậu quả.Còn đối với việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì xem xét hậu quả, thiệt hại là

1 yếu tố quan trọng để quyết định xử lý, xem xét quyết định hình phạt chính hay hình phạt

nó đã đủ để tạo nên sự cạnh tranh nên chỉ quy định 4 doanh nghiệp kết hợp với nhau và cótổng thị phần trên 75% mới xem là nhóm Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

4 Bất kì tổ chức, cá nhân nào cũng có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh.

- SAI Xem khoản 1 điều 58 LCT “Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp phápcủa mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của Luật này (sau đây gọi chung là bênkhiếu nại) có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh” Như vậy không phải bất kỳ

cá nhân tổ chức nào cũng có quyền khiếu nại

Trang 2

5 Nhận thấy (thể hiện hành vi đã biết) công ty A sản xuất loại gạch men AKIRA rất nổi tiếng trên thị trường, một công ty chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng khi thành lập đã lấy tên là TAKIRA Co.Ltd Công ty A vi phạm LCT.

- ĐÚNG Có vi phạm theo Điều 40 LCT Vì AKIRA là doanh nghiệp nổi tiếng nên công ty

A phải biết điều này và thực tế công ty A đã nhận thấy điều này, đây là hành vi cố ý, (trườnghợp vô ý thì không xem xét) đồng thời có hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn về tênthương mại và mục đích nhằm làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hành hóa dịch vụnhằm mục đích cạnh tranh Bản thân công ty A là doanh nghiệp nên hành vi của A hoàn toàncấu thành hành vi vi phạm về chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tài Điều 40 LCT

6 Công ty X sản xuất nước giải khát có ga có thị phần 40% trên thị trường liên quan

đã đưa ra chương trình khuyến mại cho các đại lý là mua 2 thùng nước giải khát có ga

sẽ được tặng 1 thùng Điều tra cho thấy khi thực hiện chương trình này, giá bán lẻ một chai nước giải khát có ga của công ty X sẽ thấp hơn giá thành toàn bộ Công ty X vi phạm LCT.

- Xét 2 trường hợp sau: Nếu giá thấp hơn giá thành toàn bộ là có lý do chính đáng (hạ giábán hàng hóa tươi sống, hạ giá bán theo mùa, hạ giá bán trong chương trình khuyến mãitheo quy định của pháp luật) thì không xem là bán phá giá  Công ty không vi phạm Ngượclại thì bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh (Xem k2 điều 23 NĐ 116/2005) Mục đích suyđoán từ biểu hiện hành vi, không cần chứng minh

7 Pháp luật cạnh tranh là loại pháp luật chủ yếu mang tính ngăn cấm, can thiệp.

- ĐÚNG Mục đích của LCT là nhằm ngăn cản, hạn chế các hành vi liên quan đến cạnhtranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh nhằm mục đích tạo môi trường bình đẳng trongcạnh tranh và bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Pháp luật cạnh tranh không có tính mở mà nómang tính ngăn cấm, can thiệp

8 Mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều nhằm vào đối thủ cạnh tranh của DN.

- SAI Hành vi tại khoản 3 điều 45 LCT về việc quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn chokhách hành, hoặc hành vi quy định tại Điều 43 LCT Đây là những hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh nhưng không nhằm vào đối thủ cạnh tranh

9 Tất cả các trường hợp tập trung kinh tế đều phải được kiểm soát bởi cơ quan quản

lý cạnh tranh.

- SAI Xem khoản 1, khoản 2 Điều 19, xem đoạn 2 khoản 1 điều 20 LCT

10 Hội đồng cạnh tranh quốc gia là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh.

- SAI HDCT chỉ có thẩm quyền xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh, trong khi Cục quản

lý cạnh tranh là cơ quan quản lý cạnh tranh theo quy định của pháp luật có chức năng xemxét điều tra, giải quyết các hành vi cạnh tranh không lành mạnh … xử lý các hành vi khác,bảo vệ người tiêu dùng, chống trợ cấp, tự vệ Thẩm quyền điều tra các vụ việc liên quan đếncạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh thuộc về cơ quan quản lý cạnh tranh, tức

Trang 3

là Cục quản lý cạnh tranh (khoản 2 Điều 49 LCT 2004 và Điều 5 NĐ số 06/2006 NĐ-CP).Như vậy thẩm quyền cao nhất vẫn thuộc về cơ quan quản lý cạnh tranh (CQQLCT).

11 Công ty A có thị phần 35% trên thị trường liên quan đã đưa ra quyết định về tỷ lệ giảm giá khác nhau cho các đại lý ở các địa bàn khác nhau Công ty A vi phạm LCT

- ĐÚNG Có vi phạm vì: Thị phần 35% (thống lĩnh thị trường khoản 1 điều 11 LCT) quyếtđịnh đưa ra tỉ lệ giảm giá khác nhau trong các giao dịch như nhau giữa các đại lý đã tạo ra

sự cạnh tranh bất bình đẳng (xem khoản 4 điều 13 LCT)

12 Sáu công ty sản xuất, lắp ráp máy tính ở VN có thị phần 30% trên thị trường liên quan đã ký thỏa thuận hợp tác lắp ráp máy tính giá rẻ với thương hiệu chung và ấn định giá bán loại máy tính này phải dưới 4 triệu đồng Vi phạm LCT

- SAI Không vi phạm Sáu công ty có thị phần 30% không thuộc các trường hợp nhómdoanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường quy định tại khoản 2 điều 11 LCT, do đó việcthỏa thuận chung ấn định giá bán dưới 4tr không thuộc các hành vi bị cấm tại điều 13 LCT

vì các hành vi này chỉ cấm đối với các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thốnglĩnh thị trường

13 Mọi hành vi có mục đích hạn chế cạnh tranh đều bị cấm.

- SAI Trường hợp thỏa thuận không cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại, đại diệncho thương nhân … không bị xem là bất hợp pháp Hoặc có trường hợp thỏa thuận mangtính chất hạn chế cạnh tranh nhưng nó cũng có tác động tích cực đến thị trường chẳng hạn:thỏa thuận phụ là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, nhưng thỏa thuận này nhăm mục đích bổtrợ cho thỏa thuận chính, và thỏa thuận chính này lại có ích cho kinh tế, xã hội … thì lúcnày không xem thỏa thuận có tính chất cạnh tranh là bất hợp pháp

14 Việc bên mời thầu tiết lộ thông tin trong hồ sơ dự thầu của 1 bên dự thầu cho một bên dự thầu khác để bên này chỉnh sửa hồ sơ dự thầu nhằm mục đích thắng thầu bị coi là hành vi thông đồng trong đấu thầu quy định tại khoản 8 điều 8 Luật cạnh tranh.

- SAI Trường hợp bên mời thầu không phải là doanh nghiệp thì việc tiết lộ này không thuộcphạm vi khoản 8 Điều 8 Luật cạnh tranh Hơn nữa trường hợp này không thuộc các hành viquy định tại Điều 21 NĐ 116/2005

15 Mọi hành vi sáp nhập doanh nghiệp đều phải tiến hành thủ tục tập trung kinh tế tại cơ quan quản lý cạnh tranh.

- SAI Điều 19 LCT quy định 1 số hành vi tập trung kinh tế bị cấm theo Điều 18 LCT nhưnglại được cho hưởng sự miễn trừ bao gồm 2 trường hợp sau:

+ Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặclâm vào tình trạng phá sản;

+ Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinhtế-xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ

Trang 4

- Bên cạnh đó đoạn 2 Điều 20 Luật Cạnh tranh cũng đưa ra trường hợp tập trung kinh tếnhưng không phải làm thủ tục khai báo tập trung kinh tế đối với trường hợp sau: Trườnghợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thịtrường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫnthuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.

16 Pháp luật cạnh tranh chủ yếu dùng để nhằm bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp.

- SAI Mục đích chủ yếu là tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo lưu khả năng cạnhtranh của các doanh nghiệp, đồng thời bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, nếu doanh nghiệp

có hành vi hạn chế CT, CT không lành mạnh thì bị xử lý theo PL CT Như vậy không chỉbảo vệ doanh nghiệp mà còn bảo vệ cả người tiêu dùng

17 Hành vi của doanh nghiệp dùng vũ lực để ép buộc khách hàng phải giao dịch với mình là hành vi ép buộc trong kinh doanh theo Điều 42 Luật cạnh tranh năm 2004.

- SAI Nhận định này là sai vì hành vi ép buộc trong kinh doanh theo Đ.42 LCT năm 2004

là hành vi “ép buộc khách hàng, đối tác của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặccưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó”

- Như vậy đối tượng bị doanh nghiệp vi phạm tác động đến là khách hàng hoặc đối tác kinhdoanh của đối thủ cạnh tranh Mục đích của hành vi này nhằm để gây thiệt hại cho đối thủcạnh tranh cụ thể là khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh không giao dịch hoặc ngừng giaodịch với doanh nghiệp đó

- Trong khi đối tượng bị tác động trong câu nhận định chỉ nói là khách hàng mà không xácđịnh rõ khách hàng của ai, đó cũng có thể là khách hàng tự do mà không phải là khách hàngcủa đối thủ cạnh tranh, mục đích của doanh nghiệp là nhằm buộc khách hàng giao dịch vớimình, hành vi này chỉ gây thiệt hại cho khách hàng chứ không ảnh hưởng đến tình hình kinhdoanh của đối thủ

- Trường hợp dùng vũ lực buộc giao dịch nhằm tác động đến khách thể là tài sản của ngườikhác thì hành vi đó tùy theo tính chất mức độ có thể cấu thành các tội theo quy định trongBLHS

18 Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ bị cấm khi thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận từ 30% trở lên.

- SAI Ngoại lệ Điều 10 LCT (Các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 10 LCT)

19 Các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh năm 2004 đều có thể được hưởng miễn trừ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

- SAI Khoản 1 điều 9 LCT đã quy định các trường hợp cấm tuyệt đối khi vi phạm pháp luậtcạnh tranh và không được hưởng miễn trừ, nếu doanh nghiệp nào rơi vào các trường hợpnày thì không xem xét miển trừ (Cấm tuyệt đối)

Trang 5

20 Mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải làm thủ tục thông báo đến Hội đồng cạnh tranh hoặc Cục quản lý cạnh tranh.

- SAI Xem đoạn 2 Khoản 1 điều 20 LCT “Trường hợp thị phần kết hợp của các doanhnghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợpdoanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừatheo quy định của pháp luật”

21 Một DN chỉ bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.

- SAI Trường hợp dưới 30% nhưng có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể theoquy định tại khoản 1 Điều 11 LCT thì cũng xem là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thịtrường mặc dù thị phần không trên 30% Điều 22 NĐ 116/2005 NĐ-CP quy định chi tiếtLCT có quy định để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh

22 Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh tranh tham gia.

- SAI Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 LCT thì Hội đồng cạnh tranh có từ 11 đến 15thành viên do thủ tướng bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ thương mại.Khoản 3 Điều 54 quy định tiếp “Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định thành lập Hộiđồng xử lý vụ việc cạnh tranh gồm ít nhất 5 người …” Như vậy nói Hội đồng xử lý vụ việccạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh tranh tham gia là không có cơ sở

23 Bộ trưởng bộ Công thương có quyền giải quyết các khiếu nại đối với quyết định xử

xử lý vụ việc cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh

24 Trong tố tụng vụ việc cạnh tranh, nếu có yêu cầu về bồi thường thiệt hại không quá

100 triệu đồng thì Hội đồng cạnh tranh và cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ giải quyết cùng với việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.

- SAI Điều 6 NĐ 116/2005 quy định Như vậy nếu có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì thựchiện theo luật dân sự, và không quan tâm đến số tiền yêu cầu là trên hay dưới 100 triệu Hơnnữa yêu cầu bồi thường thiệt hại không được xem là biên pháp khắc phục hậu quả và khôngthể áp dụng đồng thời với việc xử lý vi phạm

25 Các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh 2004 có thể được hưởng miễn trừ theo quyết định của Bộ trưởng Bộ công thương.

Trang 6

- SAI Các hành vi quy định tại khoản 1 điều 9 LCT bị cấm tuyệt đối, không được hưởngmiễn trừ, Bộ trưởng bộ công thương không xem xét cho hưởng miễn trừ đối với các trườnghợp này.

26 Tất cả các thỏa thuận giữa 03 doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với nhau về gia bán hàng hóa, dịch vụ đều là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.

- SAI Nếu thỏa thuận đó không trái với các quy định tại điều 14 NĐ 116/2005 thì khôngxem là thỏa thuận HCCT

27 Luật Cạnh tranh (2004) không áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.

- SAI LCT điều chỉnh cả những quan hệ phát sinh trong quá trình cạnh tranh nên những chủthể tham gia quá trình giải quyết cạnh tranh, như cơ quan quản lý cạnh tranh, hội đồng cạnhtranh (Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội) cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnhtranh

28 Theo Luật Cạnh tranh (2004), các hành vi hạn chế cạnh tranh đều có thể được hưởng miễn trừ.

- SAI Khoản 1 điều 9 LCT quy định các trường hợp bị cấm tuyệt đối và không được hưởng

sự miễn trừ

29 Khi một hành vi kinh doanh cùng được điều chỉnh bởi Luật Cạnh tranh (2004) và các Luật khác thì Luật Cạnh tranh sẽ được ưu tiên áp dụng.

- ĐÚNG Xem khoản 1 Điều 5 LCT

30 Pháp luật hiện hành của Việt Nam cấm doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh.

- SAI Chỉ Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có đầy đủ các tiêu chí về thị phần theo khoản

1 điều 11 LCT và có hành vi bán hàng cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm mụcđích loại bỏ đối thủ cạnh tranh mới bị cấm, doanh nghiệp không đủ thị phần thì không thuộchành vi này, không bị cấm

31 Các doanh nghiệp được tự do tập trung kinh tế nếu sau khi thực hiện vẫn thuộc diện doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.

- ĐÚNG Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 20 Luật cạnh tranh quy định “Trường hợpdoanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc laoij doanh nghiệp nhỏ và vừatheo quy định của pháp luật thì không phải thông báo” Với quy định này Luật Cạnh tranhcho phép doanh nghiệp được tự do thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp này

Trang 7

32 Những thông tin có đủ các điều kiện quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật cạnh tranh

và đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được coi là bí mật kinh doanh của doanh nghiệp.

- SAI Chỉ cần thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh, khôngcần đăng ký

33 Mọi hành vi quảng cáo bằng cách đưa ra các thông tin so sánh sản phẩm được quảng cáo với sản phầm cùng loại khác trên thi trường đều vi phạm luật cạnh tranh.

- SAI Phải nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh đồng thời phải là so sánh trực tiếp,nếu không nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh thì không xem là vi phạm và không

áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 45 LCT

34 Mọi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ chỉ bị cấm khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.

- SAI Khoản 2 Điều 9 LCT quy định rằng “Cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quyđịnh tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 8 LCT khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kếthợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên Tuy nhiên ngay sau đó khoản 1 Điều 10 LCTquy định tiếp “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 2 Điều 9 được miễn trừ cóthời hạn (có nghĩa là không bị cấm khi thị phần kết hợp trên 30%) nếu đáp ứng các điềukiện sau đây nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng … (Xem các khoản a, b, c, d, đ,e,)

35 Cơ quan cạnh tranh sẽ chỉ tiến hành điều tra vụ việc cạnh tranh khi có đơn yêu cầu của một hoặc một số doanh nghiệp có liên quan / Cơ quan quản lý Cạnh tranh chỉ tiến hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi có đơn yêu cầu.

- SAI Căn cứ Điều 65, khoản 2 điều 86 LCT 2004 Từ đó ta có thể kết luận rằng Cơ quanquản lý Cạnh tranh ngoài việc tiến hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi có đơn yêu cầu thìcòn có thể tiến hành điều tra vụ việc Cạnh tranh khi phát hiện dấu hiệu vi phạm quy địnhcủa Luật Cạnh tranh

36 Mọi hành vi hạn chế cạnh tranh đều có thể được xem xét để được hưởng miễn trừ.

- SAI Các hành vi tại khoản 1 điều 9 LCT bị cấm tuyệt đối

37 Mọi quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh đều có thể bị khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công Thương.

- SAI Khoản 2 điều 107 quy định “Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nộidung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, cácbên có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ công thương” Như vậy chỉ khi không đồng ý vớiquyết định của Thử trưởng cơ quan QLCT thì mới khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công thương

38 Cục quản lý cạnh tranh có quyền áp dụng biện pháp phạt tiền và buộc cải chính công khai đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Trang 8

- ĐÚNG Theo Điều 119 LCT 2004, khoản 10 điều 2 NĐ 06/2006, điều 40 NĐ 71/2014:Thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh và Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh.

39 Mọi hành vi tổ chức lại doanh nghiệp đều là tập trung kinh tế.

- SAI Theo Điều 35 NĐ 116/2005 thì trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp thực hiệnviệc tổ chức lại và trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được múc đích bán lại đó, và trongkhoảng thời gian là 1 năm thì không bị xem là tập trung kinh tế

40 Mọi hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh đều có quyền đề nghị hưởng miễn trừ.

- SAI Khoản 1 điều 9 LCT quy định 3 trường hợp không được miễn trừ trong mọi trườnghợp bao gồm:

+ Ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinhdoanh

+ Loại bỏ doanh nghiệp khác (các DN ngoài thỏa thuận)

+ Thông đồng đấu thầu

41 Hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền giải quyết các vụ việc về hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh theo sự phân cấp của Chính phủ.

- SAI Khoản 2 điều 53 LCT quy định “Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giảiquyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theoquy định của pháp luật” Theo tinh thần của điều luật này thì nếu có khiếu nại làm phát sinh

vụ việc cạnh tranh và cá nhân, tổ chức thực hiện việc khiếu nại như quy định tại khoản 1Điều 58 Luật Cạnh tranh thì lúc này Hội đồng cạnh tranh sẽ xem xét, thụ lý giải quyết màkhông quan tâm đến sự phân cấp của chính phủ, đồng thời chỉ giải quyết đối với các hành vihạn chế cạnh tranh chứ không phải là đối hầu hết các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh(gồm hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh)

42 Hành vi quảng cáo hàng hóa, dịch vụ có nội dung so sánh trực tiếp với sản phẩm cùng loại là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

- ĐÚNG Theo quy định tại khoản 1 điều 45 Luật Cạnh tranh “Cấm doanh nghiệp thực hiệncác hoạt động quảng cáo sau: So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa,dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác”

43 Ba doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh khi thị phần kết hợp của chúng chiếm trên 75% trên thị trường liên quan.

- SAI Phải thỏa mãn về thị phần, cùng nhau hành động … (Khoản 2 điều 11 LCT)

Trang 9

44 Khi phát hiện thấy có dấu hiệu rõ ràng về hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh,

cơ quan cạnh tranh có thể ra quyết định điều tra chính thức mà không cần tiến hành điều tra nội bộ / Khi có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh, thủ truởng cơ quan quản

lý Cạnh tranh sẽ ra ngay quyết định chính thức điều tra.

- SAI Thủ truởng cơ quan quản lý cạnh tranh ra quyết định điều tra chính thức nếu kết quảđiều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu vi phạm quy định Luật cạnh tranh tại khoản 2 Điều 88LCT 2004; tức là phải qua việc điều tra sơ bộ nếu kết quả cho thấy có vi phạm Luật cạnhtranh thủ truởng cơ quan quản lý cạnh tranh mới ra quyết định điều tra chính thức

45 Phiên điều trần xử lý vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh là 1 phiên tòa xét xử vụ việc cạnh tranh.

- ĐÚNG Điều 98 Luật cạnh tranh quy định rằng “Vụ việc cạnh tranh phải được xem xét, xử

lý thông qua phiên điều trần” Sau khi nhận đủ hồ sơ, kết quả điều tra 30 ngày thì Hội đồng

xử lý vụ việc cạnh tranh có thể ra quyết định mở phiên điều trần Tại phiên điều trần có sựtham gia của các bên liên quan, có sự trình bày ý kiến, tranh luận và sau đó Hội đồng xử lý

vụ việc cạnh tranh tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kiến và quyết định theo đa số kết quả xử lý

vụ việc cạnh tranh Quyết định này có hiệu lực sau 30 ngày nếu không có khiếu nại tố cáo(Điều 106)

46 Khi điều tra về vụ việc hạn chế cạnh tranh, nếu kết luận điều tra chính thức là không có hành vi vi phạm, thủ trưởng cơ quan cạnh tranh ra quyết định đình chỉ điều tra.

- SAI Thủ trưởng cơ quan cạnh tranh chỉ quyết định đình chỉ điều tra nếu kết quả điều tra

sơ bộ cho thấy không có hành vi vi phạm quy định của Luật cạnh tranh (Khoản 1 điều 88).Còn nếu sau khi điều tra chính thức thì thủ trưởng cơ quan cạnh tranh phải chuyển báo cáođiều tra cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Hội đồng cạnh tranh mà không ra quyết định đìnhchỉ điều tra

47 Khi nhận được kết quả điều tra từ cục quản lý cạnh tranh, hội đồng cạnh tranh phải tổ chức phiên điều trần để xem xét kết quả điều tra và ra quyết định xử lý vụ việc.

- SAI XEM ĐIỀU 88 LCT

48 Cục quản lý cạnh tranh sẽ chỉ tiến hành điều tra vụ việc cạnh tranh khi có đơn yêu cầu của ít nhất một doanh nghiệp có liên quan.

- SAI Khoản 2 điều 86 LCT

49 Hội đồng cạnh tranh chỉ điều tra và xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh.

- SAI Khoản 2 điều 53 chỉ xử lý, không có điều tra vụ việc

50 Căn cứ duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp trên thị trường liên quan là thị phần của doanh nghiệp đó.

Trang 10

- SAI Khả năng gây hạn chế cạnh tranh với trường hợp doanh nghiệp dưới 30% nhưng cókhả năng gây ra hạn chế cạnh tranh.

51 Hành vi bán hàng đa cấp bất chính là hành vi bán hàng trái với quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động này / Hành vi bán hàng đa cấp bất chính là hành vi của DN

tổ chức bán hàng đa cấp trái với quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với bán hàng đa cấp.

- SAI Vì thuật ngữ bán hàng đa cấp bất chính được quy định tại Điều 48 LCT được điềuchỉnh bởi pháp luật cạnh tranh, chứ không được điều chỉnh bởi pháp luật về quản lý Nhànước về bán hàng đa cấp Pháp luật cạnh tranh và pháp luật về quản lý bán hàng đa cấp làkhác nhau Vì vậy, hành vi bán hàng đa cấp bất chính không phải là hành vi vi phạm phápluật về quản lí bán hàng đa cấp (cspl: Điều 48 LCT 2004, Điều 5 NĐ 42/2014.)

52 Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan quản lý cạnh tranh và xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.

- SAI Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan cạnh tranh nhưng chỉ có thẩm quyền điều tra các

vụ việc cạnh tranh bao gồm hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiênCục quản lý cạnh tranh lại chỉ có thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh,còn hành vi hạn chế cạnh tranh lại thuộc về Hội đồng cạnh tranh Tóm lại, nói Cục quản lýcạnh tranh là cơ quan cạnh tranh là chính xác không sai, nhưng nói Cục quan lý cạnh tranh

xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh (Hạn chế CT và CT không lành mạnh) thì đúng

53 Căn cứ duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh của nột DN trên thị trường liên quan

là thị phần của DN đó / Thị phần là căn cứ duy nhất để xác định quyền lực thị trường.

- SAI Theo cuốn từ điển kinh tế học hiện đại “quyền lực thị trường là khả năng của mộtdoanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả và thị trường củamột loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua.” Vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độcquyền đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường và khả năng chi phối các quan hệ trênthị trường Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền là đem lại cho doanh nghiệpnhững lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp khác và khả năng chi phối mối quan hệ vớikhách hàng

- Những yếu tố làm cho doanh nghiệp có được những lợi thế đó rất đa dạng, mỗi một nướcquy định trong pháp luật của mình những cơ sở khác nhau để xem xét vị trí thống lĩnh này.Thông thường là có hai phương pháp áp dụng đó là:

+ Phương pháp định lượng: sử dụng công cụ thị phần, bằng cách ấn định một con số

cụ thể được luật hoá trong các văn bản pháp luật Giá trị con số này tuỳ thuộc vào cách nhậnđịnh của mỗi quốc gia phù hợp từng thời kỳ

+ Phương pháp định tính: khi đưa ra các yếu tố, các khái niệm xung quanh việc khảnăng doanh nghiệp có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Đó là các yếu tố vềnăng lực doanh nghiệp mang tính đặc thù

- Theo quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành thì căn cứ vào Khoản 1 Điều 11 LuậtCạnh Tranh 2004 và Điều 22 Nghị định 116/2005 thì ta thấy rằng pháp luật cạnh tranh ViệtNam hiện hành áp dụng đồng thời cả hai phương pháp trên

Trang 11

- Câu nhận định đề bài cho rằng “thị phần” là cơ sở duy nhất là một nhận định không chínhxác Theo những phân tích ở trên và căn cứ quy định pháp luật của nước ta, có thể thấyngoài thị phần còn áp dụng các tiêu chí khác để xác định quyền lực thị trường.

54.Trong tố tụng cạnh tranh, CQ quản lý cạnh tranh chỉ cần sử dụng các chứng cứ do các bên cung cấp để điều tra về vụ việc cạnh tranh.

- SAI Theo Điều 100 Luật cạnh tranh thì không phải lúc nào cũng chỉ sử dụng “vẻn vẹn”chứng cứ do các bên cung cấp là đủ, mà quên đi các nguồn chứng cứ khác Có nhiều trườnghợp Cơ quan quản lý cạnh tranh phải tự thu thập và chứng minh Hơn nữa việc các bên cungcấp chứng cứ có trung thực, khách quan hay không, chứng cứ có thỏa mãn các điều kiệnquy định tại Điều 76 NĐ 116/2005 hay không, nếu không thỏa mãn thì không áp dụng.Ngoài ra theo quy định tại K3 Đ74 NĐ 116/2005/NĐ-CP quy định trong trường hợp vụ việccạnh tranh do bị cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện thì cơ quan quản lý cạnh tranh cónghĩa vụ chứng minh Ví dụ: Theo quy định tại K1 Đ80 và K4 Đ76 NĐ 116/2005/NĐ-CPthì cơ quan quản lý cạnh tranh phải ra quyết định trưng cầu giám định và kết luận giám địnhnày là chứng cứ

55 Mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải làm thủ tục thông báo đến Hội đồng cạnh tranh hoặc Cục quản lý cạnh tranh.

- SAI Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh quy định “Trường hợp thịphần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trườngliên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loạidoanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo”

56 Một DN chỉ bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.

- SAI Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh thì “Doanh nghiệp được coi là có

vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc cókhã năng gây hạn chế cạnh tranh đáng kể” Như vậy nếu một doanh nghiệp có thị phần dưới30% nhưng có khả năng gây hạn chế cạnh tranh đáng kể thì vẫn coi là có vị trí thống lĩnh thịtrường

57 Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh tranh tham gia.

- SAI Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 LCT thì Hội đồng cạnh tranh có từ 11 đến 15thành viên do thủ tướng bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ thương mại.Khoản 3 Điều 54 quy định tiếp “Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định thành lập Hộiđồng xử lý vụ việc cạnh tranh gồm ít nhất 5 người … Như vậy nói Hội đồng xử lý vụ việccạnh tranh phải có ít nhất 7 thành viên của Hội đồng cạnh tranh tham gia là không có cơ sở

58 Chủ tịch hội đồng cạnh tranh có quyền tạm đình chỉ phiên điều trần khi phát hiện Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có dấu hiệu vi phạm tố tụng cạnh tranh.

- SAI Vì Căn cứ Điều 79 Luật Cạnh tranh 2004 thì Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh chỉ cóthẩm quyền thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, thay đổi thành viên Hội đồng xử

Trang 12

lý vụ việc cạnh tranh, thư ký phiên điều trần, người giám định, người phiên dịch trước khi

mở phiên điều trần, có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hành chính khitiếp nhận hồ sơ vụ việc cạnh tranh Vậy khi phát hiện Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh códấu hiệu vi phạm tố tụng cạnh tranh thì Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh không có quyền tạmđình chỉ phiên điều trần

59 Bộ trưởng bộ Công thương có quyền giải quyết các khiếu nại đối với quyết định xử

lý vụ việc cạnh tranh.

- SAI Xem khoản 2 điều 107 LCT (chỉ vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lýcạnh tranh

60 Hành vi bán hàng dưới giá vốn là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

- SAI Căn cứ theo khoản 4 điều 3, điều 39 LCT 2004 Căn cứ hai điều luật kể trên thì cáchành vi được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các đặc điểm sau:

+ Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp Khái niệm doanh nghiệp trong

luật Cạnh tranh không chỉ bao gồm tất cả các chủ thể được gọi là doanh nghiệp theo phápluật doanh nghiệp mà còn bao gồm tất cả các loại chủ thể kinh doanh khác được phép tiếnhành các hoạt động kinh doanh ở Viêt Nam

+ Thứ hai, mục đích của hành vi là nhằm cạnh tranh trong kinh doanh Điều đó, có

nghĩa là doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh nhất định so với đối thủ cạnh tranhthông qua hành vi

+ Thứ ba, tính chất của hành vi phải trái với các chuẩn mực đạo đức thông thường của

kinh doanh Có nghĩa là hành vi bán hàng dưới giá vốn phải vi phạm các chuẩn mực đạođức trong kinh doanh

+ Thứ tư, hậu quả của hành vi có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại đến lợi ích của

Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng

- Nếu hành vi bán hàng dưới giá vốn trong trường hợp này thỏa những điều kiện mới có đủ

cơ sở kết luận rằng nó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

- Ví dụ: nếu “hành vi bán hàng dưới giá vốn” nhằm thanh lý tài sản, hàng hóa để rút khỏi thịtrường, hành vi này không nhằm mục đích cạnh tranh trong kinh doanh so với doanh nghiệpkhác thì không bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

61 Thoả thuận giữa các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn không là hạn chế cạnh tranh.

- SAI Về khái niệm của hạn chế cạnh tranh được quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật CạnhTranh 2004, có thể rút ra đặc điểm của hạn chế cạnh tranh như sau:

+ Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là doanh nghiệp hoặc nhóm

doanh nghiệp Các doanh nghiệp này thường có vị trí nhất định trên thị trường hoặc sự kếthợp của các các doanh nghiệp này có khả năng hạn chế cạnh tranh

+ Thứ hai, hoạt động trên cùng một thị trường liên quan.

+ Thứ ba, mục đích của các hành vi hạn chế cạnh tranh là nhằm cản trở và làm sai lệch

cạnh tranh trên thị trường

- Theo quy định tại điều 146 của Luật doanh nghiệp 2005 thì tập đoàn kinh tế là một hìnhthức của nhóm công ty Cũng theo quy định này, nhóm công ty là tập hợp các công ty cómối quan hệ gắn bó lâu dài về các lợi ích nhất định Hay nói cách khác là chưa có sự phân

Trang 13

biệt các loại tập đoán kinh tế ở các dạng khác nhau, vì thế các doanh nghiệp trong tập đoànkinh tế theo cách hiểu của pháp luật Việt Nam có thể là đối thủ cạnh tranh, hoặc cũng có thể

là doanh nghiệp trong cùng một kênh hỗ trợ Bởi chính lí do trên, ta thấy rằng các thoảthuận của các doanh nghiệp này có thể tồn tại ở hai dạng thoả thuận:

+ Thoả thuận ngang: thoả thuận giữa các doanh nghiệp cạnh tranh

+ Thoả thuận dọc: thoả thuận giữa các chủ thể trong cùng một chu trình sản xuất, phânphối, lưu thông hàng hoá

- Với dữ kiện đề bài cho là thoả thuận của doanh nghiệp trong cùng tập đoàn không là hạnchế cạnh tranh, thì câu nhận định này là không có cơ sở Nếu hai doanh nghiệp trong cùngtập đoàn là đối thủ cạnh tranh thì có thể cấu thành hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh.Nếu trường hợp, hai doanh nghiệp không là đối thủ cạnh tranh và đồng thời 1 trong 2 doanhnghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền thì sẽ cấu thành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.Khi các thoả thuận của các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn thoả mãn các dấu hiệu cấuthành của lạm dụng thì đó là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

62 Các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn không phải là đối thủ cạnh tranh.

- SAI Theo Điều 149 Luật Doanh Nghiệp năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp là mộtthành phần trong nhóm công ty : “nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn

bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanhkhác” Tập đoàn kinh tế bao gồm nhiều doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập Vì vậy

mà các doanh nghiệp khi kinh doanh cùng một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ cócùng tính chất, cùng công dụng và có thể thay thế cho nhau trong những điều kiện cạnhtranh như nhau nhằm ganh đua, kình địch tranh giành thị trường, mở rộng thị phần thì đượccoi là đối thủ cạnh tranh

63 Các cơ quan hành chính có thể tác động đến Luật cạnh trạnh.

- ĐÚNG Theo khoản 10 Điều 39 Luật cạnh tranh thì Chính phủ có quyền quy định cáchành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí đã được xác định bởi định nghĩa quyđịnh tại khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh Hay tại khoản 1 Điều 25 Luật cạnh tranh thì Bộtrưởng Bộ Công thương xem xét, quyết định việc miễn trừ bằng văn bản quy định tại Điều

10 và khoản 1 Điều 19 đối với trường hợp miễn trừ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.Đồng nghĩa với những quy định này thì các cơ quan hành chính trong một số trường hợp cụthể có thể tác động tới luật cạnh tranh

64 Hội Đồng Cạnh Tranh có quyền huỷ quyết định xử lý của thủ trưởng cục quản lý cạnh tranh.

- SAI Vì hội đồng cạnh tranh và Cục quản lý cạnh tranh mặc dù đều là những cơ quan cótrách nhiệm giải quyết các vụ việc cạnh tranh nhưng trách nhiệm, quyền hạn cũng như thẩmquyền, phạm vi quyền lực của hai cơ quan này là khác nhau Hội đồng cạnh tranh thuộc cơquan xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại NĐ05/2006/NĐ-CP Còn Cục quản lý cạnh tranh thuộc cơ quan quản lý cạnh tranh theo quyđịnh của NĐ 06/2006/ NĐ-CP Hơn nữa, theo K2, Đ 107, LCT trường hợp không nhất tríquyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh thì các bên

có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công Thương và theo Đ 113 LCT thì Bộ trưởng BộCông Thương có quyền hủy quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và yêu cầu cơ quan quản lýcạnh tranh giải quyết lại

65 Mọi vụ việc cạnh tranh đều phải điều tra qua hai giai đoạn trước khi đưa ra trước hội đồng cạnh tranh để giải quyết.

Trang 14

- ĐÚNG Vì theo LCT 2004 điều tra được chia làm hai giai đoạn: điều tra sơ bộ và điều trachính thức Kết quả của giai đoạn điều tra chính thức là cơ sở để Cục quản lí cạnh tranh raquyết định đưa vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết Theo khoản 2 Điều 53 LCTnăm 2004 hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền giải quyết những vụ việc liên quan đến cạnhtranh không lành mạnh, vì thế mọi vụ việc cạnh tranh đều phải điều tra qua hai giai đoạn đó

là thủ tục cũng như cơ sở lựa chọn Hội đồng cạnh tranh giải quyết vụ việc

66 Mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải làm thủ tục thông báo đến Hội đồng cạnh tranh hoặc Cục quản lý cạnh tranh

- SAI Theo khoản 1, điều 20 LCT, trường hợp tập trung kinh tế mà thỏa một trong hai điềukiện:

+ Thị phần kết hợp thấp hơn 30% trên thị trường liên quan;

+ Doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theoquy định của pháp luật (khoản 1 Điều 3 NĐ 56/2009)

Thì không phải thông báo cho cơ quan quản lí cạnh tranh

- Như vậy, không phải mọi trường hợp tập trung kinh tế đều phải báo cho cơ quan quản lícạnh tranh

67 Một doanh nghiệp chỉ bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan

- SAI Theo khoản 1, điều 11 LCT, thì một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thìchỉ cần thỏa mãn một trong hai điều kiện:

+ Có thị phần 30%; hoặc

+ Có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể

- Ngoài ra tại Điều 22 Nghị định số 116/2005/NĐ–CP xác định cơ sở để xác định khả nănggây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp trên thị trường liên quan dựavào một hoặc một số căn cứ chủ yếu Như vậy, không chỉ những trường hợp có thị phần30% trở lên trên thị trường liên quan mới xét là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh

68 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được miễn trừ.

- SAI Vì có 2 trường hợp được miễn trừ là trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh bị cấm (Điều 10 LCT) và trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm(Điều 19 LCT) Bản chất của xét miễn trừ là vì tuy xét về hình thức thì một số hành vi tậptrung kinh tế và một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã cấu thành đủ các dấu hiệu để kếtluận là hành vi vi phạm luật cạnh tranh nhưng không gây ra nhiều tác động tiêu cực màngược lại có lợi cho người tiêu dùng, có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần cho sựphát triển kinh tế

- Còn hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong

quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệthại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanhnghiệp khác hoặc người tiêu dùng (Điều 3 Khoản 4 LCT)

- Việc miễn trừ đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm và tập trung kinh tế bị cấm

được pháp luật nước ta dựa trên sự cân nhắc đến hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế để choxem xét cho phép thực hiện những hành vi này mà về bản chất có hạn chế cạnh tranh nhưng

có thể được sử dụng như một trong các biện pháp góp phần đạt được hiệu quả của nền kinh

tế Còn đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh có đối tượng xâm hại cụ thể là lợi íchNhà nước, các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng, xâm hại đến trật tự quản lí cạnh tranh

Trang 15

mà không có bất kì tác động tích cực nào nên không có bất kì điều luật hoặc văn bản nào quiđịnh được miễn trừ.

- Đồng thời theo Điều 26 LCT thì đối tượng nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ là các bên dự

định tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế, không có qui định đếncác chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh

- Vì vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh không được miễn trừ

69 Không phải thỏa thuận cạnh tranh nào cũng được miễn trừ.

- ĐÚNG Bởi vì tại khoản 1 điều 9 Luật Cạnh tranh 2004 quy định về các trường hợp thỏathuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối (tức không áp dụng miễn trừ), bên cạnh đó cácthỏa thuận cạnh tranh quy định tại khoản 2 Điều 9 LCT 2004 nếu không đáp ứng được mộttrong các điều kiện quy định tại khỏan 1 Điều 10 LCT 2004 thì cũng không đuợc áp dụngmiễn trừ

70 Cơ quan quản lý Cạnh tranh không điều tra đối với thị phần doanh nghiệp trong cạnh tranh không lành mạnh.

- ĐÚNG Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệptrong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gâythiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củadoanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng

- Như vậy, trong vụ việc cạnh tranh liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, cơ quanquản lý cạnh tranh, tức Cục quản lý cạnh tranh có thẩm quyền điều tra quy định tại điểm c,khoản 2, điều 49 LCT 2004 và điểm b, khoản 4, điều 2 Nghị định 06/2006/NĐ-CP đối vớicác vụ việc cạnh tranh không lành mạnh Nội dung điều tra chỉ cần chứng minh rằng bên bịđiều tra đã hay đang thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà không cần phải xácđịnh thị phần của bên bị điều tra theo khoản 2 điều 89 LCT 2004

71 Bộ trưởng Bộ Công Thương là người duy nhất có thể giải quyết khiếu nại về cạnh tranh.

- SAI Khiếu nại về cạnh tranh bao gồm: khiếu nại vụ việc cạnh tranh và khiếu nại quyếtđịnh xử lý vụ việc cạnh tranh

- Đối với khiếu nại vụ việc cạnh tranh (điều 58 LCT), nếu vụ việc cạnh tranh liên quan đếncạnh tranh không lành mạnh thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại thuộc về thủ trưởng cơquan quản lý cạnh tranh (khoản 11, điều 76 LCT); nếu vụ việc cạnh tranh liên quan đến hạnchế cạnh tranh thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Hội đồng xử lý cạnh tranh (khoản 2, điều

80 LCT)

- Đối với khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (điều 107 LCT), nếu khiếu nại quyếtđịnh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đối với hành vi hạn chế cạnh tranh thì thẩmquyền giải quyết thuộc về Hội đồng cạnh tranh (khoản 1, điều 107; điều 112 LCT); nếukhiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh thìthẩm quyền thuộc Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương; khoản 2, điều 107;điều 113 LCT)

- Như vậy, Bộ trưởng Bộ Công Thương không phải là người duy nhất có thể giải quyếtkhiếu nại về cạnh tranh

72 Phiên điều trần là Phiên toà.

- SAI Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhấtbản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn,

Trang 16

khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, công dân.

- Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết địnhtrong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra

- Phiên điều trần được Hội đồng xét xử quyết định mở để xem xét , quyết định xử lý vụ việccạnh tranh nếu không có căn cứ để trả hồ sơ hay đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh.Phiên điều trần là một giai đoạn xử lý vụ việc (tài phán, xét xử) mà không bao gồm cáchoạt động thụ lý, điều tra

- Như vậy, với bản chất là một cơ quan thuộc hành pháp, quyết định của hội đồng xử lý vụviệc cạnh tranh trong phiên điều trần có hiệu lực như một quyết định hành chính khác vớibản chất của Phiên tòa

II LÝ THUYẾT

1 Phân tích các căn cứ xác định thị trường liên quan của LCT?

- Với sự phát triển của thị trường như hiện nay, nhất là đối với nền kinh tế thị trường, cạnhtranh là một yếu tố không thể thiếu, đồng thời là một nhân tố quan trọng làm động lực thúcđẩy sự phát triển của nền kinh tế Tuy vậy, cạnh tranh là sự ganh đua của các chủ thể thamgia thị trường, mặt trái của hiện tường này là sự cạnh tranh không lành mạnh của các chủthể hay nhóm chủ thể dẫn đến những bất lợi cho nền kinh tế; chẳng hạn những hành vi làmgiảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy thị trường như thỏa thuận hạn chếcạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường… Do đó những hành vi này được kiểmsoát, hạn chế bởi luật cạnh tranh

- Luật cạnh tranh quy định những hành vi nào là hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường.Một trong những yếu tố quan trọng để xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật của hầu hết cáchành vi hạn chế cạnh tranh đó chính là thị trường liên quan, do đó việc xác định thị trườngliên quan có một ý nghĩa hết sức quan trọng để biết rằng doanh nghiệp có vi phạm pháp luậtcạnh tranh hay không

- Theo điều 3 Luật Cạnh tranh quy định thì thị trường liên quan bao gồm hai thị trường đó làthị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Việc phân tích, xác định cácyếu tố cấu thành của tường thị trường giúp ta đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá một doanhnghiệp có đang hoạt động trong thị trường liên quan hay không, từ đó mới xác định sự cóhay không có vi phạm luật cạnh tranh của doanh nghiệp đó

* Đối vời thị trường sản phẩm liên quan:

- Theo Điều 4 NĐ 116/2005/NĐ-CP thì “thị trường sản phẩm liên quan là thị trường củanhững hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau cả về đặc tính, mục đích sử dụng và giácả.” Vậy thế nào là tính thay thế cho nhau của sản phẩm?

- Khả năng thay thế cho nhau của sản phẩm là khả năng một sản phẩm này có thể đáp ứngnhu cầu tương tự một sản phẩm khác trên thị trường Theo khoản 5, điều 4 NĐ 116 thì thuộctính “có thể thay thế cho nhau” của hàng hóa, dịch vụ thì căn cứ để xác định khả năng thaythế của sản phẩm là tính chất của sản phẩm thể hiện thông qua tiêu chí về đặc tính, mục đích

sử dụng và giá cả của sản phẩm

- Các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếunhư chúng có mục đích sử dụng, có nhiều đặc tính giống nhau Ở đây ta có hai vấn đề cầnlưu ý:

Trang 17

+ Thứ nhất, về khả năng thay thế cho nhau về mục đích sử dụng Việc sử dụng sảnphẩm là hành vi của người tiêu dùng, các sản phẩm cho dù khác nhau nhưng nếu có chungmột mục đích sử dụng thì được người sử dụng coi là có thể thay thế cho nhau Do đó, khiphân tích dấu hiệu này cần phải nhìn nhận dưới góc độ của người sử dụng hàng hoá, dịchvụ.

+ Thứ hai, về đặc tính của sản phẩm Điểm a khoản 5 Điều 4 NĐ 116 quy định rõ đặctính của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ như: tính chất vật lý,tính chất hóa học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng, khả năng hấp thụ.Xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân tích các yếu tố trong cấutạo vật chất của sản phẩm như các yếu tố lý hoá, các tác dụng phụ đối với người sử dụng …Bởi lẽ, các sản phẩm không tương đồng nhau về những yếu tố trên thì không thể thay thếcho nhau, ví dụ các loại vitamin không thể thay thế cho nhau vì các thành phần dinh dưỡng,đặc tính vật lý, nguyên lý chuyển hoá khi sử dụng… của chúng không giống nhau Có thểnói, việc xác định sự tương đồng về các yếu tố vật chất lý hoá của sản phẩm là khâu quantrọng hàng đầu trong việc điều tra thị trường liên quan, chỉ khi có kết luận về vấn đề này, cơquan điều tra mới có thể khoanh vùng các sản phẩm có khả năng nằm trong một vùng thịtrường và thực hiện các bước điều tra tiếp theo

+ Thứ ba, về giá cả sản phẩm: căn cứ điểm c khoản 5 điều 4 NĐ 116

- Giả sử trên thị trường có các mặt hàng có khả năng thay thế cho nhau về các mặt chấtlượng, tính năng, mẫu mã và kểu dáng Mặc định rằng, cả ba mặt hàng này có mức giá lầnlượt từ cao đến thấp tùy vào nhà sản xuất và thị trường ấn định Khi người tiêu dùng lựachọn sản phẩm, sẽ có rất nhiều yếu tố tác động vào quyết định lựa chọn của họ như: xuất xứ,chất lượng, mẫu mã, giá thành, thói quen tiêu dùng… Trong đó, giá cả nổi lên như một yếu

tố có vai trò quyết định tiên quyết khi cân nhắc chọn mua sản phẩm vì ban đầu, chúng tamặc định là các sản phẩm có khả năng thay thế cho về mặt tính năng, chất lượng… Vì mọithứ hầu như giống nhau nên khách hàng sẽ có xu hướng chọn món đồ có mức giá chấp nhậnđược so với khả năng thu nhập và kế hoạch chi tiêu của họ Một khi trên thị trường có sựbiến động về giá cả, các mặt hàng cũng theo đó mà có sự điều chỉnh về giá cả cho phù hợpvới thị trường và kế hoạc sản xuất của doanh nghiệp Từ đó, sự lựa chọn của khác hàngcũng sẽ thay đổi theo mức giá và theo quy định thì mức độ thay đổi sẽ được đo lường dựatrên tỉ lệ giữa những người chuyển qua sự dụng sản phẩm khác khi có sự biến động về giá

và một lượng mẫu ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan.Nếu có sự chênh lệch lớn xảy ra, tức là trên 50% thì có thể kết luận về mức độ cạnh tranhcủa sản phẩm đó

* Đối với thị trường địa lý liên quan:

- Việc xác định khu vực không gian liên quan được thực hiện dựa trên quan điểm của người

sử dụng về khả năng thay thế cho nhau của những sản phẩm được sản xuất hoặc được muabán tại những địa điểm khác nhau Nếu người đang sử dụng sản phẩm được bán hoặc đượcsản xuất tại một địa điểm nhất định chuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác

để phản ứng lại việc tăng giá đáng kể trong một thời gian đủ dài, khi đó hai địa điểm đượcxem xét nằm trong khu vực địa lý mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, nói cách khác

là chúng có cùng thị trường địa lý liên quan và ngược lại

- Theo khoản 1 Điều 3 của Luật cạnh tranh quy định về “thị trường địa lý liên quan” Chínhtại “thị trường địa lý liên quan”, các điều kiện cạnh tranh về mặt thực tế có cơ hội được pháthuy sự ảnh hưởng thông qua một loạt các hệ thống dịch vụ cung ứng và lực lượng ngườitiêu dùng đông đảo tại khu vực địa lý đó Đồng thời, rào cản gia nhập, thời gian vận chuyển

Trang 18

và chi phí vận chuyển phát sinh khi đưa hàng hóa ra khu vực địa lý để tiêu thụ cũng là mộttrong những điều làm ảnh hưởng tới giá bán lẻ của hàng hóa.

- Theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP, mức chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển giữacác địa điểm trong khu vực được suy đoán là người tiêu dùng chấp nhận nếu nó không làmgiá bán lẻ sản phẩm tăng quá 10% Do đó, nếu chi phí vận chuyển hoặc thời gian vậnchuyển có thể làm giá bán lẻ tăng quá 10% thì việc thay đổi nhu cầu tiêu dùng sẽ không thểxảy ra…

- Vậy nên, ta có thể kết luận rằng: Cùng với thị trường sản phẩm liên quan, thị trường địa lýliên quan cũng góp phần vào việc tạo nên những yếu tố cạnh tranh cho sản phẩm của cácdoanh nghiệp, góp phần hình thành nên thị trường liên quan, nơi mà các doanh phiệp có thịphần khác nhau có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trong phạm vi sản phẩm mà họ đangsản xuất và kinh doanh

2 So sánh “lạm dụng hạn chế sản xuất” và “thoả thuận hạn chế sản xuất”?

* Giống nhau:

- Chủ thể thực hiện đều là doanh nghiệp kinh doanh theo Luật Cạnh Tranh

- Đều tác động lên thị trường liên quan

- Đều cắt giảm khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ trên thị trường liên quan so với lượnghàng hóa dịch vụ cung ứng trước đó

- Đều là cách thức mà Doanh nghiệp bóc lột khách hàng, gây bất lợi cho khách hàng

- Người tiêu dùng không thể chủ động phản ứng lại hành vi của doanh nghiệp

- Mất cân bằng cung cầu thị trường

- Đều làm lãng phí nguồn lực xã hội

* Khác nhau:

Tiêu chí Thỏa thuận hạn chế sản xuất Lạm dụng hạn chế sản xuất

Cơ sở pháp lý - Khoản 3 Điều 8 LCT 2004 - Khoản 3 Điều 13 LCT 2004

Chủ thể - Ít nhất 2 chủ thể với tư cách pháp lý

độc lập tham gia thỏa thuận Các doanhnghiệp phải hoạt động độc lập với nhau,không phải là những người liên quan củanhau theo pháp luật doanh nghiệp, khôngcùng một tập đoàn kinh doanh, không làthành viên của tổng công ty

- Doanh nghiệp có vị tríthống lĩnh, doanh nghiệp có

vị trí độc quyền

Hình thức thể

hiện - Thể hiện dưới hình thức hợp đồng,cũng có thể thể hiện dưới hình thức các

thiết chế, quy chế nghề nghiệp, nội quycủa hiệp hội hành nghề, nghiệp đoànhoặc cũng có thể là các thỏa thuận ngầm

- Thể hiện qua hành động,phản ứng, chiến lược… củadoanh nghiệp

Hành vi - Các bên thống nhất cắt, giảm khốilượng sản xuất, mua, bán hàng hóa cung

ứng dịch vụ trên thị trường liên quan sovới lượng sản xuất, mua, bán hàng hóacung ứng dịch vụ trước đó (Điều 16 NĐ

- Chủ thể giảm khả năng cungứng hàng hóa, dịch vụ trên thịtrường liên quan so với lượnghàng hóa dịch vụ cung ứngtrước đó (Đ 28 NĐ

Trang 19

116/2005) 116/2005)

Tính chất - Có sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữacác chủ thể cạnh tranh trong 1 thị trường

liên quan

- Có tính chất đơn phương ápđặt ý chí của doanh nghiệpnắm quyền lực chi phối thịtrường

Mức độ điều tiết - Là hành vi bị cấm trong trường hợp cácbên tham gia thỏa thuận có thị phần kết

hợp trên thị trường liên quan từ 30% trởlên (Điều 9 LCT)

- Là hành vi bị cấm (Điều 13,

14 LCT)

Hệ quả - Không ảnh hưởng đến vị thế của mỗidoanh nghiệp tham gia thỏa thuận. - Doanh nghiệp củng cố vịthế của mình.

3 Anh/chị hãy xác định và phân biệt các hành vi lạm dùng quyền lực thị trường gây thiệt hại cho doanh nghiệp đối thủ để duy trì và củng cố vị trí của doanh nghiệp thực hiện hành vi.

- Theo quy định tại điều 13 Luật Canh Tranh 2004 có 6 hành vi như sau:

+ Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnhtranh

+ Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tốithiểu gây thiệt hai cho khách hàng

+ Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự pháttriển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng

+ Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bấtbình đẳng trong cạnh tranh

+ Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký hợp đồng mua bán, bán hàng hoá, dịch

vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đốitượng hợp đồng

+ Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới

- Từ 6 hành vi đó được khoa học luật cạnh tranh phân thành các nhóm hành vi đặc thù dựavào đối tượng tác động:

+ Nhóm hành vi lạm dụng nhằm bóc lột khách hàng (hay hành vi lạm dụng mang tínhbóc lột- Exploitative abuses)

+ Nhóm hành vi lạm dụng nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh (hay hành vi lạm dụngmang tính độc quyền- Exclusive abuses)

+ Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai cho đối thủ cạnh tranh, vừa tác hại cho khách hàng

- Yêu cầu đề bài là các hành vi tác động tới đối thủ cạnh tranh nên chúng ta có thể phân biệtthành 2 nhóm:

Tiêu chí Nhóm hành vi lạm dụng

nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai cho đối thủ cạnh tranh, vừa tác hại cho khách hàng

Trang 20

bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnhtranh.

- Ngăn cản việc tham gia thịtrường của những đối thủcạnh tranh mới

hoá, dịch vụ

- Áp dụng điều kiện thương mại khácnhau trong giao dịch như nhau nhằm tạobất bình đẳng trong cạnh tranh

- Buộc doanh nghiệp khác chấp nhậncác nghĩa vụ không liên quan trực tiếpđến đối tượng hợp đồng

- Chúng ta sẽ đi phân tích, xác định các đặc điểm của từng hành vi trong từng nhóm để thấyđược các đặc điểm khác biệt của từng hành vi:

* Nhóm hành vi lạm dụng nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh:

- Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh(còn gọi là hành vi định giá cướp đoạt, hành vi định giá huỷ diệt)

+ Căn cứ Điều 23 Nghị Định 116/2004 ta thấy rằng hành vi doanh nghiệp có quyềnlực thị trường sẽ bán hàng, cung ứng hàng hoá dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhắm loại bỏđối thủ cạnh tranh Hành vi này gọi là định giá huỷ diệt (huỷ diệt đối thủ) hay định giá cướpđoạt (cướp đoạt thị phần) hay bán phá giá độc quyền Việc định giá thấp này không phải dựatrên những hiệu quá sản xuất tốt, hoặc chấp nhận thu lợi nhuận thấp, hành vi này định giádựa vào “khả năng chịu lỗ” gây ra phản cạnh tranh

+ Để xác định hành vi này chúng ta phải thực hiện những bước như sau: Thứ nhất,xác định giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ Giá bán hàng hoá, dịch vụ giá bán thực tếcủa doanh nghiệp trong các giao dịch với khách hàng Thứ hai, xác định giá thành sản xuấttoàn bộ Giá thành toàn bộ được hiểu là mức giá cơ bản được cấu thành tự các chi phí phátsinh trong quá trình sản xuất, lưu thông của sản phẩm và được doanh nghiệp sử dụng làmcăn cứ xác định giá bán hàng hoá, dịch vụ của mình So sánh giá bán thực tế và giá thànhtoàn bộ của sản phẩm để xác định hành vi Theo quy định của pháp luật cạnh tranh hiệnhành việc ấn định mức giá gây lỗ mặc nhiên bị coi là vi phạm không cần quan tâm tới cácyếu tố khách quan khác

- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới

+ Ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới là hành vi tao

ra những rào cản về giá hoặc về nguồn tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu trên thị trường liênquan Để xác định cần thực hiện những bước sau: Thứ nhất, cần xác định rõ đối thủ cạnhtranh mới Thứ hai, xác định các rào cản của sự gia nhập Theo kinh tế học có hai loại ràocản:

 Rào cản cơ cấu: những nhân tố ngăn chặn sự nhập cuộc của doanh nghiệp tiềmnăng

 Rào cản chiến lược: hành vi trong chiến lược của các doanh nghiệp đang hoạtđộng trên thị trường nhằm ngăn cản sự gia nhập của các doanh nghiệp tiềm năng

+ Theo điều 31 Nghị Định 116/2004 các hành vi cụ thể như sau:

 Các chiến lược tẩy chay khách hàng bằng cách yêu cầu khách hàng của mìnhkhông giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới

 Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược thiết lập rào cản chiều dọc bằng cách

đe doạ và cưỡng ép nhà phân phối, các của hàng bán lẻ không chấp nhận phân phối nhữngmặt hàng của đối thủ cạnh tranh mới

 Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược ngăn cản qua giá bằng cách bán hànghoá với mức giá đủ đế đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập thị trường nhưng không thuộctrường hợp của hành vi định giá dưới giá thành toàn bộ

Trang 21

+ Thứ ba, mặc dù một trong những căn cứ để xác định vi phạm là đã ngăn cản sự gianhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới, nhưng thực tế cơ quan có thẩm quyền chỉ cầnxác định được đã thực hiên hay chưa không cần quan tâm đã hoàn thành hay chưa.

* Nhóm hành vi vừa gây thiệt hai cho đối thủ cạnh tranh, vừa tác hại cho khách hàng:

- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký hợp đồng mua bán, bán hàng hoá, dịch vụ.+ Căn cứ Khoản 1 Điều 30 Nghị Định 116/2004, cấu thành pháp lý của hành vi nàygồm các yếu tố sau: Thứ nhất, doanh nghiệp đã buộc khách hàng khi mua, bán hàng hoá,dịch vụ phải chấp các điều kiện có nội dung hạn chế cạnh tranh Thứ hai, các điều kiện đượcđưa ra phải là điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ

- Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượnghợp đồng

+ Căn cứ khoản 2 điều 30 Nghị Định 116/2005, cấu thành pháp lý của hành vi nàygồm các yếu tố sau: Thứ nhất, hành vi này đã hình thành nên các hợp đồng mua bán kèm.Việc mua bán kèm là điều kiện tiên quyết để khách hàng mua hàng Thứ hai, đối tượngchính và đối tượng phụ trong hợp đồng mua bán không liên quan trực tiếp với nhau

- Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bìnhđẳng trong cạnh tranh

+ Căn cứ Điều 29 Nghị Định 116/2005, cấu thành pháp lý của hành vi này gồm cácyếu tố sau: Thứ nhất, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã áp dụng các điều kiện mua bán,giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng khác nhau trong những giao dịch như nhau Thứ hai,hành vi gây ra tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng giữa các khách hàng Nhưng một cáchgián tiếp tác động tới lợi ích của doanh nghiệp cạnh tranh

Căn cứ điều 23 NĐ 116/2005 Những đặc điểm nhậndiện:

- Đặt giá thấp hơn giá thành, chấp nhận thua lỗ trongmột khoảng thời gian

- Việc đặt giá thấp không vì lý do chính đáng

- Mục đích để loại bỏ đối thủ, chiếm lĩnh thị trườngsau đó thu hồi lỗ thông quá việc tăng giá

- Hành vi độc lập, không cần liên hệ với đối tượng nàokhác

Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh

Căn cứ điều 31 NĐ 116/2005 Tạo ra rào cản:

- Yêu cầu khách hàng không giao dịch với đối thủ

- Tạo ra sự uy hiếp đối với bên phân phối tạo ra ràocản tiêu thụ

- Đạt giá thấp vừa đủ để đối thủ không thể gia nhập thịtrường

Ngày đăng: 03/01/2019, 20:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w