1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định thị trường liên quan theo pháp luật cạnh tranh

60 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác Định Thị Trường Liên Quan Theo Pháp Luật Cạnh Tranh
Tác giả Đặng Thị Thu Thảo
Người hướng dẫn ThS. Đặng Quốc Chương
Trường học Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN (9)
    • 1.1. Khái quát về thị trường (9)
      • 1.1.1. Khái niệm (9)
      • 1.1.2. Phân loại thị trường (11)
    • 1.2. Khái quát về thị trường liên quan (13)
      • 1.2.1. Khái niệm thị trường liên quan (13)
      • 1.2.2. Xác định thị trường liên quan (19)
    • 1.3. Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan đối với việc thực thi pháp luật cạnh tranh (25)
      • 1.3.1. Đối với việc xác định đối thủ cạnh tranh, xác định thị phần (26)
      • 1.3.2. Đối với việc đánh giá hành vi hạn chế cạnh tranh (27)
  • CHƯƠNG 2. XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM (31)
    • 2.1. Tiêu chí xác định thị trường liên quan (31)
      • 2.1.1. Tiêu chí xác định thị trường sản phẩm liên quan (31)
      • 2.1.2. Tiêu chí xác định thị trường địa lý liên quan (41)
    • 2.2. Phương pháp xác định thị trường liên quan (44)
      • 2.2.1. Phương pháp xác định thị trường sản phẩm liên quan (44)
      • 2.2.2. Phương pháp xác định thị trường địa lý liên quan (51)
    • 2.3. Định hướng hoàn thiện quy định pháp luật về xác định thị trường liên (0)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN

Khái quát về thị trường

Theo quan điểm kinh tế chính trị Mác - Lênin, hàng hóa là sản phẩm được sản xuất ra để phục vụ nhu cầu của con người và mục đích bán ra thị trường Sản xuất hàng hóa hình thành khi có sự phân công lao động xã hội và tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa các nhà sản xuất, thúc đẩy quá trình trao đổi hàng hóa Nhiều nhà sản xuất sở hữu các loại hàng hóa khác nhau để đáp ứng nhu cầu của người khác mà chính họ không thể tự sản xuất, tạo ra hoạt động trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân và cộng đồng Thị trường xuất hiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, là nơi diễn ra hoạt động mua bán và trao đổi sản phẩm, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa trong xã hội.

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về thị trường Theo nghĩa hẹp

Thị trường thông thường là bất kỳ không gian nào diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ, nơi người mua và người bán gặp gỡ để trao đổi hàng hóa Mặc dù nhiều người hình dung thị trường như một cái chợ, nhưng cách nhìn đó quá hẹp vì chỉ tập trung vào khía cạnh địa lý của thị trường, phù hợp với nền kinh tế chưa phát triển Trong nền kinh tế hiện đại, việc mua bán không còn bị giới hạn bởi vị trí địa lý, khi các bên có thể giao dịch qua fax, điện thoại, thư điện tử và các phương tiện truyền thông khác.

1 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2007), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nhà xuất bản (NXB) Chính trị quốc gia, tr 33

2 David W.Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia, tr 632

Trong thị trường hiện đại, người bán và người mua không nhất thiết phải gặp trực tiếp để trao đổi hàng hóa, vì hàng hóa có thể được vận chuyển từ nơi này sang nơi khác mà không bị giới hạn về không gian Thị trường được hiểu rộng hơn là nơi trao đổi hàng hóa được sản xuất ra và hình thành trong quá trình sản xuất, cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa người với người liên kết qua hoạt động trao đổi hàng hóa Nội dung của thị trường không chỉ nằm ở phạm vi không gian mà còn thể hiện qua các mối quan hệ, tác động của các yếu tố liên quan, tạo thành một môi trường trao đổi hoạt động theo các quy luật kinh tế Thị trường là nền tảng kết hợp các hoạt động kinh tế, thúc đẩy quá trình trao đổi hàng hóa và hình thành các cơ chế cạnh tranh, hợp tác giữa các chủ thể kinh tế.

Trong marketing hiện đại, thị trường được định nghĩa là tập hợp tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm năng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng trao đổi để đáp ứng những nhu cầu đó Thị trường hình thành khi một nhu cầu hoặc mong muốn gặp điều kiện thuận lợi như khả năng thanh toán, khả năng thực hiện giao dịch và mong muốn trao đổi Mặc dù tham gia thị trường cần có cả người bán và người mua, nhưng các nhà marketing coi người bán là ngành sản xuất cung ứng, còn người mua chính là các thành viên tạo thành thị trường.

Dưới góc độ kinh tế học, thị trường là nơi các nhà kinh doanh xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, vì nơi nào có nhu cầu và lợi nhuận thì các doanh nghiệp sẽ tập trung Người tiêu dùng ngày nay không còn phải xếp hàng mua nhu yếu phẩm như thời kỳ bao cấp, mà thay vào đó, các nhà kinh doanh luôn hướng tới việc phục vụ nhu cầu của khách hàng một cách tối ưu Thị trường là sự gặp gỡ giữa sở thích của người tiêu dùng và khả năng công nghệ của người sản xuất, phản ánh mối quan hệ giao thoa giữa các bên Cả nhà cung cấp và người tiêu dùng đều bị ảnh hưởng bởi các quy luật thị trường như quy luật giá trị, cung-cầu, cạnh tranh, giúp điều chỉnh và giải quyết các xung đột về giá cả và lượng cung cầu Trong đó, nhà sản xuất mong muốn bán hàng với giá cao để tối đa hóa lợi nhuận, còn người tiêu dùng mong muốn mua hàng với giá rẻ, nhưng họ phải tuân thủ các quy luật thị trường để đảm bảo sự cân bằng toàn diện.

3 Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (1998), Đại từ điển kinh tế thị trường, tr 114

4 Đại học Kinh tế - Luật (2010), Giáo trình luật cạnh tranh, NXB Đại học quốc gia TP HCM, tr 14

Thị trường như “một chiếc cầu nối” giữa cung và cầu, giúp các nhà sản xuất và kinh doanh xác định nhu cầu khách hàng để giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì? Cho ai? Bằng cách nào? Nắm bắt thông tin về thị trường còn giúp người tiêu dùng biết ai đáp ứng tốt nhu cầu của mình, mức độ hài lòng, khả năng thanh toán Việc trả lời các câu hỏi này giúp cả người bán và người mua xác định chính xác thị trường của mình nhằm đạt được lợi ích tối ưu Trong khuôn khổ nghiên cứu, khái niệm thị trường được xem như một phạm trù kinh tế, tồn tại dựa trên sự tác động qua lại giữa cung và cầu dưới ảnh hưởng của các quy luật kinh tế.

Việc phân loại thị trường giúp xác định rõ mục đích và nội dung phân tích Hiện nay, có nhiều tiêu chí phân loại thị trường dựa trên các quan điểm khác nhau như marketing, kinh tế học và lĩnh vực cạnh tranh Các phương pháp phân loại này giúp doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu hiểu rõ đặc điểm, khách hàng mục tiêu cũng như các yếu tố cạnh tranh trong từng loại thị trường.

1.1.2.1 Phân loại thị trường theo quan điểm marketing

Theo quan điểm marketing hiện đại, thị trường tồn tại dưới dạng các nhu cầu của người tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thị trường mục tiêu của doanh nghiệp Thị trường mục tiêu được hiểu là tập hợp các khách hàng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà công ty có khả năng đáp ứng, đồng thời mang lại lợi thế cạnh tranh và đạt được mục tiêu kinh doanh Một bước quan trọng để xác định thị trường mục tiêu là tiến hành phân khúc thị trường, tức là chia thị trường thành các phần nhỏ dựa trên đặc điểm về nhu cầu, hành vi tiêu dùng, khu vực địa lý hoặc phân khúc khách hàng như miền Bắc, Trung, Nam hay bình dân, trung lưu, thượng lưu Các khúc thị trường này chứa các hàng hóa phù hợp với nhu cầu cụ thể, giúp doanh nghiệp tối ưu lợi nhuận, giảm cạnh tranh và lựa chọn chính xác thị trường mục tiêu phù hợp với chiến lược kinh doanh của mình.

5 Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình marketing căn bản, NXB Lao Động, tr 108

1.1.2.2 Phân loại theo quan điểm kinh tế học, lĩnh vực cạnh tranh

Trong lĩnh vực kinh tế học và cạnh tranh, một tiêu chí quan trọng để phân loại thị trường dựa trên mức độ cạnh tranh Mức độ cạnh tranh được đánh giá dựa trên cấu trúc của thị trường, bao gồm các yếu tố như số lượng người mua và bán, loại hàng hóa được sản xuất, và bản chất của các rào cản gia nhập thị trường Dựa trên tiêu chí này, thị trường được phân thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, phản ánh mức độ tự do và cạnh tranh trong hoạt động kinh tế.

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là mô hình lý tưởng với bốn đặc điểm chính, bao gồm số lượng lớn người bán và người mua, đảm bảo rằng lượng cung của mỗi doanh nghiệp là rất nhỏ so với tổng cung trên thị trường Doanh nghiệp có thể dễ dàng tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường khi cần thiết, tạo ra sự linh hoạt và cạnh tranh công bằng Các sản phẩm của các doanh nghiệp trong thị trường này phải hoàn toàn đồng nhất và có khả năng thay thế nhau, giúp người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn Ngoài ra, cả người mua và người bán đều nắm bắt chính xác thông tin về giá cả và thị trường, tạo điều kiện cho sự minh bạch và công bằng trong hoạt động kinh doanh.

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là loại thị trường không đáp ứng đầy đủ bốn đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo, gây ra sự khác biệt về quyền lực và cạnh tranh Trong loại thị trường này, tồn tại các dạng thị trường như độc quyền hoàn toàn, độc quyền nhóm và cạnh tranh độc quyền, tạo ra môi trường kinh doanh đa dạng và phức tạp Các hình thức thị trường này ảnh hưởng lớn đến cách các doanh nghiệp hoạt động, giá cả và mức độ cạnh tranh trên thị trường Hiểu rõ về đặc điểm của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo giúp các doanh nghiệp và nhà quản lý đưa ra chiến lược phù hợp để tận dụng cơ hội và đối phó với rủi ro.

Thị trường độc quyền hoàn toàn là thị trường có một doanh nghiệp duy nhất chiếm lĩnh toàn bộ hoạt động kinh doanh, trong khi số lượng người mua vẫn rất lớn Do doanh nghiệp này cung cấp một loại sản phẩm độc quyền, không có sản phẩm thay thế gần nhất, điều này tạo ra sự khác biệt rõ ràng và duy nhất trên thị trường Rào cản gia nhập thị trường rất cao, khiến các doanh nghiệp khác khó lòng tham gia vào hoạt động sản xuất hàng hóa độc quyền này.

Thị trường cạnh tranh độc quyền là loại thị trường có nhiều người bán và người mua, cung cấp các sản phẩm có thể thay thế gần nhất nhưng không hoàn toàn thay thế được, chẳng hạn như xà phòng và dầu gội đầu Chính những đặc điểm này khiến giá cả sản phẩm trên thị trường không chênh lệch nhiều, dù có sự khác biệt Thị trường cạnh tranh độc quyền còn đặc trưng bởi sự không tồn tại rào cản gia nhập, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mới tham gia và cạnh tranh.

Thị trường cạnh tranh độc quyền nhóm là loại thị trường có ít người bán, nhiều người mua, và các doanh nghiệp chiếm thị phần lớn Các sản phẩm của các hãng khác nhau có thể đồng nhất hoặc khác biệt hoàn toàn, đồng thời có khả năng thay thế lẫn nhau Thị trường này thường tồn tại nhiều rào cản gia nhập, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp duy trì vị thế độc quyền nhóm.

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo hiện nay rất khó tồn tại, thay vào đó, thị trường chủ yếu hoạt động dưới hình thức cạnh tranh không hoàn hảo Trong thị trường này, các doanh nghiệp có khả năng nắm giữ quyền lực thị trường ở nhiều mức độ khác nhau, dẫn đến cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Mặc dù cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích như thúc đẩy đổi mới và cải thiện chất lượng sản phẩm, nhưng nó cũng đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp trong việc duy trì vị thế trên thị trường.

Khái quát về thị trường liên quan

1.2.1 Khái niệm thị trường liên quan

Thị trường là một khái niệm phức tạp, đã dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của nó Trong cạnh tranh, các nhà kinh doanh luôn ganh đua để giành lợi ích tối đa, mở rộng thị trường, thu hút khách hàng và đạt được mục tiêu lợi nhuận Để phản ánh đúng môi trường cạnh tranh, khái niệm thị trường liên quan (relevant market) được hình thành nhằm thể hiện mức độ cạnh tranh giữa các sản phẩm và doanh nghiệp Khái niệm thị trường liên quan thường được sử dụng trong pháp luật cạnh tranh, đặc biệt trong các quy định về hạn chế cạnh tranh.

Luật mẫu về cạnh tranh của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) có định nghĩa:

Thị trường liên quan đề cập đến các điều kiện chung nơi người bán và người mua trao đổi hàng hóa, xác định các ranh giới của nhóm người bán và người mua trong đó cạnh tranh có thể bị hạn chế Nó đòi hỏi phân định rõ về sản phẩm, khu vực địa lý và hàng hóa cụ thể, qua đó người mua và người bán tương tác để thiết lập giá cả và sản lượng đầu ra Thị trường liên quan bao gồm tất cả các sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế hợp lý, cùng với các đối thủ cạnh tranh gần đó mà người tiêu dùng có thể chuyển sang trong ngắn hạn nếu sự hạn chế hoặc lạm dụng làm tăng giá đáng kể.

6 United Nations Conference on Trade and Development (2010), Model Law on Competition - Chapter II, page 2

Thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa dựa trên các điều kiện chung nhất, bao gồm các sản phẩm có khả năng thay thế lẫn nhau Nó còn phản ánh lãnh thổ địa lý nơi các hoạt động cạnh tranh diễn ra, tạo thành môi trường tương tác giữa cung và cầu Thị trường không chỉ là nơi hình thành giá cả mà còn là không gian doanh nghiệp phải đối mặt với những cạnh tranh khốc liệt.

Thị trường liên quan trong cạnh tranh và thị trường mục tiêu trong marketing không đồng nhất với nhau, với giới hạn của thị trường mục tiêu thường hẹp hơn Ví dụ, thị trường mục tiêu của một công ty là kem đánh răng dành cho trẻ em, nhưng trên thị trường kem đánh răng dành cho trẻ em, còn cạnh tranh với các loại kem khác như kem đánh răng thông thường hoặc y khoa, nên không thể xem kem đánh răng cho trẻ em là một thị trường liên quan riêng Tuy nhiên, việc phân khúc thị trường giúp xác định thị trường liên quan, như ví dụ về thị trường bia tại Liên minh Châu Âu, chia thành hai phân khúc pháp lý khác nhau: thị trường bia uống tại điểm bán và thị trường bia bán nhưng không uống ngay tại điểm bán Như vậy, hai phân khúc này được xem như hai thị trường bia riêng biệt, cho thấy việc xác định thị trường mục tiêu giúp nhận diện sự phức tạp trong defining thị trường liên quan, nhưng hai khái niệm vẫn không hoàn toàn đồng nhất.

Thị trường liên quan không phải là những thị trường phân loại theo các tiêu chí như thị trường chung hay theo ngành sản xuất như may mặc hay ô tô Thị trường liên quan có thể là một thị trường nhỏ trong một ngành kinh tế lớn hơn Dù có các cách diễn đạt khác nhau, nhưng điểm chung của thị trường liên quan là bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Khi phân tích thị trường liên quan, cần xem xét cả hai mặt này đồng thời vì chúng là hai yếu tố không thể tách rời trong quá trình đánh giá.

1.2.1.1 Thị trường sản phẩm liên quan

Ủy ban châu Âu xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh là tập hợp các sản phẩm và dịch vụ có thể thay thế cho nhau dựa trên đặc điểm, giá cả và mục đích sử dụng của người tiêu dùng Thị trường sản phẩm liên quan bao gồm tất cả những mặt hàng được xem là có khả năng thay thế lẫn nhau, tạo nền tảng cho việc đánh giá cạnh tranh và xác định quyền lực thị trường trong chính sách cạnh tranh của EU Quy định này giúp làm rõ phạm vi của các sản phẩm và dịch vụ liên quan, từ đó hỗ trợ công tác kiểm tra và xử lý các vi phạm cạnh tranh.

Trong bài viết của Nguyễn Thanh Tú và Phan Huy Hồng, tác giả phân tích các bất cập trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam dựa trên một vụ việc điển hình, nhấn mạnh những khó khăn và thách thức trong việc bảo vệ cạnh tranh lành mạnh Bài viết chỉ ra rằng, còn tồn tại nhiều hạn chế trong quy trình xử lý vụ việc, dẫn đến hiệu quả thực thi pháp luật chưa cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thị trường cạnh tranh bình đẳng Tác giả đề xuất cần cải thiện hệ thống pháp luật, tăng cường năng lực cho các cơ quan thực thi, và nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan để thúc đẩy môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh công bằng hơn.

Thị trường sản phẩm liên quan được hiểu là thị trường bao gồm các nhóm hàng hóa, dịch vụ có khả năng thay thế cho nhau dựa trên đặc điểm, mục đích và mức giá của chúng theo quan điểm của người tiêu dùng Nó gồm thị trường hàng hóa liên quan và thị trường dịch vụ liên quan, thể hiện rõ sự liên kết về chức năng và đối tượng khách hàng Theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp và Ủy Ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ, cách xác định thị trường sản phẩm liên quan dựa trên khả năng thay thế và cạnh tranh giữa các sản phẩm, nhằm xác định phạm vi cạnh tranh trong hoạt động sáp nhập và cạnh tranh thị trường.

Khi một sản phẩm do công ty nhận sáp nhập bán ra cạnh tranh với các sản phẩm của các công ty khác, cơ quan quản lý xác định thị trường sản phẩm liên quan để đánh giá mức độ cạnh tranh Thị trường sản phẩm liên quan bao gồm nhóm các sản phẩm thay thế cùng với sản phẩm A, giúp xác định phạm vi cạnh tranh một cách chính xác Việc xác định nhiều thị trường sản phẩm liên quan là cần thiết để có cái nhìn toàn diện về cạnh tranh trong ngành.

Thị trường sản phẩm liên quan là tập hợp các hàng hóa, dịch vụ có đặc tính riêng biệt nhưng có khả năng thay thế cho nhau, tạo thành một nhóm cạnh tranh Không phải tất cả các sản phẩm đều thuộc cùng thị trường liên quan, mà chỉ bao gồm những sản phẩm có cạnh tranh tương đối mạnh với nhau, dễ dàng thay thế trong mắt người tiêu dùng Khả năng thay thế giữa các sản phẩm là tiêu chí chính để xác định thị trường sản phẩm liên quan, và có thể chia thành hai loại: các sản phẩm thay thế hoàn hảo và các sản phẩm thay thế hợp lý theo một số tiêu chí nhất định.

Hàng hóa và dịch vụ chỉ được coi là hoàn hảo khi chúng hoàn toàn đồng nhất về mọi mặt như chất lượng, hình thức bên ngoài, quy trình công nghệ, thành phần cấu tạo và mục đích sử dụng Ví dụ, giày không thể thay thế hoàn toàn dép hoặc guốc do mỗi loại có đặc điểm và thành phần khác nhau Tiêu chí này rất khó đạt được trong thực tế ngoài thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi không có sự độc quyền hay bất kỳ quyền lực nào chi phối các quan hệ thị trường Trong thị trường cạnh tranh, các hàng hóa và dịch vụ phải đồng nhất để đáp ứng tiêu chuẩn về thay thế hoàn hảo, nhưng điều này ít xảy ra trong thực tế do sự đa dạng và phân biệt của các sản phẩm.

8 European Commision, Notice on the definition of relavent market for the purposes of commuinity competition law 12/1997, paragraph 7

9 Horizontal meger guidlines U.S department of Justice and the Federal Trade Commision 1992, revised

Việc xác định các sản phẩm thay thế hoàn hảo rất khó khăn bởi vì các nhà kinh doanh thường tạo ra những sản phẩm khác biệt để duy trì ưu thế cạnh tranh và xây dựng quyền lực trên thị trường Điều này giúp doanh nghiệp khẳng định vị trí của mình và hạn chế khả năng thay thế từ phía khách hàng Sự khác biệt trong sản phẩm là một chiến lược quan trọng để doanh nghiệp duy trì lợi thế cạnh tranh lâu dài.

Trong quá trình xác định thị trường liên quan, việc dựa vào tính thay thế hoàn hảo của sản phẩm thường gặp khó khăn do không dễ dàng tìm ra sản phẩm nào hoàn toàn thay thế được cho nhau Các sản phẩm không giống hệt nhau mới được xếp vào cùng một thị trường liên quan, như trong ví dụ về “que diêm và bật lửa dùng một lần” của Ủy ban Độc quyền và Sáp nhập Anh, nơi họ xem chúng là các mặt hàng thay thế tốt cho nhau vì khách hàng coi chúng như là sự lựa chọn thay thế phù hợp Tuy nhiên, để các doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa giống hệt nhau là điều không dễ dàng trong môi trường cạnh tranh ngày nay, do các doanh nghiệp luôn cố gắng tạo ra sự khác biệt và nét độc đáo riêng để đáp ứng đa dạng nhu cầu và thu hút khách hàng Theo nhà kinh tế học Edward H Chamberlin, mỗi sản phẩm mang tính độc đáo dựa trên các đặc điểm riêng như thương hiệu, chất lượng, hay dịch vụ, điều này thể hiện tính độc quyền của sản phẩm Ngay cả khi sản phẩm cùng loại, các doanh nghiệp vẫn không ngừng nỗ lực tạo ra sự khác biệt để duy trì vị thế cạnh tranh, khiến hàng hóa và dịch vụ thay thế cho nhau về đặc điểm, mục đích và giá cả, dựa trên sự sử dụng chủ yếu của người tiêu dùng.

Khả năng thay thế giữa các sản phẩm dựa trên khả năng thay thế về cầu và về cung, trong đó khả năng thay thế về cầu thể hiện mức độ người tiêu dùng sẵn sàng chuyển đổi sản phẩm này sang sản phẩm khác Khi khả năng thay thế về cầu cao, cạnh tranh trên thị trường diễn ra cực kỳ gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cẩn trọng trong các quyết định kinh doanh của mình Khả năng thay thế về cầu được đo lường bằng độ co giãn chéo của cầu, phản ánh chính xác mức độ nhạy cảm của người tiêu dùng với sự thay đổi về giá giữa các sản phẩm cạnh tranh.

10 Office of Federal Trading (1998), Guide to the provision of the competition Act Maket Definition, section 3.5

11 Dẫn theo Nguyễn Ngọc Sơn, Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11(63) T11/2005, tr 25

Trên cơ sở luận văn thạc sĩ luật học của Trần Hoàng Nga (2004), nội dung pháp luật Việt Nam về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền đang đối mặt với thực trạng cần được phân tích và so sánh với một số quốc gia khác Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm hạn chế các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, từ đó nâng cao hiệu quả cạnh tranh trên thị trường Việt Nam Các tiêu chuẩn pháp lý hiện hành cần được cập nhật phù hợp với thông lệ quốc tế để đảm bảo sự công bằng và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững Đồng thời, việc nghiên cứu so sánh pháp luật giữa Việt Nam và các nước có hệ thống pháp luật phát triển hơn góp phần đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát và xử lý các hành vi lợi dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền.

Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan đối với việc thực thi pháp luật cạnh tranh

Việc xác định thị trường liên quan trong luật cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình điều tra hành vi lạm dụng Cục Thương mại Công bằng của Anh nhấn mạnh rằng “định nghĩa thị trường là bước rất cần thiết trong mọi cuộc điều tra về hành vi lạm dụng”, vì nó hình thành nền tảng để đánh giá mức độ cạnh tranh và các thao túng thị trường Chính xác việc xác định thị trường liên quan giúp xác định rõ phạm vi và ảnh hưởng của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

21 phần chỉ được tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định

Việc xác định chính xác thị trường liên quan là bước quan trọng hàng đầu trong quá trình xử lý các vụ việc cạnh tranh Nếu thị trường bị xác định sai, tất cả các phân tích dựa trên thị phần hoặc cấu trúc thị trường sau đó đều sẽ thiếu chính xác và không đầy đủ Do đó, xác định thị trường liên quan đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo các phân tích cạnh tranh đúng đắn và hiệu quả.

1.3.1 Đối với việc xác định đối thủ cạnh tranh, xác định thị phần

1.3.1.1 Xác định đối thủ cạnh tranh

Xác định thị trường liên quan đầy đủ chỉ khi nắm rõ tất cả các doanh nghiệp, hay còn gọi là đối thủ cạnh tranh, hoạt động trong thị trường đó để đánh giá sức mạnh và khả năng cản trở cạnh tranh của từng doanh nghiệp Theo lý thuyết cạnh tranh, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau dựa trên việc xác định sự tồn tại của thị trường liên quan, trong đó các doanh nghiệp có cùng mục đích và là đối thủ cạnh tranh của nhau khi hoạt động trong cùng một thị trường liên quan Trên thị trường liên quan, các đối thủ cạnh tranh bao gồm cả đối thủ trực tiếp và đối thủ tiềm năng, nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp tham gia đều là đối thủ của nhau, chỉ những doanh nghiệp trong cùng thị trường liên quan mới có mối quan hệ cạnh tranh trực tiếp.

Quá trình xác định thị trường liên quan giúp xác định các công ty cạnh tranh trong cùng một lĩnh vực và khu vực địa lý, từ đó đánh giá khả năng hạn chế kiểm soát giá của nhà độc quyền Xác định thị trường sản phẩm liên quan gồm việc nhận diện các loại sản phẩm có khả năng thay thế và cạnh tranh với nhau, đồng thời xác định các doanh nghiệp sản xuất, phân phối các sản phẩm này Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp đều thuộc thị trường liên quan nếu không đáp ứng các điều kiện về địa lý liên quan Xác định thị trường địa lý liên quan giúp giới hạn các doanh nghiệp có sản phẩm liên quan và thực sự cạnh tranh trong cùng một khu vực Khi hoàn tất quá trình này, số lượng doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh trong thị trường cũng sẽ được xác định rõ ràng, đảm bảo việc phân tích thị trường chính xác và hiệu quả.

29 Trích theo David Harbord và Georg von Gravenitz, Định nghĩa thị trường trong các vụ điều tra cạnh tranh trong thương mại, tài liệu hội thảo, Hà Nội, năm 2004

30 Đại học Kinh tế - Luật, tlđd (4), tr 12

31 United Nations Conference on Trade and Development (2000), Model Law on Competition, box 2, page

Việc xác định thị trường liên quan có ảnh hưởng đáng kể đến số lượng các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Điều này giúp việc phân tích cạnh tranh trở nên chính xác hơn, đồng thời xác định rõ các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một thị trường liên quan là yếu tố quan trọng để xây dựng chiến lược cạnh tranh hiệu quả.

Theo Luật Cạnh tranh năm 2004, thị phần của doanh nghiệp trên thị trường được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán hàng hoặc doanh số mua vào của doanh nghiệp đó so với tổng doanh thu hoặc doanh số của các doanh nghiệp cùng loại trên thị trường liên quan trong một khoảng thời gian nhất định Thị phần kết hợp phản ánh tổng thị phần của các doanh nghiệp tham gia vào các thoả thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế trên thị trường liên quan Việc xác định thị trường liên quan là điều kiện tiên quyết để tính toán chính xác thị phần của từng doanh nghiệp, qua đó giúp cơ quan cạnh tranh đánh giá mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành.

Thị trường có sự biến đổi sẽ làm thay đổi số lượng doanh nghiệp tham gia và ảnh hưởng đến thị phần của các sản phẩm Thị phần của các sản phẩm cạnh tranh trong thị trường hạn hẹp phản ánh chính xác hơn mức độ cạnh tranh gần gũi giữa các sản phẩm thay thế Khi phạm vi các sản phẩm thay thế được mở rộng hoặc thu hẹp, tổng doanh số của các sản phẩm trên thị trường cũng thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến tính toán thị phần của doanh nghiệp Trong thị trường rộng, thị phần của một doanh nghiệp thường nhỏ hơn do số lượng cạnh tranh tăng lên, còn khi thị trường hẹp lại, thị phần của doanh nghiệp sẽ lớn hơn vì số lượng đối thủ giảm đi.

1.3.2 Đối với việc đánh giá hành vi hạn chế cạnh tranh

Khi phân tích vai trò của thị trường liên quan, chúng ta nhận thấy rằng khái niệm này không áp dụng cho các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, nhưng lại ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thực thi pháp luật Thị trường liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng giải pháp đối với các vụ việc hạn chế cạnh tranh, bởi vì đối tượng bị xâm hại trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính là nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

32 Khoản 5, Điều 3 Luật Cạnh Tranh năm 2004

33 Horizontal meger guidlines U.S department of Justice and the Federal Trade Commision 1992, revised

Xác định hành vi hạn chế cạnh tranh dựa trên chủ thể bị xâm hại là cách tiếp cận chủ đạo trong luật cạnh tranh Việt Nam, trong đó hành vi này bao gồm các hoạt động như thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế Sức mạnh thị trường đóng vai trò trung tâm trong việc đánh giá tính chất và mức độ xâm hại cạnh tranh, vì nó ảnh hưởng đến khả năng tăng giá, giới hạn lựa chọn của người tiêu dùng và đe dọa lợi ích của người tiêu dùng Việc xác định thị trường liên quan là bước thiết yếu để đánh giá sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, dựa vào mức độ và tính chất cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ thay thế lẫn nhau Trong thực tế, pháp luật không cấm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hay độc quyền, mà chỉ cấm hành vi lạm dụng vị trí đó để chi phối thị trường, do đó việc xác định thị trường liên quan là yếu tố bắt buộc trong quá trình xử lý các vụ việc cạnh tranh Việt Nam chỉ sử dụng yếu tố thị phần để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm; thị trường liên quan càng hẹp thì doanh nghiệp càng dễ bị coi là có vị trí thống lĩnh và khả năng gây hạn chế cạnh tranh càng lớn Thị trường liên quan nhỏ giúp nâng cao sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, cho phép họ tăng giá mà không sợ cạnh tranh từ các sản phẩm thay thế.

34 Khoản 3, Điều 2 Luật Cạnh tranh năm 2004

35 United Nations Conference on Trade and Development (2010), Model Law on Competition, Chapter II

36 Cục quản lý cạnh tranh (2012), Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2012, Hà Nội, tr 50

Các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tham gia vào thị trường này do mức độ tập trung cao, đặc biệt khi các nước sử dụng các chỉ số như CR và HHI (Hirschmann-Herfindahl) để tính toán tổng thị phần của các doanh nghiệp trong quá trình tập trung kinh tế Hai chỉ số này dựa trên thị phần của từng doanh nghiệp, giúp đánh giá mức độ tập trung và cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, việc xác định thị trường liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá xem hành vi tập trung kinh tế có hợp pháp hay không, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và hạn chế độc quyền.

Việc xác định thị trường liên quan là bước đi then chốt trong hạn chế cạnh tranh Pháp luật cạnh tranh Việt Nam quy định rõ tầm quan trọng của việc này như là bước điều tra đầu tiên trong quá trình xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh Theo Khoản 1 Điều 89 Luật Cạnh tranh 2004, việc điều tra chính thức đối với các hành vi như thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế bao gồm nội dung xác định thị trường liên quan để đảm bảo việc xử lý đúng quy trình và đúng đối tượng.

Trong quá trình điều tra thị trường liên quan, việc xác minh thị phần của bên bị điều tra là bước quan trọng nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng và phạm vi thị trường Đồng thời, thu thập và phân tích chứng cứ về hành vi vi phạm giúp làm rõ các hoạt động có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh Những bước này đảm bảo quá trình xác minh thị trường liên quan diễn ra minh bạch, chính xác và phù hợp với quy định pháp luật cạnh tranh.

Việc xác định thị trường liên quan một cách thích hợp là yếu tố then chốt giúp cơ quan điều tra đưa ra quyết định chính xác Khi đã xác định được thị trường liên quan, họ có thể tính toán thị phần của doanh nghiệp đang điều tra để đánh giá hành vi có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không Nếu hành vi đó vi phạm, cơ quan sẽ tiếp tục các bước điều tra tiếp theo; còn nếu không, họ có thể ngừng điều tra mà không cần tiến hành các bước bổ sung, tiết kiệm thời gian và nguồn lực cho quá trình xử lý vụ việc.

Việc xác định thị trường liên quan có ảnh hưởng lớn đến kết quả giải quyết các vụ việc hạn chế cạnh tranh, bởi nó ảnh hưởng đến vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Sai lệch trong xác định giới hạn thị trường liên quan dẫn đến đánh giá thị phần và sức mạnh thị trường không chính xác, gây ra những quyết định không đúng đắn của cơ quan xử lý Trong vụ án của công ty DuPont về giấy bóng kính, Bộ Tư pháp Mỹ cáo buộc công ty này có sức mạnh thị trường với 75% thị phần, nhưng Tòa án xác định thị trường liên quan bao gồm tất cả các loại vật liệu đóng gói linh hoạt, nơi DuPont chỉ chiếm dưới 20% thị phần Do đó, Tòa án kết luận rằng DuPont không lạm dụng vị trí chi phối thị trường, cho thấy rằng việc xác định giới hạn thị trường liên quan không chính xác đã dẫn đến phán quyết sai lầm.

37 Office of Federal Trading, tlđd (10), section 2.3

Trong chương này, tác giả đã trình bày cái nhìn tổng quan về thị trường liên quan qua các lý luận và phân tích chuyên sâu Tác giả bắt đầu từ những vấn đề lý luận chung về khái niệm thị trường, xem xét từ nhiều quan điểm và góc độ khác nhau để phản ánh đúng bản chất thị trường liên quan Đồng thời, tác giả đề cập đến cách phân loại thị trường dựa trên các lĩnh vực marketing, kinh tế và cạnh tranh, nhằm cung cấp nền tảng phân tích thị trường liên quan một cách toàn diện Những nội dung này đóng vai trò nền tảng để hình thành khái niệm thị trường liên quan trong lĩnh vực cạnh tranh và phát triển chiến lược kinh doanh hiệu quả.

XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2007), Giáo trình kinh tế chính trị Mác – lê-nin, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác – lê-nin
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
2. Cục quản lý cạnh tranh (2012), Báo cáo thường niên Cục quản lí cạnh tranh năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên Cục quản lí cạnh tranh năm 2012
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh
Năm: 2012
3. Cục quản lý cạnh tranh (2012), Báo cáo rà soát quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2012
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh
Năm: 2012
4. Cục Quản lý cạnh tranh (2010b), Báo cáo hoạt động thường niên Cục Quản lý cạnh tranh 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động thường niên Cục Quản lý cạnh tranh 2010
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
6. David W.Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế học hiện đại
Tác giả: David W.Pearce
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
7. Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình marketing căn bản, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình marketing căn bản
Tác giả: Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2012
8. Đại học Kinh tế - Luật (2010), Giáo trình luật cạnh tranh, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật cạnh tranh
Tác giả: Đại học Kinh tế - Luật
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
9. Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công An Nhân Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Cạnh tranh
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công An Nhân Dân
Năm: 2012
10. Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, NXB Hồng Đức Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại
Tác giả: Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Hồng Đức Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2012
11. Hội đồng phân tích kinh tế (2001), Nền kinh tế mới, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền kinh tế mới
Tác giả: Hội đồng phân tích kinh tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Lê Nết, Khái niệm kiểm sát kết nối thị trường – đóng góp ý kiến cho nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của luật cạnh tranh, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2005, trang 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học pháp lý
13. Nguyễn Lan Anh, Xác định thị trường liên quan và vấn đề nhận dạng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật, số 7/2009, trang 18 – 23 và trang 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật
14. Nguyễn Nhƣ Phát - Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các qui định pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, NXB Tƣ Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và luận giải các qui định pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Phát - Nguyễn Ngọc Sơn
Nhà XB: NXB Tƣ Pháp
Năm: 2006
15. Nguyễn Ngọc Sơn, Một số bình luận từ thực tiễn giải quyết vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 1(162) T1/2010, trang 43 – 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
16. Nguyễn Thanh Tú - Phan Huy Hồng, Một số bất cập trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh nhìn từ một vụ việc, Tạp chí Nhà Nước và pháp luật, số 10(282) 2011, trang 31- 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nhà Nước và pháp luật
17. Nguyễn Ngọc Sơn, Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 11(63) T11/2005, trang 25 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
18. Phạm Hoài Huấn - Nhữ Ngọc Tiến (2013), Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá
Tác giả: Phạm Hoài Huấn - Nhữ Ngọc Tiến
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
20. Robert B. Ekelund, Robert F. Hébert (2004), Lịch sử các học thuyết kinh tế (bản dịch tiếng Việt), NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết kinh tế (bản dịch tiếng Việt)
Tác giả: Robert B. Ekelund, Robert F. Hébert
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
21. Trần Hoàng Nga (2004), Pháp luật về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền ở Việt Nam - thực trạng và so sánh với một số nước, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền ở Việt Nam - thực trạng và so sánh với một số nước
Tác giả: Trần Hoàng Nga
Năm: 2004
22. Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (1998), Đại từ điển kinh tế thị trường.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển kinh tế thị trường
Tác giả: Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w