1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Báo cáo HTSDĐ trong lâm nghiệp copy

35 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 558,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đai là tài sản quý giá của mỗi quốc gia, vừa là tư liệu vừa là ĐTSX và cũng là nơi xây dựng các công trình phục vụ PTKT, dân sinh và ANQP. Quá trình khai thác sử dụng đất luôn gắn liền với QTPT của xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, trong khi đất đai lại có hạn và ngày càng trở nên quý giá. Chính vì vậy mà việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững luôn là nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải cân nhắc kỹ càng và có kế hoạch rõ ràng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Chuyên ngành: Lâm nghiệp

ĐỀ TÀI BỘ MÔN HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT TRONG LÂM NGHIỆP

Gia Lai

Tháng 01/2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được bài báo cáo này, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Bố

mẹ, các Thầy, Cô giáo của trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minhcũng như phân hiệu Gia Lai trong suốt quá trình học tập tại trường Tôi xin gửi lờicảm ơn chân thành đến: Thầy, Cô thuộc Khoa Lâm nghiệp đã hết lòng truyền đạtnhững kiến thức quý báu trong suốt thời gian theo học tại trường

Xin chân thành cảm ơn các Cô, Chú và các anh, chị ở xã K’ Dang, huyệnĐắk Đoa, tỉnh Gia Lai đã giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu thực tế

Xin chân thành cảm ơn!

Gia Lai, tháng 1 năm 2018 Nhóm sinh viên thực hiện

Nhóm I

MỤC LỤC

TRANG

Trang 4

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

Trang 5

ĐTSX Đối tượng sản xuấtPTKT Phát triển kinh tế

PTNT Phát triển nông thôn

Trang 6

WASI Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang 7

BẢNG TRANG Bảng 3.1: Năng suất cà phê đạt được qua các năm của hộ gia đình ông Nguyễn Văn

Hoàng tại xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai 9

Bảng 3.2: Lượng phân bón cho cà phê qua các năm của xã K’ Dang, huyện Đắk

Trang 8

là nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải cân nhắc kỹ càng và có kế hoạch rõ ràng.

Việt Nam là một nước gió mùa nhiệt đới, có khí hậu nóng ẩm quanh năm, cómột vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày,

có khả năng xuất khẩu cao,… Cà phê là một trong những loại cây trồng đó, hiện nay

ở VN, cà phê là mặt hàng nông sản có GTXK lớn thứ hai sau gạo

Gia Lai là tỉnh có diện tích lớn thứ 2 VN GL nằm trên một phần của nền đá

cổ rộng lớn Địa hình GL có thể chia thành 3 dạng chính là địa hình đồi núi, caonguyên và thung lũng Trong đó, Cao nguyên là dạng địa hình phổ biến và quantrọng của GL, với hai cao nguyên là Cao nguyên Kon Hà Nừng và Cao nguyênPleiku Địa hình thứ hai là địa hình đồi núi, chiếm 2/5 diện tích tự nhiên toàn tỉnh,phần lớn nằm ở phía bắc, địa hình núi phân cách mạnh, bề mặt các dạng địa hìnhkhác của GL như các cao nguyên, những thung lũngĐB cũng đều rải rác có núi.Địa hình thứ ba là Các vùng trũng, những vùng này sớm được con người khai thác

để SXLT GL thuộc vùng KH CN NĐGM, dồi dào về độ ẩm, có lượng mưa lớn,

Trang 9

không có bão Khí hậu và thổ nhưỡng GL rất thích hợp cho việc phát triển nhiềuloại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi và KDTH NLN đem lại hiệuquả kinh tế cao (theo nguồn https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Lai#cite_note-đâti-7).

Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của VN Tổng diệntích cà phê cả nước là 614.545ha, trong đó Tây Nguyên chiếm tỷ lệ khoảng 92%(Cục Trồng trọt, 2012) Cà phê là cây hàng hóa nông sản chủ lực của huyện ĐakĐoa

Với các ĐKTN và địa hình của vùng đồi núi, SXNN tại xã K’ Dang, huyệnĐắk Đoa, tỉnh Gia Lai chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nguồn nước sử dụng trongtrồng trọt Thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô, nguồn nước chủ yếu là nướcmưa Bên cạnh đó, trình độ dân trí của người dân tại địa phương tương đối thấp, tậpquán canh tác còn lạc hậu dẫn đến hiệu quả kinh tế còn thấp so với tiềm năng sảnxuất nông nghiệp trong vùng

Xuất phát từ những nhận định trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Mô

tả hiện trạng canh tác cây cà phê tại xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu về tình hình SXCP tại xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai

- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiện trạng CTCP

- Điều tra được HTCT của cây cà phê

- Điều tra được HTSD đất trên địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phù hợp

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vườn cà phê của hộ gia đình ôngNguyễn Văn Hoàng tại xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai

- Phạm vi nghiên cứu: Số liệu thu thập được trên vườn cà phê của nhà ôngNguyễn Văn Hoàng tại xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai

Trang 10

Chương 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu HTCT cà phê đã được nhiều tácgiả trong và ngoài nước quan tâm Những nghiên cứu đó nhằm xây dựng cơ sở khoahọc phục vụ cho bà con nông dân kinh doanh cà phê, quản lý, bảo vệ và sử dụng đấthợp lý, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về kinh tế của mỗi hộ nông dân

2.1 Tình hình nghiên cứu hiện trạng canh tác cà phê trên thế giới

Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu hiện trạng CTCP cho đến ngàynay vẫn được áp dụng rộng rãi vào thực tế và ngày càng có nhiều công trình đã vàđang góp phần to lớn cho việc xây dựng các mô hình SXCP đạt hiệu quả cao

Trên TG hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích trên 10 triệu ha vàsản lượng hàng năm biến động trên dưới 6 triệu tấn Ba nước có diện tích cà phê lớnnhất đó là Brazil trên 3 triệu ha, Indonesia (Châu Á) 1 triệu ha và Côlômbia gần 1triệu ha

Do sự xuất hiện và gây hại của bệnh gỉ sắt cà phê tại nhiều nước Trung vàNam Mỹ từ năm 1970 trở lại đây đã gây thêm những khó khăn và tốn kém chongười trồng cà phê ở khu vực này

Tổ chức cà phê trên thế giới (ICO) do không còn giữ được hạn ngạch xuấtkhẩu, giá cả trôi nổi trên thị trường tự do cho nên có những giai đoạn giá cà phêxuống thấp chưa từng có so với vài chục năm trở lại đây Tình trạng này đã dẫn đếnhậu quả là nhiêù nước phá bỏ bớt diện tích cà phê và không tiếp tục chăm sóc vìkinh doanh không còn thấy hiệu quả Năm 1994, do những đợt sương muối và sau

Trang 11

đó là hạn hán, vì vậy đã làm cho giá cà phê tăng vọt, có lợi cho những người xuấtkhẩu cà phê trên thế giới.

Cà phê là nước uống cao cấp, nhu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng khôngngừng tăng lên; chưa có sản phẩm nào nhân tạo được chấp nhận để thay thế cho càphê; vì vậy, việc trồng, xuất khẩu, nhập khẩu loại hàng hóa đặc biệt này vẫn có 1 ýnghĩa kinh tế lớn đối với nhiều nước trên thế giới

2.2 Tình hình nghiên cứu hiện trạng canh tác cà phê ở Việt Nam

Việt Nam có trên 700.000 ha diện tích cây cà phê, cho sản lượng cà phê nhântrung bình hàng năm từ 1,6 -1,7 triệu tấn VN được xem là nước xuất khẩu cà phêđứng thứ hai thế giới

Lịch sử phát triển cà phê ở Việt Nam: Theo YvesHenry, tác giả cuốn KTNNĐông Dương thì cà phê được đưa trồng vào Việt Nam năm 1857 tại 1 số vùng thuộctỉnh Quảng Bình, Quảng Trị Năm 1870, cà phê được trồng tại các tirh phía Bắc Càphê được trồng tại Tây Nguyên vào năm 1925…

Năm 1976, cả nước ta chỉ có xấp xĩ 20.000 ha cà phê Đến năm 1990, cảnước có gần 120.000 ha Đến năm 1998, cả nước có khoảng 300.000 ha…

2.3 Tình hình nghiên cứu hiện trạng canh tác cà phê ở huyện Đắk Đoa

K’ Dang là một xã trên cao nguyên plieku, với ĐKTN thuận lợi cho các loạicây công nghiệp dài ngày, trong đó có cây cà phê Chính vì vậy, cà phê trở thànhcây trồng mang lại thu nhập chính, góp phần nâng cao đời sống của người củangười dân, đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, cà phê được trồng từ khálâu nên hiện nay diện tích cà phê trên địa bàn chủ yếu là già cỗi, với cách chăm sóctheo kinh nghiệm, thói quen của người dân, đồng thời những năm gần đây khí hậuthay đổi thất thường, hạn hán kéo dài, lượng nước ở các con suối và lượng nướcngầm giảm mạnh dẫn đến không đủ nước cung cấp cho cây cà phê nên năng suất càphê không cao

Theo Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đak Đoa, tổng diện tích cà phêtoàn huyện khoảng 27.000 ha, trong đó có trên 10.000 ha trồng những năm 1995-

1999 đang ở trong tình trạng già cỗi, thoái hóa, năng suất kém Theo kế hoạch giai

Trang 12

đoạn 2016-2020, toàn huyện có 1.400 ha cà phê nằm trong diện tái canh Huyện đãthành lập Ban chỉ đạo trồng tái canh cà phê nhằm đôn đốc, nắm bắt tình hình cũngnhư có biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn Năm 2016, huyện

đã hỗ trợ kinh phí 281 triệu đồng để tổ chức ươm ghép nguồn giống cà phê, xuấtcấp 120.000 cây giống cho nông dân; thực hiện tái canh 352,5 ha/666 hộ; tổ chức 10lớp tập huấn về kỹ thuật trồng-chăm sóc cây cà phê cho 350 nông dân ở 5 xã

Trang 13

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng

- Điều kiện tự nhiên:

Cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới có những yêu cầu sinh thái rất khắt khe.Khi thời tiết thuận hòa, sản xuất đạt kết quả tốt dẫn đến cung tăng lên Nhưng nếuthời tiết xấu như hạn hán, sương muối sẽ phá hoại phần lớn diện tích cà phê ở đây

Quá trình sản xuất cà phê thường bị ảnh hưởng bởi vị trí, địa hình, khí hậu,thời tiết, tài nguyên đất,… Những nhân tố này rất quan trọng đối với việc sản xuất

ra sản lượng cà phê Muốn cà phê đạt được năng suất tốt thì cần phải trồng trọt thíchứng với ĐKTN

Như ở xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa, tỉnh GL có địa hình đồi núi dốc rất thíchhợp cho trồng cây cà phê Nhưng những năm gần đây thì thời tiết, khí hậu biến đổithất thường Năm 2016, ở xã K’ Dang, mùa khô nhiều hơn mùa mưa, khiến chongười dân ở đây thiếu nước tưới trầm trọng, làm cho cà phê mất mùa Gây ảnhhưởng rất lớn đến KTGĐ của các hộ nông dân

- Thị trường:

Vì cà phê cũng giống như những cây nông sản dài ngày khác cần có sự đầu

tư lớn về sản xuất và phải mất 3-5 năm cây cà phê mới cho năng suất cao nên ngườitrồng cà phê không thể từ bỏ sản xuất cà phê ngay khi giá cà phê xuống quá thấp vàngược lại khi giá cà phê tăng vọt, người ta cũng không thể có ngay cà phê để bán.Những năm qua sản xuất cà phê nhìn chung không giảm khi giá thay đổi Nhưng về

Trang 14

lâu dài giá cả cà phê cũng vẫn ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp.

Đối với một người tiêu dùng bình thường, giá bán lẻ cà phê có ảnh hưởnglớn đến người tiêu dùng cà phê hay không? Trước đây cả nhà chế biến và người tiêudùng cuối cùng rất quan tâm đến chất lượng cà phê nhưng ngày nay họ lại quan tâmnhiều đến giá cả Tuy nhiên mức độ phản ứng đối với giá cả ở các nước tiêu thụkhác nhau

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc sản xuất cà phê gì, như thế nào đểđạt hiệu quả cao? Cho nên, yêu cầu về thị trường làm căn cứ thúc đẩy người sảnxuất lựa chọn cho mình khả năng tham gia cụ thể vào thị trường Khi thị trườngngày càng phát triển, làm cho cà phê hàng hóa ngày càng đa dạng phong phú, đòihỏi về số lượng cũng như chất lượng cà phê hàng hóa ngày càng cao

- Vốn đầu tư và sử dụng vốn:

Muốn nâng cao trình độ SXCP hàng hóa thì phải có vốn đầu tư và nâng caohiệu quả sử dụng vốn Tốc độ SXCP hàng hóa tùy thuộc vào mức thu nhập và khảnăng tích lũy của các nông hộ cũng như sự đầu tư của nhà nước thông qua hệ thốngtài chính tín dụng

Giảm giá các khoản đầu vào (tiền công, chi phí cho phân bón, giống, tiềnmáy móc thấp hơn v.v ) sẽ làm cho các nhà sản xuất đầu tư vào sản xuất nhiều hơn

- Áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ:

Đây là 1 nhân tố trực tiếp làm thay đổi trạng thái SXCP, nâng cao khối lượng

và chất lượng của sản phẩm cà phê

Công tác khuyến nông, những thành tựu khoa học kỹ thuật mới: Ví dụ nhưđưa một loại cà phê giống mới vào sản xuất làm cho năng suất cà phê tăng dẫn tớităng cung; mở lớp tập huấn cho nông dân về các kỹ thuật trồng cây cà phê

- Sở thích của người tiêu dùng: Cà phê vốn thường được uống trong các bữa

ăn của gia đình Tuy nhiên với nhịp độ công nghiệp hóa ngày nay đòi hỏi cà phêphải được điều chỉnh để thích ứng với lối sống mới nếu không cà phê sẽ phảinhường thị trường của mình cho các loại đồ uống khác Vì cà phê thường phải uống

Trang 15

đá đang ngày càng được nhiều người ưa chuộng để cạnh tranh được với các loạithức uống khác Đã từ lâu người ta cho rằng cà phê “tốt hơn” sẽ tạo ra nhu cầu càphê nhiều hơn Với những cải tiến về pha trộn gần đây, lượng cầu hình như đã tănglên đáng kể đối với các loại cà phê này.

3.1.2 Hiện trạng canh tác

Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất dã được đề cập từ luật đất đai năm

1987 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật đất đai năm 1993, luật đất đai năm 2003

và dã được Luật đất đai năm 2013 kế thừa và phát huy các quy định này Còn khaihoang là công cuộc mở mang, khai phá ruộng đất, phát triển văn hóa vùng miềnnúi do người miền xuôi thực hiện với sự tổ chức của nhà nước Việt Nam dân chủcộng hòa trong những năm 1961-1970

Ở hộ gia đình ông Nguyễn Văn Hoàng tại xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa, tỉnhGia Lai thì diện tích đất mà nhà ông đang canh tác cà phê là đã được khai hoang từnăm 2008 Nhưng từ năm 2013 đến nay chỉ trồng duy nhất vườn cà phê Nên khôngphải là chuyển đổi MĐSD đất

Cây cà phê thường xuyên mắc những bệnh về đất (bệnh ở cổ rễ trên cây càphê) nên trước khi trồng cần chú ý đến công đoạn khai hoang và chuẩn bị đất Đầutiên cần cày bừa và dọn sạch sẽ vùng đất trồng tiêu Loại bỏ tất cả những rễ cây tiêucòn sót lại ở mùa trước Làm sạch cỏ vườn cây và rải vôi bột để làm sạch đất, loại

bỏ tất cả những nấm và bệnh còn sót lại trong đất Đầu tiên cần cày bừa và dọn sạch

sẽ vùng đất trồng cà phê Loại bỏ tất cả những thảm thực bì/cây cỏ còn sót lại ở đất

đã được khai hoang Làm sạch cỏ vườn cây và rải vôi bột để làm sạch đất, loại bỏtất cả những nấm và bệnh còn sót lại trong đất Bạn có thể sử dụng khoảng 2 đến 3tấn vôi bột cho ha đất trồng Ngoài ra sử dụng vôi bột còn có thể cải thiện được độchua của đất và điều hòa độ pH đất hợp lý Trước khi trồng 1 tháng cần cày đất vàphơi nắng để đất được thông thoáng Diện tích canh tác cà phê của nhà ông Hoàng

là 1 ha

Hai loại cà phê chủ yếu đang được trồng phổ biến ở nước ta là cây cà phê vối

và cà phê chè có những yêu cầu sinh thái khác nhau Cây cà phê vối ưa thời tiết

Trang 16

nóng ẩm và lượng ánh sáng dồi dào nên thích hợp trồng ở các tỉnh phía Nam Càphê chè ưa thời tiết mát, có cường độ ánh sáng mặt trời thấp và chịu được nhiệt độthấp (thấp hơn cà phê vối 5 - 70 C) nên thích hợp trồng ở các tỉnh phía Bắc Ở đâyđất tốt nên cà phê Robusta được 1350 cây/ha, hàng cách hàng 3 m, cây cách cây 2

m Nếu mà đất xấu thì sẽ trồng nhiều hơn để dảm bảo cho năng suất được ổn định

Bảng 3.1: Năng suất cà phê đạt được qua các năm của hộ gia đình

ông Nguyễn Văn Hoàng tại xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai

Qua bảng số liệu, ta thấy rõ ràng là năng suất cà phê tăng giảm thất thường,năm 2016 cho cà phê ít nhất do hạn hán kéo dài, thời gian mưa ít Khiến cho thunhập của hộ gia đình không ổn định qua các năm Gây khó khăn cho các hoạt độngsinh hoạt trong gia đình

Theo ông Hoàng thì đất khai hoang trồng cây cà phê này đã được 5 năm tuổi

Ở đây, chủ yếu là người dân chỉ canh tác theo kiểu độc canh, chỉ trồng một loài cây;không sử dụng các mô hình nông lâm kết hợp như trồng xen với các cây lâm nghiệphay các cây họ đậu để tăng nhu cầu dinh dưỡng cho đất Canh tác độc canh trongthời gian dài sẽ dẫn đến đất chua, làm giảm KNSX, năng suất cây trồng thấp, xóimòn đất dễ xảy ra

Đất trồng cà phê ở xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa là đất nâu đỏ bazan có tầngđất dầy, dốc vừa phải, khá tơi xốp, kết cấu hạt chiếm ưu thế, phản ứng đất hầu hếtthuộc loại chua (pHKCL = 4,0 - 4,7)

Cây cà phê cần những yếu tố dinh dưỡng như sau:

- Nhu cầu về đạm (N):

+ Cho đến nay N được xem là nguyên tố quan trọng nhất đối với cà phê non

và cả những cây đang cho thu hoạch Cây cà phê cần nhiều đạm nhất vào mùa mưa

là lúc quá trình phát triển và cũng là mùa tạo cành, lá mới dự trữ cho năm sau

Trang 17

+ Nếu cung cấp không đủ đạm vào lúc này thì đạm sẽ tập trung nuôi quả, sựphân cành dự trữ kém, giảm năng suất vụ sau, lượng đạm cà phê cho thâm canh cần

từ 300 – 350kg N/ha Nếu đầu tư đạm quá mức làm cho cây thừa đạm lá mỏngmềm, quang hợp hạn chế, sức đề kháng yếu dễ bị sâu bệnh tấn công

- Nhu cầu về lân (P2O5):

+ Tuy lân không cần nhiều bằng đạm song đóng một vai trò quan trọng quyếtđịnh cho bộ rễ cây phát triển từ khi cây cà phê còn non cho đến cây cà phê đang choquả, lân còn tham gia vào quá trình tăng sự phân hóa mầm hoa, đậu quả, tích lũydinh dưỡng vào hạt, lân thường được bón lót trước khi trồng cây con và bón cho càphê thời kỳ sản xuất trước khi cà phê ra hoa cũng như thời kỳ cây mang quả

+ Đất bazan Đắk Đoa thường thiếu lân nên cần bón lân với tỷ lệ thích hợp (3– 2 - 3 theo thứ tự N, P2O5, K2O) với liều lượng lân từ 200-250kg P2O5/ha câysinh trưởng tốt cho năng suất cao và ổn định

- Nhu cầu về kali (K2O):

+ Khi cây còn nhỏ cà phê cần kali không nhiều, trong thời kỳ phát triển quảcho đến khi quả thành thục và chín thì nhu cầu về kali của cây gia tăng, nhiều thựcnghiệm cho thấy bón kali làm tăng năng suất cà phê và giảm tỷ lệ rụng quả, giảmbệnh khô cành, khô quả

+ Đất tại xã K’ Dang, huyện Đắk Đoa vốn đã rất nghèo kali nếu không đượcbón kali sau vài vụ thu hoạch sẽ nghèo kiệt kali nghiêm trọng và triệu chứng thiếukali xuất hiện trên lá cà phê thành những vệt cháy màu nâu đen từ chóp và dọc haibên rìa lá, lá già rụng sớm năng suất thấp với mức bón 350-400kg K2O/ha sẽ ổnđịnh năng suất cà phê từ 3-4 tấn nhân/ha

- Nhu cầu về các chất trung vi lượng:

+ Nhu cầu ma giê: Cây cà phê rất cần cho sự quang hợp, tổng hợp chất khô,đặc biệt đối với cà phê trong thời kỳ kinh doanh thường mang số lượng quả quá lớn,

hệ số diện tích lá phục vụ cho nuôi quả không tương xứng thường thấp hơn nhu cầunuôi quả, hạn chế hữu hiệu quả rụng, trái to, nhân chắc, nâng cao sức chống chọivới thời tiết, mức bón ma giê thích hợp cho cây cà phê từ 80-100kg/ha

Ngày đăng: 24/12/2018, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w