LỜI MỞ ĐẦUTrong xu thế hội nhập toàn cầu, tự do hoá tài chính là một tất yếu khách quan vì nó tự sẽ đem lại những lợi ích và tiềm năng to lớn cho một quốc gia. Nó trở thành sân chơi cho các tổ chức tài chính được vận hành một cách hiệu quả theo đúng bản chất của một cơ chế thị trường tạo một môi trường minh bạch, linh hoạt cho hệ thống tài chính, thu hút đầu tư và tạo đà phát triển cho nền kinh tế. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhà nước can thiệp toàn diện vào mọi ngành kinh tế, thấm sâu mọi khâu của quá trình tái sản xuất bao trùm các hoạt động kinh tế trong và ngoài nước. Đặc biệt, nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong hệ thống tài chính của một quốc gia với mô hình kiểm soát tài chính chặt chẽ. Tuy nhiên sau đó, quá trình kiểm soát tài chính nặng nề đã khiến cho nền kinh tế của các quốc gia chịu tổn thương rất lớn. Vấn đề đặt ra là các quốc gia phải thay đổi chiến lược để có một hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả hơn, phù hợp hơn đặc biệt là trong quá trình hội nhập toàn cầu diễn ra ngày càng mạnh mẽ.Sáng ngày 16 tháng 6 năm 2009 sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tại Hà Nội, Trường Bồi dưỡng cán bộ Tài chính của Bộ Tài chính phối hợp với Trung tâm Tài chính và Phát triển châu Á – Thái Bình Dương thuộc Bộ Tài chính Trung Quốc đã tổ chức Hội thảo quốc tế qua cầu truyền hình với chủ đề “Điều tiết và phi điều tiết trong hệ thống tài chính: Vai trò trong bối cảnh khủng hoảng” với 8 điểm nối trên thế giới là: Trung Quốc với 2 đầu cầu Bắc Kinh và Thượng Hải, Tokyo (Nhật Bản), Hàn Quốc, Philipin, SriLanka và Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam). Tại hội thảo, ông Arvind Gupta – Chuyên gia tài chính hàng đầu – Học viện Ngân hàng Thế giới đã trình bày về vấn đề: Điều tiết và phi điều tiết hệ thống tài chính Những tác động, cải cách và hợp tác. Ông nhấn mạnh vào nội dung khủng hoảng tài chính và việc điều tiết với tác động và vai trò của việc điều tiết thận trọng tài chính. Việc nhà nước dần dần chuyển từ kiểm soát sang điều tiết thận trọng tài chính là bước đầu của quá trình tự do hoá tài chính. Tự do hóa tài chính là một xu thế tất yếu, là một quá trình bắt buộc sẽ phải diễn ra trên đà tiến triển của nền kinh tế toàn cầu. Rất nhiều các nghiên cứu và thực tiễn của các quốc gia trong mấy thập niên gần đây, đã chứng minh được những lợi ích, sự cần thiết của tự do hóa tài chính. Tuy nhiên, thực tế lại đặt ra một vấn đề là không phải quốc gia nào cũng có thể thực hiện tự do tài chính được ngay. Quá trình tự do hóa vội vàng đã để lại hậu quả nghiêm trọng như là: nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ Latinh vào năm 1980, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và cuộc khủng hoảng gần đây nhất bắt nguồn từ sự đổ vỡ của hệ thống tài chính Mỹ năm 2008… Nhận thức được điều đó nhiều quan điểm đã nổi lên ủng hộ việc tự do hóa tài chính phải diễn ra từ từ và từng bước một. Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rằng tự do hoá tài chính không phải là phi điều tiết, mà chỉ là tìm ra sự phối hợp hiệu quả giữa nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội.Từ thập niên 70 trở lại đây, các nước công nghiệp đẩy mạnh chính sách tự do hoá tài chính gắn với bối cảnh toàn cầu hoá. Cho đến thập niên 90, các nền kinh tế đang chuyển đổi cũng bị cuốn vào vòng xoáy tự do hoá tài chính và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật. Việc tự do hóa tài chính là điều chúng ta sẽ phải thực hiện khi chúng ta là một thành viên của ASEAN (1995), APEC (1998), khi chúng ta ký Hiệp định thương mại Việt Mỹ. Đặc biệt hơn nữa, Việt Nam cũng đã gia nhập WTO vào năm 2007. Vậy nhà nước ta đã và sẽ có những chính sách điều tiết tài chính như thế nào để chúng ta có thể tận dụng được những lợi ích tự do hóa tài chính và hạn chế được mức tối đa mặt trái của nó đối với nền kinh tế. Chính bởi những lý do trên, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nhà nước chuyển từ kiểm soát sang điều tiết thận trọng tài chính”.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Nguyễn Thị Hường Dương Hồng Anh Nguyễn Mai Hiền
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC HÌNH ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Tài chính, hệ thống tài chính, vai trò của nhà nước đối với hệ thống tài chính ……… 3
1.1.2 Kiểm soát tài chính 7
1.1.3 Bản chất của điều tiết thận trọng tài chính, khái niệm tự do hoá tài chính ……… 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Nguyên nhân tác động 12
1.2.2 Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành tự do hoá tài chính 14
1.2.3 Nhà nước chuyển từ kiểm soát sang điều tiết thận trọng tài chính là một tất yếu khách quan 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN TỪ ĐIỀU TIẾT SANG THẬN TRỌNG TÀI CHÍNH 17
2.1 Trình tự tự do hóa tài chính 17
2.2 Thực trạng tiến hành tự do hóa ở các nước trên thế giới 19
2.3 Tác động 23
2.3.1 Những mặt lợi 23
2.3.2 Những mặt trái 25
CHƯƠNG 3: TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 26
3.1 Thực trạng tự do hoá tài chính ở Việt Nam 26
3.2 Hạn chế 32
3.3 Giải pháp 36
KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 3BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
1 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
2 APEC Asia – Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
3 ASEAN Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
5 G7 Group of Seven
Nhóm 7 nước (Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh
và Hoa Kỳ)
6 GATS General Agreement on Trade in Services Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
7 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm
16 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, tự do hoá tài chính là một tất yếu khách quan vì
nó tự sẽ đem lại những lợi ích và tiềm năng to lớn cho một quốc gia Nó trở thành sân chơi cho các tổ chức tài chính được vận hành một cách hiệu quả theo đúng bản chất của một cơ chế thị trường tạo một môi trường minh bạch, linh hoạt cho hệ thống tài chính, thu hút đầu tư và tạo đà phát triển cho nền kinh tế
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhà nước can thiệp toàn diện vào mọi ngànhkinh tế, thấm sâu mọi khâu của quá trình tái sản xuất bao trùm các hoạt động kinh
tế trong và ngoài nước Đặc biệt, nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong hệ thốngtài chính của một quốc gia với mô hình kiểm soát tài chính chặt chẽ Tuy nhiên sau
đó, quá trình kiểm soát tài chính nặng nề đã khiến cho nền kinh tế của các quốc gia chịu tổn thương rất lớn Vấn đề đặt ra là các quốc gia phải thay đổi chiến lược để cómột hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả hơn, phù hợp hơn đặc biệt là trong quá trình hội nhập toàn cầu diễn ra ngày càng mạnh mẽ
Sáng ngày 16 tháng 6 năm 2009 - sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008, tại Hà Nội, Trường Bồi dưỡng cán bộ Tài chính của Bộ Tài chính phối hợp với Trung tâm Tài chính và Phát triển châu Á – Thái Bình Dương thuộc Bộ Tài chính Trung Quốc đã tổ chức Hội thảo quốc tế qua cầu truyền hình với chủ đề
“Điều tiết và phi điều tiết trong hệ thống tài chính: Vai trò trong bối cảnh khủng hoảng” với 8 điểm nối trên thế giới là: Trung Quốc với 2 đầu cầu Bắc Kinh và Thượng Hải, Tokyo (Nhật Bản), Hàn Quốc, Philipin, SriLanka và Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) Tại hội thảo, ông Arvind Gupta – Chuyên gia tài chính hàng đầu – Học viện Ngân hàng Thế giới đã trình bày về vấn đề: Điều tiết và phi điều tiết hệ thống tài chính - Những tác động, cải cách và hợp tác Ông nhấn mạnh vào nội dung khủng hoảng tài chính và việc điều tiết với tác động và vai trò của việc điều tiết thận trọng tài chính
Trang 6Việc nhà nước dần dần chuyển từ kiểm soát sang điều tiết thận trọng tài chính
là bước đầu của quá trình tự do hoá tài chính Tự do hóa tài chính là một xu thế tất yếu, là một quá trình bắt buộc sẽ phải diễn ra trên đà tiến triển của nền kinh tế toàn cầu Rất nhiều các nghiên cứu và thực tiễn của các quốc gia trong mấy thập niên gần đây, đã chứng minh được những lợi ích, sự cần thiết của tự do hóa tài chính Tuy nhiên, thực tế lại đặt ra một vấn đề là không phải quốc gia nào cũng có thể thực hiện tự do tài chính được ngay Quá trình tự do hóa vội vàng đã để lại hậu quả nghiêm trọng như là: nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ Latinhvào năm 1980, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và cuộc khủng hoảng gần đây nhất bắt nguồn từ sự đổ vỡ của hệ thống tài chính Mỹ năm 2008… Nhận thức được điều đó nhiều quan điểm đã nổi lên ủng hộ việc tự do hóa tài chínhphải diễn ra từ từ và từng bước một Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rằng tự do hoá tài chính không phải là phi điều tiết, mà chỉ là tìm ra sự phối hợp hiệu quả giữa nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế - xã hội.Từ thập niên 70 trở lại đây, các nước công nghiệp đẩy mạnh chính sách tự do hoá tài chính gắn với bối cảnh toàn cầu hoá Cho đến thập niên 90, các nền kinh tế đang chuyển đổi cũng bị cuốn vào vòng xoáy tự do hoá tài chính và Việt Nam cũngkhông nằm ngoài quy luật Việc tự do hóa tài chính là điều chúng ta sẽ phải thực hiện khi chúng ta là một thành viên của ASEAN (1995), APEC (1998), khi chúng ta
ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ Đặc biệt hơn nữa, Việt Nam cũng đã gia nhập WTO vào năm 2007 Vậy nhà nước ta đã và sẽ có những chính sách điều tiết tài chính như thế nào để chúng ta có thể tận dụng được những lợi ích tự do hóa tài chính và hạn chế được mức tối đa mặt trái của nó đối với nền kinh tế Chính bởi
những lý do trên, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nhà nước chuyển tư kiểm
soát sang điều tiết thận trọng tài chính”.
Trang 7CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Xét về bản chất bên trong của tài chính: Tài chính là tổng thể các mối quan
hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế
Quỹ tiền tệ là một lượng nhất định các nguồn tài chính huy động được để sử dụng cho mục đích nhất định của chủ thể Quỹ tiền tệ có tính sở hữu, tính mục đích
và tính vận động thường xuyên liên tục
Hệ thống tài chính
Do chuyên đề của nhóm tập trung vào quá trình nhà nước chuyển từ kiểm soát sang thận trọng tài chính và tác động của nó nên trong phần này, chuyên đề chỉnêu tổng quan về hệ thống tài chính
- Khái niệm:
Hệ thống tài chính (Financial System) là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế – xã hội hoạt động trong lĩnh vực đó
Một số khái niệm khác về hệ thống tài chính
Trang 8Theo Mankiw: Hệ thống tài chính bao gồm những tổ chức (định chế) tài chính trong nền kinh tế giúp cho tiết kiệm người này khớp với đầu tư của người khác.
Theo ngân hàng thế giới (WB): Hệ thống tài chính bao gồm nhiều tổ chức, công cụ và thị trường tài chính
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Hệ thống tài chính gồm các chủ thể tài chính và thị trường tương tác qua lại với nhau nhằm mục đích huy động vốn cho đầu tư và cung cấp phương tiện thanh toán cho hoạt động thương mại
- Cấu trúc hệ thống tài chính:
Cấu trúc của hệ thống tài chính bao gồm các tụ điểm vốn và các bộ phận dẫn vốn: Tài chính doanh nghiệp, Ngân sách nhà nước, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian, tài chính dân cư
Hình 1.1: Cấu trúc hệ thống tài chính Nguồn: http://quantri.vn
- Vai trò của hệ thống tài chính
Sàng lọc, chuyển giao, phân tán rủi ro và chuyển hóa thời hạn
Trang 9Với chức năng chuyển hóa thời hạn, các tổ chức như ngân hàng có thể tao điều kiện cho phép người tiết kiệm trong ngắn hạn giảm bớt rủi ro và người đầu tư huy động được vốn dài hạn cho các dự án Ngoài ra chúng ta thấy rằng người tiết kiệm rất ngần ngại khi cho vay trực tiếp hoặc tham gia cổ phần vào các dự án đầu
tư vì trước tiên họ không tin tưởng khi cho vay trực tiếp và do họ không có nhiều hiểu biết cũng như kinh nghiệm về tài chính và pháp lý để bảo vệ cho khoản tiết kiệm của mình Bởi vậy, họ sẽ tìm đến trung gian tài chính mà họ tin cậy và có uy tín để gửi tài sản của mình Các tổ chức này lại cung cấp tài chính cho rất nhiều nhàđầu tư Thông qua việc sử dụng hình thức bảo lãnh đảm bảo các rủi ro đầu tư có thểđược phân bổ giữa tổ chức trung gian và người đầu tư theo nhiều cách khác nhau,
đa dạng hóa được rủi ro Với việc huy động tiết kiệm tăng đầu tư sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế
Làm cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư
Việc chuyển dịch tiết kiệm sang người đầu tư có thể thực hiện trực tiếp thôngqua hình thức cho vay cá nhân hoặc giữ cổ phần trong dự án của nhà đầu tư hoặc cóthể thực hiện thông qua một tổ chức trung gian tài chính Để tổ chức trung gian tài chính này hoạt động hiệu quả thì tổ chức này cần phải: khuyến khích tiết kiệm, tăngmức đầu tư và tăng hiệu quả của đầu tư Người tiết kiệm sẽ tham gia đầu tư tài chính và việc tham gia vào đầu tư tài chính sẽ đem lại cho họ một mức sinh lời tốt hơn Do vậy, những người có nhu cầu đầu tư sẽ có khả năng tiếp cận với nguồn vốn
dễ dàng hơn Mặt khác, sự phát triển của thị trường và các công cụ tiền tệ và tài chính sẽ có tác động hướng tiền vốn vào các khoản đầu tư có lợi hơn Do đó, ta thấy rõ ràng sự phát triển của các công cụ, tổ chức và thị trường tài chính đã tạo ra những cơ hội và động cơ khuyến khích mới cho người tiết kiệm thực hiện tiết kiệm
và người đầu tư thực hiện đầu tư Đồng thời với sự phát triển của tổ chức trung giantài chính tạo nên sự chuyên môn hóa của thị trường vốn để phân bổ nguồn vốn cho các nhà đầu tư vào các dự án đầu tư được coi là tốt nhất Chức năng phân bổ này
Trang 10của tổ chức trung gian tài chính sẽ dẫn đến sự cải thiện chung về hiệu quả đầu tư, vìvậy dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhanh hơn Do vậy có thể nói rằng phát triển tài chính là cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hình 1.2 Sơ đồ dẫn chuyển vốn của HTTC Nguồn: http://voer.edu.vn/
Vai trò của nhà nước đối với hệ thống tài chính
Thế kỉ XX, nhân loại đã chứng kiến cuộc đua tranh giữa hai hệ thống kinh tế đối lập nhau:
+ Nền kinh tế chỉ huy chịu sự kiểm soát của Nhà nước
+ Nền kinh tế thị trường dựa vào thành phần kinh tế tư nhân
Đó là hai giải pháp vĩ mô trái ngược nhau, đến cuối thế kỉ XX, mô hình kinh
tế chỉ huy đã thất bại trong việc duy trì sự tăng trưởng, phát triển và nâng cao đời sống nhân dân Trong khi đó, nền kinh tế thị trường lại chứng minh sự thành công trong nhiều nước trên thế giới từ Tây Âu đến Bắc Mĩ và cả Châu Á, trong đó có Việt Nam Vậy thì câu hỏi đặt ra là: Nếu nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả thì tại sao Nhà nước vẫn phải can thiệp vào các hoạt động của nó? Tại sao Nhà
Trang 11nước không để cho các tư nhân được hoàn toàn tự do kinh doanh? Câu trả lời cho vấn đề này là Nhà nước có thể tác động một cách hiệu quả đến mọi hoat động của nền kinh tế thị trường:
Thứ nhất, do bản thân các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị
trường, một mình doanh nghiệp không thể tự giải quyết được nhiều vấn đề nảy sinh
do vậy cần nhà nước tác động vào nhằm điều chỉnh, giải quyết những ách tắc, trở ngại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: về hợp đồng và giải quyết các hợp đồng, khung pháp lý tạo môi trường thuận lợi và hành lang pháp luật an toàn để các doanh nghiệp hoạt động canh tranh một cách lành mạnh
Thứ hai, quản lý nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường là cần thiết
nhằm ngăn ngừa những hạn chế những khuyết tật của thị trường như: môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, thông tin không đầy đủ, lạm phát thất nghiệp khủng hoảng kinh tế, hủy hoại môi trường sinh thái, mất ổn định và nhiều vấn đề kinh tế xã hội khác
Vai trò của Nhà nước đối với hệ thống tài chính:
+ Bảo đảm việc cung cấp đầy đủ kịp thời thông tin cho các nhà đầu tư
+ Tăng tính minh bạch của hệ thống tài chính
+ Bảo đảm sự lành mạnh và an toàn của hệ thống tài chính
1.1.2 Kiểm soát tài chính
Kiểm soát tài chính (Financial Repression) hay còn gọi là áp chế tài chính là khái niệm dùng để chỉ sự can thiệp của Nhà nước vào hệ thống tài chính nhằm mụcđích duy trì sự ổn định tài chính, bảo vệ công chúng khỏi những tổn thất bất ngờ vàgiúp phân bổ của cải công bằng hơn trong xã hội Nói cách khác, là tình trạng các nước không có thị trường vốn tự do chịu sự kiểm soát của Nhà nước về lãi suất đặc biệt là những kiểm soát đưa đến kết quả lãi suất tiền gửi thực âm
Nhà nước can thiệp vào hệ thống tài chính bằng các biện pháp như:
Trang 12+ Khống chế lãi suất tiền gửi và tiền vay
+ Yêu cầu dự trữ bắt buộc cao đối với các ngân hàng
+ Sở hữu hoặc can thiệp sâu vào ngân hàng
+ Hạn chế sự tham gia của các định chế tài chính vào thị trường tài chính+ Hạn chế các luồng vốn vào và ra khỏi nền kinh tế nhằm điều tiết các khoảnđầu tư vốn trong nền kinh tế phù hợp với các chính sách phát triển kinh tế của chính phủ
Thông thường, do chính phủ đề ra những kiểm soát này làm cho mức lãi suấtthực tế bị bóp méo khác với mức lãi suất cân bằng trong một thị trường tiền tệ cạnhtranh Sự áp chế đó được mở rộng liên quan đến những hạn định của chính phủ nhằm kìm hãm sự phát triển của các tổ chức và công cụ tài chính dẫn đến một thị trường tài chính không đầy đủ và phân tán
Qua nghiên cứu cũng như thực tế của rất nhiều nước thực hiện chính sách áp chế tài chính đã đúc kết lại tác hại của việc kiểm soát như sau:
Các kiểm soát lãi suất ngặt nghèo, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao tương tác với lạm phát và thường làm cho lãi suất tiền gửi thường vào mức âm, từ đó cản trở sự phát triển của hệ thống tài chính theo chiều sâu
Lãi suất thấp không làm tăng được vốn đầu tư như dự kiến vì khả năng huy động tiết kiệm bị hạn chế
Đầu tư của cả hộ gia đình và doanh nghiệp được tập trung nhiều vào các tài sản có giá trị không bị tác động bởi lạm phát
Do vay vốn trong hệ thống tài chính chính thức bị giảm, các nhà đầu
tư phải dựa nhiều hơn vào vốn tự có
Việc dựa vào vốn tự có làm cho tài sản nợ của các doanh nghiệp có tính thanh khoản rất thấp
Hoạt động đầu tư của các quỹ đầu tư và công ty bảo hiểm bị hạn chế khi tiền tệ bất ổn định và tài sản chính không có tính thanh khoản
Trang 13 Hoạt động phân bổ tín dụng theo chỉ định kèm với những ưu đãi khác nhau về lãi suất tạo ra những khác biệt lớn về lãi suất giữa đối tượng được ưu tiên và không được ưu tiên.
1.1.3 Bản chất của điều tiết thận trọng tài chính, khái niệm tự do hoá tài
chính
Điều tiết thận trọng tài chính
Nguyên nhân sâu xa của việc tăng cường vai trò của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng bắt nguồn từ sự phát triển nhanh chóng của lực lương sản xuất dưới tác động của các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ khiến trình độ xã hội hoá tăng lên một cách mạnh mẽ, làm chođộc quyền tư nhân không thể thích ứng nổi Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại (cách mạng khoa học kỹ thuật lần 2) diễn ra vào những năm 40 của thế kỉ
XX đã làm xuất hiện nhiều ngành mới như: điện tử, năng lượng, hàng không vũ trụ,
… Phát triển những ngành này yêu cầu phải có một nguồn vốn rất lớn, cơ sở hạ tầng hiện đại, đội ngũ những người lao động lành nghề có tri thức, những điều này bản thân các nhà tư bản không thể tự giải quyết hết được Mặt khác, sự ra đời của các ngành sản xuất mới đòi hỏi các quốc gia phải có chiến lược kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ để định hướng cho sự phát triển, đồng thời nó còn đòi hỏi nhứng khoản đầu tư lớn cho việc nghiên cứu và phát triển, đào tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng mới Những việc này chỉ có nhà nước mới giải quyết nổi Quá trình quốc tế hoá sản xuất và lưu thông được đẩy mạnh, sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng đã làm nảy sinh mâu thuẫn mới mang tính quốc tế, cần có nhà nước đứng ra điều chỉnh, giải quyết và phối hợp được các hoạt động mang tính quốc tế
Sự chuyển biến nền kinh tế của các nước tư bản từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin đã làm thay căn bản môi trường hoạt động của nhà nước
Sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại cũng đồng
Trang 14thời làm thay đổi, tăng cường vai trò của thị trường đối với nền kinh tế, vai trò của nhà nước cũng có sự khác biệt so với trước đây Nhà nước không còn là người đảm bảo độc nhất nữa mà trở thành người tạo điều kiện và người điều tiết các hoạt động của nhà nước nói chung và lĩnh vực tài chính nói riêng
Một trong những xu hướng biến đổi của chủ nghĩa tư bản hiện đại là nhà nước chuyển từ kiểm soát sang thận trọng tài chính theo hướng do hoá Như vậy, điều tiết thận trọng tài chính là một bước trong quá trình phát triển thị trường tài chính trên cơ sở xoá bỏ những sự kiểm soát và tiến dần đến tự do hoá tài chính
Mục tiêu của sự điều tiết kinh tế là nhằm khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, định hướng cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng trưởng kinh tế, đảm bảo sự tồn tại và phát triển chủ nghĩa tư bản, giải quyết những mâu thuẫn trong quá trình phát triển, thúc đẩy cạnh tranh Còn mục tiêu của sự điều tiết thận trọng tài chính là dự báo tác động điều tiết hệ thống tài chính, nhận biết xu hướng thị trường nhằm giảm rủi ro hệ thống tài chính, ngăn chặn khủng hoảng tài chính bằng sự điều tiết hiệu quả và nhạy bén hơn hướng đến một hệ thống điều tiết tài chính toàn diện không tiếp cận đơn lẻ Điều tiết thận trọng tài chính là một vẫn đề quan trọng bởi lẽ một khu vực tài chính vững vàng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do chuyển các khoản tiết kiệm đầu tư
Công cụ điều tiết tài chính
- Thị trường tiền tệ
- Thị trường vốn
Tự do hoá tài chính
Trong 3 xu hướng tự do cơ bản (tự do hoá giá cả, tự do hoá thương mại và tự
do hoá tài chính) thì tự do hoá tài chính là bước cuối cùng khó khăn nhất, lâu dài nhất và cũng nguy hiểm nhất nếu đứng về khía cạnh rủi ro và các cú sốc đối với nền kinh tế Bên cạnh đó, tự do hoá tài chính còn đặc biệt nhạy cảm với chính trị
Trang 15Hiện nay, IMF cũng như WB đều lấy học thuyết tự do hoá tài chính làm kim chỉ nam đổi mới tài chính trên toàn cầu Họ nhận định rằng “Tự do hoá tài chính là bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược tăng trưởng kinh tế của mỗi nước”.
Tự do hoá tài chính (Financial Liberalization), theo IMF là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là xoá bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống tài chính hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường
Tự do hoá tài chính khác với phi điều tiết Bản chất của tự do hoá tài chính làđưa hoạt động tài chính vận hành theo cơ chế thị trường và chuyển vai trò điều tiết từ nhà nước sang thị trường, chuyển từ quản lý bằng hành chính sang quy luật thị trường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội Do đó, kết quả của tự do hóa tài chính thường được thể hiện bằng tỷ số giữa tiền mở rộng (tiền mặt và tiền gửi trong hệ thống NHTM) trên thu nhập quốc dân Tỷ lệ này ở các nước Châu Á trungbình là 60%, ở Châu Phi là 20%
Tự do hoá tài chính còn được hiểu là quá trình nới lỏng những hạn chế và các quyền tham gia thị trường cho các bên tìm kiếm lợi ích bên trong phạm vi kiểmsoát được của pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau:
Giảm thiểu tối đa việc kiểm soát về giá cả ( trái phiếu, cổ phiếu và các chứng từ thanh toán) và lãi suất trên thị trường tài chính ( thị trường vốn và thị trường tiền tệ)
Xã hội hóa khu vực tài chính và đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong việc cho vay tín dụng
Cho phép sự gia nhập rộng rãi trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, đặc biệt xóa bỏ những trợ cấp cho các tổ chức hoạt động trong thị trườngtài chính
Trang 16Tự do hoá tài chính được phân làm hai cấp độ:
+ Tự do hoá tài chính nội địa: xoá bỏ kiểm soát lãi suất và phân bổ tín dụng, tức là sẽ cho phép các tổ chức tài chính trong nước tự do thực hiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tài chính trong nước được khuyến khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điểu hành theo tín hiệu thị trường
+ Tự do hoá tài chính quốc tế: loại bỏ sự kiểm soát vốn và hạn chế trongquản lý ngoại hối, tức là tự do hoá các giao dịch vãng lai và tự do hoá giao dịch vốn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nguyên nhân tác động
- Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá Xu hướng quốc tế hoá và
toàn cầu hoá mặc dù khuyến khích các quốc gia tự do hoá tài chính để tranh thủ những lợi thế tăng trưởng Mặt khác xu hướng này cũng đặt các nước, đặc biệt các nước đang phát triển trước một thách thức và sức ép rất lớn là phải tiến hành tự do hoá tài chính nếu không muốn bị cô lập
Thứ hai, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 - cuộc khủng hoảng
kinh tế lớn nhất, nặng nề nhất từ trước đến nay sau Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 Một nghiên cứu phân tích về các cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới đã cho thấy 18 trong 25 nghiên cứu của Mĩ đã chỉ ra rằng cuộc khủng hoảng diễn ra sau sự việc tiến hành tự do hoá tài chính 5 năm, tuy nhiên nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng không phải là do việc mở tự do tài chính Theo các nhà nghiên cứu, những cải cách tài chính theo hướng tự do, mở cửa thực chất chỉ góp phần phơi bày những điểm yếu của hệ thống tài chính nội địa trước những điều kiện của hệ thống tài chính quốc tế Họ cũng đã xác định nguyên nhân của
Trang 17cuộc khủng hoảng là sự không ổn định có tính vĩ mô như sự thất thường của hoạt động thương mại, tính áp đặt trong chính sách tỷ giá và lãi suất, sự bùng nổ của hoạt động cho vay, sự sụt giá tài sản, sự du nhập vốn một cách ồ ạt, sự chuẩn bị chưa kỹ để tiến hành mở cửa và sự không tuân thủ tính logic – trình tự tự do hoá tàichính, nói cách khác các nước đã quá nôn nóng trong việc tiến hành tự do hoá tài chính.
Ông George Soros là Chủ tịch Ban quản lý Quỹ Soros và người sáng lập Viện Xã hội mở, trong cuốn sách “Mô hình mới cho các thị trường tài chính: Cuộc khủng hoảng năm 2008 và ý nghĩa của nó” được xuất bản năm 2008 đã nhận định rằng: cuộc khủng hoảng tài chính này cũng là cơ hội để các quốc gia củng cố lại hệ thống tài chính của mình Khi có một hệ thống tài chính đúng nghĩa, phân bổ vốn một cách hiệu quả thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng lành mạnh và phát triển bền vững
Thứ ba, khuyết tật của mô hình cũ - kiểm soát tài chính không hiệu quả
Kiềm chế tài chính là một cơ chế tài chính được đặc trưng bởi sự can thiệp quá mứccủa Nhà nước vào các hoạt động và các quá trình tài chính Năm 1986, Pakistan, 70% những khoản cho vay mới là của ngân hàng quốc gia, và các ngân hàng chiếm
ưu thế trong thế giới ngân hàng tại Braxin Năm 1987, chương trình tín dụng Chínhphủ chiếm hơn 70% dự nợ tín dụng cho khu vực kinh tế công cộng và tư nhân Nhưở Nicaragua việc trợ cấp tín dụng trực tiếp ngoài việc choán mất chỗ của các dự án đem lại mức hoàn vốn có tiềm năng cao và kích thích sự bành trướng quan liêu của các tổ chức thu nhập tín dụng khác nhau, còn mang lại nhiều hậu quả khác cho nền kinh tế như vấn đề đầu tư không thu lại hiệu quả, nhu cầu tín dụng sẽ luôn luôn vượt trội nếu người ta không phải trả lại hoặc nếu lãi suất cho vay thực là âm Các khoản trợ cấp tín dụng vượt quá cho các ngành nông nghiệp và một phần cho ngànhcông nghiệp đã duy trì rất nhiều hãng và trang trại không có hiệu quả vẫn tiếp tục tồn tại Thậm chí sự phát triển của các xí nghiệp có hiệu quả tiềm tàng lại bị cản trở
Trang 18nghiêm trọng vì tất cả các trang trại đã bóp méo bản chất hoạt động của mình nhằmmục tiêu kiếm được các khoản trợ cấp tín dụng Điều này đã làm cho thâm hụt ngânsách tăng vì phải bù lỗ, tổng thu nhập quốc dân giảm, xuất khẩu giảm, lạm phát tăng.
Chính những đặc trưng trên đã làm cho môi trường cạnh tranh không bình đẳng Nó không kích thích được sự tự do cạnh tranh lành mạnh, bỏ qua sự điều chỉnh của các quy luật cung cầu, quy luật kinh tế
- Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, dường như tất cả các nước đều công nhận những lợi ích tuyệt đối
của tự do hoá tài chính so với kiểm soát tài chính Thông qua phân tích những hậu quả của cơ chế kiểm soát tài chính, đồng thời nêu ra những ưu thế tuyệt đối của cơ chế tự do hoá tài chính, nghiên cứu của Mc Kinnon và E.Shaw năm 1973 đã đặt nền tảng cho xu hướng tự do hoá tài chính được nhiều nước theo đuổi
Thứ hai, các biện pháp của chính sách tiền tệ được hầu hết các nước áp dụng
chủ yếu là công cụ gián tiếp Đó chính là một phần rất quan tọng trong xu hướng rất quan trọng đang chi phối đổi mới chính sách tài chính - tiền tệ hiện nay trên thế giới là tự do hoá tài chính
1.2.2 Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành tự do hoá tài chính
Kể từ đầu thập niên 70, nhiều quốc gia đã chuyển sang chính sách tự do hóa tài chính, bắt đầu là từ các nước công nghiệp phát triển, sau đó lan dần sang các nước đang phát triển
Năm 2001, Kaminsky và Schmukler nghiên cứu tiến trình tự do hoá tài chính đã có kết luận:
+ Tiến trình có diễn ra chậm nhưng vẫn tiếp tục trên toàn cầu
+ Các nước G7 tiến trình tự do hoá tài chính diễn ra nhanh
Trang 19+ Các nền kinh tế mới nổi Châu Á, nhất là Đông Á tự do hoá tài chính sau năm 1972.
+ Các nền kinh tế mới nổi Mỹ La tinh, tiến trình tự do hoá diễn ra không bằng phẳng
+ Các nước Nam Mỹ thực hiện tự do hoá rất nhanh Sau khủng hoảng nợ năm
1982, tự do hoá tài chính không chú trọng, nhưng đến năm 1989 – 1992, các nước này đẩy mạnh tiến trình tự do hoá tài chính đúng nghĩa
Đúng vậy, quá trình tự do hóa ở các nước là khác nhau về thời điểm cải cách, quy trình và hoàn cảnh phụ thuộc vào tình hình tài chính quốc gia đó Tuy nhiên ở một chừng mực nào đó, việc tham khảo kinh nghiệm và những bài học thực tế về việc mở của thị trường ở một số nước là cần thiết cho các nước đi sau
1.2.3 Nhà nước chuyển từ kiểm soát sang điều tiết thận trọng tài chính là một
tất yếu khách quan
Những xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay đã cho thấy: thứ nhất, bắt đầu từ những năm 1980, các nước phương Tây lần lượt bắt tay thực hiện tư nhân hóa các xí nghiệp quốc doanh Thứ hai nhà nước chuyển từ kiểm soát sang thận trọng trong lĩnh vực tài chính theo hướng tự do hóa Thứ ba, điều tiết mở rộng cạnh tranh các ngành dịch vụ công cộng Thứ tư, cải cách cơ chế và thay đổi
mô hình kinh tế Thứ năm, tiến hành cải cách thể chế kinh tế, nhà nước thực hiện điều tiết lĩnh vực xã hội thông qua việc bù đắp tổn thất về thu nhập và mở rộng phúc lợi xã hội
Từ những nội dung ở trên, ta thấy rằng tự do hóa tài chính là xu thế tất yếu hội nhập kinh tế quốc tế bởi những tiềm năng to lớn của nó mang lại cho lợi ích quốc gia Nhờ tự do hoá tài chính, nhiều nước đang phát triển đã thu hút được lượng vốn đầu tư rất lớn và tiếp nhận nền tảng công nghệ hiện đại từ các nước côngnghiệp phát triển để mở rộng sản xuất kinh doanh và thúc đẩy xuất khẩu Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình tự do hóa tài chính nếu thực hiện một cách nôn nóng,
Trang 20sai trình tự hoặc thiếu đồng thời các biện pháp quản lý đồng bộ ở cấp quốc gia và quốc tế đem lại nhiều hậu quả tiêu cực: lạm phát phi mã, phá sản hàng loạt, thất nghiệp gia tăng và việc tái thiết lập hệ thống áp chế tài chính Nó gây nên tình trạngmỏng manh về tài chính mà các quốc gia đang phát triển và phát triển trong những năm 80 và 90 đều trải qua Cụ thể thời điểm đó, khu vực ngân hàng trên toàn thế giới đã bị trấn động bởi các trục trặc nghiêm trọng, một số đã chuyển thành những cuộc khủng hoảng tài chính mang tính hệ thống Ví dụ, tại Chile năm 1981 các trục trặc trong hệ thống ngân hàng đã nổi lên ngay sau khi chính phủ bãi bỏ các quy định về kiểm soát khu vực tài chính Từ đó thấy rằng người ta cần phải cân nhắc giữa lợi ích của tự do hóa tài chính và cái giá phải trả của tình trạng mỏng manh về tài chính gia tăng Những mặt trái của việc mở cửa thị trường tài chính có thể được khống chế hoặc hạn chế ở mức thấp nhất nếu năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính nội địa được cải thiện đáng kể trước khi tiến hành mở cửa Khả năng đó là hiện thực nếu nó được trợ giúp bởi một chế độ giám sát kiểm tra thận trọng có hiệu quả và một trình tự mở cửa hợp lý Và nhiều quan điểm đã nổi lên trong các cuộc tranh luận chính sách đã đưa ra việc ủng hộ cho một mức kiểm soát nhất định về tàichính thay vì tự do hóa vội vã tại các quốc gia đang phát triển Vì vậy, quá trình thực hiện trình tự từng bước để tự do hóa tài chính, dần dần giảm bớt sự kiểm soát tài chính của nhà nước là chính sách thực hiện thận trọng tài chính.
Tự do hoá tài chính như đã trình bày ở trên, không phải là một quá trình dễ dàng, thể hiện bằng việc nhiều quốc gia gặp phải những khó khăn khác nhau khi tiếp cận tự do hóa tài chính Vì thế, các nhà hoạch định và thực thi chính sách ở cácquốc gia đang và sẽ tiến hành tự do hóa tài chính cần xác định và đánh giá kỹ những vấn đề của quá trình tự do hóa mà các quốc gia đi trước đã và đang gặp phải,nhằm có những cải cách phù hợp, tránh được những khó khăn của tiến trình tự do hóa tài chính
Để thực hiện tự do hoá tài chính, các nước cần có:
Trang 21Bỏ tín dụng chỉ định
Giảm
dự trữ
bắt buộc
Bỏ kiểm soát lãi suất
Đa dạng hoá sở
hữu
Tăng cạnh tranh
Cải cách thương mại
Quản lý tỷ giá hối đoái
- Môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh
- Cơ chế thị trường được vận hành tốt
- Năng lực quản lý vĩ mô của chính phủ
- Năng lực, sự phát triển của các định chế tham gia thị trường
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN TỪ ĐIỀU TIẾT SANG THẬN
TRỌNG TÀI CHÍNH
2.1 Trình tự tự do hóa tài chính
Thực tế quá trình tự do hoá tài chính trên thế giới cho thấy không có trình tự
tự do hoá tài chính chung nào cho tất cả các nước Các quốc gia khác nhau thì tiến hành tự do hoá tài chính theo những cách hoàn toàn khác nhau Tuy nhiên, theo McKinnon (1982) lập luận thì tự do hoá tài chính nói riêng và tự do hoá kinh tế nói chung phải được tiến hành theo trình tự Lý thuyết “Second Best” (chính sách tốt nhất thứ hai) được áp dụng Mô hình của Mc Kinnon và E.Shaw được các nhà kinh
tế chấp nhận (mô hình trên)
Theo mô hình trên, giảm thâm hụt ngân sách là bước đi đầu tiên Sự thâm hụtquá lớn trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển thường dẫn đến việc Ngân hàng trung ương phát hành nội tệ quá mức gây ra lạm phát cho nền kinh tế Thâm hụt tài chính ảnh hưởng xấu đến quá trình tự do hoá tài chính
Bước đi thứ hai là việc mở cửa thị trường vốn trong nước sao cho người gửi nhận được lãi suất thực dương (đo là việc tự do hoá lãi suất) Việc vay và cho vay không hạn chế giữa các doanh nghiệp và hộ gia đình chỉ có thể diễn ra thuận lợi khimức giá cả được ổn định và các thâm hụt tài chính được loại trừ
Trang 22Song song với tự do hoá lãi suất là tự do hoá hoạt động của các ngân hàng vàviệc phân bổ các nguồn tín dụng sua khi các ngân hàng đã quen với cách thức hoạt động độc lập theo cơ chế thị trường, bước tiêp theo là mở rộng sự tham gia của các trung gian tài chính mới, cho phép các tổ chức tài chính nước ngoài hoạt động Tuy nhiên, quy chế này cũng phải đước nới lỏng dần dần, nếu như hệ thống tài chính được nới lỏng hoàn toàn và bất ngờ thì các tổ chức mới tham gia sẽ mời chào lãi suất cao hơn các lãi suất mà các tổ chức tài chính hiện có đang trả nhằm tranh giành tiền gửi và do vậy buộc các ngân hàng đang hoạt động phải trả lãi suất thị trường đối với tất cả các khoản tiền gửi (cũ lẫn mới) mặc dù lẽ ra lãi suất đó chỉ đáng trả cho các khoản vay mới Kết quả là các ngân hàng này phải chịu lỗ về vốn đáng kể Khi các khoản vay này quá lớn so với giá trị tài sản của ngân hàng thì điềunày có thể dẫn đến phá sản.
Bước cuối cùng trong mô hình trên khi thị trường vốn trong nước tự do hoá hoàn toàn tức là việc vay và cho vay trong nước diễn ra tự do theo lãi suất cân bằng
và tỉ lệ lạm phát trong nước được kiềm chế đến mức việc phá giá đồng tiền theo tỉ giá hối đoái hiện hành không còn cần thiết thì mới tiến hành tự do hoá tài khoản vốn: cho phép các doanh nghiệp, hộ gia đình vay hoặc gửi tiền tự do trên các thị trường vốn quốc tế, cho phép mua bán chứng khoán để huy động vốn tự do, và cuốicùng là chuyển đổi ngoại tệ tự do trên tài khoản vốn
2.2 Thực trạng tiến hành tự do hóa ở các nước trên thế giới
Từ tiến trình đó, ta cùng xem các nước trên thế giới đã tiến hành tự do hóa như thế nào, và liệu có phải các nước đều tiến hành thuận lợi hay không?
Các nước phát triển
Đối với các nước phát triển thì quá trình tự do hóa tiến ra khá nhanh và dễ dàng Đa số các nền kinh tế phát triển nhất thế giới như Mỹ, Anh, Đức đã đạt được sự tự do hóa tài chính đáng kể ngay từ những năm đầu thập niên 1970, với quá trình tự do hóa tài chính diễn ra tương đối nhanh và khá dễ dàng Những nền
Trang 23kinh tế phát triển thực hiện tự do hóa tài chính muộn hơn là Australia, Pháp, Nhật Bản và Niu Dilan Australia và Niu Dilan tiến hành loại bỏ các biện pháp áp chế tài chính rất nhanh chóng chỉ trong vài năm của thập niên 1980 Các biện pháp kiểm soát tín dụng ngân hàng được bãi bỏ năm 1982, trong khi kiểm soát lãi suất được
dỡ bỏ hoàn toàn năm 1987 Niu Dilan tiến hành tự do hóa lãi suất và phân bổ tín dụng ngân hàng chỉ trong vòng hai năm 1984- 1985 Pháp và Nhật tiến hành tự do hóa còn chậm hơn nữa Chính phủ Nhật đã bắt đầu nới lỏng kiểm soát lãi suất từ năm 1979, nhưng cho đến giữa thập niên 1990 thì lãi suất mới được tự do hóa hoàn toàn, kiểm soát tín dụng cũng bị áp đặt cho đến năm 1991 mới được bãi bỏ Pháp bắt đầu bỏ tín dụng chỉ định một cách từ từ trong thập niên 1980, chuyển đổi thành hình thức những khoản cho vay có lãi suất ưu đãi, rồi dần dần mới bãi bỏ hình thức cho vay kiểu này
Tiến trình tự do hóa tài chính ở các nước Đông Á
Các nước Đông Á, diễn ra có phần chắc chắn và chậm rãi Các nền kinh tế trong khu vực Đông Á mở cửa lĩnh vực tài chính một cách thận trọng, từng bước một trong giai đoạn đầu thập niên 1980 Quá trình này kéo dài cho đến tận những năm đầu thập niên 1990 Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là, mặc dù cũng trải qua khủng hoảng tài chính vào cuối thập niên 1990, xu hướng tự do hóa ở khu vực này lại không bị đẩy lùi Các quốc gia trong khu vực này chỉ tiến hành một số điều chỉnh nhỏ mang tính áp chế trong khoảng thời gian ngắn rồi sau đó, quá trình tự do hóa lại tiếp diễn cho đến tận thời điểm hiện tại
Ví dụ như Hàn Quốc: quá trình tự do hóa thành công khá ngoạn mục Hàn Quốc tiến hành tự do hóa từ những năm 80 Tuy nhiên nó cũng gặp phải những khókhăn như luồng tài chính ngắn hạn chảy vào nhiều năm 1966 dẫn đến một sự bất ổnđịnh và gây lạm phát.Chương trình cải cách của Hàn Quốc bao gồm cải cách
thương mại và cơ chế tỷ giá với thay đổi lớn trong hệ thống ngân sách Cơ chế lãi suất được điều chỉnh tăng tới lãi suất thực dương Kết quả là giá cả trong nước ổn định, nền kinh tế có được sự khởi đầu trên con đường phát triển bền vững