Theo Litter, it costs you, môi trường là một tổ hợp gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh một hệ thống, cá thể hoặc sự vật nào đó. Chúng sẽ tác động lên hệ thống này, xác định xem xu hướng và tình trạng tồn tại.Một định nghĩa rõ ràng hơn, môi trường là một tổ hợp gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau. Các yếu tố này ảnh hưởng tới sản xuất, đời sống, sự tồn tại và phát triển của con người cũng như thiên nhiên.
Trang 1Lớp: DH14LNGL
Nhóm 2: 7 thành viên
3.Thân Thiên Ngọc
4.Nguyễn Quốc Nghiệp
5.Nguyễn Thành Luân
6.Ngô Đức Long
7.Nguyễn Hoàng Bảo Khoa
Câu hỏi:
Câu 1: Tình hình bảo vệ môi trường nông – lâm nghiệp hiện nay như thế
nào?
Câu 2: Sự cấp thiết của việc bảo vệ môi trường?
Bài làm:
Câu 1:
Bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp:
Việt Nam là nước có khí hậu nóng và ẩm nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đây cũng chính là điều kiện nảy sinh và phát triển sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng… Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón hóa học (PBHH) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh, bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia là biện pháp quan trọng và chủ yếu Trên thực tế, việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu bất hợp lý trong trồng trọt cùng với việc không kiểm soát tình hình xả thải trong chăn nuôi hiện nay đang khiến môi trường ở khu vực nông thôn xuống cấp nhanh chóng và nghiêm trọng
Trang 2Tình trạng sử dụng thuốc BVTV, PBHH trong nông nghiệp có xu hướng gia tăng, thiếu kiểm soát là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái và là nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng
Tình trạng sử dụng phân bón không hợp lý về chủng loại, liều lượng, thời gian, không đúng về kĩ thuật, không rõ nguồn gốc, các loại hóa chất thuốc bảo vệ thực vật bị cấm và phương thức bón cho cây trồng vẫn đang diễn ra đã dẫn đến ô nhiễm đất và nguồn nước Đặc biệt, việc lạm dụng phân bón vô cơ trong thời gian gần đây khiến đất đai bị chai cứng, giữ nước kém và độ màu mỡ của đất giảm Theo số lượng thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tổng khối lượng phân bón sử dụng trung bình 1 năm khoảng 90.000 tấn đạm, 50.000 tấn Lân
và 250 tấn NPK Do hiệu quả hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng đối với phân bón thấp (đạt khoảng 60%) nên lượng phân bón dư thừa trong đất 1 năm khoảng 36.000 tấn đạm, 20.000 tấn lân và khoảng 100 tấn NPK Bình quân tổng lượng phân bón
vô cơ các loại sử dụng vào khoảng 2,4 triệu tấn/năm, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn bao bì, vỏ hộp các loại và phần lớn không thu gom mà vứt bừa bãi
ra đồng ruộng, kênh mương gây ô nhiễm môi trường trong vùng sản xuất nông nghiệp Một số địa phương đã xây dựng thùng thu gom tại đồng ruộng; nhưng việc làm này cũng còn rất ít địa phương thực hiện, biện pháp xử lý chủ yếu là đốt sau khi thu gom
Hiện nay có 40% các trang trại chăn nuôi tập trung đã xây dựng công trình
xử lý nước thải, tuy nhiên hiệu quả xử lý của các công trình này không cao Do công trình xây dựng không đảm bảo công suất, chất lượng hoặc bị xuống cấp, hư hỏng, không được bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời
Không chỉ trong trồng trọt mà cả chăn nuôi gia súc gia cầm cũng xả ra môi trường một lượng lớn chất thải
Trang 3Vì thế đòi hỏi cần có những biện pháp thich hợp để bảo vệ môi trường.trên thực tế các cấp các ngành đã thực hiện các biên pháp như:
- Trước hết phải chú trọng đến việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức bằng cách tăng cường các biện pháp tuyên truyền, vận động để người dân ý thức việc sản xuất nông nghiệp phải đi đôi với bảo vệ môi trường, giúp nâng cao tính thích ứng với những biến đổi xấu của khí hậu;
- Tổ chức tập huấn cho cán bộ kỹ thuật, dự báo viên ở cấp cơ sở về việc sử dụng thuốc BVTV, quản lý dịch bệnh, sâu hại trên cây trồng và rau màu; Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn nông dân sử dụng đúng thuốc BVTV trong danh mục cho phép và thu gom, xử lý bao bì đúng cách sau khi sử dụng; Xây dựng nhiều mô hình trình diễn về sử dụng thuốc BVTV góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nông dân trong sản xuất theo hướng nông nghiệp sinh thái bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường…
- Về chăn nuôi: Phải thường xuyên phối hợp với các địa phương tổ chức, đánh giá hiện trạng, tác động của ô nhiễm môi trường đối với phát triển kinh tế - xã hội và có biện pháp xử lý các cơ sở chăn nuôi gây ô nhiễm; Đồng thời vận động người dân đầu tư, xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học như: nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học; Sử dụng chế phẩm sinh học, công nghệ khí sinh học biogas nhằm xử lý chất thải chăn nuôi, giảm mùi hôi thối, diệt khuẩn có hại và tăng khả năng phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi, nâng cao hiệu quả chăn nuôi;
- Đối với ngành trồng trọt: Cần ứng dụng rộng rãi công nghệ phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trong phòng trừ sâu bệnh cây trồng Nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, ứng dụng công nghệ sạch vào sản xuất Kiểm soát chặt chẽ việc lưu hành và sử dụng thuốc BVTV không có trong danh mục cho phép Sau khi phun thuốc phải bảo đảm đúng thời gian cách ly mới được thu hoạch sản phẩm… Các công tác này góp phần giúp nông dân sử dụng thuốc hóa học trên
Trang 4đồng ruộng một cách đúng đắn, phù hợp, tiết kiệm, đảm bảo môi trường sinh thái
và sức khỏe người sử dụng
Chúng ta phải luôn xác định bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn là một công việc lâu dài, phải làm công phu, bền bỉ, cần được thực hiện một cách đồng bộ giữa các cấp, các ngành, phối hợp chặt chẽ với người dân thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến
Bảo vệ môi trường trong lâm nghiệp:
Bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng của ngành lâm nghiệp là: Phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường đô thị, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sống, tạo nguồn thu cho ngành lâm nghiệp từ các dịch vụ môi trường (phí môi trường, thị trường khí thải CO2, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng…) để đóng góp cho nền kinh tế đất nước (Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020)
Tổ chức thực hiện ngày càng có hiệu quả chủ trương xã hội hóa công tác quản lý bảo vệ rừng
+ Giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện cơ chế hưởng lợi của người làm rừng, sắp xếp lại lâm trường quốc doanh
+Nhiều cơ chế quản lý bảo vệ rừng được ban hành nhằm đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa ngày càng có hiệu quả
Rừng được khôi phục nhanh chóng về diện tích, chất lượng rừng tiếp tục được cải thiện tích cực - Chất lượng, trữ lượng và giá trị đa dạng sinh học được duy trì, bảo tồn tốt hơn ở những khu rừng đặc dụng đã được thành lập và có ban quản lý Tuy nhiên, tình trạng phổ biến là rừng tự nhiên vẫn bị suy giảm về chất lượng, những khu rừng nguyên sinh, rừng giàu chủ yếu chỉ còn ở những khu rừng
Trang 5đặc dụng và phòng hộ thuộc vùng sâu, vùng xa, rừng tự nhiên thuộc quy hoạch rừng sản xuất hiện có 3.105.647ha, trong đó rừng giàu và trung bình chỉ còn 652.645ha chiếm 21%, rừng nghèo và rừng non 2.453.002ha chiếm 79% đa số là rừng tự nhiên tái sinh và rừng phục hồi sau khai thác, sau canh tác nương rẫy
Tuy nhiên, việc xác định mức độ bền vững về môi trường trong ngành lâm nghiệp được thừa nhận là khó khăn vì nhiều lý do Thứ nhất là có nhiều cách hiểu khác nhau từ khía cạnh khoa học, tùy theo góc độ nhìn nhận của sinh thái học, môi trường hay theo quan điểm sinh thái-chính trị đang thịnh hành Cách tiếp cận truyền thống thường nhìn sự bền vững theo kiểu sản lượng bền vững nhằm trả lời câu hỏi khai thác bao nhiêu thì có thể duy trì năng suất của hệ sinh thái rừng Thứ hai, trong khi các giải pháp kỹ thuật hiện thời có thể cung cấp các công cụ hữu hiệu
để phân tích các khía cạnh khác nhau của rừng và môi trường, chất lượng dữ liệu
và các con số thống kê vẫn còn là một dấu hỏi Ví dụ, hiện đang có nhiều bình luận khác nhau về dữ liệu thống kê độ che phủ rừng của Việt Nam
Một số biện pháp được thực hiên BVMT lâm nghiệp hiện nay như: + Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo vệ rừng
+ Quy hoạch, xác định lâm phận các loại rừng ổn định
+ Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật
+ Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng
+ Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của lực lượng kiểm lâm
+ Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng
Trang 6+ ứng dụng khoa học công nghệ.
Mặt khác, các hoạt động lâm nghiệp cũng có thể gây ra các tác động tiêu cực lên đa dạng sinh học và môi trường Các tác động này có thể bao gồm mất mát đa dạng sinh học, săn bắt động vật hoang dã, định cư bất hợp pháp, hoạt động sinh kế của người dân sống quanh rừng, và biến đổi khí hậu Các tác động này cũng cần được giám sát và đánh giá một cách đầy đủ chứ không chỉ tập trung vào các khía cạnh tích cực của ngành lâm nghiệp
Câu 2: Sự cấp thiết của việc bảo vệ môi trường:
1.Môi trường xung quanh đang bị biến đổi sâu sắc:
Sự tăng nhiệt độ trái đất đáng kể trong những năm vừa qua đang làm cho thế giới không an tâm Biến đổi khí hậu trên thế giới dẫn đến thiên tai, động đất, sóng thần, lũ lụt ngày càng xuất hiện với mật độ nhiều và nặng hơn
Toàn bộ thế giới đang bị ảnh hưởng sâu rộng bởi sự biến đổi của tự nhiên Ảnh hưởng của nó không chỉ gây tử vong cho con người mà còn cho các loài khác sống ở hành tinh này
2.Môi trường và con người là 1 thể thống nhất, bao gồm những đối tượng và hiện tượng tự nhiên (khí hậu, đất đai, sinh vật) hoạt động trong mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động của con người:
a)Thể thống nhất này biểu hiện ở chỗ sự thay đổi của bất kì yếu tố nào cũng ảnh hưởng đến các yếu tố khác và dẫn đến biến đổi:
Độ cao của địa hình đã tạo nên sự phân hoá khí hậu theo đai cao, tại các khối núi cao xuất hiện các vành đai khí hậu á nhiệt đới và vành đai khí hậu ôn đới Một số vùng lãnh thổ có địa hình cao ở nước ta có khí hậu quanh năm mát
mẻ như Sa Pa, Đà Lạt,…
Trang 7Địa hình ảnh hưởng đến nhiệt độ: Càng lên cao không khí càng loãng, khả năng hấp thụ nhiệt của không khí càng giảm, nhiệt độ càng thấp và lượng ẩm tăng lên đã làm thay đổi thảm thực vật và thổ nhưỡng
Địa hình ảnh hưởng đến lượng mưa: Sườn đón gió sẽ mưa nhiều hơn sườn khuất gió
Địa hình ảnh hưởng đến gió thông qua việc tạo ra tường thành chắn gió hoặc tạo ra đường hầm gió giữa các hẻm núi
b)Những biến đổi này có thể là kết quả của các quá trình tự nhiên hoặc hoạt động của con người:
Quá trình tự nhiên: Mật độ, tình trạng sinh trưởng, độ đa dạng của thực vật giảm dần từ đỉnh núi xuống thung lũng
Do con người: Việc xây đập thuỷ điện, dân số tăng lên, sự gia tăng sử dụng các loại chất bảo vệ thực vật như: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,…, đã tàn phá thảm thực vật trước đó, thay đổi thổ nhưỡng, đất đai, thuỷ văn của khu vực Ngoài ra, việc áp dụng các phương tiện máy móc hiện đại vào sản xuất là nguyên nhân tiềm tàng làm phá vỡ kết cấu của đất, lâu dài sẽ làm cho chất lượng đất bị suy giảm
3.Sinh quyển đang bị thoái hóa và môi trường sinh thái bị khủng hoảng: Sinh quyển: Bao gồm động thực vật, các hệ sinh thái Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển, con người đã thường xuyên tác động trực tiếp tới thiên nhiên
và cải biến môi trường sống Những hoạt động đó đã ảnh hưởng đến khí hậu, từ đó tác động mạnh tới sinh quyển
Những biểu hiện của khủng hoảng môi trường:
-Ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2 v.v ) vượt tiêu chuẩn cho phép tại các
đô thị, khu công nghiệp
Trang 8-Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng làm biến đổi khí hậu toàn cầu.
-Tầng ozon bị phá huỷ
-Sa mạc hoá đất đai do nhiều nguyên nhân như bạc màu, mặn hoá, phèn hoá, khô hạn
-Nguồn nước bị ô nhiễm
-Ô nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng
-Rừng đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng
-Số chủng loài động thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng
-Rác thải, chất thải đang gia tăng về số lượng và mức độ độc hại
Dân số quá đông không những đòi hỏi cần nhiều lương thực mà cũng tiêu thụ nguồn năng lượng, tài nguyên, khí thải do con người thải ra hàng ngày làm
ô nhiễm bầu khí quyển, nước thải, rác công nghiệp cũng tăng không ngừng theo tốc độ tăng dân số Ngoài ra, các vấn đề giao thông chen chúc, nên thiếu nhà ở,
… đều gắn với dân số Tất cả những vấn đề đó đều trở thành sức ép rất lớn đối với môi trường
4.Môi trường sống đang bị ô nhiễm:
Với tốc độ đô thị hoá hiện nay nhu cầu về đất sản xuất và đất xây dựng ngày càng cao Cùng với đó là các hệ sinh thái đang bị phá huỷ, bị ô nhiễm nặng nề Đó
là sự ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
Tài nguyên đất hiện đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu Hiện nay 10% đất
Trang 9có tiềm năng nông nghiệp bị xa mạc hóa (Nguồn: http://ngobatung.blogspot.com/)
Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm
bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất độc hại như chất có trong thuốc bảo vệ thực vật,chất thải công nghiệp chưa được xử lí, tất cả có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên
Ô nhiễm không khí do khí thải từ phương tiện cơ giới đường bộ chiếm tới 70% ô nhiễm ở các đô thị, nơi mà lượng vận tải hành khách và hàng hoá ngày càng tăng (Nguồn: http://www.tinmoitruong.vn/khong-khi/70-phan-tram-o-nhiem-khong-khi-do-thi-do-khi-thai-tu_5_1324_1.html)
5.Tài nguyên sinh vật và tài nguyên rừng bị cạn kiệt:
Do sự đa dạng về địa hình, sự phân hóa của khí hậu cho nước ta nhiều loại rừng
-Rừng có vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ đất, giữ nguồn nước ngầm và là nơi lưu giữ các nguồn gen quý giá
-Rừng tự nhiên 10,283 triệu ha, rừng trồng khoảng 2,334 triệu ha (12/2005) -Độ che phủ của rừng là 37% (12/2005) (Nguồn: http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=4552)
Ngày nay do rừng bị khai thác ngày càng nhiều Việc tàn phá hệ sinh thái cây xanh sẽ ảnh hưởng đến thành phần và chất lượng không khí, thiên tai lũ lụt, hạn hán, sạt lở ngày càng nặng nề, đáng cảnh báo là nguồn gen quý báu của rừng đang lưu trữ đang dần mất đi Nhiều loài đang nằm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới (Rùa núi vàng, Trăn gấm…)
Trang 10Theo cục thống kê, năm 1991 có 20.257ha rừng bị phá, năm 1995 giảm xuống còn 18.914ha và năm 2000 là 3.542ha Tuy nhiên, theo Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000 thì có thể ước định rằng tỷ lệ mất rừng hiện nay là
http://text.123doc.org/document/2327253-thuc-trang-khai-thac-tai-nguyen-rung-o-viet-nam.htm)
6.Tài nguyên đất đang bị suy giảm:
Ở Việt Nam tổng diện tích đất hơn 33triệu hecta, tổng diện tích đất bình quân đầu người là 0,6 hecta, đứng thứ 159 thế giới (Nguồn: http://giaoan.violet.vn/present/show/entry_id/11540056)
- Qúa trình canh tác cùng với việc sạt lở, sói mòn đã làm suy thoái tài nguyên đất
- Hóa chất, chất thải rắn và kim loại nặng: Phát sinh ra trong quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người có chứa một lượng cao các chất độc Chúng gây nhiều tác động xấu đến môi trường đất (làm thay đổi hệ vi sinh, làm chai, thoái hoá, đầu độc môi trường đất) Ngoài ra vấn đề đất bị nhiễm mặn cũng rất được quan tâm ở nước ta hiện nay
VD: Hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đang phát triển nhanh chóng, tuy nhiên, do sử dụng công nghệ lạc hậu, đa phần khai thác theo kiểu lộ thiên… nên đất tại các khu vực khai khoáng đều bị ô nhiễm điển hình
là các bãi thải tại mỏ sắt Trại Cau (gần 2 triệu m3 đất đá thải/năm), mỏ than Khánh Hòa (gần 3 triệu m3 đất đá thải/năm), mỏ than Phấn Mễ (hơn 1 triệu m3 đất đá thải/năm)…
7.Tài nguyên nước ngọt bị suy giảm và ô nhiễm: