1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về quyên nhân thân liên quan đến nhóm LGBT trong pháp luật dân sự việt nam

82 293 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 600 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài là quyền nhân thân của nhóm LGBT. Quyền nhân thân là một vấn đề rất rộng lớn. Không chỉ đối với nhóm LGBT, quyền nhân thân nói chung đã tồn tại rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Với đề tài này, tác giả sẽ chỉ tập trung nghiên cứu quyền nhân thân trong phạm vi các vấn đề phát sinh liên quan đến nhóm LGBT, gắn liền với những đặc tính đặc thù của nhóm LGBT mà không đề cập, phân tích sâu vào các vấn đề chung của quyền nhân thân đối với cá nhân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ HẰNG

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN NHÂN THÂN LIÊN QUAN ĐẾN NHÓM LGBT TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu, ví dụ trong luận văn là trung thực Những kết luận trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Người hướng dẫn

TS Nguyễn Văn Cường

Tác giả luận văn

Bùi Thị Hằng

Trang 4

BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS 1995 : Bộ luật dân sự năm 1995

BLDS 2005 : Bộ luật dân sự năm 2005

BLDS 2015 : Bộ luật dân sự năm 2015

Luật HN&GĐ 2014 : Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Nghị định số

88/2008/NĐ-CP

: Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức,

cá nhân nước ngoài tại Việt NamiSEE : Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường

ICS :Tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người LGBT tại

Việt Nam

Trang 5

1.2.2 Đặc điểm quyền nhân thân của nhóm LGBT 18

1.4 Quyền nhân thân của nhóm LGBT theo pháp luật một số nước trên thế giới 23

1.4.1 Pháp luật về quyền nhân thân của người đồng tính, song tính trên thế giới 23

1.4.2 Pháp luật về quyền nhân thân của người chuyển giới trên thế giới 29 CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NHÓM LGBT TRONG PHÁP LUẬT

2.1 Nhóm các quyền liên quan tới sự cá biệt hóa cá nhân 33

2.2 Nhóm các quyền liên quan đến giá trị của con người trong xã hội 38

2.3 Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của con người. 45

2 4 Nhóm các quyền liên quan tới hoạt động lao động sáng tạo của cá nhân. 52

2.5 Nhóm các quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình 56 CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NHÓM

3.1 Nhóm kiến nghị về xây dựng pháp luật 67

3.1.1 Thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính trên giấy tờ. 67

3.1.2 Thừa nhận hình thức “kết hợp dân sự” của các cặp đôi đồng tính 72

3.2 Nhóm kiến nghị về thực thi pháp luật 76

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử phát triển của pháp luật dân sự cho thấy trong thời gian qua, quyền nhân thân của cá nhân chiếm một vị trí không đáng kể trong sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, hầu như bị các vấn đề về tài sản làm lu mờ, lấn át Điều này phụ thuộc vào vị trí của con người, sự quan tâm của xã hội đối với con người trong từng chế độ xã hội nhất định Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khi mà những lợi ích vật chất đã phần nào được thỏa mãn, người ta trở nên quan tâm nhiều hơn đến những giá trị tinh thần, coi đó là bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống con người và đòi hỏi những giá trị đó ngày càng được mở rộng và tôn trọng hơn Ở nước ta hiện nay, tình trạng quyền nhân thân bị xâm phạm và không được bảo vệ thỏa đáng là khá phổ biến và đang trong tình trạng ngày càng gia tăng Việc làm cho mỗi cá nhân nhận biết được những giá trị nhân thân của mình và tôn trọng giá trị nhân thân của người khác là một việc làm không hề đơn giản, đặc biệt đối với các đối tượng thuộc nhóm LGBT

Vấn đề quyền nhân thân của nhóm LGBT là một vấn đề mới trong lịch sử pháp lý Việt Nam và thời gian gần đây đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, sự phát triển đó mới chỉ dừng lại ở mức độ phong trào đấu tranh đòi quyền lợi cho nhóm LGBT mà chưa có những kết quả pháp lý cụ thể Cho đến hiện nay, hôn nhân đồng tính hay chung sống giữa những người đồng tình vẫn chưa được thừa nhận và quyền chuyển đổi giới tính mới chỉ được ghi nhận với vẻn vẹn một quy định của Điều 37 BLDS 2015 chưa có hiệu lực thi hành cũng như chưa có văn bản hướng dẫn thi hành Nhóm LGBT gần như vẫn đứng ngoài sự điều chỉnh của pháp luật, có chăng cũng chỉ là những quy định ngăn chặn quyền nhân thân của họ Trong khi đó, thực tế cho thấy ở Việt Nam, có không ít các cặp đôi đồng tính chung sống với nhau như vợ chồng, cũng như có khá nhiều người đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới, kéo theo rất nhiều hệ quả pháp lý phát sinh Không chỉ vậy, chịu ảnh hưởng của quan niệm Á Đông truyền thống, xã hội Việt Nam vẫn

Trang 7

giữ thái độ kỳ thị, phân biệt đối với các cá nhân nhóm LGBT khiến họ với số lượng ít ỏi, không có tiếng nói trong xã hội càng trở nên dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết Đã đến lúc pháp luật và xã hội của chúng ta phải đối diện trực tiếp với nhóm LGBT và các vấn đề của nhóm LGBT để có những giải pháp thích đáng đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ.

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Một số vấn đề về

quyền nhân thân liên quan đến nhóm LGBT theo pháp luật dân sự Việt Nam”,

với mong muốn có thể đưa ra góc nhìn cụ thể về nhóm LGBT cũng như một số vấn

đề pháp lý liên quan đến quyền nhân thân của nhóm này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề về quyền của nhóm LGBT ở Việt Nam hiện nay đang là tâm điểm chú ý trên nhiều diễn đàn, các trang thông tin điện tử, các mặt báo… Trong đó, có rất nhiều ý kiến trái chiều xung quanh quyền kết hôn đồng tính hay vấn đề có hay không cho phép chuyển đổi giới tính

Ở góc độ nghiên cứu khoa học, có khá nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Quyền của nhóm LGBT – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trường Đại học luật Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Lan, Hà Nội, 2015: Đề tài này là tổng hợp các bài viết khá toàn diện về

các vấn đề của nhóm LGBT như: pháp luật về nhóm LGBT trên thế giới, thực trạng LGBT trên thế giới và Việt Nam, quyền của nhóm LGBT trong quan hệ pháp luật dân sự, quyền kết hôn, chung sống với nhau như vợ chồng của những người thuộc nhóm LGBT…

- Kỷ yếu tọa đàm khoa học về chế định quyền nhân thân trong dự thảo BLDS sửa đổi của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, với sự hỗ trợ của iSEE, Hà Nội, ngày 17/3/2015: Công trình này là sự kết hợp giữa các chuyên gia và tổ chức xã

hội, bao gồm bốn tham luận chính về quyền nhân thân, trong đó có đề tham luận về vấn đề nhân thân trong bộ luật dân sự liên quan đến người chuyển giới của tác giả Lương Thế Huy (Viện iSEE), trình bày hai vấn đề còn tồn tại bất cập của pháp luật

Trang 8

hiện hành liên quan tới người chuyển giới là quyền thay đổi họ tên và quyền xác định lại giới tính, chuyển đổi giới tính Qua đó, tác giả Lương Thế Huy cũng đã nêu các đề xuất sửa đổi các điều luật liên quan của BLDS để đảm giải quyết các bất cập phát sinh đó

- Luận văn thạc sỹ Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Đặng Hoàng Hiếu (2015): nghiên cứu các vấn đề về quyền con người nói chung của nhóm LGBT.

Ngoài ra còn có loạt bài viết của tác giả Trương Hồng Quang (Nghiên cứu viên Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp) trên blog của anh (https://hongtquang.wordpress.com/) có nội dung nghiên cứu khá sâu về quyền của người đồng tính và người chuyển giới

Nhìn chung, các tác phẩm trên đều tiếp cận theo các hướng hoặc tổng hợp quyền nói chung của nhóm LGBT hay một loại trong nhóm LGBT, hoặc đi sâu vào vấn đề pháp luật quốc tế, hoặc đề cập đến một vấn đề nhỏ lẻ mang tính thời sự nhất trong số các quyền của nhóm LGBT, và chưa có tác phẩm nào đề cập một cách tập trung nhất đến các vấn đề về quyền nhân thân của nhóm này

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyền nhân thân của nhóm LGBT Quyền nhân thân là một vấn đề rất rộng lớn Không chỉ đối với nhóm LGBT, quyền nhân thân nói chung đã tồn tại rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu Với đề tài này, tác giả sẽ chỉ tập trung nghiên cứu quyền nhân thân trong phạm vi các vấn đề phát sinh liên quan đến nhóm LGBT, gắn liền với những đặc tính đặc thù của nhóm LGBT mà không đề cập, phân tích sâu vào các vấn đề chung của quyền nhân thân đối với cá nhân

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở các đặc điểm của nhóm LGBT,

đi vào phân tích quy định của pháp luật dân sự về quyền nhân thân khi được áp dụng đối với nhóm đối tượng này, tìm ra vấn đề còn tồn tại, từ đó có giải pháp giải

Trang 9

quyết các vấn đề pháp lý còn tồn tại một cách phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam.

5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật Tác giả sử dụng các phương pháp như thống kê, tổng hợp, phân tích…

để đánh giá một cách khách quan, toàn diện nhất các vấn đề liên quan Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng tham khảo ý kiến chuyên gia liên quan đến

đề tài

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp một cách có hệ thống mang tính lý luận về nhóm LGBT và quyền nhân thân của nhóm LGBT

Về mặt thực tiễn: Luận văn cũng nêu lên những thực trạng, tồn tại và thách thức trong việc thực hiện và bảo đảm quyền nhân thân của nhóm LGBT ở Việt Nam; từ đó nêu ra một số kiến nghị giải pháp cơ bản về thực hiện quyền nhân thân của các cá nhân thuộc nhóm LGBT

7 Bố cục của luận văn

Luận văn này có kết cấu gồm phần mở đầu, ba chương và kết luận

- Chương 1: Lý luận chung về quyền nhân thân của nhóm LGBT

- Chương 2: Quy định về quyền nhân thân của nhóm LGBT trong pháp luật dân sự Việt Nam và những bất cập

- Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân của nhóm LGBT

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NHÓM

LGBT 1.1 Các khái niệm

Trang 10

1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân

Trong quan hệ dân sự, bên cạnh các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân là một trong hai đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật dân sự và là một loại quan hệ mang tính xã hội sâu sắc, rộng lớn, phản ánh sự phát triển và tiến bộ của

xã hội Một quan hệ pháp luật dân sự nói chung được cấu thành bởi ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung Trong đó, nội dung của quan hệ pháp luật dân sự chính

là yếu tố cơ bản nhất để phân loại quan hệ đó là quan hệ tài sản hay quan hệ nhân thân Nội dung của quan hệ pháp luật dân sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ đó, chính những yếu tố này đã gắn kết quyền lợi, hành vi của các chủ thể, thúc đẩy họ tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể

“Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của

cá nhân hay tổ chức Việc xác định một giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải đuợc pháp luật thừa nhận như một quyền tuyệt đối của cá nhân, tổ chức”1 Như vậy, quyền nhân thân chính là một nội dung của quan hệ pháp luật dân sự về nhân thân Nó là những quy định của pháp luật cho phép chủ thể được hưởng, được làm, được đòi hỏi liên quan đến các giá trị nhân thân của mình khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự

Trong Bộ luật dân sự cũng như trong khoa học pháp lý chưa có khái niệm chính thức về quyền nhân thân Có thể kể đến một số khái niệm được đưa ra như:

- Quan điểm của Trường Đại học Luật Hà Nội:

“Quyền nhân thân như là một bộ phận cấu thành của quyền con người: như danh dự, nhân phẩm, uy tín, tên gọi, quốc tịch, hình ảnh, bí mật đời tư… (từ Điều

24 đến Điều 51 BLDS năm 2005) Về nguyên tắc chung, các quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể dịch chuyển được trừ trường hợp pháp luật có qui định khác”2 Quan niệm này coi quyền nhân thân có bản chất là quyền con người

Và quyền nhân thân có các đặc điểm là luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam- Tập 1, Nxb.CAND, Hà Nội, 2009, tr.12

2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập 1, Nxb.CAND, Hà Nội, 2009, tr 69

Trang 11

- Quan điểm của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội:

Không khẳng định bản chất của quyền nhân thân, nhưng đồng quan điểm với Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội lý giải: “Quan

hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh từ một giá trị tinh thần như danh

dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân v.v… Vì vậy, nó không mang tính giá trị, không tính được thành tiền và do đó, nó không là đối tượng để trao đổi, chuyển dịch từ chủ thể của các giá trị đó sang các chủ thể khác Vì vậy, trong Luật Dân sự, quan

hệ nhân thân được xem là một loại quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối”3 Tuy nhiên, quan điểm này còn có điểm chưa hợp lý Cần phải hiểu giá trị tinh thần như danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân v.v… không phải là căn cứ hay nguồn gốc phát sinh ra quan hệ nhân thân hay quyền nhân thân bởi căn cứ hay nguồn gốc phát sinh ra quyền lợi hay quan hệ pháp luật, suy đến cùng, chỉ có ba loại là hành vi pháp lý, sự kiện pháp lý và hiệu lực của luật

Hai quan điểm nêu trên chủ yếu nói tới các đặc tính của quyền nhân thân hay quan hệ nhân thân, nhưng không đưa ra định nghĩa về quyền nhân thân

- Quan điểm của Học việc Tư pháp:

Giáo trình Luật dân sự của Học viện này định nghĩa: “Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa các chủ thể pháp luật dân sự về quyền nhân thân”4 Chưa bàn tới pháp nhân (một chủ thể của luật dân sự) có hay không sự hưởng quyền nhân thân,

có thể thấy định nghĩa này đã xem quyền nhân thân không phải là một quan hệ, và xem quyền nhân thân là khách thể của quan hệ nhân thân Tuy nhiên, cũng giáo trình này sau đó lại xác định khách thể của quan hệ pháp luật bao gồm “Các giá trị nhân thân phi tài sản”, thể hiện sự không thống nhất trong quan điểm về quyền nhân thân

- Quan điểm của PGS.TS Bùi Đăng Hiếu trong một bài viết trên Tạp chí luật học:

3 Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2002, tr 15.

4 Học viện Tư pháp, Giáo trình luật dân sự, Nxb Công an Nhân dân, 2007, tr 20.

Trang 12

“Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”5.

- Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của trường Đại học luật Hà Nội có

ghi:

“Quyền nhân thân là các giá trị nhân thân của cá nhân và tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định”

- Điều 26 BLDS 1995 và Điều 24 BLDS 2005 quy định:

“Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật

có quy định khác”

Có thể thấy, hầu hết các quan điểm trong giáo trình của các cơ sở đào tạo luật đề nhận định quyền nhân thân ở hai khía cạnh: quyền nhân thân là một loại quyền dân sự và một đặc điểm của quyền nhân thân là gắn với cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Tuy nhiên, các nhận định này vẫn không thể hoàn toàn tách biệt được quyền nhân thân

và quyền tài sản Trong thực tế có những loại quyền là quyền dân sự, là quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác nhưng lại không phải là quyền nhân thân mà là một loại quyền tài sản, ví dụ: quyền được cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, thân thể, quyền thừa kế tài sản Bên cạnh đó, khẳng định quyền nhân thân là quyền dân

sự gắn liền với mỗi cá nhân có nghĩa là ngoài cá nhân, các chủ thể khác như tổ chức sẽ không thể có quyền nhân thân

Như vậy, nếu xem xét khái niệm quyền nhân thân ở phương diện lí luận cần phải khẳng định trước hết quyền nhân thân là một loại quyền dân sự Nếu quyền tài

5 Bùi Đăng Hiếu, Khái niệm và phân loại quyền nhân thân, Tạp chí luật học số tháng 7/2009.

Trang 13

sản có đối tượng là tài sản thì đối tượng của quyền nhân thân chính là các giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Hiện nay pháp luật chưa có một khái niệm chính thức về “nhân thân” Có thể hiểu nhân thân là yếu tố gắn liền với mỗi chủ thể, liên quan trực tiếp đến chủ thể đó như tên gọi, hình dáng, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, hình ảnh Xác định đối tượng của quyền chính

là dấu hiệu cơ bản để nhận biết đó là quyền nhân thân mà không phải là quyền khác

Tác giả cho rằng cách hiểu về quyền nhân thân trong khái niệm của PGS.TS Bùi Đăng Hiếu và trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật của trường Đại học Luật

Hà Nội là cách hiểu mang tính khái quát và hợp lý hơn cả Các cách hiểu này nói lên được hai vấn đề bản chất nhất của quyền nhân thân: một là đối tượng quyền là các giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận và hai là tính gắn liền với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác của quyền nhân thân Đồng thời, theo cách hiểu này thì quyền nhân thân không chỉ là quyền của riêng chủ thể là cá nhân mà

cả tổ chức cũng có thể có quyền này Bản thân các tổ chức cũng có những lợi ích phi tài sản cần được bảo vệ như danh dự, uy tín, tên gọi Đó là các quyền của tổ chức và đó chính là các quyền nhân thân Vì vậy cần phải phân biệt hai khái niệm

“quyền nhân thân” và “quyền nhân thân của cá nhân” Trong Bộ luật dân sự phần quy định về quyền nhân thân nằm trong chương “Cá nhân” và vì vậy khái niệm quyền nhân thân quy định trong Bộ luật dân sự thực chất là quyền nhân thân của cá nhân Và phạm vi nghiên cứu của luận văn cũng là các quyền nhân thân của cá nhân nói chung và quyền nhân thân của các cá nhân thuộc nhóm LGBT nói riêng

Theo quan điểm của tác giả, khái niệm quyền nhân thân có thể được xây dựng như sau:

“Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự ghi nhận và bảo vệ các quyền của cá nhân đối với các giá trị nhân thân của mình trong quan hệ dân sự; gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Trang 14

1.1.2 Khái niệm nhóm LGBT

Nhóm LGBT là tên viết tắt tiếng Anh của cụm từ L - Lesbian (đồng tính nữ),

G - Gay (đồng tính nam), B - Bisexual (song tính) và T - Transgender (chuyển giới) Theo đó:

- Đồng tính (Bao gồm đồng tính nam - Gay và đồng tính nữ - Lesbian): là từ

viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái (homosexuality) là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law), sau đó lần lượt được sử dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul (1880) của Gustav Jager, Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft- Ebing Từ đó thuật ngữ trên được dùng rộng rãi để phân biệt giữa người có khuynh hướng tình dục đồng tính với người dị tính và người lưỡng tính.6

Với vai trò là một thiên hướng tình dục, đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu, và/hoặc hấp dẫn tình dục một cách chủ yếu hoặc duy nhất đối với người cùng giới tính Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thức của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này Đồng tính luyến ái bản chất là một biến thể bình thường

và tích cực của tính dục con người, không phải là một "bệnh" hay sự lệch lạc tâm

lý, và không phải là nguyên nhân gây ra các hiệu ứng tâm lý tiêu cực Những người đồng tính có cấu tạo sinh học của bộ phận sinh dục hoàn toàn bình thường

và bản dạng giới của họ phù hợp với cấu tạo đó Tuy nhiên, điều khiến họ khác với những người dị tính đó là xu hướng tính dục, và người đồng tính là người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất đối với người cùng giới

6 Theo Nguyễn Hồng Quang, Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, HongTQuang’s blog.

Trang 15

- Người song tính (Tiếng anh là “bisexual”, trước đây còn gọi là người

lưỡng tính): là người có khả năng cảm thấy hấp dẫn về tình cảm, thể chất với cả

người cùng giới và người khác giới hoặc không phân biệt giới của họ Chúng ta cần phân biệt người song tính luyến ái với người lưỡng tính Người lưỡng tính (intersexual) là một hiện tượng về giới tính, thường trong cơ thể có cả buồng trứng

và tinh hoàn Đây thường là những trường hợp rất hiếm trong cuộc sống Một điều cần lưu ý nữa, “song tính” là một khái niệm chung, bởi vì giữa từng người song tính khác nhau sẽ rất khác nhau Ví dụ, những người cảm thấy hấp dẫn bởi cả nam

và nữ có thể không nhất thiết phải nhận dạng mình là song tính – họ có thể xem mình chủ yếu là đồng tính hoặc dị tính, hoặc họ có thể chựa lọn không gắn bất cứ cái “nhãn” nào cả Nhiều trường hợp, một người có thể có cảm xúc hấp dẫn với cả nam và nữ, nhưng chỉ quan hệ tình dục với một giới, hoặc không hề có quan hệ tình dục Sự hấp dẫn không nhất thiết phải được cân đo, cảm xúc với hai giới tính không nhất thiết ngang nhau hoặc tồn tại trong cùng một thời điểm Điều này phụ thuộc vào những người mà họ tiếp xúc, bởi cảm xúc luôn là điều phức tạp và không đoán trước được

Một vài nghiên cứu cho thấy người song tính chiếm tới gần 50% trong tổng

số cộng đồng LGBT (đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới) Trong quá khứ, tâm lý học đã bỏ qua song tính vì cho rằng song tính không tồn tại

Có hẳn một thuật ngữ để chỉ về hiện tượng phủ nhận sự tồn tại của song tính: bisexual erasure Các hiểu lầm này xoay quanh việc giảm tối đa khả năng một người có thể là người song tính, mà luôn muốn quy về thành đồng tính hoặc dị tính Một số khác cho rằng đó là một dạng hành vi lệch chuẩn hoặc một giai đoạn nhất thời, lưỡng lự, không dứt khoát, băn khoăn, lăng nhăng, tò mò, muốn gây chú ý 7

- Người chuyển giới (Transgender): là người có giới tính sinh học không

trùng với bản dạng giới của họ, họ đã nhờ sự can thiệp của y học để chuyển giới tính hoặc “tìm lại giới tính thật” của mình

7 http://www.6sac.com/2012/06/song-tinh-trong-gioi-cua-ong-tinh-va-di.html

Trang 16

Sự khác biệt giữa người chuyển giới và người đồng tính thể hiện ở chỗ: người chuyển giới liên quan đến việc người đó nhận dạng hoặc thể hiện bản thân là nam hay nữ, trong khi người đồng tính lại liên quan đến việc người đó yêu người cùng giới hay khác giới Ở Việt Nam, khái niệm chuyển giới chỉ mới biết đến trong thời gian gần đây Trước kia, người chuyển giới được gộp chung vào nhóm đồng tính hay thế giới thứ ba Tuy nhiên, cùng với sự bùng nổ của internet và các diễn đàn mạng (đặc biệt như LesKing.com.vn; Thegioithu3.vn…), những người sống giữa hai giới không hoàn toàn hài lòng khi bị xem là người đồng tính Thực tế, người chuyển giới thường trải qua quá trình bối rối trong việc nhận diện giới của chính mình cũng như đối mặt với những quyết định chuyển đổi, khó khăn liên quan đến sử dụng hoocmon phẫu thuật và công khai thể hiện giới.

Đối với người chuyển giới, trong xã hội không phải ai cũng có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất của người chuyển giới Dưới đây xin tóm tắt một

số nhận thức sai lầm về người chuyển giới đang tồn tại trong xã hội hiện nay:

+ Người chuyển giới là những người có giới tính sinh học khác biệt so với những người dị tính bình thường khác: Đây hoàn toàn là quan điểm sai lầm Thực chất người chuyển giới được sinh ra với một giới tính sinh học bình thường, hoàn chỉnh (phân biệt rõ là nam hay nữ) nhưng lại có cảm nhận và mong muốn giới tính của mình không trùng với giới tính sinh học đang có Bên cạnh đó, người chuyển giới cũng cần được phân biệt với các trường hợp cần được phẫu thuật xác định giới tính Những người cần phẫu thuật xác định giới tính thường được gọi là người liên giới tính (intersex: ví dụ vừa có dấu hiệu cơ quan sinh dục của nam nhưng cũng có dấu hiệu của nữ giới như có buồng trứng, dạ con hay có ngực giống như nữ giới/cơ quan sinh dục không rõ là nam hay nữ…) Như vậy, về bản chất, giới tính của những đối tượng này chưa rõ ràng, cần được phẫu thuật để xác định Việc xác định loại này phải thông qua việc xét nghiệm nhiễm sắc thể giới tính tại các cơ quan y tế

để xác định rõ giới tính Điều này hoàn toàn khác so với người chuyển giới

+ Phải phẫu thuật chuyển giới thì mới được xem là người chuyển giới Quan điểm này không hoàn toàn đúng Thực ra, chỉ cần một người mong muốn, ý thức

Trang 17

mình phải mang giới tính ngược lại so với giới tính sinh học của họ thì đã được xem là người chuyển giới Tuy nhiên, nếu như pháp luật cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính (đúng với mong muốn) thì họ phải thực hiện việc phẫu thuật mới được làm lại giấy tờ tùy thân, ví dụ như chứng minh nhân dân, đăng ký lại hộ tịch… Lúc này, họ được gọi với một khái niệm đầy đủ hơn là “người chuyển đổi giới tính” (transsexual) Có thể nhận thấy mặc dù người chuyển giới và chuyển đổi giới tính tồn tại ở mọi xã hội, mọi nơi trên thế giới nhưng những khái niệm này vẫn được hiểu một cách khá nhầm lẫn và gây lúng túng ngay cả với những người trong cuộc khi không thể xác định bản dạng giới của mình Nhìn chung, “transgender” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng.

+ Những trường hợp như nam giới thường hay giả trang làm nữ giới hoặc ngược lại là người đồng tính Quan điểm này cũng chưa chính xác Trừ một số người cải trang thành người giới tính khác để thực hiện nhu cầu nghề nghiệp, giải trí thì đa số những người này đều là người chuyển giới Như đã nêu ở trên, vì họ mong muốn thành người có giới tính ngược lại nên họ đã cải trang như vậy (họ không phẫu thuật chuyển giới vì pháp luật chưa cho phép/không có điều kiện kinh tế).8

Nói tóm lại, xu hướng tính dục của con người được chia thành 3 loại chủ yếu: dị tính luyến ái, đồng tính luyến ái và song tính luyến ái, còn theo bản dạng giới thì phân thành: người chuyển giới và người không chuyển giới LGBT là một

tổ hợp từ chỉ một nhóm người có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt với

số đông, chiếm thiểu số trong xã hội Sự khác biệt và tỉ lệ thiểu số không thể hiện đây là một nhóm bệnh tâm lý hay là một nhóm tệ nạn xã hội có thể lây lan mà thể hiện sự đa dạng của các nền văn hoá nhân loại dựa trên thiên hướng tình dục và bản dạng giới

1.2 Đặc điểm của nhóm LGBT và quyền nhân thân của nhóm LGBT

1.2.1 Đặc điểm của nhóm LGBT

8 https://hongtquang.wordpress.com/2014/03/21/nguoi-chuyen-gioi-va-phap-luat-the-gioi-ve-nguoi-chuyen-gioi/

Trang 18

- Hành vi bên ngoài: Nhóm người nhóm LGBT có những nhu cầu cơ bản giống với tất cả mọi người trong xã hội như nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc… Những người đồng tính và song tính có biểu hiện không khác biệt gì so với người dị tính Riêng đối với người chuyển giới, chúng ta có thể dễ nhận biết hơn thông qua sự thể hiện giới ra ngoài của họ.

- Hành vi bên trong:

Về mặt nhận thức: Nhóm LGBT có nhận thức về bản dạng giới và xu hướng tính dục khác biệt Bản dạng giới là giới tính một cá nhân cảm nhận về bản thân, vốn ăn sâu trong nhận thức mỗi người, là thứ chỉ ra cho họ thấy rằng họ là nam hay

nữ, hoặc một giới khác và đây là khái niệm tách biệt với giới tính sinh học Xu hướng tính dục là khái niệm chỉ sự bị hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc về mặt tình dục bởi người khác giới tính hoặc người cùng giới tính với mình hoặc cả hai một cách lâu dài Theo đó, người đồng tính nhận thức được bản dạng giới của mình trùng với giới tính sinh học nhưng họ cảm thấy hấp dẫn, cuốn hút bởi người cùng giới Người song tính có nhận thức rằng mình bị cuốn hút và hấp dẫn bởi cả nam

và nữ Trong khi đó, người chuyển giới lại không hài lòng với cơ thể mình đang có

và thường có hành vi biến đổi cơ thể sao cho giống với giới tính mà mình mong muốn

Về mặt tâm lý cảm xúc: Những người thuộc nhóm LGBT thường sống khép kín, chủ yếu là che giấu bản thân, che giấu xu hướng tính dục của mình, luôn có tâm lý lo sợ bị người khác phát hiện Đặc điểm tâm lý đặc thù là họ cảm thấy bị tổn thương, tủi thân, đau khổ khi bị xã hội và người xung quanh kì thị hay không có thiện cảm với mình Cảm thấy bị bất công, bị đối xử không công bằng trong xã hội

và cảm thấy mình thật cô đơn và thiệt thòi khi thuộc vào thiểu số Một bộ phận người đồng tính thậm chí có cảm giác căm ghét bản thân khi nhận ra xu hướng tính dục của bản thân Tuy nhiên, nếu nhận được sự đồng cảm, quan tâm từ phía gia đình thì nhóm người LGBT sẽ dũng cảm sống với đúng con người và giới tính thật của mình Hầu như tất cả những người thuộc nhóm LGBT đều có chung một niềm tin, một ước mơ là được sống là chính mình và được xã hội công nhận

Trang 19

- Nhóm LGBT không phải là bệnh: Hiện nay, khi chưa có một kết luận khoa học nào kết luận nguyên nhân hình thành một xu hướng tính dục, có rất nhiều ý kiến cho rằng xu hướng tính dục đồng giới là phi tự nhiên hoặc rối loạn Trong một thời gian dài, người ta đã tranh luận gay gắt với nhau về vấn đề liệu quan hệ tình dục đồng tính có nên được coi là lệch lạc, mang tính chất bệnh lý trong quá trình phát triển tính dục bình thường hay là một phái sinh bình thường của tiềm năng đáp ứng tình dục của con người Tuy nhiên, nếu xem tiêu chí cơ bản của một tình trạng bệnh lý tinh thần là thường xuyên gây ra cảm giác bức bối hoặc thường xuyên gắn liền với mất mát về hiệu quả hoặc chức năng tương tác xã hội thì quan

hệ tình dục đồng giới không thể xem như là một loại rối loạn tâm lý bởi những người đồng tính khá thỏa mãn với xu hướng tính dục của họ và không bị ảnh hưởng về hiệu quả hay hoạt động xã hội.Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association, APA) nêu các dẫn chứng, nghiên cứu để đưa đến kết luận có tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh hướng tình dục đó nhằm loại

bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rối loạn tâm thần và hướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hòa nhập cộng đồng để có cách nhìn cảm thông hơn với những người này APA đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần vào năm 1973 Tương tự đối với người chuyển giới, APA cũng chỉ ra, một tình trạng tâm lý chỉ bị coi là rối loạn tâm lý khi nó gây ra những sự đau khổ, bất lực rõ rệt Nhiều người chuyển giới không trải qua những trải nghiệm đau khổ hay bất lực này, vì vậy bản thân tình trạng nhận mình là một người chuyển giới không phải là rối loạn tâm thần.9

- Nhóm LGBT chiếm tỷ lệ nhỏ trong xã hội và là nhóm dễ bị tổn thương: Theo báo cáo từ tổ chức WHO của Liên hợp quốc thì khoảng 3% dân số có thiên hướng tình dục đồng tính10 Với tỷ lệ này và sự khác biệt theo chiều hướng trái ngược trong nhận thức về bản dạng giới và xu hướng tính dục, nhóm LGBT có thể xem như là nhóm yếu thế trong xã hội Họ bị coi như là những thành phần “đi

9 Tham khảo tại www.apa.org

10 https://vi.wikipedia.org/wiki/LGBT_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam

Trang 20

ngược lại tự nhiên” và thường rơi vào tình trạng bị bạo hành, phân biệt đối xử, kỳ thị từ phần đông còn lại của xã hội Do đó, họ có xu hướngtham gia vào các nhóm đồng đẳng tìm sự cảm thông thấu hiểu, ở đây họ có thể thể hiện con người thật của mình và cùng nhau lên tiếng bảo vệ, đòi hỏi quyền lợi chính đáng cho bản thân họ

- Nhóm LGBT chịu ảnh hưởng bởi quy định của pháp luật: Tùy vào quan điểm pháp luật của từng nước mà sự ảnh hưởng này là tích cực hay tiêu cực Đối với các quốc gia thừa nhận và bảo hộ quyền nhân thân của nhóm LGBT, cuộc sống của họ gần như không có sự khác biệt so với những “người bình thường”, nhà nước có các chính sách riêng đối với họ nhằm xóa đi khoảng cách vì sự khác biệt giữa họ và những người khác, họ thoải mái thể hiện bản chất của mình, họ không phải lo lắng vì những hạn chế pháp lý có thể xảy ra Ở Việt Nam, các hạn chế trong các quy định về quyền nhân thân có điều kiện như quyền thay đổi họ tên, quyền kết hôn… đã khiến nhóm LGBT không thể thực hiện các quyền đó theo đúng mong muốn, bản chất của mình Một người chuyển giới sẽ không thể thay đổi họ tên của mình với lý do anh ta/chị ta là người chuyển giới Một cặp đôi đồng tính không được phép làm thủ tục đăng ký kết hôn vì họ có cùng giới tính với nhau… Những hạn chế này một mặt khiến các cá nhân chưa “come out” càng thêm giấu mình trong vỏ bọc “người bình thường”, một mặt khác cũng khiến những người đã

“come out” gần như sống ngoài vòng pháp luật khi đặc tính sinh lý khác biệt so với đặc tính pháp lý Chính điều đó đã cản trở nhóm LGBT hòa nhập vào xã hội bằng chính con người thật của mình

1.2.2 Đặc điểm quyền nhân thân của nhóm LGBT

Trước khi được nhắc đến như là một nhóm người thiểu số với xu hướng tính dục, bản dạng giới khác biệt (hay có thể nói là “không thông thường”), những người thuộc nhóm LGBT là một chủ thể của các quan hệ xã hội nói chung và quan

hệ nhân thân nói riêng Họ được hưởng những quyền nhân thân như những cá nhân khác, và do đó quyền nhân thân của họ mang đầy đủ các đặc điểm chung của quyền nhân thân Cụ thể:

Trang 21

- Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể và không thể dịch chuyển cho chủ thể khác

Các quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêng do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Về nguyên tắc, quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, cũng đồng nghĩa là quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch mua bán, trao đổi, tặng cho… Điều này có nghĩa rằng bản thân chủ thể hưởng quyền nhân thân chứ họ không thể chuyển giao quyền này cho người khác và cũng không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện quyền này Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác Ví dụ: Quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết đi thì quyền này có thể chuyển giao cho chủ thể khác (người thừa kế của tác giả) Mặc dù vậy thì có những yếu tố luôn gắn liền với chủ thể mà không thể thay đổi được, ví dụ: Quyền đứng tên tác giả, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

- Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản

Quyền nhân thân không phải là tài sản, vì vậy, quyền nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và việc cụ thể hóa một quyền nhân thân thành tài sản, tiền tệ là điều không thể Do đó, quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay mang ra chuyển nhượng cho người khác Tuy nhiên, cho dù lý thuyết chỉ ra rằng, một quyền nhân thân không thể định đoạt có nghĩa là không thể là đối tượng giao dịch nhưng trên thực tế lại xuất hiện nhiều hợp đồng liên quan tới quyền nhân thân Ví dụ điển hình là việc sử dụng hình ảnh của các nghệ sỹ nổi tiếng trong quảng cáo của các thương hiệu mỹ phẩm, thẩm mỹ

Với tính chất phi tài sản, các thiệt hại khi quyền nhân thân bị xâm phạm do

đó cũng không có tiêu chí để định lượng, không được cân, đo, đong, đếm bằng những đại lượng cụ thể Đặc trưng này không loại trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi hành vi xâm hại tới quyền nhân thân Tuy vậy, những bồi thường vật chất cho

Trang 22

các thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền nhân thân gây ra phần lớn chỉ mang tính chất tượng trưng mà không có ý nghĩa định giá quyền nhân thân.

- Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.

Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân

sự của cá nhân Pháp luật dân sự quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân

là một sự tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa nhận Việc pháp luật quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân khác nhau

là dựa vào các điều kiện kinh tế xã hội Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau của lịch

sử xã hội loài người, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị xã hội… mà quyền nhân thân của cá nhân được quy định một cách khác nhau Quyền nhân thân

là do Nhà nước “trang bị” cho cá nhân, Nhà nước không cho phép bất cứ cá nhân nào làm thay đổi hay chấm dứt quyền đó

Mặt khác, như đã nêu, nhóm LGBT là một nhóm người có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt với “số đông”, chiếm thiểu số trong xã hội Nhóm LGBT đối với phần lớn “số đông” là khó có thể chấp nhận, là đi ngược lại tự nhiên, thậm chí nhiều nơi còn phủ nhận sự tồn tại khác biệt đó Quyền nhân thân của cá nhân do pháp luật dân sự của Nhà nước quy định, và pháp luật của một nhà nước phản ánh quan điểm, tư tưởng xã hội của Nhà nước đó Vì vậy, quyền nhân thân của nhóm LGBT tồn tại dưới thái độ như vậy của “số đông” cũng sẽ mang những đặc tính nhất định:

- Quyền nhân thân của nhóm LGBT dễ bị xâm phạm: Đối với “người bình

thường”, quyền nhân thân là bình đẳng cho mọi người Nhưng đối với nhóm LGBT, có người chấp nhận, có người thờ ờ, có người lại không chấp nhận và muốn uốn nắn họ lại theo “đường ngay”, và có người kỳ thị, thậm chí muốn mạt sát họ Chính thái độ thờ ơ, kỳ thị đã khiến cho việc xâm hại quyền nhân thân của nhóm LGBT nhiều lúc được xem như là điều đương nhiên và không vi phạm bất

cứ điều khoản pháp luật hay đạo đức nào, đôi khi còn được xem như là hành động đúng đắn để loại bỏ những yếu tố “không tốt đẹp” ra khỏi xã hội

Trang 23

- Quyền nhân thân của nhóm LGBT có thể bị Nhà nước hạn chế: Căn cứ vào

mức độ chấp nhận của một xã hội đối với nhóm LGBT mà pháp luật của xã hội đó

sẽ có những mức độ hạn chế khác nhau đối với quyền nhân thân của nhóm này Chẳng hạn, đối với các quốc gia cởi mở như phương Tây, nhóm LGBT được đón nhận khá phổ biến và quyền của họ được Nhà nước bảo hộ khá trọn vẹn; nhưng đối với các quốc gia đạo hồi với quốc đạo khắt khe, sự tồn tại của người đồng tính, người chuyển giới là tội lỗi, là sai trái và bị cho là phải loại trừ ra khỏi xã hội, sự tồn tại của họ là bất hợp pháp và gần như không có quyền nhân thân nào dành cho

họ Xã hội Việt Nam phần lớn chưa chấp nhận nhóm LGBT và còn nhiều kỳ thị với nhóm này, nhưng chúng ta cũng không chủ trương loại trừ họ Chúng ta gần như để vấn đề nhóm LGBT ngoài vòng pháp luật Việc là người thuộc nhóm LGBT nhưng phải sống như những “người bình thường” khiến cho quyền nhân thân của họ không được thực hiện triệt để Những điều kiện để có thể thực hiện quyền nhân thân mà Nhà nước quy định tưởng chừng như không có vấn đề gì, dễ dàng có thể chấp nhận đối với “người bình thường” lại trở thành điều hạn chế quyền nhân thân của nhóm LGBT Nói cách khác, quyền nhân thân của nhóm LGBT trong pháp luật dân sự Việt Nam bị hạn chế bởi những điều kiện do luật định và có tính chất không trọn vẹn

1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm LGBT

Các giá trị nhân thân nói chung và việc bảo vệ các giá trị này có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt chính trị, kinh tế, xã hội

Các giá trị nhân thân liên quan mật thiết tới những khái niệm về công bằng,

tự do, bất khả xâm phạm của các cá nhân Nếu như vào thời kỳ xa xưa người ta có thể định đoạt số phận của một chủ thể, người tự do có thể tự bán mình hoặc đặt mình cho người khác thì cho đến hiện nay những sự định đoạt kiểu như vậy đã không còn được thừa nhận Khi khái niệm và ý thức về cá nhân ngày càng phát triển và được đề cao, cá nhân ngày càng đạt được nhiều hơn nữa sự thừa nhận cho mình những quyền năng ngày càng mới Cùng với sự phát triển không ngừng của

Trang 24

trình độ kinh tế và văn hoá trong xã hội, những yêu cầu về bảo vệ những quyền lợi của cá nhân cũng ngày càng gia tăng Chính sự tiến bộ của từng cá nhân đã thúc đẩy sự tiến bộ xã hội; sự phát triển của từng cá nhân và trong mối quan hệ giữa các

cá nhân với nhau sẽ thể hiện sự thịnh vượng, phát triển đích thực của một xã hội

Ý nghĩa xã hội của các quyền nhân thân thể hiện ở khía cạnh: bản thân các giá trị nhân thân cùng việc bảo vệ các giá trị này góp phần xác định vị trí của con người trong xã hội, và do vậy, chúng có ý nghĩa như là sự thể hiện trình độ phát triển của toàn xã hội Bằng cách đó, mức độ tự do của cá nhân trong xã hội được qui chiếu với mức độ công bằng và tự do của chính xã hội Như vậy, việc các giá trị nhân thân của chủ thể càng được đảm bảo thì điều đó càng thể hiện trình độ phát triển của một xã hội mà chủ thể đó tồn tại

Ở góc độ cá nhân, việc bảo vệ quyền nhân thân trước hết có tác dụng kịp thời ngăn chặn các hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của họ, bảo đảm trật tự pháp lý xã hội và giáo dục ý thức pháp luật, làm cho mọi người tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân đó Mặt khác, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân tạo điều kiện thuận lợi cho các quyền nhân thân được thực hiện trên thực tế, khắc phục những hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt góp phần bảo đảm đời sống tinh thần cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho cá nhân lao động và sáng tạo

Việc bảo vệ quyền nhân thân càng có ý nghĩa đặc biệt đối với nhóm LGBT Dưới ảnh hưởng của sự kỳ thị, phân biệt đối xử, nhóm LGBT có thể được xem như đối tượng yếu thế trong xã hội Về mặt kinh tế, khi tham gia vào các quan hệ kinh

tế, dân sự như tìm kiếm việc làm, cơ hội thăng tiến trong công việc, vấn đề nhà ở…, họ sẽ gặp nhiều trở ngại và bị đối xử bất công Bên cạnh đó, do nhóm LGBT chỉ chiếm một tỷ lệ không lớn nên tiếng nói không đủ sức nặng, dẫn đến khả năng

tự thân chống đỡ, bảo vệ khi quyền lợi chính đáng bị xâm hại là rất thấp Việc đảm bảo các quyền nhân thân của các cá nhân thuộc nhóm LGBT sẽ làm cân bằng trong việc thụ hưởng quyền của nhóm với các nhóm chủ thể khác trong xã hội

Trang 25

Về mặt chính trị, đồng tính luyến ái hay chuyển giới không phải là hiện tượng xã hội có tính chất tạm thời Sự tồn tại của hiện tượng này là một tất yếu, xuất hiện ở mọi xã hội, trong mọi giai đoạn lịch sử Trong bối cảnh sự phát triển của đời sống đã nâng cao các đòi hỏi về quyền con người, những người thuộc nhóm LGBT đã nảy sinh các mâu thuẫn với xã hội liên quan đến các yêu cầu được

xã hội công nhận sự tồn tại, được đối xử công bằng Xung đột này ngày càng mạnh

mẽ, và sự đảm bảo toàn diện quyền con người nói chung và quyền nhân thân nói riêng sẽ điều hòa, giải quyết các xung đột đó, duy trì trật tự xã hội hợp lý

1.4 Quyền nhân thân của nhóm LGBT theo pháp luật một số nước trên thế giới

Trên thế giới, ở những nền văn hóa khác nhau, trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, thái độ đối với ham muốn tình dục, hành vi tình dục và các mối quan hệ nói chung ở mỗi quốc gia khác nhau thì có những quan điểm, nhận thức đối với những người thuộc nhóm LGBT khác nhau

1.4.1 Pháp luật về quyền nhân thân của người đồng tính, song tính trên thế giới

Trong một thời gian dài, nhiều quốc gia đã đưa đồng tính vào danh sách các bệnh về tâm thần Quan niệm đồng tính luyến ái là rối loạn tâm lý là một quan niệm phổ biến ở phương Tây từ thế kỷ 19 và sang đến một phần thế kỷ 20 Đến những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, khoa học đã khẳng định đồng tính luyến

ái không phải là bệnh Nhiều quốc gia và tổ chức cũng đã lần lượt loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần, khẳng định đồng tính chỉ là một xu hướng tính dục như bao xu hướng khác (lưỡng tính, vô tính…), phần nào xua đuổi quan niệm nặng nề tại các nước trên thế giới về giới đồng tính

- Hà Lan

Đây là quốc gia tiên phong trong việc ghi nhận các xu hướng mới về quyền con người Điều 1 Hiến pháp Hà Lan đã quy định: “Tất cả mọi người ở Hà Lan sẽ được đối xử bình đẳng trong các trường hợp ngang bằng Phân biệt đối xử dựa trên

Trang 26

các yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, quan điểm chính trị, chủng tộc, giới tính hay bất

kỳ yếu tố nào khác sẽ không được cho phép” Chương I Hiến pháp Hà Lan nêu về các quyền cơ bản cũng không quy định cụ thể quyền kết hôn là sự kết hợp giữa nam và nữ.11 Như vậy, ý đồ của chính quyền Hà Lan khi soạn thảo bản Hiến pháp này là quy định theo hướng mở, cấm phân biệt đối xử đối với các vấn đề về giới tính

Vấn đề mở rộng quan hệ hôn nhân dân sự, mà đích đến cụ thể là chấp thuận hôn nhân đồng giới đã được Quốc hội Hà Lan đề cập thông quan việc thành lập một Ủy ban đặc biệt nghiên cứu khả năng của hôn nhân đồng tính vào năm 1995

Và đến ngày 19/12/2000, Thượng viện Hà Lan đã thông qua dự luật, trong đó có nội dung chấp thuận hôn nhân đồng giới, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa kết hôn đồng tính Phần 1 của Bộ luật dân sự Hà Lan đã được sửa đổi với nội dung liên quan đến việc mở rộng quan hệ hôn nhân đối với những người cùng giới tính chính thức có hiệu lực từ ngày 01/4/2001 Theo đó, Điều 1:30 của Bộ luật này quy định: “Một cuộc hôn nhân có thể được thành lập bởi hai người cùng giới hoặc khác giới tính Pháp luật xem xét một cuộc hôn nhân chỉ trong những mối quan hệ dân sự hợp pháp của nó”12

Theo luật hiện hành tại Hà Lan, chính quyền địa phương phải thực hiện đăng

ký kết hôn cho các cặp đôi đồng tính Tuy nhiên, cán bộ của các chính quyền địa phương có quyền từ chối nếu trong hợp đồng làm việc của họ không có điều khoản quy định phải thực hiện điều này Tương tự, một số nhà thờ cũng có quyền từ chối làm lế thành hôn cho các cặp đôi đồng tính tại Hà Lan13

- Nam Phi

Nam Phi là quốc gia tiên phong ở châu Phi trong việc bảo đảm quyền của người đồng tính Khoản 1 và khoản 3 Điều 9 Hiến pháp Nam Phi quy định: “(1) Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được bảo vệ bình đẳng bởi

11

https://www.government.nl/documents/regulations/2012/10/18/the-constitution-of-the-kingdom-of-the-netherlands-2008

12 http://www.dutchcivillaw.com/civilcodebook01.htm

13 https://en.wikipedia.org/wiki/Same-sex_marriage_in_the_Netherlands

Trang 27

pháp luật… (3) Nhà nước không được phân biệt đối xử một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với bất kỳ ai vì một hoặc nhiều lý do, bao gồm cả chủng tộc, giới, giới tính, tình trạng mang thai, tình trạng hôn nhân, dân tộc hay nguồn gốc xã hội, màu sắc, định hướng tính dục, tuổi tác, khuyết tật, tôn giáo, lương tâm, niềm tin, văn hóa, ngôn ngữ ”14 Với quy định này, Nam Phi là quốc gia đầu tiên và cũng là duy nhất ở châu Phi, nơi đồng tính luyến ái bị lên án thường xuyên và bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, công nhận hôn nhân đồng tính

Đạo luật kết hợp dân sự năm 2006 của Nam Phi quy định các cặp đôi đồng tính có quyền đăng ký sống chung với hình thức kết hợp dân sự hoặc kết hôn theo Đạo luật về Hôn nhân năm 196115 Để được đăng ký kết hợp dân sự hoặc kết hôn, cặp đôi phải đang trong tình trạng độc thân, đủ 18 tuổi trở lên Đối với kết hợp dân

sự hoặc kết hôn đồng giới ngoài Nam Phi, nước này chỉ công nhân trong trường hợp nước nơi có cặp đồng tính kết hợp hoặc kết hôn đó có quy định về vấn đề này tương tự như Nam Phi

Ngoài việc có đủ điều kiện theo Đạo luật kết hợp dân sự, các cặp đôi đồng tính muốn kết hợp dân sự hoặc kết hôn phải có hai người làm chứng Tuy nhiên, cũng theo luật này, giới chức nhà thờ và các quan chức phụ trách hôn nhân dân sự được quyền từ chối tổ chức làm lễ cưới cho các cặp đồng tính nếu điều này khiến

họ không thấy thoải mái16

- Pháp

Pháp là một quốc gia được đánh giá rất bảo thủ, tuy nhiên nước này có quan điểm khá rộng mở đối với người đồng tính và quyền của những người đồng tính ở Pháp cũng đã được bảo vệ một cách khá toàn diện Năm 1985, Quốc hội Pháp đã thông qua đạo luật cấm phân biệt đối xử với người đồng tính trong công việc, vấn

đề nhà ở, cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công và tư Luật về chống phân biệt đối

xử và bình đẳng ban hành ngày 30/12/2004 đã ghi nhận thêm tại Điều 20, 21 các

14 http://www.justice.gov.za/legislation/constitution/SAConstitution-web-eng.pdf

15 http://www.saflii.org/za/legis/consol_act/cua2006139/

16 https://en.wikipedia.org/wiki/Same-sex_marriage_in_South_Africa

Trang 28

hành vi vi phạm pháp luật bao gồm: hành vi gây tổn thương, lăng mạ, xúc phạm, xúi giục việc thù ghét hay bạo động hoặc kỳ thị một người, nhóm người vì giới tính, xu hướng tính dục hoặc bệnh tật của họ Các hành vi tấn công, giết hại các nạn nhân đồng tính luyến ái sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ Người đồng tính được gia nhập quân đội và hưởng hầu hết các quyền dân sự, kinh tế, chính trị như những người dị tính Pháp luật Pháp ghi nhận hình thức sống chung có đăng ký của các cặp đôi đồng tính vào năm 1999 Các cặp đôi này được pháp luật bảo vệ, hưởng các quyền và nghĩa vụ như những cặp đôi dị tính khác Họ được phép nhận nuôi con nuôi của một trong hai người với một người khác giới trước đó nhưng không được quyền nhận nuôi con nuôi chung và thụ tinh nhân tạo

Năm 2013, Pháp đã chính thức hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính mặc cho tình hình lúc đấy vẫn còn khá nhiều ý kiến phản đối Sau khi thực hiện luật hôn nhân đồng tính tại Pháp có hiệu lực vào ngày 29 tháng 5, khoảng 7.000 cặp đồng tính kết hôn hợp pháp trong nước, chiếm khoảng 3% các cuộc hôn nhân ở Pháp thời gian đó, với tỉ lệ cứ năm cuộc hôn nhân đồng tính thì có tới ba cặp vợ chồng đều là nam17 Theo quy định của luật mới, Điều 143 của Bộ luật dân sự được sửa đổi lại như sau: “Hôn nhân được đăng ký giữa hai người cùng giới tính hoặc khác giới tính Các thuật ngữ “vợ”, “chồng”, “cha”, “mẹ” sẽ được thay thế bằng những thuật ngữ trung lập như “bên phối ngẫu” Cùng với việc công nhận kết hôn cùng giới, Pháp cũng cho phép các cặp đôi có quyền tiến hành thụ tinh nhân tạo, nhận nuôi con chung

- Về các hình thức pháp lý công nhận mối quan hệ giữa hai người cùng giới tính: Trên thế giới hiện nay có ba hình thức pháp lý công nhận mối quan hệ giữa hai người cùng giới tính bao gồm:

+ Hôn nhân: là hình thức kết hôn có đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được cấp giấy chứng nhận kết hôn, các bên phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý như các cặp đôi dị tính khác

17 https://en.wikipedia.org/wiki/Same-sex_marriage_in_France

Trang 29

+ Chung sống có đăng ký: là hình thức kết đôi có đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được cấp giấy chứng nhận “có quan hệ gia đình” hoặc

“chung sống có đăng ký” Hình thức này được áp dụng cho các cặp đôi đồng tính, giữa họ cũng phát sinh các quyền, nghĩa vụ và sự công nhận pháp lý tương tự như đối với hôn nhân Cũng có thể có những ngoại lệ nhất định Ở một số quốc gia, hình thức này cũng được áp dụng cho các cặp đôi dị tính

+ Chung sống không đăng ký: là hình thức kết đôi tự nguyện giữa hai người, không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hình thức này được áp dụng cho cả các cặp đồng tính và dị tính Mối quan hệ này phát sinh một cách tự nguyện giữa hai bên trên thực tế với nhau một thời gian theo luật định Hai người chung sống không đăng ký có một số quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản đối với nhau nhưng rất hạn chế

Ở những quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới thì thuật ngữ hôn nhân được dùng chung cho tất cả các cặp đôi dù là cùng giới tính hay khác giới tính Khái niệm vợ chồng có thể được thay thế bằng thuật ngữ không mang tính phân biệt giới tính như “parter”, “spouse” Các cặp đôi đồng tính hay dị tính đều được pháp luật ghi nhận quyền và nghĩa vụ pháp lý như nhau Còn ở những quốc gia hợp pháp hóa “chung sống có đăng ký” giữa hai người cùng giới tính thì gần như chỉ khác về mặt tên gọi so với “hôn nhân” Việc hai thuật ngữ tồn tại song song với nhau được cho là bởi vì một số lý do như:

● Các nhà lập pháp không muốn thay đổi định nghĩa khái niệm hôn nhân là giữa một nam và một nữ Do vậy pháp luật sản sinh ra một tên gọi khác, một hình thức dành riêng cho các cặp cùng giới

● Các nhà lập pháp muốn có một bước đệm, một khoảng thời gian chuyển tiếp để xã hội có thể thay đổi sự suy nghĩ cố hữu về hôn nhân là giữa nam và nữ

Hình thức chung sống có đăng ký là mô hình của kỹ thuật lập pháp “tách biệt nhưng bình đẳng” (“seperate but equal”), với ý tưởng rằng sẽ không đụng chạm đến những chế định truyền thống, nhạy cảm mà vẫn tạo ra được sự công

Trang 30

bằng cho tất cả mọi người một cách hợp pháp.Tuy nhiên, khi nào vẫn còn sự phân biệt, nghĩa là vẫn chưa có được công bằng thật sự Đó cũng là lý do những nước hiện tại đã hoàn toàn hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới, đều đã từng trải qua một khoảng thời gian áp dụng hình thức chung sống có đăng ký.18

Nhìn chung, hầu hết các quốc gia thừa nhận hôn nhân đồng tính đều ở châu

Âu, và không có quốc gia nào ở Châu Á Không phải đột nhiên mà các quốc gia được đề cập ở trên đây ghi nhận quyền nhân thân của người đồng tính, mà nó là cả một quá trình lâu dài, đủ để xã hội hiểu hơn về người đồng tính, đủ để các nhà lập pháp quan sát các vấn đề pháp lý của người đồng tính một cách kỹ càng và đề ra những chính sách hợp lý Ngay cả như vậy, quyền nhân thân của những người đồng tính tại các nước này cũng không phải là hoàn mỹ, vô khuyết Các đạo luật một bên thừa nhận quyền kết hôn đồng tính, một bên vẫn còn phải để ra một chỗ trống dành cho một số công chức, nhà thờ, những người phản đối hôn nhân đồng tính hoặc cảm thấy “không thoải mái” khi thực hiện các thủ tục hôn lễ, có thể từ chối thực hiện điều đó Do vậy, vấn đề hôn nhân đồng tính ở Việt Nam và những vấn đề pháp lý liên quan cũng nên được giải quyết một cách cẩn trọng, theo những

lộ trình cần thiết (học hỏi từ các nước nêu trên), tránh những xáo trộn xã hội không đáng có, đồng thời đảm bảo một cách hợp lý nhất quyền nhân thân của người đồng tính

1.4.2 Pháp luật về quyền nhân thân của người chuyển giới trên thế giới

Phẫu thuật chuyển giới không phải chuyện lạ với nhiều nước trên thế giới, từ

Mỹ, Canada, Serbia… ở phương Tây cho đến Thái Lan, Singapore, Philippines, Ấn Độ… ở phương Đông Hầu hết các nước cho phép chuyển giới không giới hạn cá nhân muốn chuyển giới bắt buộc phải có bộ phận sinh dục của giới tính mình không mong muốn Ngoài Thái Lan là trung tâm chuyển giới số một thế giới, bất ngờ là vị trí số hai thuộc về đất nước Hồi giáo Iran Hai mươi lăm năm về trước, lãnh đạo tối cao Iran – Ayatollah Khomeini đã ban hành luật cho chuyển giới và

18 gioi pdf

Trang 31

http://isee.org.vn/Content/Home/Library/438/nhung-hinh-thuc-chung-song-giua-nguoi-cung-gioi-tren-the-thay đổi giới tính trên giấy tờ liên quan Hiện tại chính phủ Iran chi trả 50% chi phí chuyển giới

Trang web Cơ quan An ninh xã hội của Mỹ đưa cụ thể thủ tục để người đã chuyển giới xin thay đổi giới tính trên hồ sơ an ninh xã hội, ngoài các giấy tờ khai báo nhân thân phải có thư của bác sĩ xác nhận đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới cho người này Trang web Sở Giao thông tỉnh Ontario (Canada) đăng cụ thể thủ tục để người chuyển giới xin thay đổi giới tính trong giấy phép lái xe, cũng yêu cầu

có thư của bác sĩ xác nhận đã phẫu thuật chuyển giới Xu hướng trên thế giới cho thấy, việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính cho người chuyển giới (và cả người liên giới tính) sẽ được thực hiện miễn phí

Thực tế, tại các nước trên thế giới, không có sự phân biệt giữa người chuyển giới và liên giới tính trong việc phẫu thuật về giới tính Điều này cũng thể hiện được vấn đề: khi tiến đến một xã hội đa dạng trong bản dạng giới thì sự phân biệt không còn nhiều ý nghĩa nữa, mọi người đều có quyền được Nhà nước bảo hộ Theo quy trình ở đa số quốc gia cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính, trước khi phẫu thuật cần trải qua kiểm tra cuộc sống thực (Real Life Test) để xem có thực sự phù hợp để tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính và có xác nhận của bác sĩ tâm lý

Tuy nhiên không phải người chuyển giới khi được công nhận thì sẽ đương nhiên có quyền kết hôn Ở các quốc gia thừa nhận quyền phẫu thuật của người chuyển giới vẫn chưa cho phép họ sau khi phẫu thuật được kết hôn như những người dị tính Dù vậy, trong năm 2013, một người chuyển giới Hồng Kông – Trung Quốc (từ nam sang nữ) đã nộp đơn kiện lên Tòa án của nước này và Tòa án

đã cho phép người này được kết hôn với bạn trai của mình Trong trường hợp này, mặc dù pháp luật Hồng Kông chưa cho phép người chuyển giới được kết hôn nhưng Tòa án đã tạo ra một ngoại lệ lịch sử tại quốc gia này

Tại các quốc gia trên thế giới cũng có những chính sách nhằm giải quyết các khó khăn của người chuyển giới trong việc hòa nhập xã hội Năm 2005, thị trấn

Trang 32

Nova Igaucu (Brazil), một thị trấn có 28.000 người đồng tính, đã bắt buộc các trung tâm thương mại phải có khu vực vệ sinh riêng cho người chuyển giới Năm

2008, Trường Trung học Kampang (Thái Lan) đã xây một kiểu nhà vệ sinh công cộng dành cho người chuyển giới, đặt ở giữa khu vực toilet nam và toilet nữ Đầu năm 2010, Ý bắt đầu xây nhà tù dành cho các tù nhân chuyển giới đầu tiên trên thế giới tại Pozzale, gần Thành phố Tuscan, tỉnh Florence Các nhóm nhân quyền tại Ý

đã rất hoan nghênh, cho rằng đây là sự ủng hộ về mặt tâm lý đối với tù nhân chuyển giới Hiện Ý có khoảng 60 tù nhân dạng này Họ chỉ được giam tại các nhà

tù nữ và thường được cách ly vì lý do an toàn.19

Đến nay, có thể thống kê sơ bộ tình hình các quốc gia thừa nhận và cho phép phẫu thuật chuyển giới đối với người chuyển giới như sau: Tính đến tháng tháng 9/2015, có 61 quốc gia trên thế giới hợp pháp hóa việc thay đổi giới tính trên giấy

tờ Phần lớn các nước châu Âu, châu Mỹ và nhiều nước châu Á thừa nhận quyền thay đổi nhân thân sau khi phẫu thuật, các nước đang thay đổi theo xu hướng thừa nhận quyền thay đổi giới tính trên giấy tờ ngay cả khi không cần phẫu thuật20 Australia, New Zealand và Nepal đã cấp hộ chiếu công nhận người chuyển giới, trong đó những người không thuộc giới tính "M" (male) hay "F" (female) có thể chọn chữ "X" thay thế.21

Xu hướng công nhận người chuyển giới trên thế giới có những sự biến chuyển rõ nét Theo đó, các quốc gia đang đấu tranh cho người chuyển giới được phép đổi lại giấy tờ theo giới tính mong muốn mà không phải trải qua phẫu thuật chuyển đổi giới tính Có thể kể đến một số nước đã công nhận điều này thời gian gần đây như: Argentina, Hàn Quốc, Đài Loan… Xu hướng này thể hiện sự phát triển cao nhất trong việc bảo vệ và bảo đảm quyền lợi cho người chuyển giới Ở Việt Nam, pháp luật vẫn chưa có cái nhìn chính diện đối với người chuyển giới, hay nói cách khác là chúng ta vẫn đang lẩn tránh vấn đề này Trong khi người

19 Trương Hồng Quang - Người chuyển giới và pháp luật thế giới về người chuyển giới;

https://hongtquang.wordpress.com

20 Xem: iSEE - Có bao nhiêu nước hợp pháp hóa chuyển đổi giới tính.

21 https://vi.wikipedia.org/wiki/LGBT#Li.C3.AAn_Hi.E1.BB.87p_qu.E1.BB.91c_v.C3.A0_quy.E1.BB.81n_LGBT

Trang 33

chuyển giới và các nhu cầu của họ là thực sự tồn tại và tồn tại rất phổ biến, chúng

ta gần như chưa có một cơ chế nào để giải quyết những nhu cầu đó của họ Trong điều kiện đó, các quan điểm pháp lý cũng như hành động của chính phủ các nước nêu trên sẽ là những kinh nghiệm đáng giá cho chúng ta học hỏi để xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi của người chuyển giới

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Đồng tính luyến ái hay chuyển giới không phải là hiện tượng xã hội có tính chất tạm thời Sự tồn tại của hiện tượng này là một tất yếu, xuất hiện ở mọi xã hội, trong mọi giai đoạn lịch sử Nó thể hiện sự đa dạng của các nền văn hoá nhân loại dựa trên xu hướng tình dục và bản dạng giới Cộng đồng nhóm LGBT ngày nay đã dần dần tự mình bước ra hòa nhập cùng cộng đồng và nhận thức rõ hơn về bản thân Quá trình “come out” này cũng khiến cho các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng thêm phần phong phú, và do đó, càng cần có cơ chế pháp luật phù hợp điều chỉnh các quan hệ đó để đảm bảo trật tự xã hội cũng như quyền lợi chính đáng của các bên liên quan Việc ghi nhận các quyền nói chung và quyền nhân thân nói riêng của các cá nhân thuộc nhóm này là bước đi đầu tiên và cần thiết để tiến tới xây dựng cơ chế đó Xã hội Việt Nam ngày càng cởi mở hơn, pháp luật dân sự Việt Nam do đó cũng càng rộng mở cánh cửa đối với những người thuộc nhóm LGBT Mặc dù vậy, quá trình này chỉ mới khởi đầu và còn cả một chặng đường dài để đi với những khó khăn, bất cập chồng chất trong cả quy định pháp luật lẫn thực thi pháp luật

Trang 34

CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NHÓM LGBT TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ NHỮNG BẤT

CẬP

Không đề cập đến vấn đề xu hướng tính dục hay bản dạng giới, bản thân những người đồng tính và người chuyển đổi giới tính là một chủ thể bình thường trong xã hội, chịu sự điều chỉnh cũng như sự bảo hộ của pháp luật Do đó, bỏ qua vấn đề “mong muốn sống đúng bản chất”, họ có được đầy đủ các quyền nhân thân

do pháp luật quy định chung cho mọi cá nhân Họ đều có năng lực pháp luật dân sự bình đẳng như những cá nhân khác Vì vậy, các cá nhân nhóm LGBT vẫn là chủ thể trong quan hệ nhân thân

BLDS 2005 quy định về quyền nhân thân từ Điều 24 đến Điều 51 Ngoài quy định chung về quyền nhân thân (Điều 24), bảo vệ quyền nhân thân (Điều 25), trong các quyền nhân thân được BLDS quy định cụ thể, dựa vào đối tượng của quyền nhân thân, các quyền nhân thân được quy định trong BLDS 2005 có thể phân chia thành các nhóm quyền nhân thân sau đây:

2.1 Nhóm các quyền liên quan tới sự cá biệt hóa cá nhân

Trong các quyền nhân thân thì quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa cá nhân thể hiện rõ đặc trưng của luật Dân sự Quyền của cá nhân đối với họ, tên; quyền xác định dân tộc; quyền của cá nhân đối với hình ảnh là những quyền cơ bản và thể hiện sự cá biệt rõ nét nhất trong số các quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa cá nhân

2.1.1 Quyền của cá nhân đối với họ và tên

Mỗi cá nhân sinh ra đều có tên gọi để phân biệt cá nhân đó với những cá nhân khác Điều 26 Bộ luật dân sự 2005 quy định về quyền của cá nhân đối với họ và tên và Điều 27 quy định về việc thay đổi họ tên Mặc dù một người có thể có nhiều tên gọi khác nhau như tên khai sinh, biệt hiệu, bí danh…, nhưng khi tham gia quan

hệ pháp luật mỗi cá nhân chỉ được công nhận mang một tên riêng đó là tên được ghi trong giấy khai sinh

Trang 35

Quyền đối với họ và tên là một quyền nhân thân của cá nhân Cá nhân có quyền này kể từ khi được sinh ra Tuy nhiên, cá nhân cũng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ tên trong trường hợp : Tên mà họ dùng gây nhầm lẫn, ảnh hưởng tới tình cảm của mọi người trong gia đình; theo yêu cầu của cha mẹ nuôi khi nhận con nuôi; theo yêu cầu của cha mẹ đẻ; yêu cầu của người xác định lại giới tính… Trường hợp thay đổi họ tên của người từ 9 tuổi trở lên thì phải được sự đồng ý của họ.

Giống như nhiều ngôn ngữ khác, đa phần các tên gọi tiếng Việt đều thể hiện đặc điểm giới tính trong đó Việc đặt tên người thường sẽ dựa vào tình trạng giới khi người đó sinh ra Với người chuyển giới, giới tính mong muốn của họ không trùng với giới tính khi sinh ra Điều này dẫn đến hệ quả là trong nhiều trường hợp tên gọi khai sinh sẽ không phản ánh đúng bản dạng giới của họ Nhu cầu thay đổi tên gọi của người chuyển giới thường đi trước hoặc không liên quan đến nhu cầu phẫu thuật chuyển giới, có thể do họ chưa có khả năng kinh tế, sức khỏe hoặc chưa

có kế hoạch để phẫu thuật chuyển giới Tuy nhiên, nếu không thuộc các trường hợp được phép thay đổi họ tên như tại khoản 1 Điều 27 thì họ không có quyền thay đổi

họ, tên khai sinh của mình Việc họ là người chuyển giới không được chấp nhận như một lý do để thay đổi họ, tên

Quy định tại Điều 27 BLDS 2005 về quyền thay đổi họ, tên thể hiện đây là một quyền có điều kiện Nhiều người chuyển giới đã cố gắng vận dụng điểm a và điểm e khoản 1 điều này để đăng ký xin đổi tên, tuy nhiên đa phần đều gặp trở ngại

- Điểm a, khoản 1 Điều 27 BLDS 2005: “Theo yêu cầu của người có họ, tên

mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó” Những quyền lợi hợp pháp bị ảnh hưởng của việc sử dụng tên gọi khai sinh của người chuyển giới là rất rõ ràng, nhiều người chuyển giới vẫn bị từ chối hoặc bị điều tra thêm khi qua cổng an ninh sân bay vì thể hiện giới bên ngoài không phù hợp với tên gọi, khi thực hiện các giao dịch dân sự thông thường cũng bị nghi ngờ, dò xét Đối với tình trạng này, các

Trang 36

cơ quan nhà nước vẫn thường xem những yêu cầu này là chưa chính đáng và từ chối hồ sơ.

- Điểm e, khoản 1 Điều 27 BLDS 2005: “Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính” Người được “xác định lại giới tính” ở đây chỉ được giới hạn trong trường hợp giới tính bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác,

do vậy người chuyển giới cũng không được áp dụng quy định này để thay đổi tên gọi

Nguyên nhân của vấn đề này là do BLDS 2015 vẫn chưa thừa nhận quyền chuyển giới của cá nhân Luật hộ tịch năm 2014 được ban hành dựa trên tinh thần của BLDS 2005, do đó luật này cùng các văn bản hướng dẫn của nó cũng không có thêm bất kỳ quy định riêng biệt nào về việc thay đổi họ tên của người chuyển giới.Theo khảo sát của tổ chức iSEE vào tháng 8/2014, có 10,1% người chuyển giới từng thử đi làm thủ tục thay đổi tên gọi (22 người) và chỉ có duy nhất một trường hợp đổi tên thành công (do bố mẹ đã đăng ký thay đổi tên gọi từ trước khi người này có giấy chứng minh nhân dân) Các lý do từ chối được đưa ra như sau: luật không cho phép (52,4%); lý do đổi tên không chính đáng (33,3%); chưa phẫu thuật nên chưa được đổi tên (23,8%); tên gọi muốn đổi quá nam tính hoặc quá nữ tính (19,1%); thiếu giấy chứng nhận của bệnh viện (14,3%) và các lý do khác (9,5%)

2.1.2 Quyền xác định dân tộc

Đây là một trong những quyền nhân thân của cá nhân được quy định tại điều

28 Bộ luật dân sự 2005 Theo đó, cá nhân sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định theo là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha mẹ đẻ Khác với quyền đối với họ tên, dân tộc của cá nhân được xác đinh theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ

đẻ chứ không được tự do lựa chọn Dân tộc của cá nhân được ghi vào giấy khai sinh khi trẻ được đăng ký khai sinh Vấn đề xác định lại dân tộc cũng là một phần

Trang 37

của quyền nhân thân của cá nhân Việc xác định lại dân tộc phải thoả mãn các điều kiện cụ thể do pháp luật quy định.

Quyền xác định dân tộc không liên quan gì đến bản dạng giới hay xu hướng tính dục của một chủ thể Do đó, những người thuộc nhóm LGBT hưởng quyền này một cách trọn vẹn như những cá nhân khác

2.2.3 Quyền đối với hình ảnh

Điều 31 Bộ luật dân sự 2005 quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình như sau :

“1 Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình

2 Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người

đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác

3 Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”

Điều 31 nêu trên chưa đưa ra khái niệm thế nào là quyền đối với hình ảnh Đây được xem là một trong những khó khăn cho các cơ quan thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan tới hình ảnh của cá nhân Chúng ta có thể hiểu khái niệm hình ảnh của cá nhân là bao gồm các hình thức ghi lại hình dáng của con người như ảnh chụp, ảnh vẽ, bức tượng cá nhân, điêu khắc Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý Trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự , chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha,

mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên, người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác Như vậy, ta có thể hiểu quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân liên quan tới việc tạo dựng, sử dụng và cho phép sử dụng hình ảnh của mình theo ý chí của chính cá nhân đó

Trang 38

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh của các chủ thể thuộc nhóm LGBT thường rất dễ bị xâm phạm, xuất phát từ thực tế của họ Các cá nhân thuộc nhóm LGBT phần lớn có tính cách, suy nghĩ và các yếu tố tâm lý bên trong hoàn toàn hoặc một phần khác biệt với giới tính được thể hiện qua cơ thể sinh học tự nhiên của họ Ví dụ: Một Gay có cơ thể và bộ phận sinh dục là nam nhưng bản thân lại luôn nghĩ, muốn và sống như bản thân là nữ Vì vậy, tình cảm, ham muốn tính dục của họ hướng tới những người có giới tính ngược với mình Do đó, phần lớn các cá nhân thuộc nhóm LGBT thường chăm chút cho vẻ bề ngoài tương thích với giới tính mà họ khát khao Một số người đồng tính nam thường trang điểm, để tóc dài,

ăn mặc màu mè, diêm dúa, cử chỉ mềm mại, điệu đà; một số đồng tính nữ thường

ăn mặc cứng nhắc, cử chỉ nặng nề.22 Mặt khác do đặc thù về xu hướng tính dục và bản dạng giới khiến hình ảnh của họ cũng có tính khai thác tin tức cao Pháp luật bảo hộ quyền của họ đối với hình ảnh của mình, để nó có thể được hình thành và

sử dụng theo đúng ý chí của bản thân Đồng thời, pháp luật cũng bảo hộ những hình ảnh đó trước sự xâm phạm của bất kỳ bên thứ ba Mọi hành vi sử dụng hình ảnh của họ mà không xin phép chủ sở hữu đều bị coi là vi phạm quyền này Tuy nhiên, quyền này cũng không phải là tuyệt đối bởi lẽ nó còn bị giới hạn trong trường hợp liên quan tới lợi ích chung và lợi ích Nhà nước thì Nhà nước có quyền

sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không vi phạm nguyên tắc này

Mặc dù vậy, hình ảnh bên ngoài của nhiều người thuộc nhóm LGBT thường dẫn tới sự tò mò, kỳ thị của xã hội đối Cộng đồng cá nhân có xu hướng tính dục dị tính cho rằng các cá nhân nhóm LGBT là bất bình thường, những gì nhóm LGBT thể hiện là đáng lên án Do đó, hình ảnh của nhóm LGBT được họ thoải mái sử dụng để châm biến, đả kích và thấy rằng đó là việc làm bình thường và các cá nhân nhóm LGBT đáng phải gánh chịu

Nhiều cá nhân nhóm LGBT, cụ thể là với những người chuyển giới, với mong muốn sống thật với giới tính của mình, hoặc có thể không chịu được những sức ép

22 Mặc dù vậy, không nên quy chụp tất cả những người có các dấu hiệu này đều là đồng tính Một số người có thể

do yêu cầu của công việc hoặc do sở thích, tính cách “quái” mà họ thể hiện như vậy Những người hoạt động nghệ thuật như ca sỹ, nhiếp ảnh do đó thường hay bị nghi ngờ là “gay”.

Trang 39

từ phía gia đình, xã hội đã từ bỏ giới tính sinh học của mình bằng cách tham gia phẫu thuật chuyển giới để có được cơ thể bên ngoài đồng nhất với giới tính mong muốn bên trong của họ Tuy vậy, sự thay đổi của cơ thể là cả quá trình với hàng loạt cuộc phẫu thuật mà không chỉ đơn giản là nằm lên giường phẫu thuật một lần, bước xuống đã mang một giới tính sinh học khác Trong khoảng thời gian hoàn thiện giới tính cũng như ngay cả sau khi cơ thể của họ đã được định hình, sự kỳ thị

về hình ảnh của họ trong cộng đồng xã hội không giảm đi mà có thể còn tăng lên mạnh mẽ Họ trở thành tâm điểm cho sự tò mò, hiếu kỳ của mọi người thông qua việc bị chỉ trỏ, chụp hình, quay phim và thậm chí là bị tung lên mạng như một điều

kỳ lạ để giải trí, để mọi người cười nhạo Cuộc sống của những người chuyển giới bởi vậy càng trở nên khó khăn và khó hòa nhập với xã hội, chưa nói đến việc họ cần được đảm bảo và bảo vệ những quyền nhân thân chính đáng của mình

2.2 Nhóm các quyền liên quan đến giá trị của con người trong xã hội

Nhóm quyền này bao gồm: Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Quyền đối với bí mật đời tư

2.2.1 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín.

Điều 37 BLDS 2005 quy định : “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”

Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân

đó, dựa trên những giá trị tinh thần đạo đức tốt đẹp Nhân phẩm của con người là những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó Uy tín cá nhân thể hiện sự tín nhiệm và mến phục của cộng đồng hoặc một bộ phận dân sự đối với cá nhân

Cả 3 yếu tố trên tuy có tính độc lập tương đối nhưng lại đều hướng tới sự thể hiện giá trị tinh thần của cá nhân

Mỗi cá nhân đều có quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình và đồng thời cũng có nghĩa vụ phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác Điểm đặc biệt của quyền nhân thân về danh dự, nhân phẩm, uy tín so với các quyền nhân thân khác là ở chỗ quyền này được tôn trọng và bảo vệ tuyệt đối Dù

Trang 40

trong bất kỳ trường hợp nào pháp luật cũng không cho phép đụng chạm đến danh

dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Vì vậy, không ai có thể viện bất kỳ lý do nào để bào chữa cho hành vi xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác Nhóm LGBT là minh chứng cho sự đa dạng về bản dạng giới và xu hướng tính dục của con người Ngay cả khi nhóm LGBT trong quan niệm của nhiều người là một loại bệnh hay là một điều phi tự nhiên thì đó cũng không phải là lý do để lăng mạ, làm nhục tới họ

Trên thực tế, đối với các cá nhân không thuộc nhóm LGBT, phần lớn các vụ việc xâm phạm quyền nhân thân về danh dự, nhân phẩm, uy tín, sẽ lập tức bị xem xét, áp dụng chế tài về mặt pháp luật và bị lên án gay gắt về đạo đức trong cộng đồng xã hội Tuy nhiên, khi các hành vi xâm phạm đó xảy ra đối với nhóm LGBT thì các vấn đề đó xảy ra theo chiều hướng gần như đối lập Đa phần bố mẹ khi thấy con cái của mình có những biểu hiện hoặc thú nhận về bản chất nhóm LGBT đều

sẽ có những hành vi như chửi mắng, bắt nhốt… Bởi vì họ thường cho rằng, đó không phải là vấn đề nghiêm túc mà chỉ là sự đua đòi, hư hỏng, thậm chí là rối loạn về thần kinh cần được “dạy dỗ” hay “chữa trị” Bên cạnh những hành vi chửi mắng, đánh đập, thậm chí còn có ông bố bà mẹ áp dụng việc để cho người khác giới thực hiện hành vi giao cấu với con mình Họ cho rằng điều này sẽ làm “thức tỉnh” hoặc “uốn nắn” sự hiểu biết cũng như bản năng giới tính của con cái mình, để con không tiếp tục “sa ngã” vào con đường sai trái23 Các cá nhân nhóm LGBT phải chịu đựng sự xâm phạm về cả thân thể, sức khỏe lẫn danh dự, nhân phẩm nhưng rất khó được bênh vực, bảo vệ, thậm chí là quá khó khăn để nhờ đến sự can thiệp của pháp luật, bởi những người có hành vi xâm phạm đó lại chính là người thân, người ruột thịt trong gia đình

Việc áp dụng chế tài đối với các hành vi xâm phạm, đặc biệt là xâm phạm nhân phẩm đối với các cá nhân chuyển giới đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới còn gặp nhiều vướng mắc từ phía dư luận xã hội và từ chính các quy định pháp luật Ví dụ, hành vi giao cấu đối với người nam đã chuyển giới thành nữ hiện đang

23 Xem thêm tại http://saostar.vn/doi-song/danh-dap-de-het-dong-tinh-578030.html

Ngày đăng: 29/01/2019, 12:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20.PGS. TS. Ngô Huy Cương, Tính hệ thống của các qui định về quyền nhân thân trong dự thảo bộ luật dân sự sửa đổi, Kỷ yếu tọa đàm “Chế định quyền nhân thân trong Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi” ngày 17/3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính hệ thống của các qui định về quyền nhân thân trong dự thảo bộ luật dân sự sửa đổi", Kỷ yếu tọa đàm “Chế định quyền nhân thân trong Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi
24.Phạm Thu Hoa, Đồng Thị Yến, Định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Tập 31, số 5 (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam
25.Chuyên đề thông tin Hôn nhân đồng giới: “Kinh nghiệm một số nước và thực tế Việt Nam” – Viện Nghiên cứu lập pháp (phục vụ kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm một số nước và thực tế Việt Nam
27.iSEE, Báo cáo về tình hình quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) tại Việt Nam – Hướng đến phiên thứ 18 kiểm điểm định kỳ toàn cầu tại Liên hợp quốc của Việt Nam (tháng 1-2 năm 2014), Báo cáo gửi lên Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) tại Việt Nam – Hướng đến phiên thứ 18 kiểm điểm định kỳ toàn cầu tại Liên hợp quốc của Việt Nam (tháng 1-2 năm 2014)
48.Hiểu Minh - Tri thức đồng tính chật vật tìm việc làmhttp://vietnamnet.vn/vn/doi-song/87676/tri-thuc-dong-tinh-chat-vat-tim-viec-lam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức đồng tính chật vật tìm việc làm
50.Phan Vũ Tuấn - Quyền chuyển đổi giới tính sẽ được thực hiện như thế nào http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2015/11/404216/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền chuyển đổi giới tính sẽ được thực hiện như thế nào
21.Ngô Thị Thanh Thúy (2014), Kết hôn đồng giới theo pháp luật của một số quốc gia, Luận án thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội Khác
22.Nguyễn Thị Minh Tâm (2013), Quyền của người đồng tính – Lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội Khác
23.Nguyễn Thị Lan (Chủ nhiệm đề tài), Quyền của nhóm LGBT – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học luật Hà Nội Khác
28.Là người đồng tính, song tính, chuyển giới (LGBT) ở châu Á – Báo cáo quốc gia Việt Nam – Tr. 11, 12 Khác
29.Trung tâm Sáng kiến và Sức khoẻ Dân số (CCIHP), Những câu chuyện chưa được kể, NXB từ điển bách khoa, 2013 Khác
30.Từ điển giải thích thuật ngữ luật của trường Đại học Luật Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w