1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thỏa thuận ấn định giá theo pháp luật cạnh tranh

65 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thỏa thuận ấn định giá theo pháp luật cạnh tranh
Tác giả Trương Văn Quyền
Người hướng dẫn Thạc sĩ Phạm Hoài Huấn
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN ẤN ĐỊNH GIÁ (13)
    • 1.1 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (13)
    • 1.2 Bản chất pháp lý của hành vi thỏa thuận ấn định giá (15)
      • 1.2.1 Cơ chế định giá của doanh nghiệp (15)
      • 1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận ấn định giá (18)
      • 1.2.3 Một số hành vi thỏa thuận ấn định giá điển hình (23)
    • 1.3 Pháp luật kiểm soát thỏa thuận ấn định giá (25)
      • 1.3.1 Nhu cầu điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với thỏa thuận ấn định giá . 19 (25)
      • 1.3.2 Cơ chế kiểm soát và phá vỡ các thỏa thuận ấn định giá (27)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN KIỂM SOÁT CÁC THỎA THUẬN ẤN ĐỊNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN (34)
    • 2.1 Các hành vi thỏa thuận ấn định giá theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam (34)
      • 2.1.1 Cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh Việt Nam đối với hành vi thỏa thuận ấn định giá (34)
      • 2.1.2 Các hành vi thỏa thuận ấn định giá cụ thể (35)
      • 2.1.3 Cơ chế kiểm soát các thỏa thuận ấn định giá (37)
      • 2.1.4 Một số nhận xét (40)
    • 2.2 Trình tự, thủ tục và chế tài xử lý các hành vi thỏa thuận ấn định giá theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam (42)
      • 2.2.1 Thẩm quyền điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận ấn định giá (42)
      • 2.2.2 Thủ tục xử lý hành vi thỏa thuận ấn định giá (42)
      • 2.2.3 Chế tài xử lý hành vi thỏa thuận ấn định giá (44)
    • 2.3 Một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh Việt (44)
      • 2.3.2 Về phát hiện và xử lý các hành vi thỏa thuận ấn định giá (48)
  • PHỤ LỤC (64)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN ẤN ĐỊNH GIÁ

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

HCCT là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Một trong những hình thức điển hình của HCCT là các thỏa thuận HCCT, với bản chất là sự phối hợp nhằm hạn chế độc lập của các đối thủ cạnh tranh Thỏa thuận HCCT đi ngược lại lợi ích của cạnh tranh trong nền kinh tế, thậm chí gây hại cho sự tiến bộ chung Do đó, các thỏa thuận HCCT có những vấn đề pháp lý đặc trưng cần được kiểm soát và xử lý phù hợp nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Thỏa thuận HCCT bao gồm hai loại chính là thỏa thuận dọc và thỏa thuận ngang, trong đó thỏa thuận ngang giữa các đối thủ cạnh tranh gây ra tác động tiêu cực cao hơn Các loại thỏa thuận HCCT phổ biến bao gồm ấn định giá, kiểm soát sản lượng, phân chia thị trường và lũng đoạn quá trình đấu thầu giữa các đối thủ cạnh tranh Theo quy định pháp luật của Liên minh Châu Âu, thỏa thuận HCCT diễn ra theo cả chiều dọc và chiều ngang, trong khi pháp luật Hoa Kỳ quy định rằng các thỏa thuận ngang và các hành vi độc quyền liên quan đến các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường hoặc nhà phân phối đều vi phạm luật chống cạnh tranh.

11 Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 (Luật số:27/2004/QH11 ngày 03/12/2004)

Viện Khoa học Pháp lý (2004) đã nghiên cứu tiêu chí đánh giá tính bất hợp pháp của các hành vi cạnh tranh trong luật cạnh tranh của Hoa Kỳ, Cộng đồng Châu Âu và Nhật Bản, từ đó đưa ra các nhận định về sự phù hợp và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật này Bài viết phân tích các tiêu chí đánh giá hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam Nghiên cứu cũng bình luận về các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế để thúc đẩy sự hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Đây là tài liệu quan trọng giúp hiểu rõ các tiêu chí pháp lý để xác định hành vi cạnh tranh phi pháp, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát và phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh tại Việt Nam.

Thông tin Khoa học Pháp lý, số 12/2004, Hà Nội, tr 20

13 Lê Hoàng Oanh (2005), Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh, NXB Chính trị quốc gia, tr 40

Theo đoạn 22 của Luật mẫu về Cạnh tranh của UNCTAD, có hai loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (HCCT): thỏa thuận ngang và thỏa thuận dọc Thỏa thuận ngang là các thỏa thuận rộng rãi giữa nhiều doanh nghiệp, có thể gây tác động tiêu cực đến cạnh tranh bằng cách triệt tiêu đối thủ trên thị trường, làm sai lệch thị trường nghiêm trọng hơn so với các thỏa thuận dọc Trong khi đó, các thỏa thuận dọc chỉ liên quan đến các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối giữa các doanh nghiệp Theo Đạo luật Sherman của Hoa Kỳ, các thỏa thuận HCCT theo chiều ngang, đặc biệt là về giá cả và sản lượng, sẽ đối mặt với các hậu quả pháp lý nặng nề hơn so với các thỏa thuận dọc (Nguồn: Nguyễn Thị Nhung, 2012).

Trong bài viết của Nguyễn Văn Cương (2006) về tiêu chuẩn đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp tại một số quốc gia, ông phân tích các yếu tố xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và đưa ra những bình luận sâu sắc về Luật Cạnh tranh Việt Nam Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các tiêu chí rõ ràng để nhận diện các hành vi cạnh tranh vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ thị trường và quyền lợi của các doanh nghiệp hợp pháp tại Việt Nam.

Các công ty mẹ trong các thỏa thuận với công ty con hoặc nhà phân phối không có khả năng vi phạm Đạo luật Sherman, như nhận định của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, góp phần củng cố vị trí thống lĩnh thị trường.

Các doanh nghiệp là chủ thể chính của hành vi thỏa thuận HCCT, hoạt động độc lập trên thị trường liên quan, gồm hai thành tố là thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Thị trường liên quan xác định ranh giới chung về hàng hóa, khu vực địa lý và nhóm người mua bán trong quá trình thiết lập giá cả và đầu ra, hạn chế cạnh tranh từ các khu vực khác Ngoài ra, hiệp hội doanh nghiệp được pháp luật các quốc gia công nhận là chủ thể đóng vai trò dẫn dắt, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận HCCT.

Về mặt hình thức, các thỏa thuận này có thể là các thỏa thuận công khai hoặc thỏa thuận ngầm, mang ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các cam kết pháp lý Các thỏa thuận công khai thường dễ dàng minh bạch và công nhận, trong khi các thỏa thuận ngầm có thể mang tính bí mật và ít rõ ràng hơn, gây ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật Việc hiểu rõ các loại thỏa thuận này giúp đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp trong các giao dịch và mối quan hệ hợp tác.

Trong kinh doanh, "những cái gật đầu" tượng trưng cho sự thống nhất ý chí giữa các bên, có thể thể hiện qua các thỏa thuận bí mật hoặc các cuộc gặp gỡ Quan trọng là các bên phải đạt được sự đồng thuận rõ ràng về nội dung, thường tập trung vào việc thống nhất các yếu tố quan trọng của thỏa thuận Điều này đảm bảo rằng tất cả các bên đều hiểu và cam kết thực hiện các điều khoản đã thống nhất, góp phần thúc đẩy quá trình thương lượng và hợp tác hiệu quả hơn.

Dựa trên nguồn từ 16 Phạm Hoài Huấn và Nhữ Ngọc Tiến (2013, trang 55), cùng với bài viết của Nguyễn Thanh Tú về "Hành vi ấn định giá bán lại theo pháp luật cạnh tranh" đăng trên trang web của Trường Đại học Luật TP.HCM ngày 02/7/2015, có thể thấy rằng các hành vi liên quan đến ấn định giá bán lại cần phải tuân thủ quy định của pháp luật cạnh tranh để bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp và đảm bảo thị trường cạnh tranh lành mạnh Việc nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các quy định pháp luật về giá cả nhằm hạn chế các hành vi thao túng thị trường và thúc đẩy môi trường kinh doanh công bằng.

17 UNCTAD (2010), Model on Competition Law, Genève, page 22

18 UNCTAD (2010), tlđd (17) Chapter II, page 3

Các quyết định của hiệp hội doanh nghiệp có thể bị cấm nếu gây hại đến thương mại giữa các quốc gia thành viên hoặc làm méo mó cạnh tranh trên thị trường liên minh Bất kỳ hành vi nào của hiệp hội đều dẫn đến hành vi hạn chế cạnh tranh (HCCT), trừ khi doanh nghiệp lợi dụng các cuộc họp của hiệp hội để thỏa thuận HCCT riêng lẻ, khi đó hiệp hội không bị coi là liên quan Các luật pháp quốc tế như Chương III Luật cấm độc quyền tư nhân của Nhật Bản (sửa đổi năm 2005), Luật Cạnh tranh Canada 1985 và Luật điều chỉnh sự độc quyền và thương mại công bằng của Hàn Quốc (sửa đổi năm 2004) đều quy định rõ ràng về việc cấm các hiệp hội thương mại tham gia vào các thỏa thuận HCCT Tương tự, luật cạnh tranh Hungary năm 1996 cũng có các quy định về các quyết định của hiệp hội liên quan đến HCCT, nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng và hạn chế hành vi hạn chế cạnh tranh của các hiệp hội ngành nghề Tham khảo từ Trần Thăng Long (2014) và tài liệu của UNCTAD (2010) cung cấp các phân tích sâu về các quy định này.

20 Phạm Duy Nghĩa (2004), Sách chuyên khảo Luật Kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr

9 tố của quan hệ thị trường như: giá cả, thị trường, điều kiện của hợp đồng 21 … gây ra những sai lệch trong quan hệ thị trường

Thỏa thuận Hợp tác cộng tác (HCCT) gây ra hậu quả tiêu cực như làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường, khiến thị trường dễ bị độc quyền nếu các thỏa thuận này được duy trì lâu dài Theo học giả Nhật Bản Shingo Seryo, các thỏa thuận HCCT gây mất phúc lợi xã hội do giá tăng cao, triệt tiêu cạnh tranh và đi ngược lại công bằng trong phân phối tài sản Báo cáo của OECD nhấn mạnh rằng HCCT dẫn đến tăng giá hàng hóa, giảm sản lượng, ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng và làm suy yếu sự cạnh tranh, cản trở sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, cần cân nhắc giữa các lợi ích và tác hại của HCCT, vì theo học thuyết HCCT bổ sung, một số thỏa thuận HCCT chỉ được xem là hợp pháp khi là phần phụ của các thỏa thuận lớn có đóng góp tích cực cho nền kinh tế.

Thỏa thuận HCCT là sự thống nhất ý chí giữa các doanh nghiệp độc lập nhằm giảm áp lực cạnh tranh và hướng tới triệt tiêu cạnh tranh lẫn nhau Mục đích của thỏa thuận này là ngăn cản sự gia nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới và hạn chế quyền lợi của người tiêu dùng, dẫn đến bốc lột người tiêu dùng.

Bản chất pháp lý của hành vi thỏa thuận ấn định giá

1.2.1 Cơ chế định giá của doanh nghiệp

Trong một nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, người tiêu dùng hoàn toàn có quyền lựa chọn các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình, đặt ra yêu cầu các doanh nghiệp phải phát triển các chiến lược kinh doanh hiệu quả Một trong những yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp là xây dựng cơ chế định giá hợp lý, bởi vì giá cả không chỉ là kết quả của quá trình cạnh tranh mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua trong tay người tiêu dùng Do đó, việc thiết lập mức giá phù hợp giúp doanh nghiệp thu hút khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường và đảm bảo lợi nhuận bền vững.

21 Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, NXB Hồng Đức, tr 158

22 Viện Khoa học Pháp lý (2004), tlđd (12), tr 29

23 Viện Khoa học Pháp lý (2004), tlđd (12), tr 31

24 OECD (2003), Hard core Cartels – Recent Progress and Challenges Ahead, tr.8

Học thuyết hạn chế cạnh tranh bổ trợ được áp dụng rộng rãi bởi Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu, định nghĩa là một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bổ trợ là phần không thể thiếu trong một thỏa thuận chính lớn hơn giữa các đối thủ cạnh tranh Thỏa thuận này phải mang lại lợi ích cho nền kinh tế, do đó được coi là hợp pháp Theo Viện Khoa học Pháp lý (2004), yếu tố then chốt là lợi ích kinh tế của thỏa thuận chính và tính hợp pháp của các điều khoản hạn chế cạnh tranh bổ trợ trong bối cảnh cạnh tranh tự do.

Mười là phương tiện cạnh tranh hiệu quả của mỗi doanh nghiệp, giúp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Việc phân tích cơ chế định giá của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện các thỏa thuận ấn định giá không hợp pháp Nhận diện các thỏa thuận định giá này góp phần thúc đẩy cạnh tranh công bằng và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng Nhà quản lý cần có chiến lược rõ ràng để kiểm soát cơ chế giá nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh minh bạch và hiệu quả.

Trong nền kinh tế thị trường, giá cả được xác định dựa trên mối quan hệ cung cầu Lượng cầu thể hiện khối lượng hàng hóa mà người tiêu dùng mong muốn và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau, và thường tăng khi giá giảm xuống, đồng thời giảm khi giá tăng, miễn là các yếu tố khác không đổi Ngược lại, lượng cung cho thấy số lượng hàng hóa mà nhà sản xuất sẵn sàng cung ứng tại các mức giá khác nhau, và tăng khi giá cao nhằm đạt lợi nhuận tối đa Điểm cân bằng của thị trường là vị trí mà lượng cầu bằng lượng cung, hình thành mức giá thị trường, và xu hướng giá luôn hướng về điểm cân bằng này.

Trong cơ chế định giá tự nhiên của doanh nghiệp, mức giá lý tưởng là mức gần nhất với điểm cân bằng thị trường, phản ánh nguyên tắc cạnh tranh và quy luật cung cầu Giá của doanh nghiệp phải vượt trên chi phí sản xuất, đảm bảo doanh nghiệp có lợi nhuận; do đó, giá thị trường được xác định bằng tổng chi phí cộng với mức lợi nhuận mong muốn.

26 Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), tlđd (7), tr.6

27 Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình kinh tế vi mô, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 51

28 Xem Biểu đồ thể hiện Đường cầu của một loại hàng hóa ở Phụ lục – Hình số 1

29 Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), tlđd (27), tr 51

30 Xem Biểu đồ thể hiện Đường cung của một loại hàng hóa ở Phụ lục – Hình số 2

31 Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), tlđd (7), tr 27

32 Xem Biểu đồ thể hiện Điểm cân bằng của một loại hàng hóa ở Phụ lục – Hình số 3

Chi phí sản xuất của một doanh nghiệp gồm nguyên liệu, tiền công, phúc lợi cho nhân công, quản lý, vận chuyển, khấu hao tài sản và các chi phí khác Trong quá trình sản xuất, chi phí thường được xem xét trong một khoảng thời gian nhất định và có thể biến đổi theo thời điểm, dẫn đến khái niệm chi phí bình quân (ATC) để thể hiện mức chi phí trung bình trên mỗi sản phẩm Các chi phí biến đổi trung bình (AVC) phản ánh chi phí liên quan trực tiếp đến số lượng hàng hóa sản xuất, tăng hoặc giảm theo sản lượng Trong khi đó, chi phí cố định (FC) là những khoản chi phí không thay đổi theo quy mô sản xuất, như tiền thuê mặt bằng hay nhà xưởng hàng tháng Hiểu rõ các yếu tố này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời cải thiện hoạt động kinh doanh trong thời gian dài.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mức giá của doanh nghiệp phụ thuộc vào cạnh tranh và cung cầu trên thị trường Nếu doanh nghiệp định giá quá cao so với điểm cân bằng và mức giá của các đối thủ cạnh tranh, sản phẩm sẽ không tiêu thụ được Ngược lại, nếu định giá thấp hơn điểm cân bằng, doanh nghiệp có thể phải chịu lỗ do doanh thu không đủ để bù đắp chi phí.

Một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả là doanh nghiệp có cơ chế định giá hợp lý, giúp thu hút nhiều sự lựa chọn từ phía người tiêu dùng Mỗi doanh nghiệp căn cứ vào đặc thù hoạt động và hiệu quả sản xuất để xây dựng chiến lược định giá phù hợp, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Chính sách định giá tối ưu không những phản ánh giá trị sản phẩm mà còn góp phần thúc đẩy doanh số và sự trung thành của khách hàng.

Vào thứ ba, cơ chế định giá của doanh nghiệp khi tồn tại thỏa thuận ấn định giá sẽ ảnh hưởng đáng kể đến thị trường Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các doanh nghiệp không có quyền lực thị trường để can thiệp vào giá cả, khiến giá thường tuân theo quy luật thị trường và hướng tới điểm cân bằng Tuy nhiên, khi các đối thủ cạnh tranh tham gia vào một thỏa thuận về giá, thiết lập một mức giá chung dựa trên đàm phán, các quy luật thị trường sẽ bị mất đi, dẫn đến mức giá bất hợp lý Trong trường hợp này, giá thị trường của doanh nghiệp khi có thỏa thuận gồm tổng chi phí (Total cost) cộng khoản lợi nhuận thỏa thuận (m + m‟), tạo ra một mức giá không phản ánh đúng giá trị thị trường thực sự.

Việc phân tích cơ chế định giá của doanh nghiệp cho thấy rằng, nếu thị trường có sự tồn tại của các thỏa thuận ấn định giá, thì các quy luật thị trường sẽ bị xóa bỏ, làm giảm hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng sẽ chịu thiệt thòi với các mức giá không hợp lý Chi phí bình quân được xác định bằng tổng chi phí biến đổi bình quân cộng với chi phí cố định, cụ thể là ATC = AVC + FC (tham khảo: Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến, 2013).

Để đạt mức giá hợp lý, doanh nghiệp liên tục nâng cao công nghệ sản xuất và mở rộng sản lượng Điều này thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu khoa học, thu hút nhân tài và cải tiến công nghệ, góp phần phát triển khoa học công nghệ và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Nhờ đó, các doanh nghiệp góp phần thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội.

Chi phí sản xuất của một doanh nghiệp bao gồm nguyên liệu, tiền công, phúc lợi nhân viên, quản lý, vận chuyển, khấu hao tài sản và các chi phí khác, và được xem xét trong một khoảng thời gian nhất định, dẫn đến sự biến động của tổng chi phí theo thời điểm Để thể hiện mức chi phí trung bình cho mỗi sản phẩm, người ta sử dụng khái niệm chi phí bình quân (ATC), trong đó chi phí biến đổi trung bình (AVC) phản ánh các chi phí biến đổi tùy thuộc vào mức sản lượng, tăng hoặc giảm cùng với số lượng hàng hóa sản xuất ra Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chịu các chi phí cố định (FC), như tiền thuê mặt bằng và nhà xưởng, không phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất Tổng chi phí bình quân (ATC) được xác định bằng tổng của chi phí biến đổi trung bình và chi phí cố định, cụ thể là ATC = AVC + FC.

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến khái niệm về lợi nhuận mong muốn của doanh nghiệp (m) và lợi nhuận dựa trên thỏa thuận ấn định giá nhằm bốc lột thêm từ người tiêu dùng (m‟) Việc xác định rõ hai khoản lợi nhuận này giúp doanh nghiệp cân bằng giữa mục tiêu lợi nhuận tối đa và duy trì sự hài lòng của khách hàng Điều này đóng vai trò quan trọng trong chiến lược định giá và hoạch định tài chính của doanh nghiệp, đảm bảo sự phát triển bền vững trong thị trường cạnh tranh.

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận ấn định giá

Mặc dù các quy định về PLC T của các quốc gia đều đưa ra các điều chỉnh nhằm kiểm soát hành vi thỏa thuận định giá, tuy nhiên thực tế, không có một định nghĩa thống nhất về thỏa thuận ấn định giá giữa các quốc gia Chính sự khác biệt này gây khó khăn trong việc quy chuẩn và thực thi các quy định về chống độc quyền quốc tế Việc hiểu rõ các quy định về thỏa thuận định giá là cần thiết để các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và đảm bảo hoạt động kinh doanh minh bạch, cạnh tranh công bằng trên thị trường toàn cầu.

Dựa trên quyết định của Ủy ban Châu Âu ngày 01/10/2008 về xử lý hành vi thỏa thuận ấn định giá của các nhà sản xuất sáp tại thị trường châu Âu từ năm 1992 đến 2005, có thể thấy rằng không một hộ gia đình hoặc doanh nghiệp nào tại châu Âu tránh được việc mua các sản phẩm bị chi phối bởi thỏa thuận này, gây thiệt hại lớn như thanh toán giá cao hơn, chi phí tăng và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Thông qua vụ việc này, định nghĩa ban đầu về thỏa thuận ấn định giá bao gồm các doanh nghiệp cùng kinh doanh một mặt hàng, thống nhất ý chí để tăng giá bán, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và nền kinh tế chung Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh của Châu Âu chưa có định nghĩa chính thức về thỏa thuận ấn định giá, chỉ quy định nghiêm cấm hành vi này để bảo vệ cạnh tranh tự do, công bằng.

Pháp luật kiểm soát thỏa thuận ấn định giá

1.3.1 Nhu cầu điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với thỏa thuận ấn định giá

Xuất phát từ thời La Mã cổ đại, đạo luật “Lex Julia de Annona” vào khoảng năm 50 TCN đã được ban hành để kiểm soát giá lương thực và trừng trị nghiêm khắc các thương nhân đầu cơ, ép giá hoặc liên kết để nâng giá lương thực, cho thấy ý thức về kiểm soát thị trường đã tồn tại từ thời cổ đại Tuy nhiên, sau nhiều biến cố lịch sử và ảnh hưởng của tư tưởng tự do trong luật dân sự La Mã, đạo luật này đã bị loại bỏ Đến thời hiện đại, mặc dù luật cạnh tranh được ban hành tại Canada vào năm 19XX, nhưng các quy định về kiểm soát giá vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng và duy trì cân bằng thị trường.

Hầu hết các học giả về pháp luật cạnh tranh trên thế giới đều cho rằng sự ra đời của Luật Sherman năm 1890 tại Hoa Kỳ là mốc đánh dấu sự hình thành của pháp luật cạnh tranh hiện đại Sau Hoa Kỳ, đến sau Thế chiến thứ II, các quốc gia khác bắt đầu nhận thức rõ vai trò quan trọng của luật cạnh tranh, điển hình là sự ra đời của pháp luật cạnh tranh ở Pháp năm 1945, Nhật Bản năm 1947, và Vương quốc Anh.

Đến năm 2007, theo thống kê của UNCTAD, đã có 113 quốc gia và vùng lãnh thổ ban hành luật cạnh tranh riêng để đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh Một số khu vực như Liên minh Châu Âu đã thiết lập luật cạnh tranh từ năm 1957, là một phần của Hiệp định thành lập Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (Hiệp định Rome), nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do và hạn chế các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trong khu vực ASEAN, chỉ có Indonesia, Singapore, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam có luật cạnh tranh bao trùm nền kinh tế và cơ quan giám sát thực thi, trong khi các nước còn lại chủ yếu dựa vào chính sách ngành để duy trì môi trường cạnh tranh Phát triển các luật cạnh tranh là nhu cầu tất yếu của các quốc gia nhằm kiểm soát các thỏa thuận ấn định giá và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nền kinh tế toàn cầu.

Đạo luật chống độc quyền Sherman ban hành năm 1890 của Hoa Kỳ quy định rằng mọi hợp đồng, sự kết hợp dưới hình thức tờ-rờ hoặc các hình thức khác, cùng với các cấu kết ngầm, đều bị cấm nếu nhằm cản trở thương mại giữa các bang Luật này đặt nền tảng thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và hạn chế độc quyền trên thị trường Mỹ Các quy định của Đạo luật Sherman nhằm ngăn chặn các hành vi gây phá hoại tự do thương mại liên bang, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và doanh nghiệp cạnh tranh hợp pháp.

59 “History of competition law”, https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_competition_law truy cập ngày 10/06/2015

60 Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Văn Cương (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Chính trị Quốc gia, tr 33

61 Viện Khoa học Pháp lý (2004), tlđd (12), tr 38

62 Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC (2011), Sổ tay kinh doanh ASEAN, Jakarta – Indonexia, tr 59

Đạo luật Sherman nghiêm cấm mọi hành vi ngăn cản hoặc cản trở thương mại, đặc biệt là các thỏa thuận ấn định giá, xem đó là hành vi bất hợp pháp gây cản trở cạnh tranh Hoa Kỳ, với hệ thống pháp luật án lệ, ghi nhận các định nghĩa về thỏa thuận ấn định giá thông qua các phán quyết của Tòa án Tối cao, coi đây là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh Theo học thuyết HCCT bổ trợ, Hoa Kỳ chia thỏa thuận ấn định giá thành hai loại: hợp pháp hoặc được miễn trừ, và ngang nhiên vi phạm pháp luật cạnh tranh Chính sách khoan hồng lần đầu tiên được Mỹ áp dụng để phá vỡ các thỏa thuận HCCT, bao gồm cả thỏa thuận ấn định giá Về chế tài, PLCT Hoa Kỳ xử phạt rất nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm, với khoản phạt lên đến 10 triệu USD cho doanh nghiệp và 350.000 USD hoặc tù không quá 3 năm cho cá nhân, kèm theo khả năng xử lý linh hoạt của pháp luật trong việc xử lý các thỏa thuận ấn định giá, thể hiện thái độ nghiêm khắc nhưng linh hoạt của Hoa Kỳ trong kiểm soát hành vi vi phạm cạnh tranh.

Theo PLCT của Liên minh châu Âu, các thỏa thuận ấn định giá là một dạng thỏa thuận Hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định tại Điều 81 Hiệp định Rome năm 1957, nhằm ngăn chặn các hành vi dìm giá hoặc thao túng điều kiện thị trường Các thỏa thuận này gồm hai loại chính: trực tiếp và gián tiếp, đều bị coi là vi phạm luật cạnh tranh Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, EU áp dụng nguyên tắc hợp lý để xem xét các thỏa thuận ấn định giá, và chỉ các thỏa thuận theo dạng bổ trợ, đáp ứng các điều kiện khắt khe mới được xem là hợp pháp Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát các thỏa thuận dẫn đến hạn chế cạnh tranh trên thị trường chung.

63 Điều 1, Đạo luật chống độc quyền Sherman năm 1890

64 Micheal Bogdan (2002), Luật so sánh, NXB Kluwer Norstedts Juridik Tano, tr 126 (Bản dịch của Lê

Hồng Hạnh, Dương Thị Hiền)

Theo Bản Hướng dẫn của Ủy ban Châu Âu ngày 27/04/2004 về việc áp dụng Khoản 3 Điều 81 Hiệp định thành lập Liên minh Châu Âu, có bốn điều kiện để các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được hưởng miễn trừ, trong đó bao gồm lợi ích từ việc cải thiện tính hiệu quả và sự phân chia công bằng lợi ích đó.

21 cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với thỏa thuận ấn định giá ở Liên minh châu Âu cũng rất linh hoạt và hoàn thiện

Luật Cạnh tranh Nhật Bản, còn gọi là Luật Chống độc quyền, được ban hành từ năm 1947 và được mô phỏng theo PLCT của Hoa Kỳ Đạo luật này lần đầu được sửa đổi vào năm 1953 để điều chỉnh các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (HCCT) một cách linh hoạt hơn và đã trải qua nhiều lần chỉnh sửa sau đó Các quy định quan trọng trong Luật, như Điều 3, Điều 6, điểm i, Khoản 1, Điều 8, nghiêm cấm doanh nghiệp và hiệp hội tham gia hoặc thực hiện các thỏa thuận HCCT trong nước và quốc tế trên mọi lĩnh vực thương mại Khoản 6 Điều 2 của luật giải thích rõ các loại thỏa thuận HCCT.

Các hoạt động kinh doanh nhằm hạn chế cạnh tranh hoặc thiết lập giá cả thông qua hợp đồng, thỏa thuận hoặc các hình thức tập thể khác đều vi phạm lợi ích công cộng và gây ra HCCT trên thị trường Những hành vi này trái với Luật Chống độc quyền, sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo pháp luật Nhật Bản có hệ thống pháp luật chống độc quyền hoàn chỉnh, trong đó các chế tài xử lý hành vi HCCT, bao gồm thỏa thuận ấn định giá, được thực thi rất nghiêm, nhưng quyền chứng minh của các chủ thể vi phạm được tôn trọng và chính sách khoan hồng có thể được áp dụng nếu đáp ứng các điều kiện nhất định.

Phân tích nhu cầu kiểm soát thỏa thuận ấn định giá của PLCT trên thế giới cho thấy, việc xây dựng một hệ thống PLCT hoàn chỉnh và hiện đại là cần thiết để đảm bảo kiểm soát các thỏa thuận định giá một cách hiệu quả và kịp thời.

1.3.2 Cơ chế kiểm soát và phá vỡ các thỏa thuận ấn định giá

Theo quan điểm được phổ biến rộng rãi trên thế giới về luật cạnh tranh, các thỏa thuận ấn định giá theo chiều ngang đều bị coi là vi phạm do thuộc nhóm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng Những thỏa thuận này thường gây ra sự không thể tách rời của việc hạn chế cạnh tranh, đồng thời không triệt tiêu hoàn toàn cạnh tranh trên thị trường mà chỉ làm giảm tính cạnh tranh một cách hạn chế.

66 Nguyễn Văn Cương (2006), tlđd (15), tr 194

Thỏa thuận ấn định giá là hành vi nghiêm trọng có tác hại đáng kể đối với nền kinh tế và sự phát triển của quốc gia, đặc biệt khi nó thuộc nhóm cartel cứng (hardcore cartel) không có sự miễn trừ Các quốc gia đã nhận thức rõ tác hại của loại hình thỏa thuận này và đã thiết lập các cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế, xử lý các hành vi vi phạm Trong quá trình xử lý, pháp luật cạnh tranh của các quốc gia dựa trên hai nguyên tắc cốt lõi: nguyên tắc lập luận hợp lý (rules of reason) và nguyên tắc vi phạm mặc nhiên (per se rules), nhằm đảm bảo cân bằng giữa bảo vệ cạnh tranh và lợi ích hợp pháp của các bên.

Nguyên tắc lập luận hợp lý đóng vai trò quan trọng trong đánh giá tác động của thỏa thuận ấn định giá đối với cạnh tranh, đòi hỏi phân tích các đặc điểm riêng của loại hình kinh doanh, bản chất và ảnh hưởng của thỏa thuận, cũng như lý do áp dụng Ở Hoa Kỳ, Tòa án Tối cao từng áp dụng nguyên tắc này để xem xét các thỏa thuận chống cạnh tranh, từ đó nhận ra rằng một số thỏa thuận mang lợi ích lớn hơn cho xã hội hoặc chỉ mang tính chất kinh tế, xã hội, nên được miễn trừ khỏi các quy định cấm Trong quá trình đánh giá, cần cân nhắc xem thỏa thuận có thực sự giảm cạnh tranh không, có lý do chính đáng để biện minh không, và có đủ bằng chứng xác đáng hay không Theo pháp luật của Liên minh Châu Âu, một thỏa thuận ấn định giá được coi là hợp pháp nếu đáp ứng các điều kiện tại Điều 81 (3) TEC, và theo hướng dẫn của Luật Mẫu về Cạnh tranh, thỏa thuận này sẽ được miễn trừ khi xét toàn diện mang lại lợi ích lớn cho xã hội.

Dự án hỗ trợ thương mại đa biên 67 MUTRAP (2009) cùng với Chương III của Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD xác định rõ rằng thỏa thuận ấn định giá vi phạm pháp luật cạnh tranh Đạo luật Sherman của Hoa Kỳ quy định rằng các thỏa thuận về ấn định giá đều bị coi là phạm pháp một cách mặc định, do tính chất vi phạm pháp luật cạnh tranh nghiêm trọng.

68 Nguyễn Thanh Tú (2007), “Nguyên tắc lập luận hợp lý và nguyên tắc vi phạm mặc nhiên trong pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật số 01(225)/2007, tr 52

69 Nguyễn Thanh Tú (2007), tlđd (68), tr 53

70 Các án lệ của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ nhƣ: Standard Oil Co v US, 221 U.S 160 (1911); US v American

Tobacco, 221 U.S 106, 179-180 (1911); Chicago Board of Trade v US, 246 U.S 231 (1918)

71 Cục Quản lý Cạnh tranh (2012), Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, tr 14

Dựa trên hướng dẫn về cách áp dụng Điều 81 của Hiệp định thành lập Cộng đồng Châu Âu, đã xác định rõ bốn tiêu chí quan trọng để đánh giá các thỏa thuận ngang, bao gồm lợi ích kinh tế, tính cần thiết, chia sẻ lợi ích công bằng cho người tiêu dùng và đảm bảo không loại bỏ cạnh tranh.

73 UNCTAD (2010), tlđd (17), Chapter III, page 4

23 các nước luôn đánh giá mức độ tương xứng giữa lợi ích mà thỏa thuận ấn định giá mang lại và những lợi ích bị nó xâm hại

THỰC TIỄN KIỂM SOÁT CÁC THỎA THUẬN ẤN ĐỊNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 14/08/2023, 06:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w