Bài giảng luật thuế_bài 3.
Trang 1LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU,
THUẾ NHẬP KHẨU
QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HÒAN
THIỆN LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
1.1/ Quá trình hình thành
1.1.1 / Giai đoạn từ 1992 đến năm 1996
1.1.2/ Giai đoạn từ năm 1996 đến nay
1.2/ Mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu
Trang 2QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HÒAN THIỆN LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ
NHẬP KHẨU
Quá trình hình thành
Thuế XNK đã hình thành rất lâu ở Việt Nam từ Thế kỷ Thứ XI Triều đại Nhà Lý đến thời vua Gia Long việc thu thuế XNK đã được quy định tại Bộ Luật” Hòang triều Luật lệ” nhưng Bộ luật này đơn giản, sơ sài và chưa phải là chế định pháp luật độc
lập
Quá trình phát triển của đất nước trải qua nhiều giai đoạn việc hình thành và phát triển của chính sách thuế XNK có thể chia thành 6 giai đọan sau :
+ Giai đọan Cách mạng tháng 8 đến 1954 + Giai đọan 1954 đến 1975
+ Giai đọan từ 1975 đến 1987 ( Thực hiện Luật thuế XK, thuế NK hàng mậu dịch)
Trang 3 Giai đọan từ đổi mới đến 1992
Tôi xin trình bày khái quát hai giai đoạn
từ khi có Luật thuế XK,Thuế NK
Trang 4Giai đoạn từ 1992 đến
năm 1996
Để phù hợp với đường lối đổi mới trong quan hệ kinh
tế đối ngoại về việc đa dạng hóa thị trường, đa
phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế và để khắc phục
những bất cập trong chính sách thuế XNK, ngày 26
tháng 12 năm 1991 Quốc hội khóa VIII kỳ họp Thứ X đã thông qua Luật thuế XNK hàng mậu dịch và chính sách thu thuế đối với hàng nhập khẩu phi mậu dịch
Ngày 31 tháng 3 năm 1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 110/HĐBT qui định chi tiết thi
hành Luật thuế XNK để áp dụng từ ngày 01/4/1992 Lần sửa đổi này đã thay đổi nhiều nội dung quan
trọng như:
Trang 5* Thống nhất giữa thuế XNK hàng mậu dịch
và hàng phi mậu dịch.
* Danh mục biểu thuế XNK dựa trên danh
mục HS, không áp dụng cho danh mục hàng hóa XNK của Hội đồng tương trợ kinh tế như trước đây.
- Ngày 15/7/1993 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Ngày 20/5/1998 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế XK, thuế NK.
Trang 6Luật Thuế XNK được xây dựng theo các nguyên tắc chủ đạo
sau:
+ Bảo vệ nguồn tài nguyên khan hiếm, hạn chế xuất khẩu những mặt hàng chiến lược
+ Bảo hộ thích đáng các ngành sản xuất
trong nước
+ Bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà
nước
+ Điều tiết tiêu dùng đối với các mặt hàng xa
xỉ hoặc có ảnh hưởng đến các khía cạnh xã hội, văn hoá, an ninh quốc gia
Trang 7 Về thuế suất hàng hoá XK:
Chỉ có một cột thuế chung cho các đối tượng XK (có 58 nhóm mặt hàng) Đại đa số các mặt hàng XK chịu mức thuế suất từ 0% - 5% Mức thuế XK bình quân là 14% và chỉ có mặt hàng phế liệu kim loại chịu mức thuế suất là 45%
Về thuế suất hàng hoá NK:
Thuế nhập khẩu có 28 mức từ 0% đến 100% áp dụng cho gần
3500 nhóm hàng (phân loại ở cấp độ 4 chữ số và 6 chữ số)
Chỉ trong vòng 4 năm khi Luật thuế XK, thuế NK ra đời thuế
XNK đã thu vào ngân sách Nhà nước từ chỗ chiếm tỷ trọng
6,1% năm 1988 lên 12,7% năm 1991 trong tổng thu ngân sách Nhà nước (tăng bình quân 1,65%/năm)
Trang 8 Chính sách thuế XNK giai đoạn này chủ yếu là:
- Thống nhất chính sách thuế NK đối với hàng mậu dịch và phi mậu dịch bằng việc ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991;
- Biểu thuế xây dựng trên nguyên tắc nặng về bảo hộ sản xuất trong nước, tăng thu ngân sách, ổn định giá cả, khuyến khích đầu tư nước ngoài
- Thuế suất rất cao và thường xuyên thay đổi theo sự biến động của thị trường;
- Thuế NK bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt một số nhóm mặt hàng nhập khẩu cho nên thuế suất rất cao, có những mặt hàng thuế suất lên đến 200% (xe ô tô, rượu )
- Thuế nhập khẩu thu được so với tổng thu ngân sách từ thuế rất cao (năm 1993 lên đến 22,35%)
Trang 9Giai đoạn từ năm 1996
đến nay
Từ ngày 01/01/1996, thực hiện chương trình cải cách chính
sách thuế giai đoạn hai, cũng như cam kết với Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF)( International Monetary Fund ), Việt Nam đã tiến hành cắt giảm thuế suất thuế NK của một số mặt hàng có mức thuế suất trên 60%
Trong giai đoạn này, mục tiêu của thuế nhập khẩu cần đạt được là:
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động XNK, Bảo đảm điều hành toàn bộ hoạt động nhập khẩu một cách linh hoạt, có hiệu quả
- Thông qua thuế NK, tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất trong nước đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm
Trang 10 Hạn chế nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt đối với những hàng hóa mà trong nước đã sản xuất được.
- Tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập nền kinh tế
nước ta vào kinh tế khu vực và thế giới Thực hiện các cam kết song phương và đa phương.
- Cùng với việc ban hành Luật sửa đối bổ sung một
số điều và biểu thuế xuất khẩu, thuế nk, được thực hiện từ ngày 01/01/1999 gồm 97 chương và 3280
nhóm mặt hàng Mức thuế nhập khẩu cao nhất là
60% và thấp nhất là 0%
Trang 11 Biểu thuế đã được xây dựng lại theo hướng đơn giản mức thuế suất, chi tiết hơn dòng hàng, thực hiện chế
độ hồi tố năm năm đối với thuế XK, thuế NK hướng đến chính sách thuế NK dần dần thích ứng với điều kiện hội nhập.
Biểu thuế NK từ chỗ bao gồm 29 mức thuế suất, với mức thuế suất danh nghĩa bình quân là 40,66% trước năm 1998 xuống còn 18% mức thuế suất danh nghĩa
là 16,20%, nhưng trên thực tế, thuế suất bình quân thực tế giảm từ 16,11% xuống còn 5,74% vào năm
2000 và mức thuế bình quân được duy trì cho đến
nay
Trang 12Mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu
Vừa bảo hộ, vừa khuyến khích phát triển sản xuất
Xây dựng trên cơ sở danh mục hàng hóa XNK năm 1996
Thể hiện rõ quan điểm hội nhập bằng các mức thuế suất (thông thường, ưu đãi và ưu đãi đặc biệt).
Tách biệt thuế tiêu thụ đặc biệt ra khỏi thuế nhập
khẩu
Chú trọng đến khuyến khích đầu tư cho giáo dục, đào tạo khoa học công nghệ, đầu tư trong và ngoài nước.
Chính sách thuế NK thể hiện rõ trách nhiệm pháp lý trong việc khai báo, tính thuế và nộp thuế nhập khẩu