1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp kiến thức văn học, địa lí trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến năm 1954 lớp 12

79 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 3,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tích hợp trong dạy học nói chung, lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong giáo dưỡng , giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi sự thay đổi căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục

Trang 1

1 Lời giới thiệu

Tích hợp trong dạy học nói chung, lịch sử có ý nghĩa quan trọng tronggiáo dưỡng , giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tích tổnghợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa Sự phát triển nhanh chóng của khoa học

kĩ thuật trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi sự thay đổi căn bản và toàn diện

về nội dung và phương pháp giáo dục Từ cách tiếp cận nội dung, giáo dụcchuyển sang tiếp cận năng lực Điều đó đặt ra những yêu cầu về nguyên tắc vàphương pháp giáo dục theo hướng tích hợp để giải quyết vấn đề đặt ra trênđây

Tài liệu văn học, Địa lí là một nguồn tài liệu phong phú, còn ẩn chứanhiều tiềm năng có thể khai thác để sử dụng trong dạy học lịch sử, góp phầnnâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh

Việc thực hiện vận dụng kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sửnói chung đã được nhiều giáo viên môn Lịch sử thực hiện trong những nămqua

Tuy nhiên, việc thực hiện tích hợp kiến thức như thế nào trong dạy họcLịch sử đảm bảo tính vừa sức và nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng

tư duy sáng tạo của học sinh trong học tập còn nhiều hạn chế, nhất là việc đưa

ra các phương pháp, cách thức tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy họcLịch sử

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với mong muốn nâng cao hứng thúcủa học sinh trong học tập bộ môn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu

quả giáo dục ,Tôi lựa chọn nội dung “Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.

2 Tên sáng kiến:

“Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)”.

3.Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Phạm Thị Thanh Hảo

- Địa chỉ: Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc

Trang 2

Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954.

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 03 tháng 12 năm 2017.

kĩ thuật trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi sự thay đổi căn bản và toàn diện

về nội dung và phương pháp giáo dục Từ cách tiếp cận nội dung, giáo dụcchuyển sang tiếp cận năng lực Điều đó đặt ra những yêu cầu về nguyên tắc vàphương pháp giáo dục theo hướng tích hợp để giải quyết vấn đề đặt ra trênđây

Tài liệu văn học, Địa lí là một nguồn tài liệu phong phú, còn ẩn chứanhiều tiềm năng có thể khai thác để sử dụng trong dạy học lịch sử, góp phầnnâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh

Việc thực hiện vận dụng kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sửnói chung đã được nhiều giáo viên môn Lịch sử thực hiện trong những nămqua

Tuy nhiên, việc thực hiện tích hợp kiến thức như thế nào trong dạy họcLịch sử đảm bảo tính vừa sức và nâng cao hứng thú, tính tích cực và khả năng

tư duy sáng tạo của học sinh trong học tập còn nhiều hạn chế, nhất là việc đưa

ra các phương pháp, cách thức tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy họcLịch sử

Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa của tài liệu Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch

sử cùng những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện vận dụng kiến thứcVăn học, Địa lí trong giảng dạy Lịch sử; với mong muốn nâng cao hứng thúcủa học sinh trong học tập bộ môn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu

quả giáo dục ,Tôi lựa chọn nội dung “Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm 1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.

Qua đề tài này, tôi muốn giúp học thấy được mối liên hệ giữa kiến thứcmôn Lịch sử với các môn học khác đặc biệt là môn Ngữ văn và Địa lí Từ đóviệc tiếp thu kiến thức của học sinh cũng trở nên hệ thống, khoa học và sâu sắchơn

Trang 3

Tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng các phương pháp tích hợp kiến thức Vănhọc, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam phần từ năm 1930 đến năm 1954(ban cơ bản), góp phần nâng cao hứng thú và năng lực tư duy sáng tạo của họcsinh trong học tập bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu việc vận dụng tích hợp kiến thức Vănhọc, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954

- Khách thể nghiên cứu: học sinh lớp 12 trường Trung học phổ thông TrầnHưng Đạo- huyện Tam Dương- Tỉnh Vĩnh Phúc

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháplôgic cùng những phương pháp dạy học gắn liền với đặc trưng bộ môn nhằmphát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập như: Phương phápthông tin, tái hiện lịch sử; phương pháp nhận thức lịch sử…

5 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: nghiên cứu phương pháp thực hiện tích hợp kiến thức Vănhọc, Địa lí trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954(Lớp 12- Ban cơ bản)

- Về khách thể nghiên cứu: trên 164 học sinh ở khối lớp 12 của trườngTHPT Trần Hưng Đạo

-Về thời gian nghiên cứu: năm học 2017 – 2018

6 Điểm mới của đề tài

- Tìm hiểu, nghiên cứu, đưa ra các nội dung kiến thức Văn học, Địa lí cóthể thực hiện tích hợp trong quá trình dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm

1930 đến năm 1954

- Tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng các phương pháp thực hiện tích hợpkiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam phần từ năm 1930đến năm 1954 (ban cơ bản), góp phần nâng cao hứng thú và năng lực tư duysáng tạo của học sinh trong học tập bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng giáodục

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận; Phần nội dung của sáng kiếnđược cấu tạo thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học tích hợp

Chương 2 Tích hợp kiến thức Văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam

từ năm 1930 đến năm 1954.

Chương 3 Tích hợp kiến thức Địa lí trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954.

Trang 4

NỘI DUNG

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử

1.1 Tổng quan về tích hợp trong dạy học Lịch sử

Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trongviệc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựngchương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Thực hiện môn học tích hợp,các quá trình học tập không bị cô lập với cuộc sống hàng ngày, các kiến thứcgắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh và được liên hệ với các tình huống

cụ thể, có ý nghĩa với học sinh Khi đó, học sinh được dạy sử dụng kiến thứctrong những tình huống cụ thể và việc giảng dạy kiến thức không chỉ là lí thuyết

mà còn phục vụ thiết yếu trong cuộc sống con người, để làm người lao động,công dân tốt Mặt khác, các kiến thức sẽ không lạc hậu do thường xuyên cậpnhật với cuộc sống Theo đó khi đánh giá học sinh, thì ngoài kiến thức cần đánhgiá học sinh về khả năng sử dụng kiến thức ở các tình huống khác nhau trongcuộc sống

Dạy học tích hợp giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trongcùng một môn học và giữa các môn học khác nhau Đồng thời, dạy học tích hợpgiúp tránh những kiến thức, kĩ năng, nội dung trùng lặp khi nghiên cứu riêng rẽtừng môn học nhưng lại có những nội dung kiến thức, kĩ năng mà nếu theo mộtmôn học riêng rẽ sẽ không có được

Như vậy, dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằmnâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đủ phẩm chất vànăng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Dạy học theo hướngtích hợp phát huy được tính tích cực của học sinh, góp phần đổi mới nội dung vàphương pháp dạy học

1.2 Vị trí, vai trò của môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông

Môn Lịch sử là một môn học bắt buộc trong trường phổ thông Đây là mộttrong những con đường giáo dục nhân cách cho học sinh thông qua hoạt độngdạy và học Theo chương trình đổi mới, bộ môn Lịch sử ở các cấp học nói chung

và ở trường THPT nói riêng sẽ cung cấp, củng cố và nâng cao kiến thức cho họcsinh một cách tương đối có hệ thống về Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam, kể

từ khi loài người xuất hiện cho đến nay

Mục tiêu của môn Lịch sử ở trường THPT ngoài việc cung cấp kiến thức,còn hướng tư tưởng tình cảm, rèn luyện các kỹ năng cho học sinh

1.2.1 Về kiến thức

Trang 5

Môn Lịch sử sẽ giúp cho học sinh có hiểu biết tương đối chắc chắn và có

hệ thống về lịch sử loài người Qua mỗi bài học, mỗi lớp học, học sinh sẽ hiểubiết sâu hơn và có hệ thống về quá trình phát triển của lịch sử loài người, lịch sửdân tộc từ khởi thủy đến nay Từ khi xuất hiện trên trái đất cho đến ngày nay,con người đã trải qua biết bao thăng trầm, bao giai đoạn phát triển Học sinh sẽnắm được những giai đoạn phát triển chủ yếu của lịch sử dân tộc, những sự kiện

có ý nghĩa về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội Học sinh

sẽ hiểu biết được phần nào quá trình sáng tạo, văn minh, những nét lớn của vănhóa các dân tộc trên thế giới, của văn hóa Việt Nam

Nắm được những thành tựu chính về các mặt trong Lịch sử dân tộc, lịch sửthế giới đồng thời cũng sẽ nhận thức được một số hạn chế của Lịch sử mà chúng

ta cần khắc phục

1.2.2 Về tư tưởng, tình cảm

+ Lịch sử sẽ giúp học sinh nhận thức được quá trình phấn đấu gian khổ vàsáng tạo, xuất phát từ những điều kiện tự nhiên, xã hội cụ thể để vươn lên nhữngđỉnh cao mới của văn minh Nhờ đó đời sống vật chất và tinh thần của conngười, của các dân tộc không ngừng được cải thiện và nâng cao

+ Đời sống của các dân tộc luôn có mối quan hệ khăng khít, ảnh hưởng lẫnnhau, dù có khi hòa thuận êm đẹp hay có khi trái ngược hoặc xung đột nhau.+ Càng ngày càng thấy rõ Trái đất và quê hương là ngôi nhà chung mà mọingười, mọi dân tộc phải phấn đầu xây dựng, bảo vệ

+ Nhận thức được những truyền thống cơ bản, tốt đẹp của dân tộc

+ Bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu quê hương và niềm tự hào chân chính.+ Trân trọng và có ý thức giữ gìn nên văn hóa dân tộc được xây dựng vàphát triển qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Biết ơn tổ tiên, nhữnganh hùng dân tộc đã lao động, chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp dựng nước và giữnước; đồng thời có quyết tâm vươn lên trong học tập, lao động xây dựng và bảo

vệ đất nước ngày nay

* Năng lực chuyên biệt:

- Thực hành bộ môn Lịch sử: khai thác kênh hình có liên quan đến bài học;

- Phân tích mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động của các sự kiện lịch sử

Trang 6

- Năng lực phát hiện, giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (Điều tra,thu thập, xử lí thông tin, nêu dự kiến giải quyết các vấn đề, vận dụng kiến thứcvào thực tiễn cuộc sống).

1.3 Thực trạng việc dạy và học Lịch sử hiện nay

Môn Lịch sử là một môn học bắt buộc trong trường phổ thông Đây là mộttrong những con đường giáo dục nhân cách cho học sinh thông qua hoạt độngdạy và học Theo chương trình đổi mới, bộ môn Lịch sử ở các cấp học nói chung

và ở trường THPT nói riêng sẽ cung cấp, củng cố và nâng cao kiến thức cho họcsinh một cách tương đối có hệ thống về Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam, kể

từ khi loài người xuất hiện cho đến nay

Nhưng nhiều học sinh cho rằng, đó là một môn học phụ, khô khan, kiếnthức dài, khó nhớ không có ý nghĩa thực tiễn giúp các em tìm kiếm việc làm saukhi ra trường

Kết quả khảo sát về thái độ yêu thích môn Lịch sử của 164 học sinh lớp 12 tại trường THPT Trần Hưng Đạo như sau:

Số HS Tỉ lệ (%) Số HS Tỉ lệ (%) Số HS Tỉ lệ (%)

Môn Lịch sử có vai trò quan trọng trong công tác giáo dục học sinh nhưngchỉ có 19,5% số học sinh hứng thú với lịch sử, còn 50,7% số học sinh được khảosát lại không hề thích lịch sử, đó là một nỗi băn khoăn, trăn trở không chỉ củariêng giáo viên Lịch sử mà còn là vấn đề mà giáo dục và cả xã hội rất quan tâm.Nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc dạy và học môn Lịch sử nói chung vàLịch sử lớp 12 nói riêng, tôi thiết nghĩ cần phải phát huy hơn nữa hiệu quả củaviệc dạy và học để nâng cao tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinhtheo tinh thần đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá cũng như phương pháp dạyhọc Dạy học tích hợp là một xu thế đang được nhiều quốc gia trên thế giới vàViệt Nam rất quan tâm, đề cao và đang triển khai thực hiện Quan điểm tích hợpđược xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quátrình dạy học

Trong những năm đất nước và ngành giáo dục đang thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học, đặc biệt, sau đợt tập huấn về dạy học tích hợp do Sở Giáodục và Đào tạo Vĩnh Phúc tổ chức, tôi đã luôn tạo hứng thú cho học sinh bằngcách vận dụng quan điểm dạy học tích hợp liên môn Văn học, Địa lí… trong dạyhọc lịch sử và đã thu được kết quả tốt Tôi muốn được chia sẻ kinh nghiệm củamình cùng các đồng nghiệp về phương pháp dạy học này

Trang 7

Hơn thế nữa, đa số học sinh coi bộ môn lịch sử là “môn phụ”, dễ học Vìvậy, các em ít chú ý nghe giảng Các em ghi chép một cách máy móc những gìgiáo viên ghi trên bảng và chỉ học thuộc lòng những gì đã được ghi trong vở.Nhằm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực

- chủ động của học sinh; những năm gần đây các trường phổ thông đã chú ý đếnviệc đổi phương pháp dạy học và kiểm tra đánh gia trong đó việc phát huy tínhchủ động, tích cực của học học sinh trong học tập

1.4 Vị trí, ý nghĩa tài liệu Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử

Để tạo ra những biểu tượng lịch sử sinh động, chân xác, trong dạy họclịch sử cần sử dụng nhiều loại tài liệu khác nhau trong đó tài liệu Văn học, Địa

lí là một trong những nguồn tài liệu phong phú, có nhiều lợi thế

Với chức năng phản ánh cuộc sống, tài liệu văn học đã góp phần dựng lạibức tranh quá khứ lịch sử, trình bày các đặc trưng của các hiện tượng kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những quy luật của đời sống ở từng thời đại mộtcách sinh động, hấp dẫn bằng ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật

Giữa Văn học và Sử học có mối quan hệ khăng khít Khoa học lịch sử dựavào những nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử có thật trong một giai đoạnnhất định để khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách chân xác, khách quan,còn Văn học dựa trên chất liệu cuộc sống để xây dựng hình tượng, cốt truyện,mỗi tác phẩm văn học đều mang trong mình dấu ấn của thời đại

Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử sẽ giúp học sinh tránhđược tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử , giúp học sinh củng cố và phát triển kiếnthức lịch sử, phát huy tính tích cực, năng động của học sinh và gây hứng thúhọc tập Do đó, chất lượng dạy học lịch sử được nâng lên

Sự kiện lịch sử gắn liền với vị trí không gian nhất định Nhiều sự kiện kịch

sử xảy ra bắt nguồn từ đặc điểm địa lí hoặc do điều kiện địa lí tác động, chiphối Do vậy kiến thức địa lí có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong dạy học lịch

sử Bài học lịch sử gắn với bản đồ và kiến thức địa lí luôn tạo ra sự hấp dẫn,giúp học sinh nắm chắc sự kiện, biết lí giải bản chất sự kiện qua sự chi phối củayếu tố địa lí

Việc tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử làm cho họcsinh nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục thống nhất, khắc phụctình trạng nắm kiến thức lịch sử một cách rời rạc, phát huy tính chủ động, sángtạo, năng lực tư duy, phân tích và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễnhoạt động học tập của học sinh

Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi lựa chọn nội dung:

“Tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ Năm

Trang 8

1930 đến năm 1954 - Lớp 12 (Ban cơ bản)” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm

của mình

Chương 2 Tích hợp kiến thức Văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954.

2.1 Vị trí, ý nghĩa của tài liệu văn học trong dạy học lịch sử

Trong các nguồn tài liệu tham khảo, tài liệu văn học có khả năng to lớntrong việc tạo biểu tượng cho học sinh bởi lẽ bản thân các tác phẩm vănhọc đã chứa đựng những sự kiện lịch sử, cung cấp những tri thức có giá trị

về mọi mặt của đời sống xã hội Đối tượng của văn học cũng như sử học làtoàn bộ thế giới nhưng văn học không miêu tả, tái hiện những con người cụ thể,

cá biệt có thật trong đời sống như lịch sử mà xuất phát từ những mẫu hình cóthật để dựng nên những hình tượng văn học giàu tính nghệ thuật khiến họcsinh dễ hình dung kiến thức và nhớ lâu Tài liệu văn học được sử dụng sẽ làmcho sự kiện trở nên cụ thể, sinh động

Những hình ảnh văn học sinh động đó chính là cơ sở để tạo biểu tượnglịch sử Hiệu quả của việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh phụ thuộc vàonhiều yếu tố, trong đó sử dụng tài liệu văn học có lợi thế đặc biệt Trong dạyhọc lịch sử, việc miêu tả, tường thuật, giải thích, so sánh, nêu đặc điểm nhânvật lịch sử v.v…rất được coi trọng T ài liệu văn học có cơ sở để giúp giáoviên lịch sử thực hiện điều đó

Tài liệu văn học với sự phản ánh thực qua cách nhìn, thái độ quan điểmcủa tác giả đối với hiện tượng được miêu tả nên có tác động mạnh mẽ vào tâmhồn người đọc Người đọc sẽ hình thành tình cảm tích cực hay tiêu cực qua tácđộng của các tác phẩm văn học

Học sinh không chỉ được giáo dục về tư tưởng, đạo đức khi tiếp xúc vớivăn học mà những hình tượng văn học điển hình còn tạo hứng thú học tập lịch

sử cho các em

Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử cũng là nhằm làmcho các kiến thức lịch sử dễ tiếp nhận đối với học sinh, các em dường nhưđược tham dự, chứng kiến lịch sử quá khứ Đây là việc phát huy trí tưởngtượng tái tạo cho học sinh, rất cần cho việc học tập lịch sử bởi nếu khônghình dung quá khứ khách quan thì không thể hiểu bản chất lịch sử, dễ rơi vàotình trạng “hiện đại hóa” lịch sử Do đó việc sử dụng tài liệu văn học trong bàigiảng của giáo viên là một việc làm thiết thực, một yêu cầu bức thiết nhằmnâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

2.2 Một số yêu cầu khi sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử

Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử giúp học sinh nắmkiến thức lịch sử sâu sắc, toàn diện hơn, đặc biệt các em có sự liên hệ, tích

Trang 9

hợp kiến thức giữa các môn học, tránh được tình trạng rời rạc, tản mạn trongkiến thức của học sinh, tính hệ thống của các tri thức đó sẽ giúp học sinh hiểu

sự kiện, có khả năng phân tích sự kiện, tìm ra bản chất, qui luật phát triển củalịch sử Tuy nhiên không phải cứ đưa tài liệu văn học vào bài giảng lịch sử làgiáo viên đã đạt hiệu quả dạy học như trên mà việc sử dụng tài liệu văn họctrong dạy học lịch sử phải tuân thủ theo những nguyên tắc dạy học nói chung

và yêu cầu cụ thể sau đây

- Tài liệu văn học phải phù hợp với nội dung bài giảng và trình độ nhậnthức của học sinh

- Tài liệu văn học phải đảm bảo tính tiêu biểu, điển hình

- Lựa chọn các biện pháp thích hợp để sử dụng tài liệu văn học

- Tài liệu văn học sử dụng trong sự kết hợp giữa các phương pháp, các loạitài liệu khác nhau

- Tài liệu văn học đảm bảo tính khoa học và tính tư tưởng

2.3 Phương pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử

2.3.1 Kể chuyện lịch sử

Những mẩu chuyện lịch sử luôn cuốn hút học sinh, với ngữ điệu và cácthao tác sư phạm phù hợp, giáo viên khi kể một câu chuyện lịch sử khôngnhững khiến học sinh dễ nhớ và nhớ lâu sự kiện mà tâm hồn, trái tim các emcũng sẽ thực sự rung cảm

Khi dạy bài 17 Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày

2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”, mục III Đấu tranh chống giặc ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng, Giáo viên sử dụng tư liệu

trong tác phẩm “Những chặng đường lịch sử” – Võ Nguyên Giáp, kể lại cuộctiếp xúc giữa chủ tịch Hồ Chí Minh với Mutê:

“ Cuộc tiếp xúc giữa Hồ Chủ tịch với ông Mutê đêm 19-4 đã diễn ra rất gay go, những khó khăn lớn đều do vấn đề Nam Bộ Mỗi lần Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu yêu cầu hai bên Việt Nam và Pháp cùng tham gia vào việc dàn xếp vấn đề Nam Bộ thì người thay mặt chính phủ Pháp trả lời: “ Như vậy là một điều vi phạm đối với chủ quyền nước Pháp, không thể nhận được ” đáp lại chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại Người đã quyết lên đường về nước vào 8 giờ sáng thứ hai, rồi đứng dậy ra về Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Bộ trưởng lạnh lùng chia tay vào lúc 11 giờ đêm.

Tình hình rất căng thẳng:

Ở nhà ông Mutê trở về, Hồ Chủ tịch vào phòng riêng và suy nghĩ Hồi 12 giờ đêm khi tất cả nhân viên đã yên nghỉ thì Người và Ông Mutê lại gặp nhau Người lại kiên quyết nêu lên vấn đề Nam Bộ Người đã giải thích cho ông Mutê bằng giọng dễ cảm kích.

Trang 10

Ông Mutê im lặng, nhưng mặt khác ông Mutê thảo luận là người Việt Nam có quyền tự do đi lại ở Nam Bộ và quân đội Việt Nam vẫn sẽ ở lại Nam

Bộ Nhưng cuối cùng đôi bên kí kết bản Tạm ước 14-9 Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã đòi được ghi vào biên bản: “Pháp cam kết thi hành những điều tự do dân chủ ở Nam Bộ, sẽ đình chỉ mọi hoạt động võ lực”.

Khi dạy bài 18: “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1946- 1950”, mục II Cuộc chiến đấu ở các đô thị và việc

chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, Giáo viên có thể sử dụng tư liệu trong

tác phẩm “Chiến đấu trong vòng vây” (Võ Nguyên Giáp) để kể về cuộc chiến

đấu ở Hà Nội khi kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ: “20 giờ ngày 19-12-1946, Hiệu lệnh nổ súng ở Hà Nội là đèn tắt, đại bác của pháo đài Láng bắn những phát đầu tiên gầm lên Chúng ta cần bóng tối hỗ trợ Đèn điện

Hà Nội vụt tắt Công nhân nhà máy điện Yên Phụ do đồng chí Giăng phụ trách

đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tuyệt vời!

Ngay sau đó, cả Hà Nội vang lên tiếng súng Chớp lửa đại bác, hỏa châu, luồng sáng của đạn vạch đường Chân mây dần dần đỏ rực màu hồng của những đám cháy Đêm nay mới thật sự là chiến tranh.

Ở ngã ba Hồng Phúc, Hàng Đậu, Vệ Quốc Quân và tự vệ chiến đấu tổ chức phục kích: giật bom phá xe tăng rồi xung phong giết hàng chục địch Như vậy ngay trong thành phố vẫn có thể phục kích! Đây là một chiến công do quần chúng sáng tạo.

Quân Pháp đóng nơi nào cũng phải chiếm tầng ba, còn tầng nhà dưới bị

bỏ trống và phái đốt nhà bên cạnh để phòng ngừa Việt Minh biệt kích Quân ta chiến đấu theo lối phục kích rất sáng tạo Ban đêm, họ lẻn vào các phố một cách rất nhanh nhẹn không một tiếng động, không một bóng người Đến sáng họ tìm nơi chắc chắn nhất, chĩa súng vào giặc Pháp Tiếng súng nổ cả ban ngày, không phải ở những nơi có giới tuyến rõ rệt, mà cả những khu phố quân Pháp cho là đã quét sạch Người ta thấy những xác lính Pháp chết gục ở đầy đường phố ”

Khi dạy về chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, giáo viên có thể sử dụng tư liệu trong tác phẩm "Không phải huyền thoại" của Hữu Mai đã viết về trận đánh Đông Khê để tường thuật cho học sinh về trận đánh quan trọng này:

“6 giờ sáng ngày 16 tháng 9, một loạt pháo 75 ly của ta nổ giòn báo hiệu mở màn chiến dịch Pháo ta bắn trúng các mục tiêu Quân địch bị bất ngờ, đối phó rất lúng túng Trận đánh kéo dài đến 10 giờ ngày 18 tháng 9 năm 1950 mới kết thúc Trong trận đánh này đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu và hi sinh dũng cảm tuyệt vời Đó là Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai mở đưởng cho đơn vị xông lên tiêu diệt đồn địch; Lý Văn Mưu bị thương đã

Trang 11

dùng bộc phá lao vào phá hủy lô cốt giặc; La Văn Cầu bị thương vào cánh tay

đã không chút do dự nhờ đồng đội chặt đứt khỏi vướng để tiếp tục lao lên đánh bộc phá, hoàn thành nhiệm vụ Các nữ dân công Đinh Thị Dậu, Triệu Thị Soi nhiều lần băng mình qua lửa đạn cứu thương binh, tiếp đạn cho bộ đội”.

Hay khi dạy bài 20: “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954)”, mục II.2 Chiến dịch Điện Biên Phủ, Giáo viên

có thể sử dụng tư liệu văn học trong tác phẩm “Điện Biên Phủ những trangvàng lịch sử” – Hồi kí Đại tá Hoàng Minh Phương, để kể chuyện về tấm gương

kéo pháo vào trận địa, chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ: “Tháng 5/1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường nguy hiểm, cũng như nghỉ dọc đường, anh luôn nhắc nhở đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng con dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những bất ngờ xảy ra Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp cong

và rất nguy hiểm, anh cùng đồng chí pháo thủ Lê Văn Chi xung phong lái pháo Đến nửa chừng, dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh giữ càng lái cho pháo thẳng đường Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, đồng chí Chi bị hất văng ra Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em “Thà hy sinh quyết bảo vệ pháo”,

và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó các anh em đồng đội kịp ghìm giữ pháo lại Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của anh đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm

vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi”.

Phần diễn biến chiến chiến dịch, giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong

cuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954” kết hợp sử dụng

hình ảnh: “Biểu tượng chiến thắng Điện Biên Phủ” để kể chuyện cho học sinh:

“Thế của ta như nước vỡ bờ, bộ đội ta đánh tới đâu, cờ trắng của địch xuất hiện tới đó Nhiều toán địch từ các chiến hào lũ lượt kéo ra nộp vũ khí, 17 giờ một cánh quân của đại đoàn 312 tiến sát tới sở chỉ huy địch Trung đội trưởng Chu Bá Thệ phát hiện trên nóc hầm Đờcát có một lá cờ trắng đang phất Đại đội trưởng Tạ Quang Luật lập tức cùng hai chiến sĩ Vinh và Nhỏ tiến vào Sở chỉ huy 17 giờ 30 phút, tướng Đờcát cùng toàn bộ Ban tham mưu của địch bị bắt sống Lá cờ quyết chiến quyết thắng của quân đội ta tung bay trên các nóc hầm Sở chỉ huy địch Ở các cứ điểm còn lại xung quanh hầm Đờcát, binh lính địch lũ lượt kéo cờ trắng ra hàng Ở khu vực Hồng Cúm, Đại đoàn 304 dùng loa kêu gọi địch đầu hàng Chúng lợi dụng trời tối tháo chạy Ta truy kích đến

24 giờ cùng ngày bắt sống toàn bộ bọn này”.

Trang 12

2.3.2 Xây dựng các bài miêu tả, tường thuật

Giáo viên khi dạy học lịch sử nếu biết khắc sâu những kiến thức cơ bảnbằng các phương pháp phù hợp sẽ giúp học sinh hiểu bài sâu sắc, trên cơ sở

đó trình độ nhận thức của các em sẽ được nâng lên ở mức khái quát lí luận,việc khắc sâu kiến thức cũng là một yếu tố quan trọng để giáo dục tư tưởngchính trị, hình thành thế giới quan khoa học và phát triển năng lực tư duy củahọc sinh

Khi dạy bài 16 “Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2-9- 1945) mục I.2: Tình hình kinh tế - xã hội, khi giáo viên nói về chính sách vơ

vét, bóc lột tàn bạo của Pháp – Nhật đã đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực.Hậuquả là cuối năm 1944 – đầu năm 1945, gần 2 triệu đồng bào ta chết đói Giáoviên sử dụng đoạn trích trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân để

miêu tả nạn đói khủng khiếp đó: “Cái đói đã tràn đến cái xóm làng này từ lúc nào, những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lụt bồng

bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả dạ, không buổi sáng nào người làng đi chợ, đi làm đồng không thấy vài cái thây nằm cỏng keo bên đường Không khí vẩn lên mùi

ẩm mốc của rác rưởi và mùi gây của xác người” Nội dung đoạn trích này sẽ

giúp học sinh hiểu được những biểu hiện cơ bản của nạn đói khủng khiếp đó:gầy xanh xao, đi ăn xin, chết vì đói… từ đó học sinh hiểu sâu sắc sự kiện lịch sửnày và nhớ được sự kiện

Hoặc giáo viên có thể sử dụng tư liệu văn học trong tác phẩm “Nỗi đau

lịch sử nạn đói 1945”: “Khi nạn đói mới bắt đầu, số người chết còn ít, mỗi buổi sáng xe hơi mang dấu Hồng thập tự của Sở vệ sinh đi các phố nhặc xác mang

về bệnh viện thành phố cuốn chiếu đem chôn Về sau, số người chết đói tăng dần, một xe Hồng thập tự không đủ, Sở vệ sinh thành phố phải thuê xe bò nhặt xác và tại bệnh viện thành phố một nhân viên sở vệ sinh đếm số xác trả tiền Tới khi số người chết nhiều quá, phố nào cũng có nên không thể tập trung xác

ở một số nơi nữa Sở vệ sinh cho phép nhà thầu được đem xác đi chôn Họ chỉ cần báo người nhặt xác cắt đôi vành tai của xác chết xâu lại rồi mang tới Sở vệ sinh lấy tiền Sở Công chính đó cho đào sẵn nhứng hố chôn dài để các xe hất xác chết xuống, rắc một lần vôi bột rồi lấp đất cho đầy Những ngôi mộ tập thể

là nơi an nghỉ của hàng chục ngàn người nông dân xấu số Lũ lượt đoàn người như hình nhân bỏ quê hương tìm lên thành phố mong kiếm thứ bỏ vào mồm Và cuộc hành trình ấy kéo dài từ xó nhà đến Hà Nội đã biến con người thành hồn

ma xác quỷ hoặc là gục chết bên đường hoặc ngoi ngóp sống khổ nhục”.

Hay giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong bài thơ Đói của Bàng Bá

Trang 13

Lân để miêu tả nạn đói năm Ất Dậu:

“Năm Ất Dậu, tháng ba, còn nhớ mãi Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!

Những thây ma thất thểu đầy đường, Rồi ngã gục không đứng lên vì đói!

Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội, Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm

Khắp đường xa những xác đói rên nằm Trong nắng lửa, trong bụi lầm co quắp

Giữa đống giẻ chỉ còn đôi hố mắt Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma;

Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa Như muốn bắt những gì vô ảnh, Dưới mớ tóc rối bù và kết bánh, Một làn da đen xạm bọc xương đầu

Răng nhe ra như những chiếc đầu lâu,

Má hóp lại, răng hằn sâu gớm ghiếc

Già trẻ gái trai không còn phân biệt,

Họ giống nhau như là những thây ma, Như những bộ xương còn dính chút da Chưa chết đã bốc xa mùi tử khí! ”

Khi dạy bài 17 “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày

2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”, mục I Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945, khi nói về âm mưu, thủ đoạn của quân Trung Hoa Dân

quốc và tay sai ở miền Bắc Việt Nam, GV sử dụng tư liệu trong tác phẩm:

“Những chặng đường lịch sử” của đồng chí Võ Nguyên Giáp để học sinh thấy

rõ âm mưu của chúng khi vào miền Bắc Việt Nam: “Bọn Tưởng và tay sai (Việt Quốc, Việt Cách) tràn vào miền Bắc Việt Nam như một thứ bệnh dịch Theo gót chúng là những tay sai tức tối vì thấy khó có cơ hội kiếm ăn to Chúng rất trơ tráo, đi đến đâu cũng huênh hoang, cướp bóc, ức hiếp nhân dân ta, chúng lộ rõ nguyên hình là bọn lưu vong mất gốc được che chở bằng lưỡi lê quân đội phản động nước ngoài”

Hay khi nói về tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân phong kiến đểlại cho nước ta, giáo viên có thể sử dụng tư liệu trong tác phẩm “Bản án chế độthực dân Pháp” kết hợp với sử dụng các hình ảnh về chính sách cai trị của Pháp

để giúp học sinh hiểu rõ chính sách cai trị của Pháp ở Việt Nam:“Lúc ấy, cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm trăm đại lí bán lẻ rượu và thuốc phiện Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có vẻn vẹn mười trường

Trang 14

học Hằng năm người ta cũng đã tọng từ 23 đến 24 triệu lít rượu cho 12 triệu người bản xứ kể cả đàn bà và trẻ con ”.

2.3.3 Sử dụng tài liệu văn học để khắc sâu kiến thức cho học sinh

Khi trình bày về diễn biến của phong trào ở Nghệ An và Hà Tĩnh, Giáoviên tích hợp văn học để nói về phong trào ở Nghệ - Tĩnh từ đầu năm 1930:

Bài thơ: “Xô viết Nghệ - Tĩnh” của tác giả Nguyễn Duy Xuân nói về phong

trào ở Nghệ - Tĩnh:

“Thế rồi một sáng tháng năm Thế rồi một trưa tháng tám Thế rồi một ngày tháng chín Trời rung đất chuyển

Những con người đói khổ Oằn mình đứng lên.

Họ cầm trong tay những gì họ có Gậy tre, lưỡi mác

Trống chiêng và mõ

Kẻ thét người hô

Ào ào như nước vỡ bờ”.

GV tích hợp đoạn thơ trong “Bài ca cách mạng” của Đặng Chánh Kỷ để HS

thấy được tinh thần chiến đấu của nhân dân ở các địa phương thuộc Nghệ Tĩnh

-“Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước

Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi…

Trên gió cả cờ đào phất thẳng Dưới đất bằng giấy trắng tung ra Giữa thành một trận xông pha Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng”.

GV tích hợp đoạn thơ trong “Xô viết Nghệ - Tĩnh” để làm rõ sự tàn bạo củathực dân Pháp trong cuộc đàn áp đoàn người biểu tình trong ngày 12/9 Đồngthời, cũng cho thấy sự dũng cảm, chiến đấu quyết liệt của nhân dân Nghệ - Tĩnhchống Pháp và tay sai phản động:

Trang 15

Phút chốc òa vào cát bụi Hồn vẫn mơ thế giới đại đồng…”

GV tích hợp đoạn thơ sau trong bài thơ “Gửi bạn người Nghệ - Tĩnh” của nhàthơ Huy Cận để nói về tình đoàn kết công nhân – nông dân ở nơi đây – một tìnhcảm gắn bó, thắm thiết của những con người cùng cảnh ngộ, bị bần cùng hóa:

“Đất này đất Xô viết Đảng mở hội cờ hồng

Tự tuổi vàng đá biết Mãi mặn tình công nông…”

Trong bài “Phong trào dân chủ 1936-1939”, ta sử dụng đoạn thơ trong bài

“Ba mươi năm đời ta có Đảng” của nhà thơ Tố Hữu để khái quát phong trào đấutranh trong thời kì dân chủ 1936-1939 – thời kì đấu tranh công khai, hợp phápxen lẫn đấu tranh bí mật, bất hợp pháp, ở cả thành thị và nông thôn:

“Chống phát xít cường quyền hiếu chiến Khắp năm châu, trận tuyến bình dân Trùng trùng cách mạng ra quân Phất cao cờ đỏ công nhân dẫn đầu Còi máy gọi bến tàu hầm mỏ.

Hòn Gai kêu Đất Đỏ đấu tranh

Áo nâu liền với áo xanh Nông thôn cùng với thành thị đứng lên.

Đòi cơm áo, đòi quyền dân chủ Đường càng đi, đội ngũ càng đông Suối ngàn đã chảy thành sông

Đố ai tát cạn được dòng nước xuôi”.

Trong bài 16 “Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2-9-1945).”,

chúng ta có thể sử dụng các tài liệu văn học sau:

Khi tìm hiểu nguyên nhân Hồ Chí Minh quyết định thành lập “Khu giảiphóng Việt Bắc”, giáo viên có thể lí giải do những thắng lợi của cao trào khángNhật cứu nước, vùng giải phóng được mở rộng, địa thế khu giải phóng được mởrộng gồm các tỉnh ở vùng Việt Bắc nối liền nhau nên Hồ Chí Minh quyết định

thành lập khu giải phóng: “Khu giải phóng phải trở thành một căn cứ địa vững chắc về mọi mặt, chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa để làm bàn đạp Nam tiến, giải phóng toàn quốc”.

Giáo viên sử dụng đoạn thơ sau trong Thơ ca cách mạng Việt Bắc 1945) để trình bày thời cơ cách mạng đã chín muồi và lệnh Tổng khởi nghĩa

(1936-giành chính quyền trong cả nước:

Trang 16

Hay giáo viên cũng có thể sử dụng nội dung bức thư của Hồ Chí Minh gửiđồng bào toàn quốc trước ngày tổng khởi nghĩa, nói đến sự kiện trưa ngày15/8/1945: Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, quân Nhật

ở Đông Dương rệu rã, chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang Nội

dung thư: “Hỡi đồng bào yêu quý!

Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta để giải phóng cho ta Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến lên giành độc lập, chúng ta không thể chậm trễ Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!” Nội dung thư

giúp học sinh thấy được tính cấp bách của tình hình, thời cơ giành độc lập đãđến, nhân dân phải dũng cảm tiến lên giành chính quyền

Khi dạy bài 17, mục II: Bước đầu xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính, giáo viên có thể tích hợp

kiến thức văn học giúp học sinh khắc sâu kiến thức, sự kiện lịch sử Giáo viên

có thể sử dụng bài vè đương thời về phong trào xóa nạn mù chữ:

"Hôm qua anh đến chơi nhà.

Thấy mẹ dệt vải thấy cha đi bừa.

Thấy nàng mải miết xe tơ.

Thấy cháu "i - tờ" ngồi học bi bô.

ô thời đội mũ, ơ thời thêm râu.

Chữ a thêm cái móc câu bên mình”.

Khi dạy mục III “Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng” (Bài 17 – SGK lớp 12), GV có thể sử dụng đoạn tài liệu văn

Trang 17

học để khắc họa rõ hơn về tội ác của TD Pháp khi chúng gây ra những hànhđộng khiêu khích Nam Bộ:

“Một tối hành quân qua xóm nhỏ

Mẹ già lách cửa níu bàn tay Con ơi! Giặc ác hơn lang sói

Mẹ dẫn con đi diệt bốt này”

(Gió nội thở dài – Xuân Miễn)

Trước tình thế đó, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huy độnglực lượng cả nước chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ

Hay khi dạy bài 18: “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 -1950)”, Nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại những thắng

lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947 qua nhữngvần thơ:

“Anh kể chuyện tôi nghe Trận chợ Đồn, chợ Rã

Ta đánh giặc chạy re Hai đứa cười ha hả Rồi Bông Lau, Ỷ La

Ba trăm thằng tan xác Cành cây móc thịt da Thối inh rừng Việt Bắc.

Tàu giặc đắm sông Lô Tha hồ mà uống nước Máu tanh đến bây giờ Chưa tan mùi bữa trước ”

Bước vào thu đông năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịchBiên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp kiểm tra kể hoạch tác chiến, côngtác chuẩn bị và động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công tham gia chiến dịch Người

đã viết bài thơ Lên núi:

“ Chống gậy lên non xem trận địa Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.”

(“Lên núi” – Hồ Chí Minh)

Khi nói về ý nghĩa của chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, giáo viên

có thể sử dụng tư liệu trong bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn:

“ Mẹ! Cao - Lạng hoàn toàn giải phóng Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn

Trang 18

Vệ quốc quân chiếm lại các đồn Người đông như kiến, súng dày như củi.

Hôm nay Cao - Bắc - Lạng cười vang Dọn lán, rời rừng, người xuống làng Người nói cỏ lay trong ruộng rậm Con cày mẹ phát, ruộng ta quang.

Ðường cái kêu vang tiếng ô tô.

Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ.

Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá ”

Ở bài 20: “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954)” mục I Âm mưu mới của Pháp- Mĩ ở Đông Dương, kế hoạch NaVa, giáo viên cho học sinh quan sát bức ảnh NaVa kết hợp với tư liệu trong

tác phẩm “Thắng Pháp trên bầu trời Điện Biên Phủ” – Lưu Trọng Lân để giúp

học sinh hiểu rõ âm mưu nguy hiểm của Pháp Mĩ khi đề ra kế hoạch NaVa: “Na

Va sinh năm 1898, tướng bốn sao, nguyên Tham mưu trưởng lục quân Pháp trong khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), là một sĩ quan trẻ, có tài vượt cấp nhanh, ông ta được ca ngợi là một vị tướng “văn võ kiện toàn”, “có nhãn quan chiến lược”, “đầy tự tin và nghị lực”, “có khả năng chịu đựng những đòn dữ dội và bất ngờ”, “có những đức tính riêng biệt của người chỉ huy chính trị”, “ không hề tha thứ cho bất kể một trở lực nào để thực hiện ý định của mình”.

Công tác chuẩn bị cho chiến dịch và ý nghĩa của chiến dịch Điện Biên Phủđược nhà thơ Tố Hữu ghi lại trong bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”

Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát

Dù bom đạn xương tan, thịt nát Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh"

Hỡi các chị, các anh Trên chiến trường ngã xuống Máu của anh chị, của chúng ta không uổng

Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng ”

năm 1945 đến năm 1954.

3.1 Vị trí, ý nghĩa của kiến thức Địa lí trong dạy học lịch sử

Trang 19

Sự kiện lịch sử gắn liền với vị trí không gian nhất định Nhiều sự kiệnkịch sử xảy ra bắt nguồn từ đặc điểm địa lí hoặc do điều kiện địa lí tác động,chi phối Do vậy kiến thức địa lí có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong dạy họclịch sử Bài học lịch sử gắn với bản đồ và kiến thức địa lí luôn tạo ra sự hấpdẫn, giúp học sinh nắm chắc sự kiện, biết lí giải bản chất sự kiện qua sự chiphối của yếu tố địa lí.

3.2 Sử dụng kiến thức địa lí giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học lịch sử

Kiến thức Địa lí nói chung, bản đồ Địa lí nói riêng có ưu thế trong việckhắc sâu kiến thức lịch sử cho học sinh

Trong bài “Phong trào cách mạng 1930-1935”, giáo viên sử dụng bản đồ địa lí

để giới thiệu hai địa điểm Nghệ An và Hà Tĩnh, có sử dụng kiến thức địa lí vàlịch sử để lí giải về ảnh hưởng của không gian địa lí đối với sự bùng nổ củaphong trào cách mạng ở hai tỉnh này (một trong những nguyên nhân diễn raphong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh)

“Nghệ An và Hà Tĩnh là hai tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, diện tích khoảng hơn 22 000km 2 Lãnh thổ hẹp ngang, địa hình chủ yếu là vùng đồi núi, với diện tích hơn 80% đất tự nhiên Đây là vùng đất nghèo, thường gặp thiên tai: hạn hán, úng lụt, lại bị thực dân, phong kiến đàn áp, bóc lột tàn bạo Nghệ - Tĩnh cũng là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Tại đây có khu công nghiệp Vinh – Bến Thủy tập trung đông công nhân (trên 6000 người), có 1 đảng bộ mạnh với 2.011 đảng viên và các tổ chức quần chúng phát triển (công hội, nông hội, hội phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản).” Sử dụng kiến thức địa lí giúp học

sinh khắc sâu kiến thức bài học lịch sử Ví dụ về vị trí chiến lược của Cao Bằng

đã được Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng cho cách mạng nước ta, Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế thuận lợi Nhưng Cao Bằng còn phải phát triển xuống Thái Nguyên và còn phải thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được Có nối phong trào với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ.” Vì vậy,

khi về nước, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo xây dựng thí điểm phong trào ViệtMinh ở Cao Bằng, và khi thành công, Người đã quyết định thành lập Mặt trậnViệt Minh (19/5/1941)

Khi nói về vị trí và tầm quan trọng của căn cứ địa Việt Bắc, giáo viên sử

dụng lược đồ khu giải phóng Việt Bắc, kết hợp giới thiệu “ Tên gọi Việt Bắc ra đời từ 4-6-1945 theo chỉ thị của Hồ Chí Minh Khu giải phóng được xây dựng trên một vùng rộng lớn, địa hình chủ yếu là núi rừng Phía Bắc giáp Trung Quốc Vùng biên giới Việt - Trung là nơi cách mạng hoạt động rất thuận lợi và

Trang 20

qua đây có thể liên lạc với phong trào Cộng sản quốc tế Phía Nam là vùng trung du, đồng bằng Do đó, gặp thời cơ thuận lợi, lực lượng vũ trang cách mạng có thể tiến nhanh phát huy thắng lợi và nếu gặp khó khăn có thể lui về để bảo toàn lực lượng Theo các triền núi phía Đông, Khu giải phóng có thể liên lạc với biển và Hải Phòng Theo các triền núi phía Tây, có thể liên lạc với khu Tây Bắc và các tỉnh miền núi Trung bộ Tóm lại, Khu giải phóng có vị trí rất

cơ động, “tiến có thể đánh”, “lui có thể giữ”

Hay khi nói về âm mưu của Pháp – Mĩ trong kế hoạch Rơve giáo viên sửdụng lược đồ, giúp học sinh xác định rõ tầm quan trọng của tuyến biên giớiViệt – Trung, những khó khăn đối với cuộc kháng chiến của quân và dân ta khiPháp triển khai kế hoạch Rơve Giáo viên nhấn mạnh:

“ Chiến trường Biên giới có tầm quan trọng về chiến lược nên Pháp bố trí

ở đây một lực lượng quân sự khá mạnh Đường quốc lộ chiến lược số 4 dài 300km qua các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn Tại đây địch có 11 tiểu đoàn và 9 đại đội, trong đó có 4 tiểu đoàn Âu Phi làm lực lượng cơ động Rơ ve chủ trương khóa chặt biên giới Việt Trung bằng một hệ thống phòng thủ vững chắc trên đường số 4 với các cứ điểm: Đình Lập, Lạng Sơn, Na Sầm, Thất Khê, Đông Khê, Cao Bằng để cô lập cách mạng Việt Nam Đồng thời chúng tung quân đánh rộng ra vùng trung du, thiết lập hành lang Đông Tây: Hải Phòng – Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La hòng ngăn chặn con đường liên lạc giữa Việt Bắc với đồng bằng Liên khu III và liên khu IV

Với binh lực lớn và tinh nhuệ, hệ thống phòng thủ vững chắc, Bộ chỉ huy Pháp đặt nhiều hi vọng vào khả năng phòng thủ của Liên khu biên giới Tuy nhiên liên khu này có nhiều điểm bất lợi: Thế bố trí thành tuyến kéo dài trên một con đường độc đạo với vị trí cô lập cách xã nhau hàng chục km; địa hình rừng núi, phức tạp khiến quân cơ động ứng chiến bằng cơ giới khó phát huy tác dụng.”

Khi dạy bài 18, Giáo viên sử dụng hình ảnh Tượng đài ghi lại những chiến thắng hiển hách trên đèo Bông Lau tích hợp kiến thức Địa lí để khắc họa cho

học sinh về thắng lợi của quân ta tại Đèo Bông Lau trong chiến dịch Việt Bắcthu đông năm 1947:

“Là một con đèo thuộc vòng cung Đông Bắc ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, nằm trên quốc lộ 4A giữa hai huyện Tràng Định (Lạng Sơn) và Thạch An (Cao Bằng) Trận phục kích địch ở bản Sao - đèo Bông Lau, do Tiểu đoàn 374, Trung đoàn 11 Lạng Sơn và các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích tiến hành ngày 30.10.1947 là trận phục kích đầu tiên trên đường số 4, góp phần đánh bại cuộc tiến công của quân đội Pháp lên Việt Bắc trong Thu-Đông 1947.

Trang 21

Trận đánh thắng lợi, ta tiêu diệt gọn một đoàn xe cơ giới của địch, phá hủy

27 xe, diệt 94 tên, bắt sống 101 tên, thu 600 chiếc dù và toàn bộ vũ khí trang bị.

Từ đây tiểu đoàn 374 được gọi là “Tiểu đoàn Bông Lau”.

Hay khi nói về chiến dịch Điện Biên phủ, nhấn mạnh tầm quan trọng của

Điện Biên Phủ, giáo viên sử dụng lược đồ, kết hợp giới thiệu: “ Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu, là một thung lũng rộng lớn nằm ở phía tây rừng núi Tây bắc, cách Luông pha băng 190 km Thung lũng Điện Biên Phủ có chiều rộng từ 6km-8km, chiều dài gần 20 km, nằm gần biên giới Việt- Lào, một ngã ba của nhiều tuyến đường quan trọng Xung quanh thung lũng là một vùng rừng núi trùng điệp bao bọc Núi có độ cao trung bình 500m, có mỏm đột xuất cao 1.461km Thung lũng Điện Biên là cánh đồng phẳng, đồng ruộng khô ráo, thỉnh thoảng nổi lên những đồi cao hơn mặt ruộng 8-20m, cá biệt có điểm cao 250m Trong thung lũng có sông Nậm Rốn chảy theo hướng Bắc – Nam đổ xuống Nậm Hu ”

Giáo viên có thể sử dụng lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ để giúp họcsinh nắm rõ âm mưu của Pháp – Mĩ ở Điện Biên Phủ, cách bố trí lực lượng củaPháp ở Điện Biên Phủ kết hợp phân tích:

“Khi kế hoạch Nava bước đầu phá sản, phát hiện quân chủ lực của ta tiến quân lên Tây Bắc, Nava điều quân về giữ Điện Biên Phủ Đây là một thung lũng nằm ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần biên giới Lào, cách Hà Nội 300

km, cách Luôngphabăng 200 km, cách hậu phương của ta (Việt Bắc, Thanh Nghệ - Tĩnh) từ 300 đến 500 km Đối với Pháp, đây là vị trí chiến lược then chốt, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân trong âm mưu xâm lược của chúng ở Đông Dương và Đông Nam Á Trước mắt, Điện Biên Phủ có tác dụng thu hút chủ lực của ta, tạo cho chúng bình định đồng bằng Bắc Bộ, đánh chiếm liên khu V Điện Biên Phủ từ chỗ không nằm trong nội dung của kế hoạch Nava đã trở thành tâm điểm của kế hoạch Nava.

-Để thực hiện mưu đồ trên, Nava tăng dần số quân chiếm đóng ở Điện Biên Phủ lên 16.200 tên, gồm những đơn vị thuộc các binh chủng tinh nhuệ nhất ở Đông Dương Nava cho xây dựng ở đây 49 cứ điểm, 2 sân bay, chia làm 3 phân khu: Trung tâm Mường Thanh, Bắc và Nam Tất cả các vị trí đều nằm trong công sự và giao thông hào chìm dưới mặt đất rất kiên cố,… Pháp – Mĩ coi Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm phạm”, “cái máy nghiền khổng lồ” và đưa

ra lời tuyên bố sẽ giữ căn cứ này với bất cứ giá nào”.

3.3 Sử dụng bản đồ giúp học sinh hiểu rõ diễn biến sự kiện lịch sử

Bản đồ lịch sử được tích hợp kiến thức địa lí giúp học sinh hiểu rõ sựkiện lịch sử trên các khía cạnh, như: Tại sao xảy ra ở vị trí không gian đó?

Trang 22

Diễn biến thế nào? Mối liên quan của các sự kiện trong những vị trí khônggian khác nhau ra sao?

Chẳng hạn, khi dạy về chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947,Giáo viên sử dụng lược đồ chiến dịch Việt Bắc, kết hợp miêu tả, tườngthuật, giúp học sinh hiểu rõ về âm mưu, thủ đoạn của Pháp khi tấn cônglên Việt Bắc và những thắng lợi của ta trong chiến dịch Việt Bắc thuđông năm 1947

Lược đồ chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947

+ Sau khi chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ và các đô thị lớn tại miền Bắc,theo chiến lược "Đánh nhanh thắng nhanh", quân Pháp mở cuộc tấn công mớilên chiến khu Việt Bắc nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến của Việt Minh đangđóng tại đây, hoàn tất việc tái chiếm Đông Dương

+ Tháng 3-1947, chính phủ Pháp cử Bôlae làm Cao ủy Pháp ở ĐôngDương thay cho Đác giăng liơ, thực hiện kế hoạch tiến công căn cứ địa Việt Bắcnhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh

+ Kế hoạch tấn công dự kiến chia làm hai bước:

Bước 1: Mang mật danh Lê-a (Léa), mục tiêu đánh chiếm là khu tamgiác Bắc Cạn – Chợ Đồn – Chợ Mới

Bước 2: Mang mật danh Xanh-tuy, tức là "Siết chặt vành đai", quân Pháp sẽ

tập trung lực lượng càn quét khu tam giác: Bắc Cạn - Chợ Chu – Chợ Mới, lấyvùng Chợ Chu làm mục tiêu trọng điểm."

+ Cuộc hành quân mệnh danh là LÊ A, lấy tên một ngọn đèo cao 1362 méttrên đường thuộc địa số 3 giữa Bắc Kạn và Cao Bằng Mục tiêu của Pháp

là: "Diệt và bắt cơ quan đầu não của Việt Minh, tìm diệt chủ lực, phá tan căn cứ địa Việt Bắc, bịt kín, khóa chặt biên giới Việt–Trung, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc và loại trừ mọi chi viện từ bên ngoài vào Truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ…".

- Thực dân Pháp huy động 12000 quân và hầu hết máy bay ở Đông Dương

mở cuộc tiến công lên Việt Bắc từ ngày 7-10-1947

Trang 23

+ Rạng sáng ngày 7-10-1947, binh đoàn dù do Sôvanhắc chỉ huy lần lượt

đổ quân xuống Bắc Kạn nơi chúng nghi có cơ quan đầu não kháng chiến; buổichiều cùng ngày chúng thả tiếp một bộ phận quân dù xuống thị trấn Chợ Mớinhằm khống chế tuyến đường Thái Nguyên đi Bắc Kạn và lấy đó làm nơi tập kếtnhững đạo quân lùng sục cơ quan đầu não kháng chiến của ta Ngày hôm sauchúng cho quân nhảy dù xuống Chợ Đồn

+ Trên đường bộ, sáng ngày 7-10-1947, binh đoàn bộ binh do Bôphơrê chỉhuy, xuất phát từ Lạng Sơn theo đường số 4 tiến lên chiếm Cao Bằng rồi một bộphận tiến xuống Bắc Kạn theo đường số 3, vòng sang Chợ Đồn lên Chiêm Hóa(Tuyên Quang) hình thành một gọng kìm lớn ở hướng đông bắc

+ Ngày 9-10-1947, một binh đoàn hỗn hợp gồm bộ binh và lính thủy đánh

bộ do Trung tá Cômmuynan chỉ huy từ Hà Nội ngược sông Hồng lên Việt Trì, rẽsang sông Lô lên Tuyên Quang đến Khe Lau (nơi hợp lưu giữa sông Lô và sôngGân), quân Pháp ngược sông Gâm lên Chiêm Hóa Hai cánh quân thủy bộ sẽgặp nhau tại Đài Thị (cách Chiêm Hóa 12 km về phía đông bắc), bao vậy ViệtBắc ở phía tây

- Như vậy, khu vực càn quét, đánh phá của địch nằm trong vùng tứ giác:Tuyên Quang - Đài Thị - Bắc Kạn- Thái Nguyên, rộng khoảng 3600 km2 Trong

đó khu vực trọng điểm là Bắc Kạn- Chợ Chu – Chợ Mới

- Ở mặt trận đường số 3, tại Bắc Kạn, Chợ Mới quân và dân ta nhanhchóng khắc phục tình trạng lúng túng, bị động ban đầu, hình thành thế trận baovây, chia cắt địch Các đại đội độc lập cùng dân quân, tự vệ, liên tiếp tập kích,quấy rối các vị trí Chợ Đồn, Ngân Sơn, Chợ Rã, Bạch Thông; phục kích địchtrên đường Bắc Kạn, Chợ Đồn, Phủ Thông, Chợ Mới buộc Pháp phải rút khỏiChợ Đồn, Chợ Rã cuối tháng 11-1947

- Trên mặt trận Đường số 4: diễn ra nhiều trận phụ kích địch, tiêu biểu làtrận đèo Bông Lau (30-10-1947): phá hủy 27 xe cơ giới, diệt và bắt 240 tên địch,thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng Đường số 4 trở thành con đường chếtvới giặc Pháp

- Ở mặt trận Sông Lô (Chiêm Hóa), quân và dân ta liên tục chặn đánhđịch, điển hình là các trận Đoan Hùng, Khoan Bộ, Khe Lau Nhiều tàu chiến, ca

nô của địch bị bắn cháy Chiến thắng trong trận đánh ở Khoan Bộ (Sông Vĩnh Phúc) pháo binh ta đã bắn tan xác hai tàu chiến Pháp không những cổ vũcho truyền thống yêu nước của dân tộc ta nói chung, nhân dân Vĩnh Phúc nóiriêng, mà chiến thắng Ghềnh Khoan Bộ - Sông Lô còn khích lệ tinh thần dámnghĩ, dám làm của chiến sỹ, đồng bào ta Góp phần phá tan cuộc tiến công vớiquy mô lớn lên căn cứ địa kháng chiến của ta ở Tây Bắc và Việt Bắc

Lô-Ngày 19-12-1946: đại bộ phận quân Pháp rút khỏi Việt Bắc

Trang 24

Khi dạy về chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, giáo viên sử dụnglược đồ chiến dịch Biên giới để Học sinh hiểu rõ diễn biến chiến dịch:

Lược đồ chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950

- Sáng ngày 16-9-1950: quân ta nổ súng đánh Đông Khê, mở màn chiếndịch Đông Khê là một cứ điểm, địch tương đối yếu (có 1 tiểu đoàn), nhưng lại

là vị trí trọng yếu, mất Đông Khê, địch phải cho quân ứng cứu, Cao Bằng phảirút chạy… ta có cơ hội tiêu diệt quân tiếp viện và quân rút chạy của địch Hơnnữa, Đông Khê ở xa Hà Nội, nếu địch tiếp viện cũng mất nhiều thời gian Vìvậy, ta quyết định đánh Đông Khê

- Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, bộ đội ta tiêu diệt được vị trí Đông Khê.Thất Khê bị uy hiếp trực tiếp Cao Bằng hoàn toàn bị cô lập Thế trận phòngthủ trên đường số 4 của địch bị rung chuyển

- Đúng như ta phán đoán, Đông Khê thất thủ đã gây nên phản ứng dây chuyềntrong giới cầm quyền quân sự và chính trị Pháp Tổng chỉ huy quân đội viễnchinh Pháp ở Đông Dương phải ra lệnh rút quân khỏi Cao Bằng theo đường số

4 Kế hoạch trên được thực hiện bằng một cuộc hành quân kép

+ Một mặt, địch cho binh đoàn từ Thất Khê do Lơ Pa giơ chỉ huy lên chiếm lạiĐông Khê để đón binh đoàn từ Cao Bằng do Sác tông chỉ huy kéo về

+ Mặt khác, chúng huy động hầu hết lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ mởchiến dịch mang tên Phô cơ đánh chiếm thị xã Thái Nguyên, hi vọng thu hút chủlực của ta ở mặt trận biên giới để đỡ đòn cho đồng bọn và trấn an dư luận trướcviệc thất thủ Đông Khê

- Nắm được ý đồ của địch, quán triệt phương châm “đánh điểm diệt viện”, trênmặt trận Biên giới, bộ đội ta kiên nhẫn, mai phục chờ đánh quân tiếp viện

- Sau một thời gian chuản bị, ngày 30-9-1950, địch cho binh đoàn Lơ pa giơ tiếnlên Đông Khê, binh đoàn của Sác tông ở Cao Bằng cũng bắt đầu rút về Bộ chỉhuy mặt trận chủ trương tập trung lực lượng, tiêu diệt từng cánh quân địch Trảiqua 8 ngày chiến đấu ác liệt tại khu vực núi Cốc Xá và khu đồi 477 ở phía tâyĐông Khe, bằng chiến thuật vận động chiến, quân ta tiêu diệt và bắt gọn hai

Trang 25

binh đoàn địch gồm 7 tiểu đoàn Ngày 8-10: địch cho một tiểu đoàn do Đờ laBôm chỉ huy kéo lên định ứng cứu cho Lơ Pa giơ và Sác tông cũng bị đánh tan.

Kế hoạch rút quân của địch hoàn toàn sụp đổ

Liên tiếp từ ngày 10 đến ngày 23-10, địch lần lượt rút khỏi các vị trí: Thất Khê,

Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập, An Châu Trong quá trìnhrút chạy, địch bị quân ta truy kích, tiêu diệt thêm một phần lực lượng

- Phối hợp với mặt trận Biên giới, trên các chiến trường khác quân ta tích cựcđẩy mạnh các hoạt động tiến công địch

+ Tại mặt trận Tây Bắc quân và dân ta hoàn thành nhiệm vụ đánh nghi binh, vừatiêu diệt và buộc địch

+ Tại Việt Bắc cuộc tấn công lên Thái Nguyên của 6 tiểu đoàn địch đã bị quân

và dân ta đập tan Ngày 11-10 quân Pháp buộc phải rút khỏi thị xã Thái Nguyên.+ Ở chiến trường Bắc Bộ quân ta đánh mạnh, tiêu diệt 700 địch, buộc chúngphải rút 44 vị trí trong đó có thị xã Hòa Bình

+ Ở Bình Trị Thiên, quân ta mở chiến dịch Phan Đình Phùng, đột nhập thị xãQuảng Trị, đánh mìn trên đoạn đường Huế - Đà Nẵng ngăn không cho chúngđưa quân ra Bắc Bộ

Khi dạy mục II.1 Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, bài 20, giáo viên sử dụng lược đồ hình thái chiến trường Đông Xuân 1953-

1954 để tường thuật diễn biến các cuộc tiến công chiến lược trong Đông Xuân

1953 – 1954

Lược đồ hình thái chiến trường Đông Xuân 1953 -1954

- Tháng 12/1953, quân ta mở chiến dịch Tây Bắc, giải phóng toàn bộ thị xãLai Châu Nava phải điều quân lên tập trung tại Điện Biên Phủ

Trang 26

- Tháng 12/1953, phối hợp với bộ đội Lào, ta mở chiến dịch Trung Lào vàthắng lớn Ta bao vây Xavanakhet và Xênô, Nava phải tăng thêm quân choXênô

- Tháng 1/1954, ta và Lào mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng toàn tỉnhPhongxalì Nava buộc phải điều thêm quân cho Luôngphabăng và Mường Sài

- Tháng 2/1954, ta mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên, giải phóng toàn bộKontum, bao vây Plâycu Nava phải điều thêm quân cho PlâyKu, biến nơi đâythành điểm tập trung quân thứ năm của địch

- Ngoài ra, ta còn đẩy mạnh chiến tranh du kích, vùng sau lưng địch giànhnhiều thắng lợi, chuẩn bị tốt về vật chất, tinh thần trước khi tiêu diệt địch ở ĐiệnBiên Phủ

 Cuộc Tiến công chiến lược đông-xuân 1953-1954 của quân ta đã bướcđầu làm phá sản kế hoạch Nava của Pháp - Mĩ

Về diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ, để giúp học sinh dễ nhớ, dễ hiểu,giáo viên sử dụng lược đồ diễn biến chiến dịch kết hợp kể chuyện lịch sử, miêu

tả, tường thuật:

Lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954

- Đợt 1: 13/3-17/3/1954, ta tấn công tiêu diệt cứ điểm Him Lam và toàn bộ

phân khu Bắc

- Đợt 2, từ 30/3-26/4/1954: Ta đồng loạt tấn công các cứ điểm phía Đông

phân khu trung tâm E1, D1, C1, A1…bao vây chia cắt địch

- Đợt 3, từ 1-7/5/1954 : Ta đồng loạt tấn công phân khu Trung tâm và

phân khu Nam, chiều ngày 7/5/54 tướng Đờ Cátxtơri cùng toàn bộ ban thammưu của địch đầu hàng và bị bắt sống

Trang 27

Thực nghiệm sư phạm

4.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đề ra một số biện pháp thực hiện tíchhợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930đến năm 1954, chúng tôi tiến hành thực nghiệm, kiểm nghiệm và đánh giánhững đề xuất sư phạm mà chúng tôi đưa ra bằng một bài học cụ thể ởchương trình Lịch sử lớp 12 THPT (Ban cơ bản)

4.2 Đối tượng thực nghiệm

Tôi chọn lớp 12A1 làm lớp thực nghiệm, lớp 12A3 làm lớp đối chứng có trình

độ nhận thức tương đương nhau

STT Tên lớp Số học sinh

4.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm

Nội dung thực nghiệm được tiến hành thông qua bài học trên lớp theochương trình cơ bản (lớp 12) Trong phạm vi chương trình lịch sử mà tôi chọn:phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954, Tôi tiến hành thực nghiệmTiết 24 – bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám1939-1945, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945); Tiết 26 - bài

17: Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa từ sau 2-9-1945 đến trước ngày 1946; Tiết 29- bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950) ở lớp 12 trường THPT Trần Hưng Đạo Giáo án

19-12-thể hiện rõ quan điểm dạy học tích hợp kiến thức Văn học, Địa lí trong dạy họcLịch sử

Phương pháp: để đảm bảo tính khách quan, chúng tôi chọn đối tượng nhậnthức giữa lớp đối chứng và thực nghiệm đều tương đương nhau về trình độ.Dạy xong lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, để đánh giá được kết quả cuốicùng của bài học, chúng tôi tiến hành kiểm tra nhận thức của học sinh bằngphiếu học tập qua các câu hỏi trắc nghiệm và tự luận trong thời gian 15 phút.Phiếu học tập được sử dụng ở cả hai lớp là như nhau

4.4 Kết quả thực nghiệm

Sau khi tiến hành giảng dạy ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, chúng tôitiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua bài kiểm tra

15 phút

Trên cơ sở chấm bài, chúng tôi lập bảng xếp loại điểm theo quy định như sau:

- Điểm giỏi: 9-10- Điểm trung bình: 5-6

- Điểm khá: 7-8- Điểm yếu, kém: dưới 5

- Kết quả thực nghiệm như sau:

Trang 28

BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Điều đó chứng tỏ rằng hình thức và biện pháp sư phạm mà chúng tôi đưa ratrong đề tài có tính khả thi Kết quả thực nghiệm là cơ sở để khẳng định việcthực hiện tích hợp kiến thức văn học, địa lí trong dạy học lịch sử mang lại hiệuquả cao, góp phần đổi mới phương pháp dạy và học lịch sử hiện nay

4.5 Giáo án thực nghiệm

4.5.1 Giáo án thực nghiệm số 01

Tiết 24- BÀI 16 PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

+ Hoàn cảnh lịch sử, diễn biến của khởi nghĩa từng phần

+ Thời cơ “ngàn năm có một” của cách mạng tháng Tám và việc chớp thời

cơ của Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh

+ Diễn biến của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

+ Vai trò của Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh với thắng lợi của cáchmạng tháng Tám

2 Tư tưởng

- Bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng.

- Phát huy tinh thần yêu nước, nhiệt tình cách mạng

Trang 29

- Trân trọng và phát huy những thành quả cách mạng.

3 Kĩ năng

- Rèn kĩ năng khai thác tranh ảnh, lược đồ, phim tư liệu lịch sử

- Rèn kĩ năng phân tích, đánh giá một sự kiện, nhân vật lịch sử

- Kĩ năng liên hệ kiến thức đã học với thực tế cuộc sống

- Vận dụng được kiến thức các môn Văn học, Địa lí làm phong phú thêmnội dung bài học lịch sử

4 Định hướng năng lực cần hình thành

* Năng lực chung:

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực sáng tạo

- Năng lực giao tiếp

* Năng lực chuyên biệt:

II Thiết bị dạy học, học liệu

- Lược đồ khu giải phóng Việt Bắc, tranh ảnh về khu giải phóng

- Lược đồ diễn biến tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

- Tranh ảnh lịch sử có liên quan đến bài học: thành lập đội Việt Nam tuyêntruyền giải phóng quân, đồn Phay Khắt, Đại hội Quốc dân ở Tân Trào…

- Thơ văn về Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

- Video clip về Tổng khởi nghĩa tháng Tám

- Phiếu học tập và phiếu kiểm tra đánh giá cuối giờ học

- Bài giảng điện tử của giáo viên

III Tiến trình tổ chức dạy học

Trang 30

1 Chủ trương của Đảng được đề ra tại hội nghị Ban Chấp hành Trungương tháng 11-1939 và hội nghị lần 8 Ban chấp hành Trung ương tháng5/1941?

2 Mặt trận Việt Minh ra đời đã có tác động như thế nào đối với phongtrào giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong những năm 1941- 1945?

3 Bài mới:

Cách mạng tháng Tám là một trong những sự kiện lịch sử thể hiện đầy đủ,

tập trung và tiêu biểu các phẩm chất, năng lực, bản lĩnh, sức sáng tạo của Đảng

và nhân dân ta, trước hết là vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc – chủ tịch Hồ Chí

Minh vĩ đại Với một trí tuệ thiên tài, Người đã tiên đoán trước bước ngoặt của

lịch sử Việt Nam và chủ động chuẩn bị mọi mặt cho việc thúc đẩy tiến trình phát

triển của lịch sử theo hướng có lợi nhất cho dân tộc và nhân dân ta Tư tưởng

Hồ Chí Minh biểu hiện một cách đầy đủ và rõ ràng nhất trong những ngày tháng

Tám sôi động Để hiểu rõ về công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa vũ

trang giành chính quyền; quá trình khởi nghĩa vũ trang: từ khởi nghĩa từng phần

tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước các em sẽ cùng tìm

hiểu tiết học hôm nay

Hoạt động của thầy – trò Nội dung kiến thức cơ bản Hoạt động 1: cả lớp – cá nhân

- Giáo viên phát phiếu học tập cho học sinh

(Phụ lục 1)

- Học sinh tự tìm hiểu nội dung phần II mục

4 trong SGK điền thông tin vào phiếu

- Giáo viên cho học sinh quan sát bảng thống

kê hoàn chỉnh về công cuộc chuẩn bị khởi

nghĩa giành chính quyền, giúp học sinh hoàn

thiện kiến thức trong phiếu, tự đánh giá về

mức độ hoàn thành nhiệm vụ của bản thân

Nội dung

Xây dựng

lực lượng chính trị

- Nhiệm vụ: vận động quần chúng tham gia mặt trận Việt Minh

- Ở Cao Bằng: + Năm 1942 có “ba

Trang 31

Sử dụng các bài thơ vận động quần chúng

gia nhập Việt Minh của Hồ Chí

Minh:”Công nhân”; “Dân cày”, “Phụ nữ”,

“Ca binh lính”, cùng tác phẩm “Đề cương

văn hóa Việt Nam” để giúp học sinh thấy rõ

tầm quan trọng của công cuộc xây dựng lực

lượng chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang và

vai trò của Mặt trận Việt Minh với thắng lợi

của cách mạng tháng Tám.

châu hoàn toàn”.

+ Ủy ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng

và Ủy ban lâm thời liên tỉnh Bắc- Lạng được thành lập.

Cao Ở Bắc Kì và Bắc Trung kì các hội cứu quốc quân được thành lập.

- Năm 1943 Đảng đề ra bản “Đề cương văn hoá Việt Nam”.

- Năm 1944, Đảng Dân chủ và Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam thành lập

- Đảng tăng cường vận động binh lính và ngoại kiều dân chủ tham gia mặt trận Việt Minh.

Xây dựng lực lượng

vũ trang

- Ở Bắc Sơn – Võ Nhai:

+ Đội du kích Bắc Sơn được duy trì + Năm 1941, đội du kích Bắc Sơn chuyển thành Trung đội Cứu quốc quân I (2/1941).

+Trung đội Cứu Quốc quân II thành lập vào 9/1941.

- Tại Cao Bằng: cuối năm 1941, Nguyễn Ái Quốc quyết định thành lập đội tự vệ vũ trang.

Xây dựng căn cứ địa

- Tháng 11- 1940: căn cứ địa Bắc Sơn

- Võ Nhai được xây dựng.

- 1941: Nguyễn Ái Quốc chủ trương xây dựng căn cứ địa Cao Bằng.

Hoạt động 2: Cả lớp - cá nhân

- Giáo viên phát vấn

Tình hình thế giới từ đầu năm 1943 có gì

thay đổi và tạo điều kiện cho phong trào

cách mạng như thế nào? Trước tình hình đó

Đảng ta có chủ trương gì?

- HS tìm hiểu SGK, trả lời.

b Gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Trang 32

- GV: Nhận xét, bổ sung, kết luận về tình

hình thế giới đầu năm 1943, chủ trương của

Đảng trước những chuyển biến của tình hình

thế giới và trong nước, các biện pháp thực

hiện để tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành

chính quyền

- GV Cho học sinh quan sát hình ảnh về sự

kiện thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền

giải phóng quân kết hợp phát vấn:

- Quan sát hình ảnh và cho biết sự kiện này

được diễn ra ở đâu? Gắn liền với vai trò của

ai.

- GV giới thiệu về vai trò của đồng chí Võ

Nguyên Giáp

- GV tích hợp tài liệu văn học, tác phẩm

“Tổng hồi kí Võ Nguyên Giáp”, sử dụng

lược đồ và hình ảnh để miêu tả về 2 chiến

thắng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên

truyền giải phóng quân ở Phay Khắt và Nà

Ngần Sử dụng phương pháp tích hợp Văn

Bối cảnh : Đầu năm 1943 chiến tranh

thế giới chuyển biến theo hướng có lợi cho

-Tháng 5/1944 Tổng bộ Việt Minh rachỉ thị sửa soạn khởi nghĩa

- Ngày 22/12/1944, Đội Việt NamTuyên truyền Giải phóng quân ra đời, chỉ sau

2 ngày đã đánh thắng liên tiếp hai trận: PhayKhắt và Nà Ngần (Cao Bằng)

Trang 33

học, Địa lí giúp học sinh hiểu rõ về hai

thắng lợi đầu tiên của đội Việt Nam tuyên

truyền giải phóng quân.

Hoạt động 3 : Cả lớp – Nhóm- Cá nhân

- GV phát vấn : Đầu năm 1945, tình hình

chiến tranh thế giới hai có những chuyển

biến gì thuận lợi cho cách mạng nước ta?

Trước bối cảnh đó, tình hình trong nước có

biến chuyển như thế nào? Chủ trương của

Đảng ta trong hoàn cảnh mới như thế nào?

- Học sinh theo dõi sách giáo khoa, trả lời.

- GV nhận xét, kết luận

- GV tích hợp kiến thức văn học : sử dụng tư

liệu về sự kiện Nhật đảo chính Pháp

9-3-1945 trong tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập

của Hồ Chí Minh giúp các em khắc sâu sự

kiện lịch sử.

- GV yêu cầu học sinh xác định những nội

dung quan trọng của bản chỉ thị “Nhật –

Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”

III Khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

1 Khởi nghĩa từng phần (từ tháng 3 đến giữa tháng 8 - 1945)

* Hoàn cảnh:

- Ở châu Âu: Hồng quân Liên Xô tiến đánh

Béclin; một loạt các nước châu Âu giảiphóng

- Ở Châu Á – Thái Bình Dương : Quân

Đồng minh giáng cho quân Nhật những đònnặng nề

- Ở Đông Dương:

+ Mâu thuẫn Nhật – Pháp trở nên gay gắt.+ 20 giờ ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp,độc chiếm Đông Dương, tăng cường vơ vét,bòn rút tiền của của nhân dân ta, đàn ápnhững người cách mạng

+ Hội nghị quyết định “phát động cao tràokháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đềcho cuộc Tổng khởi nghĩa”

- GV chia học sinh thành các cặp, phát phiếu *Diễn biến :

Trang 34

cho các cặp học sinh, hướng dẫn học sinh

hoàn thành thông tin trong phiếu.

- HS tìm hiểu kiến thức trong SGK điền

thông tin vào phiếu

- Giáo viên cho học sinh quan sát phiếu hoàn

chỉnh về diễn biến của khởi nghĩa từng phần Địa điểm Diễn biến

Khu căn cứ Cao- Bắc - Lạng

- Việt Nam tuyên truyềngiải phóng quân và Cứuquốc quân cùng với quầnchúng giải phóng nhiều xã,châu, huyện

Bắc kì và Bắc Trung Kì

Khẩu hiệu “Phá kho thócgiải quyết nạn đói” thu húthàng triệu người tham gia

Quảng Ngãi

tù chính trị ở nhà lao Ba Tơnổi dậy, thành lập chínhquyền cách mạng (11-3), tổchức đội du kích Ba Tơ.Nam Kì - Ở Nam Kì, phong trào

Việt Minh hoạt động mạnhnhất ở Mĩ Tho, Hậu Giang

Hoạt động 4 : cả lớp- cá nhân

-Giáo viên phát vấn : trước những chuyển

biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong

nước Trung ương Đảng đã có chủ trương gì?

- HS theo dõi sách giáo khoa, suy nghĩ, trả

- Ngày 16/4/1945, Ủy ban dân tộc giải phóngViệt Nam được thành lập

- Tháng 5-1945, Cứu quốc quân và Việt Nam

Trang 35

- GV sử dụng lược đồ khu giải phóng Việt

Bắc, tư liệu văn học trong tác phẩm “Việt

Bắc” của Tố Hữu, tích hợp kiến thức địa lí,

văn học giúp học sinh nắm chắc vị trí, vai trò

của khu giải phóng Việt Bắc

tuyên truyền giải phóng quân thống nhấtthành Việt Nam giải phóng quân

- Tháng 6-1945 thành lập Khu giải phóng ViệtBắc gồm 6 tỉnh Tân Trào được chọn làm thủ

đô kháng chiến

- Hoạt động 5 : Nhóm – cá nhân

GV phát vấn : Những diễn biến của chiến

tranh thế giới thứ hai (8/1945) ở khu vực

châu Á- Thái Bình Dương? Thắng lợi của

quân Đồng minh trong cuộc đấu tranh chống

chủ nghĩa phát xít có ý nghĩa như thế nào

với cách mạng Việt Nam?

- HS căn cứ vào những kiến thức đã học ở

phần lịch sử thế giới lớp 11, tìm hiểu sách

giáo khoa để trả lời

-GV nhận xét, kết luận

- Giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh

về sự kiện Mĩ ném bom nguyên tử xuống

Hirô sima và Nagaxaki cùng những số liệu

hủy diệt của bom nguyên tử với hai thành

phố này

GV phân tích về vấn đề thời cơ:

+ Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện là

sự kiện quan trọng dẫn đến thời cơ của Cách

mạng Tháng tám 1945 chín muồi Bởi vì,

như vậy quân Nhật ở Đông Dương sẽ "án

binh bất động" chính phủ bù nhìn Trần

Trọng Kim hoang mang, tan rã như "rắn mất

đầu", kẻ địch không thể thống trị như trước

được nữa

+ Nhân dân ta đang sục sôi với khí thế tiền

3 Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

a Nhật đầu hàng Đồng minh, lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố.

* Nhật đầu hàng Đồng Minh:

- Đầu tháng 8-1945: quân Đồng minh tiếncông mạnh mẽ vào các vị trí của quân độiNhật Bản ở châu Á, Thái Bình Dương

- Ngày 6 và ngày 9/8/1945, Mĩ ném hai quảbom nguyên tử xuống Hirôsima và Nagaxaki

để uy hiếp Nhật Bản

- 8-8-1945: Liên Xô tuyên chiến với Nhật

- 15-8-1945: Nhật đầu hàng Đồng minh khôngđiều kiện

- Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã Chính phủthân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang

 Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổngkhởi nghĩa đã đến

* Chủ trương của ta:

- Từ ngày 13/8, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc

đã được thành lập, ban bố "Quân lệnh số 1"

Trang 36

khởi nghĩa trong cao trào kháng Nhật cứu

nước đã sẵn sàng đứng lên giành chính

quyền

+Lực lượng trung gian đã ngả về phía cách

mạng Đó là những điều kiện chủ yếu dẫn

đến thời cơ cách mạng chín muồi

- GV phát vấn: Trước những chuyển biến

mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước,

Đảng ta đã có chủ trương gì?

- Hs suy nghĩ, trả lời

- GV nhận xét, kết luận đồng thời nhấn

mạnh tầm quan trọng của thời cơ “ngàn năm

có một” qua lời của chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh

lớn tới đâu, dù phải đốt cả dãy Trường Sơn

cũng phải kiên quyết giành cho được độc

- Từ 16 đến 17/8/1945, Quốc dân Đại hội đãhọp tại Tân Trào Thông qua lệnh Tổng khởinghĩa của Đảng Thông qua 10 chính sách lớncủa Việt Minh Cử ra Uỷ ban dân tộc giảiphóng do Hồ Chí Minh làm chủ tịch

- GV chia lớp thành các nhóm, phát phiếu

học tập cho các nhóm, yêu cầu học sinh tìm

hiểu về diễn biến của Tổng khởi nghĩa tháng

Tám và điền vào phiếu

- GV cho học sinh quan sát bảng diễn biến

của cách mạng tháng Tám, qua đó học sinh

tự bổ sung, hoàn thiện kiến thức trong phiếu

đồng thời học sinh tự đánh giá được mức độ

và khả năng hoàn thành nhiệm vụ học tập

mình được giao

-GV sử dụng lược đồ diễn biến Tổng khởi

nghĩa tháng Tám, tường thuật về những

b Diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa.

Thời gian

Diễn biến – kết quả

1945

14-8 Một số tỉnh Bắc kì và Trung kìnổi dậy giành chính quyền

1945

16-8 Đồng chí Võ Nguyên Giáp dẫnđầu một đoàn quân về giải phóngthị xã Thái Nguyên

1945

18-8 4 tỉnh giành được chính quyềnsớm nhất trong cả nước: BắcGiang, Hải Dương, Hà Tĩnh,Quảng Nam

Trang 37

thắng lợi tiêu biểu của nhân dân ta trong

tổng khởi nghĩa tháng Tám, nhất là thắng lợi

ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn

- GV cho học sinh xem video clip về tổng

khởi nghĩa tháng Tám, thực hiện tích hợp

Văn học, địa lí, âm nhạc để học sinh thấy

được khí thế hào hùng và những thắng lợi

tiêu biểu của quân và dân cả nước trong

Tổng khởi nghĩa tháng Tám Qua đó bồi đắp

ở các em lòng yêu nước, niềm tự hào dân

tộc Giúp các em xác định được vai trò,

trách nhiệm của bản thân và thế hệ trẻ với

công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện

thời cơ mà sức mạnh của nhân dân ta trong

cách mạng tháng Tám đã được nhân lên gấp

bội để tiến hành tổng khởi nghĩa thành công

trên phạm vi cả nước chỉ trong một thời gian

ngắn

GV phát vấn: Theo em bài học về chớp thời

cơ đã được Đảng, Ủy Chính phủ vận dụng

như thế nào trong công cuộc đổi mới và sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước.

- Hs suy nghĩ, thảo luận và trả lời

- GV nhận xét, đánh giá, đưa ra định hướng

cho học sinh:

+ Đảng ta đã nhận thức đầy đủ và kịp thời

những thời cơ thuận lợi cho sự phát triển của

đất nước: hòa bình, hợp tác và phát triển là

1945

25-8 Khởi nghĩa ở Sài Gòn giànhthắng lợi

1945

28-8 Hai tỉnh cuối cùng là Hà Tiên

và Đồng Nai Thượng giànhthắng lợi

Trang 38

xu thế chủ yếu của thế giới ngày nay; cuộc

cách mạng khoa học - công nghệ, nền kinh

tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa đang tạo

điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích

lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy

lợi thế; xu hướng dân chủ hóa đời sống xã

hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang

rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng

định vai trò, vị trí của mình

+ Trên cơ sở nhận thức đầy đủ, Đảng ta đã

và đang đề ra những chủ trương và biện

pháp đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo đất

nước hội nhập với quốc tế, giữ vững và phát

huy những thành quả của cách mạng tháng

Tám

4 Củng cố bài học

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đập tan xiềng xích nô lệ của thựcdân Pháp trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ hàng nghìn năm vàách thống trị của phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhànước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông – Nam châu Á Nhân dân Việt Nam từthân phận nô lệ trở thành người dân của nước độc lập tự do, đứng lên làm chủvận mệnh của mình

Câu hỏi củng cố bài học:

1 Hoàn cảnh lịch sử, diễn biến, kết quả của khởi nghĩa từng phần (từ tháng

- Sưu tầm thêm tư liệu về Tổng khởi nghĩa tháng Tám

Phiếu kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Trang 39

ĐỀ BÀI:

Câu 1 Nối những sự kiện ở cột A với cột B cho phù hợp

Hà Tiên và Đồng Nai Thượng khởi nghĩa giành thắng lợi

Câu 2 Em hãy cho biết những câu thơ sau của nhà thơ nào? nói về sự

Ngày đăng: 22/12/2018, 18:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Côi (2006), "Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạyhọc lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2006
2. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
3. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Phương pháp dạy học lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
4. Diane Tillman (2000), Chương trình giáo dục: Các giá trị cuộc sống (các hoạt động giá trị dành cho thanh niên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diane Tillman (2000), "Chương trình giáo dục: Các giá trị cuộc sống
Tác giả: Diane Tillman
Năm: 2000
7. Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Côi (chủ biên)
8. Tài liệu tập huấn: Dạy học tích hợp ở trường THCS, THPT – Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn: "Dạy học tích hợp ở trường THCS, THPT
11. Hồi kí Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi kí Võ Nguyên Giáp
5. Giáo dục giá trị và kĩ năng sống cho HS THPT (2010), (Tài liệu tập huấn giáo viên THCS, THPT), Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Khác
9. Thơ ca cách mạng 1930 - 1945 10. Thơ ca cách mạng 1945 - 1954 Khác
12.Ngoài ra, tác giả còn tham khảo một số bài viết trên tạp chí, các sáng kiến kinh nghiệm trên Internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w