Quy trình hoạch định Luật Cạnh tranh sửa đổi năm 2018 . I. Hoạch định chính sách 1. Xác định vấn đề Luật của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 272004QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004, còn gọi là Luật Cạnh tranh năm 2004 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005 về cạnh tranh có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 7 năm 2005. Luật quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Sự ra đời của Luật Cạnh tranh là dấu mốc quan trọng trong quá trình tạo lập một hành lang pháp lý chính thức và thống nhất cho hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường Tuy nhiên, sau hơn 12 năm thi hành, với sự thay đổi của bối cảnh kinh tế xã hội, xu hướng hội nhập quốc tế, cũng như những hạn chế, bất cập trong nội dung quy định, Luật Cạnh tranh năm 2004 cần phải được sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn. Cụ thể như sau: Đáp ứng các yêu cầu trong xu thế hội nhập kinh tế và phù hợp với các cam kết quốc tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới. Trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đều có các bộ quy tắc với mục tiêu xây dựng thể chế đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tăng cường hiệu quả, hiệu lực và tính minh bạch trong thực thi pháp luật cạnh tranh. Luật Cạnh tranh cần được sửa đổi theo hướng phù hợp với các cam kết quốc tế và khai thác tốt cơ hội mà các hiệp định thương mại tự do mang lại. Các quốc gia trên thế giới xác định pháp luật cạnh tranh là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường hoặc những tác động bất lợi của quá trình tự do hóa kinh doanh và thương mại. Chính sách cạnh tranh và các chính sách kinh tế khác, đặc biệt chính sách công nghiệp và thương mại, chính sách điều tiết ngành có mối gắn kết và tác động chặt chẽ với nhau. Việc sử dụng hiệu quả công cụ chính sách cạnh tranh mà chủ yếu là thông qua thực thi pháp luật cạnh tranh sẽ có tác dụng tương hỗ cho các chính sách khác, góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới được dự báo là có những diễn biến phức tạp, xu hướng trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ tại một số quốc gia trên thế giới tiềm ẩn tác động bất lợi đến nền kinh tế Sự thích ứng với môi trường kinh doanh Tình hình môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế có những biến động so với thời điểm nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004. Trước hết là sự hình thành của các chuỗi giá trị toàn cầu, gắn kết các nền kinh tế và các công đoạn sản xuất, cung cấp dịch vụ được thực hiện tại nhiều quốc gia, khu vực. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với đặc trưng là kỹ thuật, công nghệ được ứng dụng phổ biến trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Những thay đổi, chuyển biến lớn trong môi trường kinh doanh nêu trên đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của nhiều phương thức cạnh tranh và kinh doanh mới mà Luật Cạnh tranh năm 2004 chưa dự liệu hết được. Các phương thức cạnh tranh và kinh doanh mới đó đã và đang làm thay đổi cấu trúc của nhiều thị trường quan trọng và tác động một cách trực tiếp đến các chủ thể trên thị trường. Những hạn chế, bất cập trong Luật Cạnh tranh năm 2004 Các quy định của Luật Cạnh tranh chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được sứ mệnh bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh, làm động lực cho sự phát triển kinh tế. Số vụ việc cạnh tranh được phát hiện, điều tra, xử lý còn hạn chế trong khi thực tế môi trường cạnh tranh tại Việt Nam tiềm ẩn nhiều hành vi có tác động tiêu cực tới thị trường, đặc biệt trong những ngành, lĩnh vực có quy mô lớn hoặc đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế như lĩnh vực năng lượng, dược phẩm, phân phối, bán lẻ, vận tải, logistics, du lịch, các ngành ứng dụng công nghệ,… Quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, kiểm soát tập trung kinh tế gặp nhiều khó khăn do các quy định của Luật còn cứng nhắc dẫn đến sai sót, bỏ lọt hành vi vi phạm, khó chứng minh hành vi vi phạm của doanh nghiệp, chưa có cơ chế và tiêu chí cụ thể để cơ quan cạnh tranh đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh của hành vi, đặc biệt trong các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế để từ đó ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm, bảo đảm và thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả. ⇒ Từ những vấn đề bất cập đặt ra trong quá trình thi hành Luật cạnh tranh năm 2004. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Cạnh tranh năm 2004 là cần thiết. 2. Nghiên cứu sơ bộ, đưa vào nghị trình. Thực hiện Nghị quyết số 222016QH14 ngày 29 tháng 7 năm 2016 của Quốc hội khóa XIV về việc điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017. Theo Nghị quyết 22QH14 thì tại kỳ họp thứ 3 và thứ 4 sẽ trình Quốc hội thông qua 24 dự án Luật. Trong đó có: Luật Công an xã; Luật đường sắt (sửa đổi); Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi); Luật quản lý ngoại thương; Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; Luật bảo vệ bí mật nhà nước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động…Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội sẽ cho ý kiến đối với 8 dự án Luật, trong đó có luật cạnh tranh (sửa đổi) và được trình thông qua tại kỳ họp thứ 4 Nghị quyết số 342017QH14 ngày 08 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa XIV về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017, dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) được đưa vào chương trình xây dựng luật của Quốc hội khóa XIV với tiến độ trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu tại kỳ họp thứ 4, tháng 10 năm 2017 và thông qua tại kỳ họp thứ 5, tháng 5 năm 2018, Tháng 92017: Tờ trình của Bộ Công thương về dự án Luật cạnh tranh sửa đổi về việc sửa đổi, bổ sung 1 số điều luật nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn. Những nội dung, quan điểm của tờ trình Quan điểm xây dựng Luật Cạnh tranh là hoàn thiện khung pháp lý tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho các tất cả các chủ thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động kinh doanh trên thị trường, bảo đảm cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, chống cạnh tranh không lành mạnh và chống hạn chế thương mại; tăng cường kiểm soát các hoạt động mua lại và sáp nhập để phòng ngừa việc hình thành các doanh nghiệp có quyền lực thị trường, qua đó gây tổn hại tới môi trường kinh doanh, môi trường cạnh tranh. Luật Cạnh tranh cần được xác định là luật công, để bảo vệ các quan hệ cạnh tranh, một loại quan hệ công, thực sự được coi là hiến pháp của nền kinh tế thị trường, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, làm động lực phát triển cho nền kinh tế. Điều chỉnh cách tiếp cận về quản lý cạnh tranh mang tính khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế theo hướng ổn định, không phân biệt đối xử, minh bạch và tính trung lập trong cạnh tranh nhằm góp phần thực hiện định hướng phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới 2016 2020 tầm nhìn 2030 của Đảng và Nhà nước; nâng cao vai trò của Luật Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Kế thừa những quy định của Luật Cạnh tranh hiện hành đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn; Sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp với thực tiễn, điều kiện hội nhập hoặc chưa đồng bộ với pháp luật hiện hành; Dự báo được những nội dung mới trong lĩnh vực cạnh tranh để bảo đảm tính ổn định và lâu dài của Luật. .
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BỘ MÔN: HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN Chủ đề: Quy trình hoạch định Luật Cạnh tranh
sửa đổi năm 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2BỘ MÔN: HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
Chủ đề: Quy trình hoạch định Luật Cạnh tranh
sửa đổi năm 2018
I Hoạch định chính sách
1 Xác định vấn đề
- Luật của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số27/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004, còn gọi là Luật Cạnh tranh năm
2004 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm
2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005 về cạnh tranh có hiệulực thi hành vào ngày 01 tháng 7 năm 2005 Luật quy định về hành vi hạn chếcạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụviệc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh Sự ra đời củaLuật Cạnh tranh là dấu mốc quan trọng trong quá trình tạo lập một hành langpháp lý chính thức và thống nhất cho hoạt động cạnh tranh của các doanhnghiệp trên thị trường
- Tuy nhiên, sau hơn 12 năm thi hành, với sự thay đổi của bối cảnh kinh tế - xãhội, xu hướng hội nhập quốc tế, cũng như những hạn chế, bất cập trong nộidung quy định, Luật Cạnh tranh năm 2004 cần phải được sửa đổi, bổ sung
Trang 3nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn Cụthể như sau:
Đáp ứng các yêu cầu trong xu thế hội nhập kinh tế và phù hợp với các cam kết quốc tế
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới Trongcác Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đều có các
bộ quy tắc với mục tiêu xây dựng thể chế đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, không
có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tăng cường hiệu quả, hiệulực và tính minh bạch trong thực thi pháp luật cạnh tranh Luật Cạnh tranh cầnđược sửa đổi theo hướng phù hợp với các cam kết quốc tế và khai thác tốt cơhội mà các hiệp định thương mại tự do mang lại
Các quốc gia trên thế giới xác định pháp luật cạnh tranh là công cụ hữu hiệu đểNhà nước thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế, khắc phục những khiếmkhuyết của thị trường hoặc những tác động bất lợi của quá trình tự do hóa kinhdoanh và thương mại Chính sách cạnh tranh và các chính sách kinh tế khác,đặc biệt chính sách công nghiệp và thương mại, chính sách điều tiết ngành cómối gắn kết và tác động chặt chẽ với nhau Việc sử dụng hiệu quả công cụchính sách cạnh tranh mà chủ yếu là thông qua thực thi pháp luật cạnh tranh sẽ
có tác dụng tương hỗ cho các chính sách khác, góp phần quan trọng trong việcnâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Điều này đặc biệt quan trọng trong bốicảnh tình hình kinh tế thế giới được dự báo là có những diễn biến phức tạp, xuhướng trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ tại một số quốc gia trên thế giới tiềm ẩntác động bất lợi đến nền kinh tế
Sự thích ứng với môi trường kinh doanh
Tình hình môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế có những biến động sovới thời điểm nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004
Trang 4Trước hết là sự hình thành của các chuỗi giá trị toàn cầu, gắn kết các nền kinh
tế và các công đoạn sản xuất, cung cấp dịch vụ được thực hiện tại nhiều quốcgia, khu vực Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với đặc trưng
là kỹ thuật, công nghệ được ứng dụng phổ biến trong nhiều ngành, nhiều lĩnhvực Những thay đổi, chuyển biến lớn trong môi trường kinh doanh nêu trên đãtạo điều kiện cho sự xuất hiện của nhiều phương thức cạnh tranh và kinh doanhmới mà Luật Cạnh tranh năm 2004 chưa dự liệu hết được Các phương thứccạnh tranh và kinh doanh mới đó đã và đang làm thay đổi cấu trúc của nhiều thịtrường quan trọng và tác động một cách trực tiếp đến các chủ thể trên thịtrường
Những hạn chế, bất cập trong Luật Cạnh tranh năm 2004
Các quy định của Luật Cạnh tranh chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa pháthuy được sứ mệnh bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh, làmđộng lực cho sự phát triển kinh tế
- Số vụ việc cạnh tranh được phát hiện, điều tra, xử lý còn hạn chế trong khithực tế môi trường cạnh tranh tại Việt Nam tiềm ẩn nhiều hành vi có tác độngtiêu cực tới thị trường, đặc biệt trong những ngành, lĩnh vực có quy mô lớnhoặc đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế như lĩnh vực năng lượng, dượcphẩm, phân phối, bán lẻ, vận tải, logistics, du lịch, các ngành ứng dụng côngnghệ,…
- Quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, kiểm soát tập trung kinh tế gặpnhiều khó khăn do các quy định của Luật còn cứng nhắc dẫn đến sai sót, bỏ lọthành vi vi phạm, khó chứng minh hành vi vi phạm của doanh nghiệp, chưa có
cơ chế và tiêu chí cụ thể để cơ quan cạnh tranh đánh giá tác động hạn chế cạnhtranh của hành vi, đặc biệt trong các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vàtập trung kinh tế để từ đó ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm, bảo đảm vàthúc đẩy cạnh tranh hiệu quả
Trang 5⇒ Từ những vấn đề bất cập đặt ra trong quá trình thi hành Luật cạnh tranh năm
2004 Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Cạnh tranh năm 2004 là cần thiết
2 Nghiên cứu sơ bộ, đưa vào nghị trình.
Thực hiện Nghị quyết số 22/2016/QH14 ngày 29 tháng 7 năm 2016 củaQuốc hội khóa XIV về việc điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháplệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017 TheoNghị quyết 22/QH14 thì tại kỳ họp thứ 3 và thứ 4 sẽ trình Quốc hội thôngqua 24 dự án Luật Trong đó có: Luật Công an xã; Luật đường sắt (sửađổi); Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi); Luật quản lý ngoại thương;Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Luật hỗ trợdoanh nghiệp vừa và nhỏ; Luật bảo vệ bí mật nhà nước; Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Bộ Luật lao động…Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội sẽ cho
ý kiến đối với 8 dự án Luật, trong đó có luật cạnh tranh (sửa đổi) và đượctrình thông qua tại kỳ họp thứ 4
Nghị quyết số 34/2017/QH14 ngày 08 tháng 6 năm 2017 của Quốc hộikhóa XIV về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và điềuchỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017, dự án Luật Cạnhtranh (sửa đổi) được đưa vào chương trình xây dựng luật của Quốc hộikhóa XIV với tiến độ trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu tại kỳ họp thứ 4,tháng 10 năm 2017 và thông qua tại kỳ họp thứ 5, tháng 5 năm 2018,
Trang 6 Tháng 9/2017: Tờ trình của Bộ Công thương về dự án Luật cạnh tranh sửađổi về việc sửa đổi, bổ sung 1 số điều luật nhằm tăng cường hiệu lực, hiệuquả thực thi, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn
Những nội dung, quan điểm của tờ trình
- Quan điểm xây dựng Luật Cạnh tranh là hoàn thiện khung pháp lý tạo môitrường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho các tất cả các chủ thể tham giatrực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động kinh doanh trên thị trường, bảo đảm cạnhtranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, chống cạnh tranh không lànhmạnh và chống hạn chế thương mại; tăng cường kiểm soát các hoạt động mualại và sáp nhập để phòng ngừa việc hình thành các doanh nghiệp có quyền lựcthị trường, qua đó gây tổn hại tới môi trường kinh doanh, môi trường cạnhtranh
- Luật Cạnh tranh cần được xác định là luật công, để bảo vệ các quan hệ cạnhtranh, một loại quan hệ công, thực sự được coi là hiến pháp của nền kinh tế thịtrường, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, làm động lực phát triển chonền kinh tế
- Điều chỉnh cách tiếp cận về quản lý cạnh tranh mang tính khả thi và phù hợpvới thông lệ quốc tế, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế theo hướng ổnđịnh, không phân biệt đối xử, minh bạch và tính trung lập trong cạnh tranhnhằm góp phần thực hiện định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạnmới 2016 - 2020 tầm nhìn 2030 của Đảng và Nhà nước; nâng cao vai trò củaLuật Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Kếthừa những quy định của Luật Cạnh tranh hiện hành đang phát huy hiệu quảtrong thực tiễn; Sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp với thực tiễn,điều kiện hội nhập hoặc chưa đồng bộ với pháp luật hiện hành; Dự báo đượcnhững nội dung mới trong lĩnh vực cạnh tranh để bảo đảm tính ổn định và lâudài của Luật
Trang 7Mục đích của luật
- Thứ nhất, các quy định của Luật được xây dựng dựa theo mục tiêu xuyên suốtcủa Luật Cạnh tranh là “Tạo lập, duy trì và bảo đảm môi trường cạnh tranhlành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên thị trường, từ đó tăng cườngkhả năng tiếp cận thị trường, phân bổ hiệu quả các nguồn lực, nâng cao hiệuquả kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”
- Thứ hai, các quy định điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh của Luật đượcxây dựng nhằm mục tiêu đảm bảo tính hợp lý về mặt kinh tế, theo đó phát huyđược các tác động tích cực, hạn chế giảm thiểu các tác động phản cạnh tranhcủa các hành vi kinh doanh trên thị trường
- Thứ ba, các quy định của Luật được xây dựng theo hướng đảm bảo bao quátđược nhiều dạng thức kinh doanh ngày càng phức tạp của doanh nghiệp trên thịtrường
- Thứ tư, các quy định của Luật được xây dựng theo hướng đảm bảo và tăngcường khả năng thực thi thông qua việc: (1) tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp trong việc tuân thủ các quy định của Luật; và (2) tạo điều kiện thuận lợicho công tác thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng
- Thứ năm, các quy định của Luật được xây dựng nhằm đảm bảo sự thốngnhất, loại trừ các xung đột, mâu thuẫn với các luật chuyên ngành liên quan đếnvấn đề cạnh tranh và phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thànhviên
- Thứ sáu, hướng tới xây dựng một cơ quan cạnh tranh độc lập và chuyênnghiệp
Nội dung của Dự thảo được lấy ý kiến trên cổng thông tin của chính phủ
Trang 8Lĩnh vực: Kinh tế
Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ
Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Công thương
Ủy ban thẩm tra: Ủy ban Kinh tế
Thảo luận tại: Kỳ họp thứ 4 - Khóa XIV
Thông qua tại: Kỳ họp thứ 5 - Khóa XIV
Trạng thái: Đã thông qua
3 Nghiên cứu chọn giải pháp, dự thảo chính sách
3.1 Các phương án chính sách
Vấn đề Phương án Ưu điểm Nhược điểm Phương
án đượcthông qua
Dự thảoLuật Cạnh tranh lựa chọn sửa đổi theo phương
Trang 9Từ đó, làm giảm
mục tiêu của Luật
Cạnh tranh trong
việc bảo vệ môi
trường kinh doanh,
án đem lại hiệu quả hơn
Trang 10cạnh tranh các quốc gia trên thế giới.
vi cạnh tranh dù xảy ra tại đâu có tácđộng hoặc có khả năng gây tác động bất lợi đối với thị trường
Thứ hai, việc xử lý kịp thời các hành vixuyên biên giới gópphần tạo sự ổn địnhcho nền kinh tế nội địa thông qua việc
ổn định các yếu tố thị trường như yếu
tố đầu vào, yếu tố đầu ra của nền kinh
tế Điều này đặc biệt quan trọng đối với thị trường các lĩnh vực thiết yếu, lĩnh vực chủ chốt hoặc lĩnh vực phục
Tạo ra một số khó khăn về nguồn lực
để thực thi như số lượng, chất lượng nguồn nhân lực và các vấn đề tài chính Do đó, để đạt được hiệu quả
và mục tiêu thực thi Luật Cạnh tranh(sửa đổi), cần nâng cao chất lượng và nguồn lực cho cơ quan cạnh tranh
Trang 11để cơ quan cạnh tranh Việt Nam có thể hợp tác với cơ quan cạnh tranh củacác quốc gia khác trong quá trình điềutra, xử lý các vụ việc cạnh tranh, tạo điều kiện thực thi các cam kết về cạnhtranh trong các Hiệp định thương mại song phương
và đa phương Việc duy trì và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh là tôn chỉ của
“Chương cạnh tranh” trong hầu hếtcác Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
như quy định hiện
Phương
án 2 là
Trang 12“các doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ côngích, doanh nghiệp hoạt động trong cácngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam” Theo Khoản
7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp
2014, “doanh nghiệp là tổ chức
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Như
phù hợpvới bối cảnh và
xu hướng phát triển kinh tế của ViệtNam,
dự thảo Luật sửa đổi theo phương
án này
Trang 13vậy, phạm trù
“Doanh nghiệp” hiểu theo pháp luật hiện hành sẽ khôngbao gồm các hộ kinh doanh và các chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài
Với mục tiêu là bảo
vệ thị trường cạnh tranh thì bất cứ mộtchủ thể nào trên thịtrường dù kinh doanh hay không kinh doanh, có hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp tới cạnh tranh trên thị trường mà gây hạn chế cạnh tranh đều phải là đối tượng
áp dụng của Luật Cạnh tranh Vì vậy,việc giới hạn như hiện nay sẽ không thể kiểm soát được hành vi phản cạnh tranh trên thị trường nếu đối
Trang 14tượng thực hiện hành vi đó một cách trực tiếp hay gián tiếp không thuộc đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh.
cơ quan quản lý nhànước vẫn thường ban hành các quyết định hành chính canthiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể gây tổn hại tới cạnh tranh trên thị trường), giảm thiểu việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một hoặc một nhóm các doanh nghiệp nào
đó đến sự bất bình đẳng trong cạnh
Trang 15Thứ ba, đảm bảo sự
phù hợp với các vănbản quy phạm pháp luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu
tư, Luật xử lý vi phạm hành chính…, tăng tính hiệu quả và đồng bộcủa việc thực thi pháp luật cạnh tranh
Thứ tư, không có
Trang 16Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thị phần không phản ánh chính xác
vị thế, sức mạnh thịtrường của doanh nghiệp Ở những thị trường có rào cản gia nhập và mởrộng thị trường thấp, doanh nghiệp
có mức thị phần cao chưa hẳn đã có sức mạnh thị trường và ngược lại Do vậy, việc đánh giá sức mạnh thị trường, vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp chỉ dựa theo mức thị phần có thể dẫn đến tình trạng sai sót trong thực thi,
có thể bỏ sót đối tượng và hành vi
Luật sửa đổi chọn phương
án 2 là phương
án phù hợp
Trang 17có tác động hạn chếcạnh tranh trên thực tế hoặc kết luận vi phạm đối với những doanh nghiệp không có vị trí thống lĩnh trên thực tế, hành vi không có tác động hạn chế cạnh tranh.Phương án 2:
- Việc bổ sung tiêu chí và cách tính thị phần rõ ràng, cụ thể
sẽ giúp cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các bên liên quan đảm bảo việc xác định doanhnghiệp có vị trí thống lĩnh, sức mạnh thị trường một cách khách
Tuy nhiên, Phương
án 2 cũng bộc lộ một số khó khăn như một số tiêu chíđánh giá sức mạnh thị trường khó có thể được lượng hoáhoặc đặt ra một ngưỡng chung để
áp dụng cho tất cả các thị trường, bởi mỗi hàng hoá, dịch
vụ có đặc thù riêng,đòi hỏi sử dụng cáctiêu chí và ngưỡng phù hợp với thị trường hàng hoá, dịch vụ đó Do vậy,việc áp dụng hệ thống các tiêu chí đánh giá sức mạnh
Trang 18vị trí của doanh nghiệp trên thị trường; giảm vi phạm pháp luật cạnh tranh và khiếu nại, khiếu kiện.
- Việc bổ sung tiêu chí tính toán thị phần sẽ tạo ra một
cơ sở, căn cứ pháp
lý rõ ràng, giúp cơ quan quản lý trong công tác thực hiện nghiên cứu tiền tố tụng hay điều tra vụviệc cạnh tranh giảm thiểu được chiphí nghiên cứu, điều tra, góp phần giảm chi phí phát sinh cho một cuộc điều tra vụ việc hạnchế cạnh tranh,
thị trường phải dựatrên các phân tích kinh tế, đòi hỏi năng lực, trình độ chuyên môn cao của cơ quan cạnh tranh và Toà án
Trang 19giảm chi phí từ nguồn ngân sách nhà nước phục vụ công tác điều tra
“đơn giản hoá”
trong cách đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh một cáchđáng kể của hành
vi, dễ dàng cho cơ quan cạnh tranh trong thực thi các quy định của Luật
Tuy nhiên, cách phân chia nhóm các hành vi bị cấm tuyệt đối và nhóm hành vi bị cấm khi thị phần kết hợp từ 30% trở lên trên thịtrường liên quan không phù hợp với bản chất, mức độ tác động hạn chế cạnh tranh của hành vi, dẫn đến sai sót trong thực thi, đồng thời, có thể gây lãng phí nguồn lực, thời gian của cơ quan cạnh tranh trong việc xác định những cấu phần không cần thiết củamột số hành vi thoảthuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng (chẳng hạn, xác
Từ những phân tích trênđây, phương
án 2 là phù hợp, dự thảo Luật sửa đổi
đi theo phương
án 2