1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN hoan chinh 2016 2017

26 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 7,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Bên cạnh đó, một số giáo viên khi giảng dạy còn bỏ qua luôn phần liên hệ hay lồngghép giáo dục môi trường cho học sinh vì các lí do sau : không bố trí hợp lí thời gian từngphần, phần l

Trang 1

PHÒNG GD VÀ ĐT TRI TÔN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Lạc Quới, ngày 12 tháng 10 năm 2017

BÁO CÁOKết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kĩ thuật, quản lí, tác nghiệp, ứng dụng

tiến bộ kĩ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

I- Sơ lược lý lịch tác giả:

- Họ và tên: Nguyễn Quang Đền Giới tính: Nam

- Ngày tháng năm sinh: 1986

- Nơi thường trú: Ấp Vĩnh Hòa, xã Lạc Quới, Tri Tôn, An Giang

- Đơn vị công tác: Trường THCS Lạc Quới

- Chức vụ hiện nay: Giáo viên

- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy

II- Tên sáng kiến: “Phương pháp giảng dạy giáo dục môi trường trong sinh học 9 theo

hướng tiếp cận năng lực học sinh”

III- Lĩnh vực: Cải tiến phương pháp giảng dạy

IV- Mục đích yêu cầu của sáng kiến

1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:

- Ô nhiễm môi trường là một vấn đề cấp thiết trong cuộc sống hiện nay, nó không chỉảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống, sinh tồn của các loài sinh vật mà còn ảnh hưởng trựctiếp đến sức khỏe và sự sống của con người

- Tình hình ô nhiểm hiện nay tùy theo sự phát triển của một nước mà có mức độ lớnnhỏ khác nhau, bên cạnh đó khả năng nhận thức của con người củng là yếu tố có thể làm cho

sự ô nhiễm môi trường được cải thiện hơn hay ngày càng nghiêm trọng hơn là vấn đề đangđược quan tâm sâu sắc

- Là một giáo viên giảng dạy bộ môn sinh học, kiến thức liên quan đến môi trường rấtnhiều Nhưng từ thực tế giảng dạy và quan sát, tôi nhận thấy các em học sinh chưa có ý thứccao, hoặc ít quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường và hậu quả của tình hình môi trường bị

ô nhiễm đến sức khỏe của bản thân Cụ thể, các em còn xả rác bừa bãi trong lớp học, sân

1

Trang 2

trường, khạc nhổ…đi vệ sinh chưa dội nước vào bồn cầu…hoặc khu vực khu dân cư, chợ ,dòng sông xung quanh nơi các em sống vẫn còn rác thải sinh hoạt thải bừa bãi do sự thiếu ýthức của người dân, lâu ngày dẫn đến một số khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng.

- Mặt khác, một bộ phận học sinh lại là tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường trongcuộc sống hằng ngày, một số lại chưa biết sử dụng thông tin từ các phương tiện thông tin đạichúng (báo chí, mạng internet, tivi…) để thấy được tình hình những ảnh hưởng và chưađánh giá hết mức độ của sự ô nhiễm môi trường dẫn đến không quan tâm hay thờ ơ với vấn

đề này

- Bên cạnh đó, một số giáo viên khi giảng dạy còn bỏ qua luôn phần liên hệ hay lồngghép giáo dục môi trường cho học sinh vì các lí do sau : không bố trí hợp lí thời gian từngphần, phần liên hệ được coi là phần phụ, giáo viên ít liên hệ kiến thức thực tế của vấn đề Do

đó, giáo viên giảng dạy sẽ gặp khó khăn vì thiếu sự sinh động, học sinh chán nãn, dẫn đếnkhó tiếp thu và học sinh chưa ý thức được sự nghiêm trọng của việc ô nhiễm môi trường

- Từ những lẻ đó, phải làm sao để nâng cao được ý thức của các em học sinh trongvấn đề ô nhiễm môi trường để các em tuyên truyền, không thờ ơ với những hành động củangười khác làm ô nhiễm môi trường, và để góp phần làm cho môi trường học tập, cũng nhưmôi trường sống của các em trở nên trong sạch hơn Tôi đã áp dụng một số biện pháp tronggiảng dạy giáo dục môi trường sau đây

2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến

- Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm có nhiều thành tựu áp dụng trong khoahọc kĩ thuật và đời sống Giảng dạy bộ môn sinh học trong nhà trường không chỉ đơn thuần

là truyền thụ kiến thức lí thuyết mà còn phải rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết

để nắm chắc nội dung kiến thức cơ bản: kĩ năng thực hành ở trường, kĩ năng giao tiếp, kĩnăng tuyên truyền, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào các trường hợp cụ thể khôngnhững trong thời gian ở nhà trường mà còn tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng tham gia vàocuộc sống lao động sản xuất và kĩ thuật hiện đại sau này

- Hiện nay như chúng ta đã biết và đã thấy môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng

do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây nên sự biến đổi khí hậu, mất cânbằng sinh thái, sự ô nhiễm không khí, đất, nguồn nước ở khắp mọi nơi, đã ảnh hưởng lớnđến chất lượng cuộc sống của nhân loại Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên

Trang 3

tình trạng trên là do tiến trình công nghiệp hoá, sự yếu kém về khoa học và quản lý lỏnglẻo việc xử lý các loại chất thải, sự thiếu ý thức, thiếu hiểu biết của con người về việc bảo

vệ môi trường

- Song song với việc hình thành kiến thức và kĩ năng, thì hình thành ý thức, thái độcủa học sinh trước những vấn đề cấp bách, nhất thiết của xã hội cũng góp phần quan trọngtrong giáo dục của bộ môn sinh học, đặc biệt là “ Giáo dục về bảo vệ Môi trường”

- Trong tình hình hiện nay, phương pháp giáo dục “ Lấy học sinh là trung tâm” thật

sự rất cần thiết, vì đó là cơ sở để các em có thể tự học và học tích cực hơn trong quá trìnhhọc tập Nhưng phần lớn giáo viên chỉ tập trung vào kiến thức trọng tâm của bài học là chủ

yếu, và vô tình đã “ lờ ” đi những kiến thức tích hợp cho học sinh như : tích hợp về dân số,

môi trường, sức khỏe, giáo dục về giới tính hoặc những kĩ năng sống cơ bản Trong đó, giáodục bảo vệ môi trường là một vấn đề cấp bách và mang tính toàn cầu, bởi vì vấn đề ô nhiễmmôi trường hiện nay đã phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây hậu quả nghiêm trọng cho sứckhỏe của con người

- Sinh học 9 là một môn học về Di truyền học và Sinh thái học mà lượng tri thứccác em lĩnh hội được qua các tiết học lại gắn với vấn đề ô nhiễm môi trường, cũng nhưnhững hậu quả của ô nhiễm môi trường thực sự là rất nhiều, một số bài thì liên hệ, một sốbài thì tích hợp Nhưng đa số giáo viên chỉ liên hệ, giới thiệu là chủ yếu, phần lớn thời giancòn lại là dành cho nội dung kiến thức của bài

- Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy kiến thức sinh học 9 dùng để tíchhợp giảng dạy môi trường là rất hữu ích, vì nó đã đề cập tới những nguyên nhân gây ra tìnhtrạng ô nhiễm môi trường hiện nay như: chặt phá rừng, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,hoạt động sinh hoạt của con người, giao thông vận tải, dân số tăng nhanh, phong tục tậpquán của con người, săn bắt động vật hoang dã, khai thác tài nguyên thiên nhiên mà nhữngnguyên nhân trên đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của trái đất, mất cân bằngsinh thái, tài nguyên cạn kiệt, ô nhiễm trở nên trầm trọng, khí hậu thay đổi, lũ lụt , hạn hán,bệnh và tật di truyền ở con người ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội

- Thế nhưng, các em học sinh thường ít nhận thức, và thấy được những tác hại do ônhiễm môi trường gây ra Vì thế, giảng dạy tích hợp “ Giáo dục môi trường” trong sinh học

là phải làm sao để gây hứng thú, hấp dẫn các em để nâng cao nhận thức, kích thích sự tìm tòi

3

Trang 4

về vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu này ở các em, để những chủ nhân tương lai của đấtnước sau này sẻ làm cho môi trường trở nên xanh-sạch-đẹp hơn Do đó, bản thân tôi thấy

việc áp dụng một số “Phương pháp Giảng dạy giáo dục môi trường trong sinh học 9 theo hướng tiếp cận năng lực học sinh”

3.Nội dung sáng kiến

- Đầu năm học 2016-2017 đăng kí tên sáng kiến

- Tiến hành viết sáng kiến và tiếp tục áp dụng cho đối tượng mới để thu thập thông tinthêm trong quá trình giảng dạy

- Hoàn thiện sáng kiến và nộp sáng kiến theo quy định

b) Kế hoạch cụ thể

1 Xác định điều kiện học tập của học sinh, trình độ học sinh, đặc điểm tâm sinh lí của họcsinh theo từng đối tượng, từng lứa tuổi Đặc biệt là khả năng hoạt động tích cực của học sinhtrong giờ học

2 Tham khảo các tài liệu giảng dạy môn Sinh học 9, kiến thức các môn khác có liên quannhư: địa lí, hóa học, vật lí, lịch sử để làm nguồn bổ sung kiến thức cho bản thân củng nhưcho học sinh khi giảng dạy tích hợp giáo dục môi trường

3 Nghiên cứu thực tế điều kiện thiết bị đồ dùng dạy học hiện có của trường để có thể địnhhướng trang bị và tự làm đồ dùng dạy học để phục vụ giờ học Tự thiết kế mẫu phiếu họctập, các mẫu báo cáo, tường trình trong các tiết dạy thực hành, tìm hiểu tâm lí học sinh đặcbiệt để giáo dục các học sinh cá biệt trong lớp giúp các em có thể phối hợp với các bạn đểgiải quyết hay xử lí các yêu cầu của giáo viên đề ra

Trang 5

4 Nghiên cứu thực tế phương pháp dạy học mới do Sở và phòng giáo dục và hội đồng bộmôn trong huyện tổ chức.Thực hiện giảng dạy theo chuẩn kiến thức và rèn luyện kĩ năngsống cho học sinh.

5 Điều tra các khu vực bị ô nhiễm gần khu vực dạy học để học sinh dễ đi thực tế Xây dựngcác kế hoạch tích hợp giáo dục môi trường ở những bài có liên quan đến nội dung tích hợp

6 Đề xuất , hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu các giải pháp cũng như biệnpháp hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do nhiều tác nhân

3.2 Thời gian thực hiện

Sáng kiến được áp dụng trong khoảng thời gian của giữa học kì I ở chương IV “ Biếndị” và học kì II phần “ Sinh vật và môi trường” môn sinh học 9, áp dụng đối với một số bài

có nội dung tích hợp giáo dục môi trường

đề cập trong bài học Vì vậy, kiến thức giáo dục môi trường không phải muốn đưa vào lúcnào cũng được, mà phải căn cứ vào nội dung của bài học có liên quan với vấn đề môi trườngmới có thể tìm chổ thích hợp để đưa vào, mặt khác giáo viên phải xác định được yêu cầu tíchhợp và địa chỉ tích hợp trong từng bài dạy Thường có 4 dạng yêu cầu như sau:

- Dạng bài yêu cầu liên hệ giáo dục: dạng này thường kiến thức giáo dục môi trường

không được đưa vào chương trình sách giáo khoa, nhưng dựa vào nội dung sách giáo khoagiáo viên chỉ cần bổ sung, liên hệ, giới thiệu thêm cho học sinh về yêu cầu giáo dục màkhông đi sâu vào nội dung giáo dục này trong giờ lên lớp.(bài 21, 22, 23, 24, 25, 27 và bài32)

- Dạng bài yêu cầu lồng ghép một phần: dạng này giáo viên sẽ đầu tư soạn giảng, hệ

thống câu hỏi để lồng ghép vào một phần của bài dạy, học sinh phải suy nghĩ, liên hệ kiếnthức thực tế để trả lời giáo viên.(bài 29, 30, 33)

5

Trang 6

- Dạng bài yêu cầu lồng ghép – liên hệ giáo dục: dạng này yêu cầu người giáo viên

phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi để giáo dục học sinh, mặt khác cần liên hệ thêm, giới thiệuhoặc minh họa thêm trong quá trình giảng dạy trở nên sinh động hơn (bài 41 đến 47, 48, 63

và bài 66)

- Dạng bài yêu cầu lồng ghép toàn phần: dạng này thường kiến thức giáo dục môi

trường được đưa vào chương trình sách giáo khoa, là dạng bài mà giáo viên phải lồng ghépgiảng dạy nội dung tích hợp trong suốt quá trình của tiết học, nội dung được cụ thể hóa tronggiáo án, với cấu trúc hệ thống câu hỏi lôgic về kiến thức với nhau giữa nội dung bài học vànội dung tích hợp( môi trường, dân số, sức khỏe, bảo vệ rừng, tài nguyên )

2- Tích hợp giáo dục môi trường bằng phương pháp “ Trò chơi ”

Trò chơi là một hình thức dạy học kích thích được sự năng động, tích cực của họcsinh, thông qua trò chơi học sinh có thể vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học một cáchlinh hoạt sao cho phù hợp với yêu cầu của trò chơi

Dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường dựa trên trò chơi là một phương phápgây nhiều hứng thú cho người học nhưng đòi hỏi tính sáng tạo cao của người dạy Tùy theoyêu cầu, vị trí của nội dung tích hợp mà giáo viên chọn nội dung trò chơi sao cho phù hợp

2.1 Trò chơi giải ô chữ

Trò chơi ô chữ là một trong những nguồn tư liệu trò chơi trí tuệ hỗ trợ hữu ích chogiáo viên và học sinh trong quá trình dạy - học Đây không chỉ là một trò chơi đơn thuần màcòn là một hình thức học tập tăng khả năng tư duy của người chơi nếu được thiết lập và sắpxếp phù hợp với chương trình học Bên cạnh đó, “hình thức vừa học vừa chơi” mang lại chohọc sinh sự hứng thú, tăng cường khả năng ghi nhớ kiến thức

Trò chơi này được tổ chức vào cuối tiết học hoặc một phần của bài học để liên hệ cáckiến thức liên quan đến bảo vệ môi trường được liệt kê trong bài học cho học sinh

Ví dụ: “Bài 29- Bệnh và tật di truyền ở người”

Trò chơi được áp dụng tại phần III- Các biện pháp hạn chế phát sinh tật, bệnh ditruyền

- Yêu cầu để tiến hành trò chơi: giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi liên quan đến cácbệnh, tật di truyền hay câu hỏi liên quan đến vấn đề môi trường; chuẩn bị bảng ô chữ trống

để học sinh điền chữ vào; chuẩn bị câu hỏi chủ đề của trò chơi

Trang 7

- Thể lệ chơi: Học sinh được quyền chọn câu hỏi và điền đáp án của mình vào vị trícủa ô chữ, điền đúng được khen ngợi, điền sai thì các bạn trong tổ có thể sửa và bổ sung.

Câu 1: Loại biến dị có thể di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác?(Đột biến)

Câu 2: Một người đi khám bệnh, bác sĩ kết luận trong bộ nhiễm sắc thể của người này

có 3 nhiễm sắc thể 21 Theo kết luận của bác sĩ, em hãy giúp người đó biết là bệnh gìkhông?( bệnh đao)

Câu 3: Da và tóc màu trắng, mắt màu hồng là biểu hiện của bệnh gì ở con người và cảđộng vật?( bạch tạng)

Câu 4: Trong thời kì chống Mỹ cứu nước, bộ đội ta đóng quân trong những khu rừngrậm và đã bị quân địch tấn công bằng cách rãi một loại hóa chất xuống rừng, làm cho cácchiến sĩ bộ đội sau này có con đều có biểu hiện bên ngoài khác lạ so với người bình thường

Từ kiến thức lịch sử em hãy xác định chất hóa học kia có tên là gì?(dioxin)

Câu 5: Một loại bệnh mà trong bộ nhiễm sắc thể giới tính chỉ có 1 nhiễm sắc thể X?(bệnh tơc-nơ)

Câu 6: Một loại bệnh thường thấy ở con của những người bị nhiễm chất phóng xạ,chất độc hóa học trong chiến tranh, hoặc không cẩn thận trong sử dụng thuốc trừ sâu vàthuốc diệt cỏ? (Câm điếc bẩm sinh)

Câu 7: Từ những ô chữ trên hãy cho biết nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh đã cótrong ô chữ đó? (ô nhiễm)

Đ I O X I N

B E N H T O C N O

M A

Trang 8

- Sau khi học sinh hoàn thành xong ô chữ, giáo viên cho học sinh thảo luận câu hỏichủ đề của phần này: Các bênh và tật di truyền rất nguy hiểm đối với con người, từ nhữngkiến thức đã biết, em hãy cho biết nguyên nhân và biện pháp để hạn chế các bệnh và tật ditruyền ở người?

- Học sinh thảo luận tích cự và đưa ra đáp án của nhóm

→ Đáp án học sinh liên hệ:

- Nguyên nhân:

+ Do tác nhân vật lí, hoá học trong tự nhiên

+ Do ô nhiễm môi trường

+ Do rối loạn quá trình sinh lí, sinh hoá nội bào

- Biện pháp:

+ Hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm môi trường

+ Sử dụng hợp lí các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dại, thuốc chữa bệnh

+ Hạn chế kết hôn giữa những người có nguy cơ mang gen gây các tật bệnh di truyền

2.2 Trò chơi hoạt động: Mở rộng, nâng cao kĩ năng xử lí thông tin, thu thập thông tin, rèn

luyện tính tự lập, tinh thần tập thể của các em

Ví dụ bài 58- Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên

- Trò chơi: “Tài nguyên của tôi”

- Giáo viên sử dụng trò chơi này để hình thành khái niệm các loại tài nguyên, ví dụcác loại tài nguyên và giáo dục các em có ý thức, thái độ bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môitrường

- Nội dung trò chơi:

+ Giáo viên chia lớp thành 3 góc với 3 loại tài nguyên như sau: Tài nguyên tái sinh,tài nguyên không tái sinh, tài nguyên năng lượng vĩnh cửu

+ Phát cho các bạn tham gia trò chơi những mảnh giấy có ghi tên các tài nguyên theobảng 58.1 SGK trang 173

+ Yêu cầu các bạn tham gia tìm đúng vị trí của mình và đứng đó

+ GV tiến hành kiểm tra, bạn nào sai thì bị phạt hát 1 bài, hoặc múa minh họa theobài hát

- Từ đó GV hình thành khái niệm về các loại tài nguyên cho các em

- GV yêu cầu HS nghiên cứu - Cá nhân HS nghiên cứu I Các dạng tài nguyên thiên

Trang 9

SGK, tham gia trò chơi và hoàn

- Nêu các dạng tài nguyên thiên

nhiên và đặc điểm của mỗi dạng?

Cho VD?

- Yêu cầu HS thực hiện  bài tập

SGK trang 174

- Nêu tên các dạng tài nguyên

không có khả năng tái sinh ở

nước ta?

- Tài nguyên rừng là dạng tài

nguyên tái sinh hay không tái

sinh? Vì sao?

GV liên hệ GDMT: Tài nguyên

thiên nhiên không phải là vô tận,

chúng ta phải sử dụng tiết kiệm

và hợp lí, vừa đáp ứng nhu cầu

sử dụng tài nguyên của hiện tại,

vừa đảm bảo duy trì lâu dài các

nguồn tài nguyên cho các hế hệ

mai sau Bảo vệ rừng,và cây

xanh trên trái đất sẽ có vai trò rất

quan trọng trong việc bảo vệ đất,

nước và các tài nguyên sinh vật

khác.

thông tin mục I SGK, thamgia trò chơi và hoàn thànhbảng 58.1

- Đại diện nhóm trình bàykết quả, các nhóm khácnhận xét, bổ sung

- HS dựa vào thông tin vàbảng 58.1 để trả lời, rút rakết luận:

- HS tự liên hệ và trảlời:

+ Than đá, dầu lửa, mỏthiếc, sắt, vàng…

+ Rừng là tài nguyên táisinh vì bảo vệ và khai tháchợp lí thì có thể phục hồisau mỗi lần khai thác

+ Tài nguyên không tái sinh làdạng tài nguyên qua 1 thời gian

sử dụng sẽ bị cạn kiệt (than đá,dầu mỏ…)

+ Tài nguyên vĩnh cửu: là tàinguyên sử dụng mãi mãi, khônggây ô nhiễm môi trường (nănglượng mặt trời, gió )

3 Phương pháp tạo tình huống có vấn đề (đề xuất mâu thuẩn):

9

Trang 10

3.1 Tình huống tạo ra từ mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới: Loại tình huốngnày xuất hiện do sự không phù hợp giữa kiến thức cũ (cái đã biết) và kiến thức mới (cái chưabiết)

Ví dụ: Vận dụng ở bài 25: Thường Biến, phần I- Sự biến đồi kiểu hình do tác độngcủa môi trường để hình thành khái niệm “ Thường biến”

 Giáo viên đưa ra tình huống: Môi trường là một trong những yếu tố làm ảnh hưởngđến kiểu gen của sinh vật, khi môi trường bị thay đổi có thể gây hậu quả là “đột biến gen” từcác tiết trước các em đã học Nhưng thực tế một số loài sinh vật khi thay đổi môi trườngsống và bị tác động từ môi trường đã xuất hiện kiểu hình khác không gây hại cho bản thânSinh vật đó Bằng kiến thức đã học em hãy giải thích trường hợp này có phải là một dạngđột biến gen không?

GV: Lá của cây có phải bị đột biến không?

HS: không phải đột biến Lá chỉ thay đổi để thích nghi với môi trường sống

GV: Vậy sự thay đổi của lá có tác dụng gì đối với cây?

Trang 11

HS: trong nước có bản dẹt để hạn chế bị tác động của sóng, nước chảy để cây không

bị tróc gốc; các trường hợp còn lại để cây nhận ánh sáng nhiều, và đứng vững khi thân ngậpnhiều trong nước

+ Ví dụ 2: Cùng thuộc một giống su hào thuần chủng, nhưng cây trồng ở luống (A)được bón phân, tưới nước, và phòng trừ sâu bệnh đúng qui trình kỉ thuật thì có củ to hơn hẵn

so với củ ở những cây trồng ở luống (B) không làm đúng quy trình kĩ thuật

GV: Cây su hào ở luống (A) và luống (B) có phải bị đột biến không?Vì sao?

HS: Không phải đột biến Vì ở luống A cây sống trong môi trường đầy đủ chất dinhdưỡng và được chăm sóc tốt nên  củ to Ở luống B cây sống trong môi trường thiếu chấtdinh dưỡng và không được chăm sóc tốt nên  củ nhỏ

GV: Vậy muốn cây su hào có củ to hơn nữa chúng ta bón nhiều phân thêm nữa, phunxịt nhiều thuốc dưỡng nữa có phải không? Vì sao?

HS: không đúng Vì nếu phun thuốc và bón phân nhiều và quá liều lượng thì có thểcây trồng sẽ bị ngộ độc và chết, bên cạnh đó sẽ làm ô nhiễm môi trường với dư lượng thuốc

ở ngoài môi trường

GV: Vậy kiểu hình của cây rau mác, cây su hào được biểu hiện ra bên ngoài phụthuộc vào yếu tố nào?

HS: Kiểu gen và môi trường

GV: Yếu tố nào trong 2 ví dụ trên được xem là không biến đổi?

HS: Kiểu gen

GV: Trong trường hợp nào thì yếu tố kiểu gen có thể bị biến đổi trong 2 ví dụ trên?HS: Môi trường bị ô nhiểm, ảnh hưởng của thuốc trừ sâu

11

Trang 12

GV giảng dạy tích hợp GDMT: Trong cải tạo nâng cao năng suất cây trồng, nếu bón phân hay phun xịt thuốc quá liều lượng có thể không có kết quả mà chất lượng nông sản còn

bị giảm (công nghệ 7) Mặt khác khi bón phân, phun thuốc nhiều quá thì dư lượng còn lại trong đất làm cho môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm ảnh hưởng đến cây trồng

mà nghiêm trọng hơn là sức khỏe của con người.

GV: Trong 2 ví dụ trên, kiểu hình thay đổi khi môi trường sống thay đổi mà kiểu genkhông bị biến đổi, trường hợp này gọi là gì?

HS: Thường biến

GV: Dẫn dắt vào khái niệm thường biến

3.2 Tình huống tạo ra từ mâu thuẫn giữa lí thuyết và thực tiễn: Tình huống này xuất hiện

khi những biểu hiện của thực tiễn đa dạng, phong phú không hợp lí với lý thuyết khoa họctương ứng Mâu thuẫn này đặt ra cho học sinh một nhiệm vụ cần nối nhịp 2 đầu cầu lýthuyết và thực tiễn một cách phù hợp

Ví dụ: Bài 21: Đột biến gen - phần vai trò của đột biến gen

- Tình huống 1: Trong giờ học sinh học 9 bạn Hưng nói với bạn Minh là “ Đột biếngen luôn là có hại cho bản thân sinh vật”, nhưng bạn Minh không đồng ý, bạn Minh chorằng “ Đột biến gen cũng có lợi cho sinh vật” vì bạn đã ăn dưa hấu không hạt rất ngon Các

em hãy giúp 2 bạn trên hiểu rõ hơn về đột biến gen đi nào?

Tình huống này tạo mâu thuẩn giữa việc có lợi và có hại của đột biến gen, giữa lí thuyết vàthực tế bên ngoài của cuộc sống

+ GV: khi nào thì đột biến gen có hại cho sinh vật?

HS: khi môi trường tự nhiên bị ô nhiễm do nhiều lí do, hoặc do sự thay đổi trong cấutrúc của gen trong cơ thể sinh vật làm cho sinh vật bị biến đổi kiểu hình, không có khả năngsinh tồn

GV: khi nào đột biến gen có lợi?

HS: khi con người chủ động gây đột biến theo hướng có lợi cho mục đích của conngười

- GV tích hợp GDMT: khi môi trường trở nên ô nhiễm tác động trực tiếp lên sinh vật gây biến đổi gen làm cho sinh vật có thể chết hoặc bị biến đổi về hình dạng Còn trường hợp đột biến gen có lợi cho sinh vật là do con người chủ động gây đột biến trong thực nghiệm

Trang 13

theo hướng sản xuất của con người, từ thực tế các sản phẩm đột biến do con người tạo ra luôn có phẩm chất và năng suất hơn hẵn các giống trước đó.

3.3 Tình huống tạo ra bởi mâu thuẫn giữa nguyên nhân và kết quả (bất ngờ): Tình

huống này xảy ra khi xuất hiện mâu thuẫn giữa nguyên nhân và kết quả của nó, điều này gâynên sự bất ngờ, ngoài dự đoán logic của học sinh Cách giải quyết là làm sáng tỏ nguyênnhân cơ bản nhất dẫn đến kết quả đó

Ví dụ: Phần III- Thể đa bội

Sau khi học xong về khái niệm cũng như sự hình thành thể đa bội, bạn Hiền có ýkiến: Tại sao ở thể dị bội ( 2n+1) thì số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào vẫn tăng nhưng lạigây ảnh hưởng xấu đến sinh vật và con người, còn đa bội thể thì lại có lợi cho sinh vật vàcon người? Vận dụng kiến thức mình đã học hãy giúp bạn Hiền hiểu rõ hơn về vấn đề trên

- Yêu cầu HS:

+ Sự hình thành thể dị bội 2n+1 và thể đa bội

+ Các dạng của thể dị bội và thể đa bội

- GV giải thích:

+ Ở thể dị bội do sự phân li không đồng đều của các cặp nhiễm sắc thể trong giảmphân dẫn đến và biểu hiện xấu ở cơ thể sinh vật như: bệnh đao ở người có 3 NST 21, bệnhung thư máu ở người do mất 1 đoạn nhỏ ở đầu NST

- Ở thể đa bội, thường do sự không phân li của các NST trong giảm phân làm cho sốNST trong tế bào tăng lên nhiều lần, làm tế bào tăng cường các hoạt động sống tăng kíchthướt và sức chống chịu của cơ thể trong môi trường sống

- GV tích hợp GDMT: Cả hai dạng trên đều chịu sự tác động trực tiếp từ môi trường, nếu môi trường bị ô nhiễm như việc phun thuốc hóa học không hợp lí, không bảo vệ môi trường đất, nước thì khả năng xảy ra đột biến có hại là rất cao đối với sinh vật và cả con người.

4 Tích hợp giáo dục môi trường bằng phương pháp sơ đồ hóa nội dung tích hợp:

Sử dụng phương pháp này giáo viên có thể cô động lại kiến thức, nội dung tích hợpgiáo dục bảo vệ môi trường bằng sơ đồ(giống như sử dụng sơ đồ tư duy), từ đó học sinh cóthể lĩnh hội kiến thức, nội dung tích hợp một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng không khô khan,nhàm chán Mặt khác nó làm cho học sinh hứng thú khi tham gia vẽ sơ đồ theo ý của bản

13

Ngày đăng: 08/12/2018, 13:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w