Đồng thời, việc nghiên cứu thực tiễn theo dõi thi hành phápluật giúp Nhà nước làm rõ thực trạng các hoạt động theo dõi thi hành pháp cụ thểtrong đời sống xã hội từ đó có giải pháp hoàn t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NAM TRUNG
THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 93 80 102
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Minh Đoan
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnghiên cứu trong luận án là trung thực, không sao chép, trùng lắp với bất kỳ côngtrình nào đã công bố, các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõràng, tài liệu tham khảo của các tác giả khác đều được chỉ dẫn nguồn theo quy định
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Nam Trung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu về theo dõi thi hành pháp luật 30
1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu và câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu 34
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT 38
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của theo dõi thi hành pháp luật 38
2.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp theo dõi thi hành pháp luật 54
2.3 Điều chỉnh pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật 65
2.4 Các yếu tố tác động đến theo dõi thi hành pháp luật 75
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT TẠI TỈNH GIA LAI 82
3.1 Thực trạng các yếu tố tác động đến theo dõi thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai 82
3.2 Thực trạng điều chỉnh pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai 90
3.3 Thực trạng chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp theo dõi thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai 100
CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 120
4.1 Quan điểm bảo đảm theo dõi thi hành pháp luật 120
4.2 Giải pháp chung bảo đảm theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam giai đoạn hiện nay 124
4.3 Nhóm giải pháp cụ thể về bảo đảm theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương 139
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chứcNNPQ: Nhà nước pháp quyền
HĐND: Hội đồng nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo dõi thi hành pháp luật là nhu cầu nội thân của các cơ quan quản lý nhànước từ Trung ương đến địa phương, của các chủ thể xã hội khác nhằm xem xét,đánh giá thực trạng thi hành pháp luật, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng caohiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật Hệ thống pháp luậtViệt Nam xuất phát từ đời sống xã hội mà hình thành các quy phạm pháp luật đượccác cơ quan nhà nước ban hành vì mục đích của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhândân nhưng khi quay lại phục vụ dân, phục vụ đời sống xã hội thì nảy sinh tình trạngkhông chấp hành, không tuân thủ, thậm chí cả một cộng đồng dân cư phản đốinhững quy định pháp luật Vấn đề này yêu cầu khoa học pháp lý cần phải nghiêncứu, phân tích để làm rõ vì sao trong thực tiễn việc thi hành pháp luật là không đạtđược mục tiêu pháp luật đặt ra Vì lý do đó, thực tiễn yêu cầu phải có các hoạt độngtheo dõi thi hành pháp luật do Nhà nước, xã hội thực hiện, một mặt đảm bảo quátrình đưa pháp luật vào đời sống xã hội hiệu lực, hiệu quả, mặt khác kịp thời pháthiện hạn chế, bất cập của quá trình này, để từ đó có giải pháp xử lý hoặc hoàn thiện
hệ thống pháp luật, hiện thực hóa pháp luật trong thực tế
Hiện nay, tình trạng thi hành pháp luật của nhà nước không triệt để, xảy ratrên nhiều lĩnh vực làm giảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, gây bức xúctrong xã hội Tình trạng vi phạm pháp luật, tình trạng né tránh pháp luật, lợi dụngpháp luật đang diễn ra phổ biến trong xã hội, lẫn cả trong cơ quan nhà nước, thậmchí trong cả cơ quan bảo vệ pháp luật Tình trạng này đã khiến lòng tin của Nhândân đối với tính thượng tôn của pháp luật, đối với hệ thống cơ quan nhà nước, nhất
là cơ quan quản lý hành chính và cơ quan tư pháp suy giảm Bên cạnh đó, hiệntượng Luật ban hành nhiều nhưng khi triển khai thi hành thì không đảm bảo tínhkhả thi, hiệu lực thấp, đang là thực tiễn đáng lo ngại Thực trạng đó phản ánh sự gắnkết giữa các hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động thông tin pháp luật, hoạt động
áp dụng pháp luật, thi hành pháp luật, hoạt động trong lĩnh vực theo dõi, giám sátpháp lý - xã hội…còn rất nhiều hạn chế
Trải qua 10 năm thực hiện, tính từ thời điểm hoạt động theo dõi thi hànhpháp luật được chính thức hóa tại Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/08/2008của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ
Tư pháp Đến nay, mặc dù hệ thống quy định pháp luật về theo dõi thi hành pháp
Trang 6luật đã dần được hoàn thiện thể hiện ở Thông tư 03/2010/TT-BTP, Nghị định số59/2012/NĐ-CP, Thông tư 14/2014/TT-BTP Tuy nhiên, trên thực tiễn thi hành, các
cơ quan hành chính nhà nước thực hiện theo dõi thi hành pháp luật chưa đạt đượchiệu quả như mong muốn mà pháp luật đặt ra, thậm chí có nơi, có chỗ vẫn chưahoặc không triển khai được một số hoạt động theo dõi thi hành pháp luật vì lý donhư quy định chung chung, không có tiêu chí đánh giá, không phù hợp thực tiễn,không đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật…
Như vậy, việc nghiên cứu theo dõi thi hành pháp luật dựa trên cơ sở khoahọc là yêu cầu cấp thiết hiện nay nhằm góp phần đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả thihành pháp pháp luật Đồng thời, việc nghiên cứu thực tiễn theo dõi thi hành phápluật giúp Nhà nước làm rõ thực trạng các hoạt động theo dõi thi hành pháp cụ thểtrong đời sống xã hội từ đó có giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về theo dõithi hành pháp luật, đảm bảo các hoạt động này giúp Nhà nước, xã hội đánh giá đượcthực trạng thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân và hiện thựchóa Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhândân gắn với sự phát triển xã hội dân chủ
Nghiên cứu theo dõi thi hành pháp luật của Nhà nước từ thực tiễn tỉnh GiaLai, một tỉnh Tây Nguyên có diện tích rộng đứng thứ 2 Việt Nam, với 222 xã trong
đó có 58 xã nghèo, 68 xã đặc biệt khó khăn với 38 cộng đồng dân tộc cùng sinhsống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 45% dân số toàn tỉnh có ý nghĩaquan trọng trong việc tổng kết thực tiễn để hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn việctheo dõi thi hành pháp luật của chính quyền địa phương nói riêng và của Nhà nước,
xã hội nói chung Mặt khác, đặc thù của tỉnh Gia Lai là nơi giao lưu, sinh sống củanhiều tộc người; tiếp giáp với nhiều nước, đa văn hóa, đa sắc tộc, đa dạng về kinh
tế, thu nhập, địa hình lưu trú, và sự tác động, ảnh hưởng qua lại giữa các yếu tố vớinhau nên kết quả từ việc phân tích theo dõi thi hành pháp luật trường hợp tỉnh GiaLai phản ánh được tính khách quan, toàn diện của cơ sở lý luận; kiểm chứng đượctính hợp lý, tính khả thi của các phương pháp đánh giá, phân tích cũng như khảnăng áp dụng các kết quả này trong thực tiễn xã hội
Đó chính là lý do để NCS chọn vấn đề “Theo dõi thi hành pháp luật từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Luật học của mình.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Trang 7Mục đích của luận án là nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về theo dõithi hành pháp luật, tổng hợp và đánh giá thực tiễn theo dõi thi hành pháp luật tạitỉnh Gia Lai Từ đó, hình thành luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc đề xuấtmột số giải pháp bảo đảm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hoàn thiệnhoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tổng quan làm rõ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về lý luận, thựctiễn và giải pháp bảo đảm theo dõi thi hành pháp luật
- Làm rõ và xác định cơ sở lý luận về theo dõi thi hành pháp luật: Khái niệm,đặc điểm, vai trò, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp theo dõi thihành pháp luật; phạm vi, hoạt động và vai trò của các cơ quan, tổ chức, cá nhântrong theo dõi thi hành pháp luật
- Tổng hợp, thu thập số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động theo dõi thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai: Ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân
- Phân tích, luận giải các quan điểm, giải pháp nhằm đánh giá, hoàn thiệncông tác theo dõi thi hành pháp luật và bảo đảm theo dõi thi hành pháp luật theohướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên cơ sở kết quả phân tích lý luận vàđánh giá thực trạng hoạt động theo dõi thi hành pháp luật
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu vấn đề lý luận, thực tiễn theo dõi thi hành pháp luật trong đó tập trung vào nghiên cứu các vấn đề gồm:
+ Các quan điểm khoa học về theo dõi thi hành pháp luật
+ Các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam về thi hành pháp luật
và theo dõi thi hành pháp luật
+ Thực tiễn theo dõi thi hành pháp luật ở tỉnh Gia Lai
Trang 84 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý thuyết sử dụng nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên các cơ sở lý thuyết sau:
+ Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmcủa Đảng và Nhà nước về nhà nước và pháp luật: Đây là nền tảng lý luận cốt lõi vàxuyên suốt của luận án, các vấn đề về theo dõi thi hành pháp luật được tiếp cận,nghiên cứu, phân tích làm rõ dưới góc độ thể chế chính trị của Nhà nước XHCNViệt Nam theo hướng tập trung cải cách hệ thống pháp luật, cải cách hành chính,xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
+ Lý luận về xã hội học pháp luật của các đại diện như: Rudolf von Jhering,Roscoe Pound, GS TS Võ Khánh Vinh,…: Hệ thống lý luận này giúp cho việcphân tích, đánh giá các vấn đề nghiên cứu về theo dõi thi hành pháp luật bám sát vàphản ánh thực tế xã hội rất năng động và sự phát triển, vận động liên tục của cuộcsống thực tiễn, đảm bảo không chỉ “pháp luật sống” mà còn làm sáng tỏ khuynhhướng phát triển của chúng trong tương lai Bên cạnh đó, tính khả thi, hiệu lực, hiệuquả của việc thi hành pháp luật nói chung và theo dõi thi hành pháp luật nói riêng,chính là hiện thực luật pháp trong cuộc sống
+ Lý thuyết hiệu quả (tối ưu) thi hành pháp luật của các đại diện như: GS.TS.Nuno Garoupa, GS.TS Nguyễn Minh Đoan…: Hệ thống lý luận này là cơ sở thamkhảo, giúp làm rõ tính hiệu quả theo dõi thi hành pháp luật trên cơ sở phù hợp vớiđặc thù của Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp luận
Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duyvật biện chứng; lý luận về nhà nước và pháp luật (tư tưởng Hồ Chí Minh); quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
+ Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Được sử dụng để tìm hiểu sự hình thành và
phát triển của tư tưởng về thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật (áp dụngxây dựng Chương 1, 2)
Phương pháp phân tích: Được sử dụng để làm rõ tính tất yếu phải theo dõi
thi hành pháp luật, làm rõ nhu cầu theo dõi thi hành pháp luật trong bối cảnh cảicách, đổi mới quản lý, chỉ đạo, điều hành của nội thân nền hành chính nhà nước (áp
Trang 9dụng xây dựng Chương 2); đánh giá thực trạng nhận thức lý luận và quan điểm củaĐảng về theo dõi thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng pháp luật về theo dõi thihành pháp ở tỉnh Gia Lai (áp dụng xây dựng Chương 3); đưa ra các kiến nghị, giảipháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước thông qua theo dõi thi hành pháp luật (ápdụng xây dựng Chương 4).
Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để hệ thống hóa các quan điểm về thi
hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, quản lý nhà nước; Tìm hiểu các quyđịnh pháp lý về theo dõi thi hành pháp luật ở một số nước trên thế giới, đưa ra kháiniệm, định nghĩa, bản chất khách quan của thi hành pháp luật, theo dõi thi hànhpháp luật (áp dụng xây dựng Chương 2); Hệ thống hóa các quy định pháp lý về theodõi thi hành pháp luật ở nước ta hiện nay (áp dụng xây dựng Chương 2, 3)
Phương pháp so sánh luật học: Được sử dụng để đối chiếu các quy định
pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật, cơ chế theo dõi thi hành pháp luật của ViệtNam và một số nước trên thế giới Từ đó, đánh giá mức độ hài hòa, tương thíchcũng như xác định các yếu tố đặc thù của quy định pháp luật nước ta về theo dõi thihành pháp luật so với các đối tượng được so sánh (áp dụng xây dựng Chương 2)
Phương pháp điều tra xã hội học pháp luật: Được dùng để thu thập thông tin
về theo dõi thi hành pháp luật trong thực tiễn xã hội và khảo sát tính hiệu lực, hiệuquả của một số giải pháp đề xuất trong luận án (áp dụng xây dựng Chương 3, 4)
5 Những đóng góp mới của luận án
- Về phương diện lý luận
+ Luận án đã tìm hiểu, tổng quan được các công trình khoa học ở trong vàngoài nước nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến nội dung đề tài như thi hànhpháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, thực tiễn theo dõi thi hành pháp luật ở ViệtNam và giải pháp bảo đảm theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam;
+ Luận án đã phân tích về mặt khoa học để làm rõ những vấn đề lý luận vềtheo dõi thi hành pháp luật như khái niệm, đặc điểm, vai trò của theo dõi thi hànhpháp luật, cơ sở pháp lý của theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam;
+ Luận án đã phân tích làm rõ vai trò trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc theo dõi thi hành pháp luật;
+ Luận án còn xác định được những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật, trong quản lý nhà nước về theo dõi thi hành pháp luật;
- Về phương diện thực tiễn
Trang 10+ Luận án đã nêu và phân tích được thực trạng theo dõi thi hành pháp luậtcủa các cơ quan, tổ chức và cá nhân ở tỉnh Gia Lai, phân tích những kết quả đã đạtđược, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của những kết quả, hạn chế công táctheo dõi thi hành pháp luật ở tỉnh Gia Lai thời gian qua.
+ Luận án đã đề xuất các giải pháp bảo đảm theo dõi thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai nói riêng và trên địa bàn cả nước nói chung
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác theo dõithi hành pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, triệt để bởicác tổ chức và cá nhân, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở tỉnh Gia Lainói riêng và ở cả nước Việt Nam nói chung
- Cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội nâng cao ý thức pháp luật, thực hiện hiệu quả hoạt động theodõi thi hành pháp luật ở Việt Nam
- Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy, nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà nước
- Nêu quan điểm và một số giải pháp có tính khả thi để xây dựng, tổ chức thực hiện hiệu quả việc theo dõi thi hành pháp luật ở trung ương, địa phương
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương, 13 tiết
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
TDTHPL là nhu cầu hết sức quan trọng đối với NNPQ Việt Nam và các quốcgia trên thế giới, gắn liền với nhận thức ngày càng đầy đủ, rõ nét hơn về TDTHPLnhằm tối ưu việc THPL để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy dân chủ,nhân quyền trong xã hội đương đại Theo đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu vớicác quy mô lớn, nhỏ khác nhau được triển khai và công bố dưới các hình thức ấn
phẩm có liên quan đến đề tài Theo dõi thi hành pháp luật Về cơ bản, có thể tìm
hiểu nội dung các công trình nghiên cứu trên các khía cạnh sau:
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về theo dõi thi hành pháp luật
Hầu như trong các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề TDTHPL đềudành một nội dung quan trọng để làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận về THPL vàTDTHPL, xem đó là tiền đề nhận thức để đánh giá thực trạng TDTHPL ở ViệtNam, cũng như đưa ra các kiến nghị nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả TDTHPL theohướng bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay
1.1.1.1 Về thi hành pháp luật
- Nghiên cứu lý luận chung về thi hành pháp luật
Hệ thống lý luận chung về THPL được đề cập có tính hệ thống bắt đầu từ tưtưởng của Hàn Phi - Pháp gia nước Hàn khoảng 280-233 Tr.CN ở phương Đông cho
đến nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về “Phân tích kinh tế hiệu ứng răn đe trong thi hành pháp luật đối với hoạt động tội phạm” của của Llad Phillips và TS Jr Harold
L Votey công bố trên tạp chí Luật hình sự, tội phạm học và Khoa học Công an củaNorthwestern University School of Law năm 1972 ở phương Tây, đến nay, có hàngloạt các công trình nghiên của các tác giả từ nhiều quốc gia khác nhau nghiên cứulàm rõ và hệ thống lý luận về THPL này ngày càng hoàn thiện trong mô hìnhNNPQ:
+ Các cuốn sách:
“Hàn Phi Tử lập thích” (Tiếng Trung Quốc) bản in năm 1961 ghi lại những
tư tưởng của Hàn Phi - Pháp gia nước Hàn được GS Nguyên Ngọc dịch in thànhsách với tiêu đề “Hàn Phi Tử” năm 2008 (tái bản) [63]; “Hàn Phi Tử, Tập đại thành
- Sự phát triển tư tưởng pháp gia ” do Hàn Thế Chân biên dịch, Trần Kiết Hùng hiệu
đính năm 1995 [7, tr.70-111]; “Tư tưởng của Hàn Phi về pháp luật và thực thi pháp luật ” của PGS.TS Đinh Ngọc Vượng năm 2008 [123] qua các công trình nghiên
cứu này cho thấy nội dung tư tưởng của Hàn Phi về THPL được đề ra vào khoảng
Trang 12280-233 Tr.CN ở Trung Quốc nhưng đến nay trong mô hình NNPQ, một số nộidung tư tưởng đó được xem là nguyên tắc cốt lõi như: Pháp luật là quy tắc chuẩnmực của mọi hành động, mọi người bình đẳng trước pháp luật; Tính phổ biến củapháp luật; Pháp luật là lợi ích lâu dành cho Nhân dân, lợi ích ở đây bao gồm lợi ích
về chi phí, lợi ích xã hội Và, “Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể
từ, kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu Cho nên điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật”, “Hễ những người thi hành pháp luật mà mạnh thì nước mạnh, còn hễ những người thi hành pháp luật mà yếu thì nước yếu” [63, tr.62, 70].
“Các bài luận kinh tế về tội ác và hình phạt ” của Gary S.Becker, William M.
Landes năm 1974 có chuyên đề nghiên cứu về “Tối ưu hóa thi hành pháp luật ” của TS.
George Joseph Stigler - nhà kinh tế học người Mỹ [191, tr 55-56, 66] Chuyên đề đãlàm rõ những vấn đề như khái niệm THPL và việc tổ chức THPL không phải lúc nàocũng có hiệu lực và hiệu quả THPL trong xã hội tùy thuộc vào số lượng các nguồn lựcdành cho lĩnh vực này Có thể nói, những khía cạnh lý luận được đề cập trong cuốnsách nói chung, về THPL nói riêng đã có bước tiến đáng kể về việc tối ưu tính khả thipháp luật khi kết nối giữa THPL với hiệu quả THPL trên cơ sở các nguồn lực
“Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật” của TS Nguyễn Minh Đoan năm
2009 [26], đây là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về thực hiệnpháp luật gắn với hiệu quả thực hiện pháp luật, cung cấp nhiều thông tin và tư liệu choviệc nghiên cứu TDTHPL Nhiều vấn đề đã được đặt ra và phân tích như: Khái niệmthực hiện pháp luật, các hình thức thực hiện pháp luật và tính tất yếu khách quan củaviệc đánh giá hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật trên thực tế
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay ” mã số LH - 08 - 08/ĐHL của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009
[96], đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ở Việt Nam về áp dụng phápluật Đề tài này đã làm sáng tỏ và hoàn thiện thêm một số vấn đề lý luận chung về
áp dụng pháp luật như: Khái niệm, đặc điểm, các trường hợp cần áp dụng pháp luật,quy trình áp dụng pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật tương
tự, và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể: Hình sự, dân sự,hành chính, lao động, đất đai, thương mại…
+ Bài báo khoa học đăng ở Tạp chí chuyên ngành như:
“Bàn về khái niệm thi hành pháp luật” của TS Nguyễn Thị Hồi năm 2009
Trang 13THPL, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Và, việc phân chia các hình thứcthực hiện pháp luật chỉ có tính chất tương đối, chủ yếu có ý nghĩa về mặt lý luận,trong thực tế các thuật ngữ tuân theo, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật nhiềukhi được dùng đồng nghĩa với nhau.
“Mối quan hệ giữa xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật: Ý nghĩa thực tiễn ” của Vũ Viết Thiệu năm 2007 [85]; “ Thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước: Khái niệm, hiệu quả và sự tác động (ảnh hưởng) của hiệu quả tới xã hội ” của
PGS TS Nguyễn Văn Động năm 2010 [31], theo các tác giả: Thực hiện pháp luật xét trong quy trình “quản lý nhà nước bằng pháp luật”, là sự tiếp nối xây dựng phápluật, gồm toàn bộ các hoạt động nhằm đưa các quy phạm pháp luật vào đời sống nhànước, xã hội và sinh hoạt của công dân và cần phải đánh giá, xác định được hiệuquả THPL trong đời sống xã hội, nhất là làm rõ sự tác động, ảnh hưởng của hiệuquả THPL của cơ quan nhà nước đối với xã hội
-Các kết quả nghiên cứu này gởi mở cho đề tài luận án một số cơ sở lý luận để
hệ thống, làm rõ cơ sở lý luận về TDTHPL và vận dụng một số nội dung đối vớiviệc hoàn thiện điều chỉnh pháp luật về TDTHPL ở Việt Nam hiện nay
- Thi hành pháp luật tiếp cận ở phương diện quản lý Nhà nước
Ở phương diện nghiên cứu này, các công trình nghiên cứu tập trung làm rõ
và bàn sâu về trách nhiệm của Nhà nước và cơ chế đảm bảo THPL trong thực tế.Điều này dễ nhận thấy trong hầu hết trong các công trình nghiên cứu sau:
+ Các cuốn sách:
Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề: “Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật” năm 2002 [89], “Thực trạng và nhu cầu phát triển, hoàn thiện các thiết chế lập pháp, thi hành pháp luật, điều ước quốc tế, giải quyết tranh chấp và bổ trợ tư pháp” năm 2003 [90] của Viện nghiên cứu khoa
học pháp lý - Bộ Tư pháp Trong 02 cuốn sách, các tác giả đã làm rõ những hạn chế,bất cập của bộ máy THPL ở trung ương, ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan đảmbảo THPL và xác định vai trò của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thihành Hiến pháp và pháp luật là trực tiếp, cụ thể, thường xuyên và toàn diện nhất.Nghiên cứu này đã đặt ra một số gợi mở cho việc TDTHPL hiện nay như: Theo dõicần tập trung vào các vấn đề: đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước; Năng lực, phẩmchất của đội ngũ cán bộ, công chức trong các thiết chế THPL; Ý thức pháp luật củaNhân dân… theo nguyên tắc: Việc gì, ở cấp nào có điều kiện và khả năng thực hiệntốt nhất thì phân giao đầy đủ thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn) và đảm bảo nhữngđiều kiện cần thiết cho cấp đó giải quyết
Trang 14“Báo cáo đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các Bộ liên quan đến doanh nghiệp (LDEA) giai đoạn từ 2005-2009 ” năm 2010
[64]; “Báo cáo nghiên cứu MEI - Chỉ số hiệu quả hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật về kinh doanh của các Bộ năm 2011 ” [65]; “ Báo cáo nghiên cứu MEI - Chỉ số hiệu quả hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật về kinh doanh của các
Bộ năm 2012 ” [66]; “ Báo cáo nghiên cứu MEI - Chỉ số hiệu quả hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật về kinh doanh của các Bộ năm 2014 ” [67] của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Kết quả (Ministerial Effectiveness Index)đưa ra một bức tranh toàn cảnh về các nỗ lực cũng như những hạn chế của các Bộtrong các hoạt động xây dựng và THPL về kinh doanh và dựa vào MEI, Nhà nước,
xã hội cũng như các Bộ có thể nhận biết một cách đầy đủ, hệ thống hơn thực trạng
về hiệu quả hoạt động pháp luật về kinh doanh (từ soạn thảo đến thi hành)
+ Các bài báo khoa học đăng trên Tạp chí chuyên ngành:
“Thủ tục hành chính, pháp lý và thực hành đạo đức trong các thử nghiệm tâm lý của cán bộ thi hành pháp luật ” của TS Robin E Inwald đăng trên Tạp chí
Tư pháp hình sự của Pergamon Press Ltd năm 1985 [161] phân tích, làm rõ thựctrạng các cơ quan THPL có một số cán bộ “không phù hợp” với công việc THPL dotình trạng thiên vị về chủng tộc hoặc tình dục cả trong và ngoài công việc, mặc dùcác cá nhân này đã trải qua các cuộc kiểm tra y tế/vật lý, kiểm tra lý lịch, phỏng vấntrước khi tuyển dụng Đây là một kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam
để đưa ra các giải pháp hoàn thiện lý luận khoa học đối với lực lượng THPL
“Các vấn đề pháp lý giữa tâm lý học và thi hành pháp luật” của TS.Catherine L Flanagan năm 1986 [145], tác giả làm rõ trong THPL vai trò chuyêngia tâm lý THPL là cần thiết để xác định độ tin cậy, tính hợp lệ về tư cách pháp lýcủa các cá nhân, các xét nghiệm và thử nghiệm tâm lý Freye - tiêu chuẩn của cácbằng chứng được sử dụng và thảo luận tại tòa án Ngoài ra tâm lý học pháp y có thể
dự đoán, cảnh báo mức độ nguy hiểm về hành vi có thể xảy ra của người tham dự(nạn nhân, tội phạm…) tại phiên tòa để Tòa án, cảnh sát có biệp pháp hoặc phươngthức chăm sóc y tế hợp lý trong các trường hợp
“Xét lại đạo luật Posse comitatus: Việc sử dụng quân đội trong việc thi hành pháp luật dân sự ” của Jr Richter H Moore năm 1987 [176] bằng việc phân tích
Đạo luật Posse comitatus năm 1878 của Hòa Kỳ, tác giả nghiên cứu việc sử dụngquân đội trong THPL trong một số trường hợp như: Ngăn chặn thiệt hại về người,cướp bóc, tàn phá bừa bãi hoặc tài sản; Khôi phục lại các dịch vụ của chính phủ vàthiết lập lại trật tự công cộng khi các nhà chức trách địa phương nào không thể quản
Trang 15thực thi pháp luật dân sự ngoại trừ trường hợp Quốc hội, pháp luật, cho phép sửdụng của quân đội trong các trường hợp bạo lực gia đình, bảo vệ tài sản liên bang vàthi hành một số luật liên bang và lệnh của tòa án Nội dung nghiên cứu này tạo cơ
sở nền tảng bản đầu để tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn về cơ chế sử dụng quânđội trong THPL ở Việt Nam
“Tình trạng kiệt sức trong tổ chức thi hành pháp luật: Một phân tích so sánh ” của Roy R Roberg, David L Hayhurst, Harry E Allen năm 1988 [186] thông
qua việc tổ chức THPL dân sự trong khu vực vịnh San Francisco, đã làm rõ tìnhtrạng cán bộ THPL lâm vào tình trạng kiệt sức ảnh hưởng đến chất lượng THPLchiếm tỷ lệ cao Bài viết đã đưa ra cách luận giải về yêu cầu của cơ quan tổ chứcTHPL phải kiểm tra, giám sát, hỗ trợ về tâm lý, thể lực, kỹ năng đối với cán bộTHPL để giảm triệu chứng căng thẳng quá sức dẫn đến tình trạng “mất nhân cách tựnhiên bởi yêu cầu nhiệm vụ”
“Thực thi pháp luật: Nhìn từ góc độ nhà nước” của Nguyễn Chí Dũng năm
2004 [17]; “Vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong việc đảm bảo thi hành pháp luật trên địa bàn ” của Ths Nguyễn Thị Thu Hà năm 2006 [34]; “ Bảo đảm thi hành pháp luật ở địa phương - Khó khăn, thuận lợi và giải pháp ” của PGS.TS Phan Trung Lý năm 2009 [51]; “Bàn về tổ chức thực hiện pháp luật” của Tạ Thị Minh Lýnăm 2011 [50], Các tác giả luận giải tình trạng pháp luật chưa được thi hành nghiêmchỉnh có nguyên nhân xuất phát từ Nhà nước như: Việc xây dựng, hoàn thiện hệthống pháp luật thực định và đưa pháp luật vào cuộc sống vẫn chưa theo kịp với yêucầu của thực tiễn, chưa đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới; Thói quen mệnhlệnh hành chính; quy phạm dễ cho quản lý, đẩy khó cho Nhân dân; Tổ chức lấy ýkiến công chúng còn hình thức; Kỹ thuật lập pháp còn hạn chế; nhiều quy phạmtuyên ngôn thiếu các quy phạm bảo đảm thi hành và giải quyết tranh chấp; Thiếuquy phạm tài chính; Quy phạm về hiệu lực không hiệu quả; Những hạn chế từ cơquan THPL, giải thích pháp luật và hệ thống trọng tài; Kết quả nghiên cứu này bướcđầu gởi mở cho đề tài luận án một số giải pháp để giải quyết tồn tại và nâng caohiệu quả TDTHPL
“Tham nhũng và biến dạng nỗ lực thi hành luật ” của Luciana Echazu, Nuno
Garoupa năm 2010 [141] phân tính làm rõ tình trạng tham nhũng tạo ra các biến dạngtrong thực thi pháp luật làm suy yếu hiệu lực các quy định pháp luật và tăng chi phí xãhội dành cho thực thi pháp luật Tham nhũng dễ xuất hiện khi người THPL tiếp xúctrực tiếp với người vi phạm Vì vậy để hạn chế tham nhũng và nâng cao hiệu quảTHPL, Nhà nước cần giảm thiểu tình trạng người THPL tiếp xúc trực tiếp với người vi
Trang 16phạm, đồng thời các khoản tiền xử lý hành vi vi phạm pháp luật người vi phạm phảitrực tiếp trả cho Chính phủ hoặc các cơ quan đại diện Chính phủ.
“Cạnh tranh trong thi hành pháp luật và phân bổ vốn ” của Nicolas Marceau,Steeve Mongrain năm 2011 [171] đã làm rõ trong một nền kinh tế với các thể chếđịa phương cạnh tranh trong THPL để thu hút vốn đầu tư dẫn đến mất cân bằng cácnguồn lực xã hội, cũng như đẩy các yếu tố tiêu cực di chuyển vị trí địa lý chứ khônggiải quyết triệt để các yếu tố tiêu cực Do đó, Chính quyền trung ương phải chịutrách nhiệm phối hợp chính sách chính trị và pháp luật, quy định việc thi hành thốngnhất để đảm bảo hiệu quả thu hút, phân bổ vốn đầu tư ở địa phương
- Thi hành pháp luật tiếp cận ở phương diện hoạt động xã hội
Các công trình nghiên cứu cho thấy, giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến tínhquyết định của xã hội đối với THPL của Nhà nước từ cơ sở lý luận đến cơ chế điềuchỉnh pháp luật, ý thức, văn hóa pháp luật, phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu hoạtđộng pháp luật ở phương diện hoạt động xã hội Những thành tựu nghiên cứu này cóvai trò rất quan trọng đối với việc tiếp cận, nghiên cứu TDTHPL trong luận án, áp dụngtrên cả bình diện nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm với tư cách là hoạtđộng xã hội, trong đời sống xã hội với sự tham gia của Nhà nước, tổ chức xã hội, côngdân, cá nhân thể hiện qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
+ Bộ tiêu chuẩn cho cơ quan thi hành pháp luật phiên bản năm 1983 (944
tiêu chuẩn), phiên bản thứ 5 năm 2006 sửa đổi ngày 03/4/2014 (673 tiêu chuẩn) củaCông ty ủy thác công nhận các cơ quan THPL (CALEA) [197], [198], đây là công
ty tư nhân, phi lợi nhuận chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn để công nhận các
tổ chức THPL tư nhân và đảm bảo tính chuyên nghiệp các tổ chức này khi nhândanh nhà nước THPL
+ Bài báo: “Cần đẩy mạnh nghiên cứu dư luận phục vụ các hoạt động pháp luật ” của TS Nguyễn Minh Đoan năm 2004 [25]; “Vai trò của ý thức pháp luật đối với hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật ” của Trần Thị Nguyệt năm 2005
[59]; “Giá trị đạo đức trong xây dựng và thi hành pháp luật” của Nguyễn ĐìnhĐặng Lục năm 2007 [47]; “Tương tác giữa thi hành pháp luật và chuẩn mực xã hội ” của Sebastian Kube, Christian Traxler năm 2011 [168], các tác giả làm rõ ý
thức pháp luật, chuẩn mực xã hội có nguồn gốc sâu xa từ hiểu biết và lương tri củacon người Ý thức pháp luật, chuẩn mực xã hội hình thành, tồn tại và phát triển cóliên quan đến các hoạt động khác nhau của đời sống pháp luật, có mối liên hệ lệthuộc hoặc tác động trở lại đối với các yếu tố cấu thành của hiện thực pháp lý, cókhả năng bám rễ sâu vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội và là linh hồn của hiện
Trang 17minh THPL được hỗ trợ bởi biện pháp trừng phạt để điều chỉnh quan hệ xã hộinhưng tỷ lệ phát hiện tội phạm thấp, chi phí cao Trong khi, ý thức pháp luật, chuẩnmực xã hội lại có mức độ tuân thủ cao hơn, với mức chi phí thấp và có tác độngphúc lợi tích cực đối với cộng đồng Đây chính là cơ sở khoa học cho việc hìnhthành lối sống tuân thủ pháp luật nói riêng và hiệu quả TDTHPL nói chung ở nước
ta trong điều kiện xây dựng NNPQ hiện nay
+ Các bài báo khoa học đăng trên Tạp chí chuyên ngành:
“Hoạt động pháp luật : Những vấn đề lý luận” của GS TS Võ Khánh Vinhđăng năm 2005 [68]; “Đời sống pháp luật” của PGS.TS Hoàng Kim Quế đăng trênTạp chí Luật học - Đại học Luật Hà Nội năm 2005 [68]; “Đời sống pháp luật - Khách thể của chính sách pháp luật ” của GS TS Võ Khánh Vinh năm 2015 [118],
đời sống pháp luật là tổng thể các loại và hình thức hoạt động và hành vi đa dạngcủa mọi người, của các tập thể của họ trong lĩnh vực hoạt động của pháp luật hướngđến việc bảo đảm các điều kiện và phương tiện của sự tồn tại, thực hiện các lợi ích
tư và các lợi ích công, các lợi ích cá nhân và các lợi ích nhóm, của sự khẳng địnhcác giá trị phù hợp với các lợi ích đó và chính sách pháp luật thể hiện là phươngthức nhất định của việc tổ chức đời sống pháp luật, là phương tiện điều chỉnh đờisống pháp luật Đến lượt mình, đời sống pháp luật là khách thể của chính sách phápluật Đời sống pháp luật một mặt thể hiện là khách thể của chính sách pháp luật, chophép dưới góc nhìn đặc biệt thấy được chính sách đó Chính sách pháp luật đúng làgắn liền các nhu cầu hiện thực đã xuất hiện trong đời sống xã hội ở một giai đoạnphát triển nhất định của nó Trình độ và chất lượng của đời sống pháp luật là tiêuchuẩn đánh giá hiệu quả của chính sách pháp luật
“Luật tục với thi hành pháp luật” của Nguyễn Chí Dũng năm 2005 [18] phântích và làm rõ luật tục ra đời trước pháp luật như một nhu cầu tất yếu của cuộc sống
và được thực hiện một cách tự nguyện Kể cả khi pháp luật mất đi thì nó vẫn tồn tại,pháp luật chỉ có thể thay thế một phần chứ không thay thế được tất cả các quan hệ
xã hội Chính vì vậy, luật tục có vai trò bổ sung cho pháp luật và thiết chế nhà nước,
hệ thống chính trị ở những cộng đồng dân cư có tính cấu kết chặt chẽ bởi phong tục,truyền thống, văn hóa bản địa Bên cạnh đó, các thói quen xã hội do luật tục tạo nên
có ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức pháp luật, thực hiện pháp luật, thậm chí với sựràng buộc mạnh hơn Vì vậy, quản lý nhà nước bằng pháp luật không loại trừ sự tồntại của luật tục Luật tục cũng là một trong những nội dung được đề cập trong luận
án nên những thông tin này rất có ý nghĩa cho đề tài luận án trong việc nghiên cứu
- Thi hành pháp luật tiếp cận ở phương diện hiệu quả
Trang 18Đây là phương diện nghiên cứu có quy mô lớn, nội dung phong phú, đề cậpnhiều vấn đề, được thực hiện bởi nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm,
để làm sáng tỏ cơ sở lý luận và hướng trực diện vào việc tối ưu hiệu quả THPL củaNhà nước trong đời sống xã hội Thể hiện qua một số công trình tiêu biểu sau:
+ Các cuốn sách:
Chương “Mô hình động lực kinh tế của tối ưu thi hành pháp luật” của TS.Gustav Feichtinger trong phần 3 của cuốn sách “Mô hình và quyết định trong kinh
tế - Tiểu luận vinh danh Franz Ferschl ” của Ulrike Leopold-Wildburger; Gustav
Feichtinger; Klaus-Peter Kistner năm 1999 [143], làm rõ tối ưu THPL phải đượcnghiên cứu trong mô hình động để phản ánh thực tiễn sinh động của THPL, do đó,tác giả đề xuất sử dụng mô hình phân tích kinh tế động và ứng dụng lý thuyết tròchơi để nghiên cứu Đồng thời chỉ rõ trong tối ưu THPL, yếu tố thực thi pháp luậtkhông phải là yếu tố quyết định duy nhất mà còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Vaitrò của người phạm tội, yếu tố chi phí thực thi pháp luật, tác dụng răn đe phòngchống tội phạm…
Chương 6 “Lý luận thi hành luật công” của Mitchell Polinsky, Steven
Shavell trong cuốn sách “Sổ tay Hướng dẫn Luật và Kinh tế tập 1” năm 2007 [182]
THPL công được phân tích dưới ba lý thuyết chính (Lý thuyết THPL khả thi, lýthuyết THPL không khả thi, lý thuyết tổng thể và so sánh với thực tế) và 17 yếu tố
mở rộng như: Tác hại do tai nạn, phòng ngừa, mức độ hoạt động, lỗi, chi phí áp đặtmục đích, tổ chức thi hành, biên răn đe, mối quan hệ giữa Chính phủ - cơ quan đạidiện, định cư, tự báo cáo, phạm tội nhiều lần, nhận thức chưa đầy đủ về xác suất vàcường độ khi áp dụng các biện pháp trừng phạt, tham nhũng, tước quyền, giám sátmức độ giàu có của người vi phạm pháp luật, chuẩn mực xã hội, công bằng Việcphân tích trên nhằm giải quyết các câu hỏi cơ bản trong THPL: Nên dùng hình thức
xử phạt phạt tiền, xử phạt phi tiền tệ, hoặc một sự kết hợp của cả hai, đối với bênchịu trách nhiệm; Nên quy trách nhiệm chặt chẽ hay dựa trên yếu tố lỗi; Nếu việcphát hiện vi phạm pháp luật mang tính xác suất thì các mức phạt phải được điềuchỉnh và để tối ưu THPL cần làm thế nào huy động nhiều tài nguyên của xã hộidành để bắt giữ người vi phạm
“Các vấn đề về pháp luật và thi hành pháp luật” của Gerald M Kessler năm
2007 [166], 13 chương của cuốn sách tập trung làm rõ các vấn đề quan trọng trongpháp luật và THPL, bao gồm: Thực thi pháp liên bang, luật pháp quốc tế và THPL.Cung cấp cái nhìn tổng quan ngắn gọn về: Bối cảnh lịch sử của các cuộc đàm pháncho Quy chế Rome, phác thảo cấu trúc, quyền tài phán của Tòa án Hình sự Quốc tế
Trang 19hiện đại; Trao đổi việc duy trì thực thi pháp luật và các thông tin tình báo; Các biệnpháp bảo vệ theo luật liên bang; Người phạm tội chưa thành niên…Và bằng đạo luậtAmerican Servicemembers’ Protection, Hoa Kỳ đã giành quyền miễn trừ xét xử củaICC đối với người Mỹ.
Các bài báo khoa học đăng trên Tạp chí chuyên ngành:
“Phân tích kinh tế hiệu ứng răn đe trong thi hành pháp luật đối với hoạt động tội phạm ” của Llad Phillips và TS Jr Harold L Votey năm 1972 [181] đã định nghĩa “Thi hành pháp luật ngoài việc chịu trách nhiệm đưa ra hình phạt đối với tội phạm còn tạo ra tác dụng răn đe, phòng chống tội phạm” Với giả thuyết THPL
được xem là hành động tác động lên tội phạm, kết thúc bằng việc bắt giữ tội phạm,các tác giả chỉ ra rằng hiệu quả THPL được xác định bởi công nghệ và chi phí choviệc thực thi pháp luật
“Thi hành pháp luật, hành động phi pháp và quyền lợi của người thực thi pháp luật ” của TS Gary S Becker and TS George J Stigler năm 1974 [127], đãphân tích THPL trong nền kinh tế thị trường, nơi mà mọi hoạt động xã hội được đobằng giá trị đồng tiền Do đó, người vi phạm dễ dàng dùng tiền thỏa hiệp với ngườithực thi pháp luật để bỏ qua vi phạm của mình Hơn nữa, người thực thi pháp luậtkhông sợ hành vi nhận hối lộ bị phát hiện thì sẳn sàng nhận tiền hối lộ từ người viphạm pháp luật Vì vậy, để việc THPL có hiệu quả và ngăn ngừa tình trạng hối lộngười thực thi pháp luật, Nhà nước cần chấp nhận hình thức nộp tiền để thay cáchình phạt sẽ áp dụng cho hành vi vi phạm Đối với hành động phi pháp của ngườithực thi pháp luật, Nhà nước cần có biện pháp trừng phạt thích đáng và thưởng việcthực thi pháp luật có hiệu quả Đồng thời, phải có hệ thống trả lương: Đảm bảo đền
bù chênh lệch giữa nhận hối lộ và thi hành đúng pháp luật; Đảm bảo lợi ích trongtương lai của người thực thi pháp luật, nếu thực hiện hành vi phi pháp thì sẽ mấtkhoản lợi ích tương lai này
“Chiến lược ngăn dầu lan - Tối ưu chiến lược thi hành: Một ứng dụng của
mô hình của Moral Hazard về Người điều hành - Người đại diện ” của Giáo sư,
chuyên gia thi hành chính sách Mark A Cohen năm 1987 [136] Theo mô hìnhMoral Hazard: Cơ quan THPL (Người đại diện) gây ra tác hại xã hội, nếu lỗi là dohoạt động vi phạm pháp luật của cơ quan thi hành thì phải chịu chế tài xử lý xửphạt, nếu lỗi là yếu tố ngẫu nhiên (dầu lan) thì Chính phủ (Người điều hành) cầnphải có chính sách theo dõi, giám sát thích hợp đối với vụ việc và mục tiêu của hoạtđộng theo dõi, giám sát phải tối đa hóa phúc lợi xã hội hoặc không lớn hơn thiệt hại
xã hội đã xảy ra và đây cũng chính là chiến lược THPL tối ưu
Trang 20“Tối ưu cấu trúc thi hành pháp luật” của TS Steven Shavell năm 1993[190] cấu trúc THPL gồm: Giai đoạn can thiệp pháp lý, hình thức xử phạt, vai trò tưnhân và thực thi công, khung phương pháp thực thi THPL sẽ đạt hiệu quả tối ưu khicác yếu tố: Giai đoạn can thiệp pháp lý (phòng ngừa, can thiệp, ngăn chặn, cưỡngchế…); Hình phạt (hình phạt tiền, hình phạt phi tiền tệ); Vai trò của cơ quan tronglĩnh vực công, vai trò cá nhân (cơ chế thực thi pháp luật, cung cấp thông tin; tráchnhiệm và cơ chế khen thưởng, bảo vệ, đảm bảo an toàn) được tối ưu bằng tính nhấtquán trong giám sát và phương pháp điều chỉnh: Luật tổn hại, luật hình sự, quyđịnh an toàn, lệnh cấm và áp đặt thuế dựa trên tác hại dự kiến.
“Tối ưu thi hành pháp luật với hành vi tự khai báo ” của TS Louis Kaplow và
TS Steven Shavell năm 1994 [162]; “Tối ưu thi hành pháp luật bằng việc thực hiện
các quyền hợp pháp của nạn nhân” của Nuno Garoupa năm 2001 [153] khi Nhà nước
có chính sách ưu đãi đối với hành vi tự khai báo hoặc tố cáo tội phạm của chính nạnnhân trong vụ việc thì: Việc xác tín tư cách pháp lý của người tự khai báo, nạn nhận;Hành vi vi phạm pháp luật của tội phạm chính xác và hiệu quả hơn khi Nhà nước phảithực hiện việc kiểm tra, xác định, xác minh hành vi vi phạm pháp luật, nạn nhân Đây
là một giải pháp tối ưu THPL vì với chính sách này khả năng phát hiện phòng chống tộiphạm tăng lên, chi phí xã hội dành cho THPL giảm xuống
“Lý thuyết tối ưu thi hành pháp luật” của Nuno Garoupa năm 1997 [149],
làm rõ các lý thuyết về THPL tối ưu mà trọng tâm là lý thuyết tối ưu THPL bằng tối
đa hóa phúc lợi xã hội và lý thuyết tối đa răn đe tội phạm với chi phí xã hội thấpnhất Bằng mô hình phân tích kinh tế, tác giả chứng minh việc xử phạt tối đa có thểkhông đạt hiệu quả tối ưu trong THPL, nguyên nhân: Chi phí xử phạt về mặt xã hội
là tốn kém, phụ thuộc vào nhận thức của cá nhân, biên răn đe; chi phí rủi ro
“Tối ưu thi hành pháp luật và thông tin không hoàn hảo khi giữa các cá nhân
có sự giàu có khác nhau” của Nuno Garoupa năm 1998 [150] vì thông tin không hoàn
hảo nên trong THPL đòi hỏi phải có hình phạt tăng nặng đối với các cá nhân tỷ lệ thuậnvới mức độ giàu có thì mới đảm bảo tối ưu THPL Vì, mức tối ưu răn đe trong THPLcủa người giàu so với người nghèo là khác nhau, người giàu có thể chi tiêu nhiều hơn
để đảm bảo pháp lý cho họ dẫn đến phù hợp “tự nhiên” với việc tối ưu thực thi phápluật, đồng thời giúp Chính phủ giảm được phần lớn chi phí THPL
“Tối ưu thi hành pháp luật bằng phổ biến thông tin” của Nuna Garoupa năm
1999 [151] THPL đạt tối ưu hay không phụ thuộc vào: Chi phí phổ biến thông tinTHPL và mức độ tác động nhận thức cá nhân của thông tin được phổ biến Trong
đó, mức chi phí thông tin phổ biến của Chính phủ: Nếu ở mức rất cao, Chính phủ
Trang 21phủ nên xem xét đầu tư vào việc bổ sung thông tin thực thi pháp luật vào nội dungphổ biến; Nếu ở mức khá nhỏ, Chính phủ nên đầu tư trong việc phổ biến và chọnmột chính sách phát hiện tội phạm lỏng lẻo hơn, các yếu tố khác không đổi Bêncạnh đó, mức độ tác động nhận thức cá nhân của thông tin được phổ biến: Nếu cánhân nhận được thông tin phổ biến hoàn hảo thì mức độ THPL đạt mức tối ưu nhất;Nếu cá nhân được thông tin không hoàn hảo có thể không đảm bảo mức độ khả thicao nhất việc thực thi các quy định pháp luật Vì, đây chính là điểm cốt lõi để họquyết định trở thành hoặc không trở thành tội phạm.
“Hiệu quả thi hành pháp luật” năm 2009 [28]; “Chất lượng của hệ thống pháp luật thực định bảo đảm quan trọng của thực hiện pháp luật ” năm 2009 [27]
của TS Nguyễn Minh Đoan; “Các yếu tố bảo đảm thi hành pháp luật” của PGS.TS.Nguyễn Văn Mạnh năm 2009 [54]; “Các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật”của Ths Bùi Xuân Phái năm 2009 [50]; “Thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước: Khái niệm, hiệu quả và sự tác động (ảnh hưởng) của hiệu quả tới xã hội ” của
PGS TS Nguyễn Văn Động năm 2010 [31], thực tế hiện nay hệ thống pháp luậtchưa thật sự hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thống nhất, tính quy phạm của hệ thốngpháp luật chưa cao Vì vậy, việc nhận thức đầy đủ những yếu tố ảnh hưởng đến việcTHPL sẽ phát huy tác dụng tích cực, những tác động tiêu cực của nó sẽ bị hạn chế
để việc THPL hiệu quả hơn thực tiễn Trong đó, hiệu quả THPL là kết quả thực tếtích cực đạt được do việc THPL mang lại, phù hợp với những mục đích, yêu cầu,mong muốn đạt được của việc THPL trong những phạm vi và điều kiện nhất địnhvới mức chi phí thấp Để đánh giá hiệu quả THPL thì phải xác định được: Nhữngmục đích, yêu cầu mong muốn đạt được khi THPL; kết quả tích cực đạt được trênthực tế do việc THPL; Những chi phí thực tế để đạt được kết quả khi THPL
1.1.1.2 Về theo dõi thi hành pháp luật
- Nghiên cứu về lý luận chung về theo dõi thi hành pháp luật có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
+ Sách: Các cuốn sách tiếp cận từ góc độ khoa học pháp lý có chủ đề đa dạnggắn với lĩnh vực TDTHPL, tuy có đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhaunhưng đều dành một dung lượng nhất định để luận bàn một số vấn đề lý luận liênquan đến TDTHPL Đáng lưu ý là cuốn sách “Một số nghiên cứu về công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam ” trong Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và
bảo vệ quyền tại Việt Nam” của Bộ Tư pháp và Chương trình phát triển của Liênhợp quốc (UNDP) năm 2010 [5] Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu
về vấn đề về TDTHPL do chính cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này thực
Trang 22trọng như: THPL; TDTHPL; Nội dung, hoạt động TDTHPL và vai trò cá nhân, tổchức, cơ quan trong lĩnh vực này Bên cạnh đó, công trình cũng tổng kết, đánh giá:Thực tiễn hệ thống pháp luật về TDTHPL; Kết quả thí điểm việc TDTHPL đối vớimột số lĩnh vực ngành; Kinh nghiệm, mô hình quản lý và TDTHPL ở một số nướctrên thế giới Cuốn sách đã đề cập các yếu tố tác động đến điều chỉnh pháp luật vềTDTHPL và các tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện của điều chỉnh pháp luật vềTDTHPL trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Tuy nhiên, nhiều nội dung, đánhgiá, đề xuất, kiến nghị mới chỉ là những nét chấm phá, gợi mở, đặt vấn đề ban đầu
để tiếp tục hoàn thiện thể chế về TDTHPL; Cuốn sách “Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về theo dõi thi hành pháp luật ” của Vụ các vấn đề chung về xây dựng
pháp luật - Bộ Tư pháp Việt Nam năm 2010 [121], công trình nghiên cứu đã phântích, làm rõ những khái niệm, nội hàm của những thuật ngữ còn đang tranh luậntrong lĩnh vực TDTHPL, nội dung cách thức thực hiện và phân biệt TDTHPL vớihoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra; Đánh giá thực tiễn quản lý, triển khai côngtác TDTHPL ở một số lĩnh vực, một số địa phương trong thời gian qua, cùng vớimột số kinh nghiêm quốc tế về TDTHPL của Liên hợp quốc, Liên minh Châu Âu,ASEAN, Liên bang Nga Trong cuốn sách này nhiều quan điểm khoa học liên quanđến các vấn đề nói trên đã được tổng hợp và luận bàn giúp hình dung tổng quantrạng thái nhận thức lý luận về TDTHPL mà sau này được thể chế hóa vào Nghịđịnh 59/2012/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật
+ Đề tài khoa học 01X-11/01/2013-2 “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội”của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội năm 2013 [77], đề tài có mục tiêu tìm kiếmphương án xây dựng mô hình theo THPL hiệu quả trong quá trình xây dựng môhình NNPQ gắn với nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, vì vậy khía cạnh lýluận của đề tài hướng trọng tâm vào việc đánh giá, tổng hợp kinh nghiệm tổ chứcTDTHPL của một số nước trên thế giới và tỉnh thành khác tại Việt Nam, đồng thờiđưa ra quan niệm về TDTHPL của cơ quan nhà nước, tính tất yếu mô hìnhTDTHPL dựa trên nền tảng ba yếu tố: Hiệu lực, hiệu quả, tác động; Làm rõ về mặt
lý luận giữa công tác theo dõi thi hành pháp với các lĩnh vực khác như giám sát,thanh tra, kiểm tra trên cơ sở đánh giá thực trạng, đặc thù của thủ đô Hà Nội…Nhưvậy, nội dung nghiên cứu của đề tài gắn sát với định hướng TDTHPL ở Việt Nam
và gợi mở một số vấn đề cho việc thay đổi mô hình điều chỉnh pháp luật vềTDTHPL ở Việt Nam hiện nay
+ Trong thời gian gần đây, hướng nghiên cứu ứng dụng trong điều chỉnh
Trang 23gian nghiên cứu hoặc đối tượng nghiên cứu cụ thể Mặc dù trọng tâm chính của cácluận văn là phát hiện những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn để đề xuất các giải phápđổi mới tổ chức, mở rộng phạm vi và tăng cường hiệu quả TDTHPL…nhưng ở cácmức độ khác nhau, các luận văn đều xuất phát từ việc hệ thống các quan điểm lýluận về TDTHPL, đưa ra các hiểu về TDTHPL, phân tích nội dung hoạt độngTDTHPL, xác định vai trò chế định hóa của pháp luật và làm rõ ảnh hưởng của cácyếu tố chủ quan và khách quan đối với TDTHPL Trong số đó, có thể kể đến luậnvăn thạc sĩ luật học “Theo dõi thi hành pháp luật từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” của
Vũ Duy Sỹ năm 2015 [83], “Theo dõi thi hành pháp luật từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang” của Kiều Văn Hưng năm 2017 [43]
+ Văn bản pháp luật, nhiều khía cạnh lý luận về TDTHPL như: khái niệm, vaitrò, mục đích, nội dung, hình thức, chủ thể, nguồn lực vật chất cho hoạt độngTDTHPL…còn được làm sáng tỏ trong các VBQPPL ở Việt Nam và các văn bản pháp
luật ở nhiều nước trên thế giới (Nghị định 59/2012/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp
luật, Thông tư 14/2014/TT-BTP quy định chi tiết thi hành Nghị định 59/2012/NĐ-CP, Sắc lệnh về theo dõi thi hành pháp luật của Liên bang Nga năm 2011…).
+ Bài báo khoa học được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành có thể kểđến như: “Giám sát và thi hành của Luật pháp ở EU: Tranh luận và thực tế” của
TS Dimitry Kochenov, TS Laurent Pech năm 2015 [167] để chống lại “quy tắc sangã pháp luật” hay tình trạng một số quốc gia thành viên liên minh Châu Âu nơi màtầng lớp tinh hoa cầm quyền đã thực hiện sự lựa chọn có ý thức không tuân thủ cácgiá trị cam kết trong Hiệp ước liên minh châu Âu, tạo ra hình ảnh hoàn toàn kháccủa các giá trị này Đây chính là mối đe dọa, vi phạm mang tính hệ thống đối vớicác quy định của pháp luật Vì vậy, để giải quyết tình trạng này cần thực hiện mộtthủ tục gồm 03 giai đoạn gọi là “nguyên tắc khuôn khổ pháp luật” do Uy ban Châu
Âu phụ trách gồm: Đánh giá, đề nghị và theo dõi, để THPL ở EU Đồng thời Hộiđồng EU thiết lập một cuộc đối thoại chính trị giữa các nước thành viên EU để thúcđẩy và bảo vệ các nguyên tắc của luật pháp trong EU Kết quả nghiên cứu này bướcđầu gởi mở cho Việt Nam một số vấn đề lý luận để triển khai hoạt động TDTHPL
cụ thể; “Bàn về công cụ theo theo dõi thi hành pháp luật” của Phùng Ngọc Đức [32]
TDTHPL là hoạt động tất yếu trong quản lý xã hội của một quốc gia, nhất là quốcgia đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện NNPQ Vì việc việc thu thập mộtcách hệ thống các thông tin, phân tích so sánh giữa mục tiêu đề ra với thực tế đạtđược và chỉ ra sự tác động, tồn tại, bất cập của quy định pháp luật để kiến nghị sửađổi, bổ sung chính sách, pháp luật hay tăng cường biện pháp nâng cao hiệu quả thi
Trang 24Từ nhận định này, tác giả đề xuất công cụ TDTHPL gồm: Khung theo dõi và Kếhoạch theo dõi Trong đó, khung theo dõi là công cụ theo dõi chung, Kế hoạch theodõi là công cụ theo dõi cụ thể và thể hiện nguyên tắc công khai, có trọng tâm, trọngđiểm, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, huy động sự thamgia của các tổ chức và Nhân dân.
Ngoài ra, một số bài báo khoa học đi theo hướng tìm hiểu kinh nghiệm nướcngoài về TDTHPL như: “Kinh nghiệm tổ chức theo dõi thi hành pháp luật của một
số nước trên thế giới ” của Ths Phùng Ngọc Việt Nga năm 2013 [57], Qua kinh
nghiệm tổ chức TDTHPL của một số nước trên thế giới, bài viết cho thấy việc tăngcường công tác THPL là một nhu cầu tất yếu khách quan của quản lý nhà nướctrong mỗi quốc gia và thực tiễn phát triển của Việt Nam cũng đặt ra yêu cầu phảiđẩy mạnh công tác này cho ngang tầm với công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thốngpháp luật; “Giám sát hoạt động hành pháp của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam ” của Dương Hương Liên năm 2015 [46] Từ kinh nghiệm
của các quốc gia như: Đan Mạch, Canada, Trung Quốc, Ai Cập, bài viết đã làm rõvai trò giám sát của cơ quan quyền lực đối với hệ thống hành pháp với cơ chế 03yếu tố đảm bảo sau: Thứ nhất, để giám sát hoạt động hành chính thì thiết chế giámsát phải được tổ chức có tính độc lập (ít nhất là độc lập tương đối) so với hệ thống
cơ quan hành pháp; Thứ hai, thẩm quyền trao cho các cơ quan có chức năng giámsát Thẩm quyền của các cơ quan này không chỉ là dừng lại ở mức yêu cầu các cơquan hành pháp báo cáo, giải trình việc thực hiện nhiệm vụ công vụ, quyền đề xuất,kiến nghị mà còn có các quyền khác như quyền điều tra hoạt động của các cơ quanhành chính, quyền ban hành các quyết định cá biệt có hiệu lực bắt buộc đối với các
cơ quan hành chính, quyền khởi tố hành chính…; Thứ ba, mô hình tổ chức và hoạtđộng giám sát hành chính được bảo đảm có sự kết nối chặt chẽ với các khiếu nại củacông dân, đặc biệt là thẩm quyền trong việc giải quyết các khiếu nại hành chính.Đây là những nội dung nghiên cứu góp phần quan trọng trong bối cảnh nhận thức lýluận về TDTHPL còn nhiều khoảng trống khi tiến hành hoàn thiện mô hình điềuchỉnh pháp luật về TDTHPL
Từ kết quả nghiên cứu, cho thấy ở Việt Nam tình hình nghiên cứu lý luận vềTDTHPL rất đa dạng từ quan niệm về TDTHPL, đối tượng, nội dung, hình thức, môhình TDTHPL đến nhu cầu điều chỉnh pháp luật về TDTHPL… tuy nhiên các côngtrình nghiên cứu ở nước ngoài về lý luận TDTHPL có số lượng ít, chủ yếu tập trungvào THPL là chính
- Theo dõi thi hành pháp luật tiếp cận ở phương diện quản lý Nhà nước
Trang 25Phần lớn các công trình nghiên cứu về TDTHPL tiếp cận ở góc độ này và tậptrung giải mã một hoặc một vài vấn đề lý luận về TDTHPL nói chung, điều chỉnhpháp luật về TDTHPL nói riêng Cụ thể:
+ Nghiên cứu về điều chỉnh pháp luật đối với TDTHPL có các bài báo khoa học được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành như:
“Bàn về phạm vi, nội dung theo dõi chung việc thi hành pháp luật và trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp trong việc phối hợp việc thực hiện nhiệm vụ theo dõi chung về thi hành pháp luật ” của Nguyễn Quốc Việt năm 2009
[106], Bài viết làm rõ hoạt động TDTHPL trước năm 2008 do các cơ quan củaChính phủ thực hiện một cách “tự nhiên” và “độc lập” theo lĩnh vực ngành, không
có sự gắn kết, không có sự hướng dẫn thống nhất và có tính hệ thống, dẫn đến hiệuquả THPL ở Việt Nam rất thấp Vì vậy, năm 2009 Chính phủ đã giao cho Bộ Tưpháp nhiệm vụ theo dõi chung tình hình THPL trong cả nước; Các bộ, ngành và ủyban nhân dân cấp tỉnh theo dõi tình hình THPL thuộc phạm vi quản lý Trong đó,theo dõi chung viêc THPL là theo dõi trên những nét lớn, bao quát có tính tổng thể,chủ yếu tập trung phân tích xem pháp luật đi vào cuộc sống như thế nào, những khókhăn vướng mắc trong quá trình thực hiện và đề xuất với cơ quan có thẩm quyềncác giải pháp khắc phục, cũng như phương hướng sửa đổi, bổ sung hoàn thiện phápluật và hoàn thiện cả hệ thống pháp luật
“Những nội dung cơ bản của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi tình hình thi hành pháp luật ” của Vụ các vấn đề chung về xây dựng và THPL - Bộ Tư
pháp Việt Nam năm 2012 [122], bài viết phân tích, làm rõ quan điểm chỉ đạo củaĐảng, Nhà nước về sự cần thiết phải ban hành VBQPPL để theo dõi tình hìnhTHPL Nghị định có bố cục 05 chương, 20 điều và nội dung quy định cụ thể vềphạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; mục đích, nguyên tắc theo dõi tình hìnhTHPL; Vai trò, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, cơ quan và nội dung theo dõi;Kinh phí và hiệu lực thi hành nhằm đánh giá tình hình tổ chức thi hành và áp dụngpháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước; Việc chấp hành, tuân thủ pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân; Khắc phục, xử lý những hạn chế, vướng mắc dược pháthiện trong thực tiễn thi hành nhằm bảo đảm hiệu quả, hiệu lực và hoàn thiện hệthống pháp luật
“Phát huy vai trò của cán bộ pháp chế trong công tác theo dõi thi hành pháp luật ” của Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang năm 2012 [80], bài viết đề cập nhiều vấn đề
liên quan đến cán bộ pháp chế, nhất là vai trò tham mưu lãnh đạo thực hiện các hoạtđộng theo dõi thi hành pháp theo chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành
Trang 26phát huy tích cực, phụ thuộc vào sự quan tâm của lãnh đạo cơ quan, chưa tham gia trong công tác soạn thảo VBQPPL.
- Bài viết “Nhìn lại một năm triển khai nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và một số định hướng cơ bản năm 2015” của Ths.
Đặng Thanh Sơn năm 2015 [46] Tác giả với với vai trò Cục trưởng Cục Quản lý xử lý
vi phạm hành chính và TDTHPL đã đánh giá kết quả công tác quản lý nhà nước vềTDTHPL đạt được trong năm 2015 như: Thành lập Cục Quản lý xử lý vi phạm hànhchính và TDTHPL để đáp ứng yêu cầu chuyển hướng chiến lược trong xây dựng vàthực thi pháp luật Đồng thời, cũng là năm đầu tiên triển khai công tác TDTHPLtheo lĩnh vực trọng tâm liên ngành với phạm vi cả nước Vì vậy, bên cạnh những kếtquả đạt được vẫn tồn tại 05 vấn đề hạn chế đối với công tác TDTHPL năm 2014 từ
đó tác giả đề ra 05 định hướng, giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thểchế, đặc biệt là đề xuất ban hành Luật về theo dõi thi hành pháp luật
+ Nghiên cứu về cơ chế thực hiện hoạt động TDTHPL của cơ quan quản lýnhà nước thông qua điều chỉnh pháp luật về kỹ năng, nghiệp vụ về thu thập thôngtin, lập kế hoạch, kiểm tra, điều tra, khảo sát, xây dựng báo cáo, xử lý thông tin vềtình hình THPL cũng như việc xử lý tình huống phát sinh cụ thể trong thực tiễn thựchiện công tác này, tiếp cận nghiên cứu ở góc độ này chiếm một dung lượng lớntrong những công trình sau: Cuốn sách “Hỏi đáp về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật ” của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành
pháp luật năm 2016 [12]; Các bài báo khoa học được công bố trên các Tạp chíchuyên ngành như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và bài học vận dụng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay ” của Ths Trương Thị Hồng Hà năm 2006
[35, tr 4, 6, 8]; “Cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp và các yếu tố cấu thành ” của Ths Nguyễn Chí Dũng năm 2007 [19]; “Hoạt động giám sát thi hành pháp luật của mặt trận tổ quốc Việt Nam ” của Đỗ Duy Thường năm 2009 [88, tr.
22-23]; Năm 2013 có các bài báo khoa học như: “Kỹ năng xây dựng kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật ” của Ths Đỗ Đình Lương [48], “ Kiểm tra tình hình thi hành pháp luật và xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật ” của
Nguyễn Đức Giao [33], “Thu thập, xử lý thông tin về tình hình thi hành pháp luật”của Ths Thái Thị Hải Yến [124], “Kỹ năng điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật ” của Đỗ Hoàng My [55], “Kỹ năng xây dựng báo cáo tình hình thi hànhpháp luật” của Nguyễn Thị Thu Thủy [92], “Các chỉ tiêu thống kê về tình hính thihành pháp luật trong Thông tư số 08/2011/TT-BTP và một số kiến nghị hoàn thiện”
Trang 27kiểm tra, kiểm tra liên ngành tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ” của Nguyễn Thanh Hà [36], Xử lý thông tin, phản ứng chính sách thông quatheo dõi tình hình thi hành pháp luật” của Ths Nguyễn Thị Ngân [58], “Xử lý thôngtin, phản ứng chính sách thông qua theo dõi tình hình thi hành pháp luật” của Ths.Nguyễn Thị Ngân [58].
Các bài viết này đã cho thấy sự đa dạng trong nghiên cứu ứng dụng điều chỉnhpháp luật đối với TDTHPL, bước đầu cung cấp cách hiểu cơ bản nhất về TDTHPL nóichung, các hoạt động thực hiện pháp luật nói riêng và điều chỉnh pháp luật về TDTHPLtương thích với điều kiện cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Theo dõi thi hành pháp luật tiếp cận ở phương diện hiệu quả
Hiệu quả TDTHPL và vấn đề tăng cường hiệu quả TDTHPL chưa đượcnhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tiếp cận và làm rõ cả về mặt lý luận lẫnthực tiễn Vì vậy, các công trình nghiên cứu sau đây phần lớn chỉ nêu những nét lớnmang tính định hướng, đôi khi rất chung chung, hoặc là quá chi tiết mà chưa thậttoàn diện và thường mang tính tổng kết thực tiễn, ít mang tính học thuật, lý luận.Điều này có thể thấy rõ trong một số công trình nghiên cứu sau:
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ” do TS.
Nguyễn Văn Cương chủ nhiệm năm 2015 [14], đây là công trình nghiên cứu chuyênsâu về đánh giá hiệu quả THPL của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm tối ưuhoạt động tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn bằng Bộ chỉ số đánh giá hiệuquả Nghiên cứu này xuất phát từ nhu cầu nội thân của việc vận hành bộ máy nhànước nói chung và nền hành chính quốc gia nói riêng đòi hỏi phải xác định, đolường, đánh giá hiệu quả THPL của các cơ quan hành chính nhà nước, và đòi hỏicủa thực tiễn đời sống xã hội Vì vậy, công trình nghiên cứu đã làm rõ thực trạngcác bộ công cụ (hệ tiêu chí hoặc bộ chỉ số) đánh giá hiệu quả THPL của các cơ quanhành chính nhà nước hoặc bởi công chúng (nhất là các tổ chức chính trị-xã hội, tổchức xã hội); làm rõ nhu cầu, cơ sở khoa học để xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệuquả THPL của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; Đề xuất quy trình,điều kiện áp dụng với Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả THPL của các cơ quan hànhchính nhà nước ở Việt Nam bao gồm 06 chỉ số thành phần sau đây: (1) chỉ số đánhgiá hiệu quả ban hành văn bản hướng dẫn THPL; (2) chỉ số đánh giá hiệu quả côngtác phố biển, giáo dục pháp luật; (3) chỉ số đánh giá hiệu quả công tác tổ chức bộmáy, quản lý biên chế, nhân sự, quản lý ngân sách và tài sản công; (4) chỉ số đánhgiá hiệu quả xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai các quy định
Trang 28chỉ số đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân và tổ chức Tùy việc đánh giá hiệu quảTHPL của các Bộ và UBND các cấp đều dùng khung 06 chỉ số này nhưng trọng sốcủa mỗi chỉ số thành phần khi sử dụng để đánh giá các Bộ có thể không giống vớiđánh giá UBND các cấp Công trình này có giá trị tham khảo cho đề tài luận án về
hệ thống lý luận tăng cường hiệu quả TDTHPL và gởi mở phương hướng, giải pháp
áp dụng trong thực tiễn
+ Một số bài báo khoa học như:
“Cơ chế bảo đảm cho công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật” củaVương Toàn Thắng năm 2013 [84] tập trung làm rõ thực trạng việc bố trí sắp xếpbiên chế cho phù hợp với nhu cầu công việc, chú trọng việc bố trí cán bộ chuyêntrách/kiêm nhiệm để thực hiện nhiệm vụ TDTHPL để giải quyết bài toán về tổ chức,biên chế Đồng thời, để đảm bảo nguồn lực tài chính cho TDTHPL cần bóc tách,vận dụng linh hoạt các hoạt động TDTHPL gắn với nội dung, định mức chi theoquy định của các hoạt động có tính chất tương tự trong điều kiện cụ thể hiện nay
“Phương pháp luận xây dựng chỉ tiêu thống kê tình hình thi hành pháp luật”của TS Phạm Đăng Quyết năm 2013 [69] đã phân tích, lập luận để làm rõ THPL làmột hiện tượng mà thống kê cần phải tiến hành đo lường Trong đó, chỉ tiêu thống
kê là sự biểu đạt định lượng đo lường hiện tượng đó, thể hiện sự thay đổi và nêu rõmức độ các kết quả THPL đã và đang đạt được Về phương pháp luận, tác giả đềxuất sử dụng phương pháp tiếp cận khung logic để xác lập chỉ tiêu thống kê tìnhhình THPL và các chỉ tiêu theo dõi tình hình THPL sẽ được xác định hiệu quả vàtác động của việc THPL Hoạt động đánh giá dựa trên 05 tiêu chí SMART (đơngiản, đo lường được, tính cấu thành, phù hợp, kịp thời) để đánh giá các nội dung:Tính phù hợp, hiệu suất, hiệu quả, tác động, tính bền vững của đầu ra và kết quả,của mục tiêu và mục đích đặt ra của Nhà nước
“MEI và một số bài học kinh nghiệp cho việc xây dựng bộ chỉ tiêu quốc gia
về đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật ” của TS Nguyễn Văn Cương đăng năm
2013 [11] giới thiệu sơ lược về MEI (Ministerial Effectiveness Index) chỉ số hiệuquả hoạt động xây dựng và thi hành pháp luât về kinh doanh của các Bộ do PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) xây dựng Căn cứ kết quả MEI 2011
và 2012 liên quan đến Bộ Tư pháp, tác giả chỉ ra 12 nguyên nhân làm cho điểm sốMEI của Bộ Tư pháp chưa cao và đề xuất xây dựng xây dựng bộ chỉ tiêu quốc gia
về đánh giá hiệu quả THPL phản ánh thực trạng giúp nền quản trị quốc gia ngàycàng tốt hơn
Trang 29“Điều kiện bảo đảm cho công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ” của Nguyễn Hoàng Việt năm 2015 [108] phân tích tình hình bảo đảm các
điều kiện cho việc THPL về xử lý vi phạm hành chính kể từ thời điểm Luật Xử lý viphạm hành chính có hiệu lực thi hành đến năm 2015 và chỉ ra bên cạnh những kếtquả đạt được thì vẫn còn tồn tại những mặt số hạn chế như: Công tác tuyên truyền,phổ biến, giáo dục pháp luật, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ chưa đáp ứng với yêucầu thực tế, chưa tập trung đúng đối tượng; Về tổ chức bộ máy nhân sự quản lýcông tác THPL về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương chưa được triển khaithực hiện, vì việc bổ sung biên chế hết sức khó khăn trong quá trình cải cách hànhchính, cải cách bộ máy hiện nay; Ngân sách nhà nước đang chịu nhiều áp lực từ nhucầu của nhiều cấp, nhiều ngành, nên việc đầu tư kinh phí cho công tác này chưa đápứng được nhu cầu thực tiễn; Chưa có VBQPPL điều chỉnh cụ thể về cơ sở dữ liệuquốc gia về vi phạm hành chính Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm đảm bảođiều kiện cho công tác THPL về xử lý vi phạm hành chính
1.1.2 Tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn theo dõi thi hành pháp luật
ở Việt Nam
Từ góc tiếp cận khoa học pháp lý, khía cạnh thực tiễn TDTHPL thường được
nhìn nhận và triển khai nghiên cứu trên hai bình diện: Một là, thực trạng điều chỉnh pháp luật về TDTHPL ở Việt Nam; Hai là, thực tiễn thực hiện hoạt động TDTHPL
ở Việt Nam hoặc địa bàn cụ thể Điều này dễ nhận thấy trong hầu hết các công trìnhnghiên cứu liên quan đến chủ đề TDTHPL ở Việt Nam:
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ” do TS.
Nguyễn Văn Cương chủ nhiệm năm 2015 [14], công trình có 02 chuyền đề về: Kinhnghiệm quốc tế trong việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ tiêu chí đánh giá hiệuquả THPL của các cơ quan nhà nước và Kinh nghiệm xây dựng và tổ chức thựchiện các bộ chỉ số đánh giá MEI và PAPI; Và 04 chuyên đề về thực trạng bộ tiêuchí: Tự đánh giá hiệu quả THPL của các cơ quan hành chính nhà nước, Cơ quanhành chính nhà nước cấp trên sử dụng đánh giá hiệu quả THPL của các cơ quanhành chính nhà nước cấp dưới; Thực trạng bộ tiêu chí và quy trình đánh giá: Hiệuquả THPL của cơ quan hành chính nhà nước trong hoạt động giám sát, đánh giá củacác cơ quan quyền lực nhà nước; Doanh nghiệp và người dân đối với hiệu quảTHPL của cơ quan hành chính nhà nước Kết quả nghiên cứu cho thấy: Hoạt độngđánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nói chung và hiệuquả THPL nói riêng còn chưa được tiến hành một cách bài bản và thống nhất áp
Trang 30đề xuất bộ chỉ số (hoặc các bộ chỉ số) đánh giá hiệu quả THPL của các cơ quanhành chính nhà nước ở Việt Nam gồm 6 chỉ số thành phần Việc đánh giá hiệu quảTHPL của các Bộ và ủy ban nhân dân các cấp đều có khung 6 chỉ số này nhưngtrọng số của mỗi chỉ số thành phần khi sử dụng để đánh giá các Bộ có thể khônggiống với đánh giá Ủy ban nhân dân các cấp Đồng thời, quy trình đánh giá 6 bước
về hiệu quả THPL bao gồm: Xác định nội dung và đối tượng được đánh giá; Xâydựng các tiêu chí (hoặc chỉ số) đánh giá phù hợp với nội dung đánh giá; Thu thập vàtổng hợp dữ liệu/dữ kiện (thông tin cần thiết để đánh giá); Phân tích dữ liệu, dữ kiệnthu thập được đề rút ra kết luận về hiệu quả của nội dung, đối tượng được đánh giá;Tìm hiểu, phân tích nguyên nhân của việc đạt được các mức độ hiệu quả/hay khônghiệu quả và kiến nghị, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả; Tổng kết, rút kinhnghiệm công tác đánh giá và đề xuất các biện pháp hoàn thiện phương pháp, côngtác đánh giá Ở phương diện này, công trình đã cung cấp cho đề tài luận án góc nhìn
đa chiều về hệ thống các quan điểm và giải pháp về vận dụng trong việc nghiên cứu
+ Đề tài luận văn thạc sĩ luật học về “Theo dõi thi hành pháp luật từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” của Vũ Duy Sỹ năm 2015 [83, tr 41-67, 71-77] Với thực tiễn
05 năm triển khai thực hiện công tác TDTHPL trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tác giả
đã chỉ ra những hạn chế của công tác này như: Kiến nghị của cơ quan giám sát,kiểm tra không được cơ quan, người có thẩm quyền xem xét và thực hiện; Chưa có
cơ chế cụ thể, trách nhiệm phối hợp trong việc cung cấp thông tin cho cơ quanTDTHPL của các cơ quan giám sát, cơ quan tố tụng (đặc biệt là Viện kiểm sát, Tòaán) để đánh giá về tình hình THPL; Nội dung đánh giá tình hình THPL, mặc dù đãđược quy định nhưng chưa lượng hóa hoặc có tiêu chí cụ thể Do đó, việc đánh giá
và xây dựng báo cáo tại địa phương mang tính chủ quan của người xây dựng báocáo, chưa phản ánh khách quan về tình hình THPL; Hệ thống văn bản quy phạm vềTDTHPL nói chung và các lĩnh vực khác nói riêng thường xuyên sửa đổi, bổ sung,nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo, việc ban hành còn chưa kịp thời…; Chưađảm bảo về tổ chức, bộ máy; Con người làm công tác này chưa đủ về số lượng,chưa đảm bảo chất lượng và tính chuyên nghiệp khi thực thi nhiệm vụ Trong việcthực hiện các nội dung TDTHPL, theo tác giả trong thực tế việc đánh giá tình hìnhban hành văn bản quy định chi tiết thi hành VBQPPL không có ý nghĩa và tác dụnglớn trong việc đánh giá tình hình THPL nói chung Hơn nữa, đây là hoạt động xâydựng pháp luật, nên việc đánh giá tình hình THPL bao gồm cả nội dung này làkhông thật sự cần thiết và hợp lý Bên cạnh đó, việc đánh giá tình hình (mức độ)tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân rất chung chung, khó xác
Trang 31chung và các tiêu chí để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật là một vấn đề lớn đãđược đặt ra từ rất lâu, song đến nay các cơ quan có thẩm quyền mới chỉ đưa ra đượccác tiêu chí mang tính chất định tính Từ thực trạng nêu trên, tác giả nêu ra quanđiểm tăng cường hoạt động TDTHPL ở Hải Dương và đề xuất giải pháp tăng cườngcông tác TDTHPL.
Các bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành: Phần lớn các nghiêncứu đều gắn liền với một không gian cụ thể và khối lượng thông tin và ý kiến nhậnxét xuất phát từ góc nhìn thực tiễn rất phong phú và đa chiều trong một số côngtrình tiêu biểu sau:
“Một số vấn đề cần quan tâm trong xây dựng thể chế về công tác theo dõi thi hành pháp luật qua thực trạng ở tỉnh Sóc Trăng ” của Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng
năm 2012 [79] căn cứ thực tiễn công tác TDTHPL trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng chỉnhững điểm chưa thống nhất, rõ ràng về nhận thức của cơ quan quản lý nhà nướcđối với hoạt động TDTHPL Một số nội dung, hoạt động TDTHPL còn trùng lắpvới hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện Kiểm sát trước đây (chứcnăng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát địa phương bị bãi bỏ từnăm 2001), một số hoạt động của kiểm sát việc tuân theo pháp luật có chức năngcủa TDTHPL thì không được ghi nhận, quy định trong nội dung của công tác theodõi (chế tài xử lý kết quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhànước từ khi bị bãi bỏ đến nay vẫn còn bị bỏ ngỏ) Do đó, khi xây dựng thể chếTDTHPL cần phải làm rõ các nội dung sau: Khái niệm, đối tượng, nội dung, xử lýkết quả TDTHPL nhằm phân định rõ TDTHPL và kiểm tra (kiểm sát) THPL
“Thực tiễn công tác theo dõi thi hành pháp luật của Ủy ban nhân dân - Một
số kiến nghị ” của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội đăng năm 2009 [76, tr.26-30];
“Kinh nghiệm triển khai thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Cà Mau”của Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau năm 2012 [73]; “Thực tiễn công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bến Tre ” của Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre năm 2012 [72],
chỉ ra thực trạng công tác TDTHPL của UBND các cấp trên địa bàn hiệu quả chưacao, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước Thực trạng này xuất phát từnhững tồn tại, vướng mắc có nguồn gốc từ cơ chế, chính sách, tổ chức, con người vànội dung TDTHPL của UBND các cấp chưa được quy định cụ thể hoặc rất rộng, đangành Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm và kiến nghị, đề xuất giải pháp nhằm nângcao hiệu quả công tác TDTHPL trong thời gian tới
“Thực trạng công tác theo dõi thi hành pháp luật và một số kiến nghị” củaThúy Vân năm 2013 [103]; “Thực trạng bộ tiêu chí tự đánh giá tình hình thi hành
Trang 32thành phố Đà Nẵng năm 2013 [75], đã làm rõ TDTHPL là hoạt động mới trong thựchiện chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan trên các lĩnh vực Qua 4 năm(2009-2013) thực hiện cho thấy nhiều khó khăn, vướng mắc như: Nội dung theo dõicòn chung chung, thiếu hệ tiêu chí và quy trình đánh giá; Chưa có quy định cụ thể
về cơ chế phối hợp, kiểm tra, đối chiếu; Chưa có hướng dẫn phân tích, đánh giá, xử
lý thông tin; Kinh phí chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; Công tác báo cáochưa phù hợp, thời điểm lấy số liệu chưa khoa học, chưa phù hợp với thực tiễn
Qua tình hình nghiên cứu nêu trên có thể thấy, mặc dù những vấn đề thựctiễn về TDTHPL ở Việt Nam được triển khai nghiên cứu rất sôi động ở trong nước,nhưng có khá ít công trình do người nước ngoài triển khai nghiên cứu hoặc được tổchức nghiên cứu trong không gian nước ngoài Các nhà nghiên cứu nước ngoài chỉtiếp cận thực tiễn Việt Nam thông qua việc tài trợ dự án hoặc tham gia với tư cáchchuyên gia trong hoạt động điều tra để khuyến nghị về TDTHPL, giúp Chính phủ,
bộ, ngành, địa phương nhận diện rõ hơn các khía cạnh thực tiễn của hoạt độngTDTHPL ở Việt Nam, tạo lập nguồn tư liệu vật chất cần thiết cho việc triển khainghiên cứu toàn diện về TDTHPL ở Việt Nam Một trong những công trình điểnhình theo hướng này là cuốn sách “Một số nghiên cứu về công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam ” trong Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền
tại Việt Nam” của Bộ Tư pháp và Chương trình phát triển của Liên hợp quốc(UNDP) năm 2010 [5] Tình hình thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên khảo
do cá nhân, các nhà nghiên cứu nước ngoài thực hiện về thực tiễn TDTHPL ở ViệtNam có thể được giải thích bởi mục tiêu ứng dụng của hoạt động nghiên cứu hướngtới phục vụ trực tiếp cho quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật Việt Nam hoặc đềxuất mô hình TDTHPL cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.1.3 Tình hình nghiên cứu và luận giải về các đề xuất, kiến nghị về theo dõi thi hành pháp luật
Các nghiên cứu về TDTHPL ở Việt Nam đều xuất phát từ yêu cầu tìm kiếm
mô hình TDTHPL phù hợp, hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả TDTHPLnhằm phát huy vai trò của Nhà nước, xã hội trong đảm bảo quyền làm chủ của Nhândân, hoàn thiện mô hình NNPQ Việt Nam Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu củahầu hết các công trình nghiên cứu ở các quy mô khác nhau đều thể hiện ở các đềxuất, kiến nghị cụ thể cho mục tiêu nói trên Điều này có thể thấy rõ trong các côngtrình nghiên cứu sau:
- Các cuốn sách: “Một số nghiên cứu về công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam ” trong Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt
Trang 332010 [5]; “Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về theo dõi thi hành pháp luật” của
Vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật - Bộ Tư pháp Việt Nam năm 2010
- Một số bài báo khoa học: “Công tác theo dõi thi hành pháp luật tại thành phố Cần Thơ - Thực trạng và giải pháp ” của Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ, năm
2012 [74]; “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ” của Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang năm
2012 [78]; “Tình hình triển khai công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Thành phố
Hà Nội và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này ” của Tống
Thị Thanh Nam năm 2013 [56]; “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành ” của Ths Hồ
Quang Huy năm 2015 [42]; “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra tình hình thi hành pháp luật ” của TS Nguyễn Ngọc Vũ năm 2015 [120]
Nhìn tổng thể các công trình nghiên cứu nói trên đã xác định một số quanđiểm tiếp tục hoàn thiện mô hình TDTHPL, sửa đổi pháp luật TDTHPL và nâng caochất lượng, hiệu quả TDTHPL ở Việt Nam Các quan điểm được xác định đều gắnvới nhu cầu bảo đảm quyền lực Nhân dân, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước phùhợp với yêu cầu xây dựng NNPQ và phát triển bền vững đất nước, phù hợp với cácchuẩn mực pháp lý quốc tế và nhu cầu hội nhập quốc tế hiện nay, đảm bảo tínhtương thích giữa TDTHPL và các điều kiện kinh tế xã hội cụ thể ở Việt Nam…
Trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp, kiến nghị theo hướng:
- Đổi mới nhận thức về tính tất yếu và vai trò của TDTHPL
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về TDTHPL với các đề xuất cụ thể như:Nghiên cứu, xây dựng Luật TDTHPL (Luật tổ chức THPL…); Sửa đổi, bổ sung cácvăn bản pháp luật, các văn bản có liên quan về TDTHPL để đảm bảo tính khả thi,tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; Thực hiện rà soát và đề xuất các cơquan có thẩm quyền sửa đổi các quy định pháp luật về tố tụng, ngành, lĩnh vực…đểtạo hành lang pháp lý đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả
- Đổi mới mô hình TDTHPL ở Việt Nam phù hợp với xu hướng NNPQ, kinh
Trang 34đối tượng theo dõi để xác định hoạt động TDTHPL phù hợp; Thực hiện rà soát đểlồng ghép chính sách, pháp luật TDTHPL và các nguồn lực TDTHPL nhằm tăngtính hiệu quả; Hoàn thiện chính sách, thể chế Nhà nước, thể chế xã hội về TDTHPL;Khơi thông và liên kết các nguồn lực Nhà nước và xã hội để tạo nên môi trườngTDTHPL tối ưu cho cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan tham gia.
- Đổi mới tổ chức cơ quan, đơn vị, cá nhân có chức năng, nhiệm vụ
TDTHPL, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về TDTHPL
- Tăng cường chất lượng hoạt động TDTHPL thông qua một số kiến nghị cụthể về tổ chức thực hiện, hình thức, phương pháp thực hiện và mở rộng phạm viTDTHPL
- Tăng cường hiệu quả công tác phối hợp, công tác truyền thông, tuyêntruyền, phổ biến về TDTHPL đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân để nângcao nhận thức của các chủ thể này đối với hoạt động TDTHPL
- Tạo lập một điều kiện đảm bảo, tăng cường hiệu quả TDTHPL như: Kinh phí, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, ý thức, văn hóa pháp luật…
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu về theo dõi thi hành pháp luật
1.2.1 Nhận xét tổng quát
Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài TDTHPL chothấy: Về tổng thể số lượng công trình nghiên cứu chủ đề TDTHPL còn ít, chưaphong phú và đa dạng, phần lớn được tiếp cận và nghiên cứu từ góc độ quản lý nhànước hoặc THPL là chủ đạo Đây là một thuận lợi đồng thời cũng một thách thứclớn đối với việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án
Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh lý luận về TDTHPL ởViệt Nam Nhiều công trình đã đi sâu đánh giá thực trạng TDTHPL đối với một sốlĩnh vực cụ thể hoặc tại một địa bàn cụ thể Trên cơ sở đó, một số công trình nghiêncứu đã dành sự quan tâm tới việc đề xuất các giải pháp, trong đó có các giải pháppháp lý nhằm nâng cao hiệu quả TDTHPL ở nước ta hiện nay Đây là kết quả có thể
kế thừa, phát triển trong nghiên cứu đề tài luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễnliên quan đến đề tài luận án còn bị bỏ ngỏ hoặc chưa được triển khai một cách có hệthống và toàn diện, mới chủ yếu hướng vào phục vụ yêu cầu của quản lý nhà nước,những nhiệm vụ thời sự của khoa học pháp lý Giai đoạn trước khi ban hành Nghịđịnh 59/2012/NĐ-CP về theo dõi tình hình THPL, hoạt động nghiên cứu tập trungluận giải nhu cầu theo dõi để đánh giá tình hình THPL của các cơ quan quản lý hànhchính trong thực tiễn đời sống xã hội Từ sau khi Nghị định 59/2012/NĐ-CP được
Trang 35thi hành Nghị định này, xây dựng và áp dụng các biện pháp đưa quy định của Nghịđịnh 59/2012/NĐ-CP vào đời sống xã hội Từ sau khi Hiến pháp năm 2013 với tinhthần Nhà nước Việt Nam là NNPQXHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Nhà nước được tổ chức và hoạt độngtheo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật đượcthông qua và có hiệu lực thực tế, hoạt động nghiên cứu có chuyển hướng tích cựcnhằm tìm kiếm cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn để cổ súy cho việc đổi mới môhình TDTHPL và luật hóa hoạt động TDTHPL theo mô hình mới Tuy nhiên, cáccông trình nghiên cứu trong thời gian gần đây chủ yếu tập trung vào tính ứng dụng,khía cạnh lý luận chưa được quan tâm đúng mức vì vậy chưa tạo ra thay đổi mangtính đột phá trong nhận thức về hoạt động TDTHPL trong bối cảnh mới hiện nay.
1.2.2 Những vấn đề liên quan đến theo dõi thi hành pháp luật đã được nghiên cứu sáng tỏ, có kết luận thống nhất và được luận án kế thừa, phát triển
Căn cứ vào tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đềluận án, có thể nhận thấy một số nội dung gắn với đề tài luận án đã được giải quyết,đạt được sự thống nhất cao và đề tài có thể tiếp thu mà không cần trở lại để phântích, làm sáng tỏ thêm
Trên phương diện lý luận, nhận thức chung về quyền làm chủ của Nhân dân,
Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hộibằng Hiến pháp và pháp luật cũng như trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối vớiviệc đảm bảo các quyền, trách nhiệm này trong thực tế đã được làm sáng tỏ Đặttrong sự nhận thức đó, vấn đề về cách hiểu vị trí, vai trò của hoạt động TDTHPLcủa các cơ quan nhà nước ở Việt Nam không còn là vấn đề gây tranh luận Đặc biệt,các công trình nghiên cứu trong nước đã thể hiện sự đồng thuận rất cao trong nhậnthức tính tất yếu của TDTHPL và nhu cầu nâng cao hiệu quả TDTHPL nói riêng vàhiệu quả THPL nói chung trong bối cảnh xã hội đương đại Theo đó, các nhà nghiêncứu đều thống nhất cho rằng, TDTHPL là nhu cầu nội thân của các cơ quan nhànước và TDTHPL nhằm xem xét, đánh giá thực trạng THPL, kiến nghị thực hiệncác giải pháp nâng cao hiệu quả THPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Cũng trên phương diện nhận thức lý luận, đã có sự thừa nhận chung về một
số đối tượng, nội dung, hình thức và phương pháp TDTHPL ở Việt Nam Tương tựnhư vậy, nhận thức về vai trò của pháp luật và nhu cầu tìm kiếm các phương pháplập pháp để điều chỉnh pháp luật đối với tổ chức và hoạt động TDTHPL là nhữngvấn đề đã được chấp nhận trong hầu hết các công trình nghiên cứu Ngoài ra, kếtquả nghiên cứu cũng đã đạt được sự thống nhất nhất định trong việc xác định một
Trang 36số khía cạnh nội hàm của mô hình pháp luật về tổ chức và hoạt động TDTHPL ởViệt Nam.
Trên phương diện thực tiễn, bức tranh thực trạng pháp luật và thực tiễn tổ
chức, hoạt động TDTHPL ở Việt Nam đã có những đường nét cơ bản Các côngtrình nghiên cứu đã tổng kết tương đối đầy đủ quá trình hình thành và phát triểnquan điểm của Đảng ta về THPL, TDTHPL và mục tiệu nâng cao hiệu quả, hoànthiện hệ thống pháp luật Đặc biệt, thực trạng TDTHPL được nghiên cứu và phântích tương đối thấu đáo Trong đó, các giai đoạn điều chỉnh pháp luật đối với tổchức, hoạt động TDTHPL đã được minh định với những nhận xét, đánh giá thốngnhất trong nhiều nghiên cứu Nhìn từ khía cạnh thực hiện pháp luật, nhiều nhậnđịnh, đáng giá về những kết quả và hạn chế cũng như nguyên nhân của kết quả, hạnchế của TDTHPL đã đạt được sự đồng thuận trên những luận điểm cơ bản Đặc biệt,kết quả nghiên cứu chung đều cho rằng, các điều kiện đặc thù của địa bàn diễn rahoạt động TDTHPL có tác động không nhỏ tới nội dung, hình thức, phương pháp vàhiệu quả TDTHPL
Trên phương diện đề xuất, kiến nghị, một mặt các công trình nghiên cứu đạt
được sự thống nhất chung về sự cần thiết phải áp dụng đồng thời nhiều giải pháp chủ
yếu ở hai phương diện: Một là, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy
phạm pháp pháp luật quy định về TDTHPL và thể chế hoạt động TDTHPL bằng một
đạo luật Hai là, đề xuất đổi mới mô hình TDTHPL trên cơ sở đáp ứng yêu cầu xã hội.
Mặt khác, vẫn tồn tại khá nhiều ý kiến khác biệt, thậm chí trái chiều với luận chứngkhác nhau về nội dung kiến nghị ở hai phương diện này cũng như ở các đề xuất khác
1.2.3 Những vấn đề liên quan đến theo dõi thi hành pháp luật nhưng chưa được giải quyết thấu đáo, còn nhiều tranh luận hoặc chưa đặt ra nghiên cứu, còn nhiều vướng mắc
- Về lý luận
+ Khái niệm TDTHPL, hoạt động TDTHPL và nhiều khái niệm liên quan (chủthể, hình thức, tính quyết định của xã hội, tiêu chí đánh giá, hiệu quả TDTHPL…) được
đề cập trong hầu hết các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ
đề luận án nhưng chưa được làm rõ về nội hàm, chưa đi tới một định nghĩa được thừanhận chung Trong bối cảnh, nhận thức của Hiến pháp năm 2013 về NNPQXHCN củaNhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Kinh tế thị trường; Trách nhiệm bảo đảm, pháthuy quyền làm chủ của Nhân dân của Nhà nước cũng như yêu cầu về hoàn thiện phápluật về TDTHPL thì mức độ khác biệt trong nhận thức lý luận về vấn đề nêu trên ngàycàng trở nên rõ rệt và đang đặt ra yêu cầu làm sáng tỏ thêm
Trang 37+ Đặc điểm của hoạt động TDTHPL là vấn đề hầu như chưa được đề cậptrong bối cảnh nghiên cứu thời gian qua, ngoại trừ một số luận văn Tuy nhiên, cácluận văn bị bó hẹp bởi mục tiêu và phạm vi nghiên cứu về một đối tượng cụ thểhoặc trong một không gian cụ thể nên đặc điểm của hoạt động TDTHPL được trìnhbày tương đối phiến diện, phụ thuộc vào pháp luật thực định, và chưa bộc lộ rõ tínhchất riêng của các loại hoạt động này nên chưa có khái luận mang tính chất tổng thể
về hoạt động TDTHPL nói riêng và TDTHPL nói chung
+ Các vấn đề liên quan đến chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phươngpháp TDTHPL là những vấn đề còn nhiều sự khác biệt nhất trong quan điểm nghiêncứu về TDTHPL Gắn với đó là sự tranh luận chưa đến hồi kết về phạm vi và cáchthức, kỹ thuật điều chỉnh pháp luật về TDTHPL ở Việt Nam Ngoài ra, các ý kiếnđược đề cập trong các công trình nghiên cứu thường mang tính đơn lẻ, chưa đi theo hướng phân tích toàn diện, hệ thống về điều chỉnh pháp luật
+ Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đa số tập trung phân tích,làm rõ các yếu tố, điều kiện nâng cao hiệu quả THPL, nhưng hầu như chưa đề cậpđến hoặc chỉ đề cập ở mức độ hết sức khái lược về chủ thể, đối tượng, nội dung,hình thức, phương pháp TDTHPL, các yếu tố ảnh hưởng, các điều kiện đảm bảo,nâng cao hiệu quả TDTHPL Ngay cả đối với cơ chế điều chỉnh pháp luật đã đượcquan tâm nghiên cứu thì khía cạnh ghi nhận các đảm bảo cho hiệu quả TDTHPLcũng chưa giành được sự lưu tâm đúng mức Có thể nói, đây là khoảng trống đáng
kể nhất trong các nghiên cứu về TDTHPL ở Việt Nam hiện nay
có công trình nghiên cứu nào đánh giá toàn diện, cụ thể về các yếu tố cấu thành nộidung điều chỉnh pháp luật về TDTHPL ở Việt Nam
+ Mặc dù những kết quả và hạn chế trong TDTHPL ở Việt Nam đã đượcnhiều công trình nghiên cứu chỉ ra ở các mức độ khác nhau nhưng nguyên nhân củakết quả và hạn chế đó chưa được nhận diện một cách đầy đủ hoặc mới chỉ dừng ởviệc nêu ra mà chưa có sự luận giải sâu sắc Thiếu sót theo hướng này còn bộc lộ ởchỗ, một số công trình tập trung nghiên cứu kinh nghiệm giám sát THPL ở một sốquốc gia và khả năng ứng dụng cho Việt Nam thì lại hầu như chưa có công trình
Trang 38nghiên cứu nào rút ra được những bài học kinh nghiệm từ chính quá trình điều chỉnh pháp luật và triển khai thực hiện pháp luật về TDTHPL ở Việt Nam.
+ Hầu như chưa có nghiên cứu nào làm sáng tỏ thực trạng các điều kiện bảođảm hiệu quả TDTHPL ở Việt Nam Chính vì vậy, một số giải pháp nhằm xây dựngcác điều kiện bảo đảm hiệu quả tổ chức và hoạt động TDTHPL ở Việt Nam tỏ rathiếu điểm tựa thực tiễn
- Về giải pháp, kiến nghị
+ Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề TDTHPLhiện nay cho thấy hiện đang thiếu sự phân tích, lập luận đầy đủ về bối cảnh và nhucầu tăng cường hiệu quả TDTHPL, đặc biệt là bối cảnh triển khai thi hành Hiếnpháp năm 2013 và thực hiện các chủ trương lớn của Đảng ta về xây dựngNNPQXHCN, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy dânchủ, quyền con người, hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế
+ Cũng liên quan đến vấn đề nói trên là tình trạng thiếu một hệ quan điểmđược thừa nhận chung về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức TDTHPL phù hợp
và khung pháp luật cơ bản cho việc ghi nhận và điều chỉnh toàn bộ tổ chức và hoạtđộng TDTHPL ở Việt Nam trong bối cảnh mới
+ Như đã đề cập ở trên, kết quả nghiên cứu liên quan đến chủ đề TDTHPLtheo pháp luật Việt Nam hiện nay đã dẫn đến một số đề xuất có tính khả thi nhằmhoàn thiện pháp luật về TDTHPL, nâng cao hiệu quả hoạt động TDTHPL, phát huyvai trò của Nhà nước và xã hội trong TDTHPL…Tuy nhiên, bất cập lớn nhất củahoạt động nghiên cứu thể hiện ở tính đơn lẻ, thiếu hệ thống giữa các giải pháp Nóicách khác, các giải pháp chưa đạt được sự đồng bộ và đầy đủ với mức thuyết phụccủa các lập luận chưa cao Ngoài ra, các công trình nghiên cứu cũng chưa xây dựngđược giải pháp mang tính chiến lược, tổng thể, lâu dài cho quá trình hiện thực hóacác hình thức thực hiện, phương pháp hoạt động TDTHPL theo hướng tối ưu hiệuquả THPL để phục vụ tốt nhất hạnh phúc của con người Việt Nam
1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu và câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Xuất phát từ sự phân tích thực trạng tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ
đề luận án, hoàn toàn có thể nhận thấy không gian nghiên cứu dành cho luận ánrộng rãi, bao gồm những vấn đề:
Thứ nhất, nghiên cứu những thay đổi mới trong nhận thức lý luận về bản
chất của TDTHPL gắn với tư duy về dân chủ, nhân quyền, kinh tế xã hội mở và đachiều, tính quyết định của xã hội, NNPQ trong điều kiện hội nhập sâu rộng, toàn
Trang 39diện với quốc tế Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu đi tới thống nhất khái niệm vàxác định rõ các đặc điểm của TDTHPL.
Thứ hai, nghiên cứu cơ chế TDTHPL và luận chứng tính tất yếu của hoạt
động TDTHPL ở Việt Nam như: Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phươngpháp TDTHPL Từ góc độ này, các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện đảm bảo hiệuquả TDTHPL được đặt ra nghiên cứu cả ở tầm lý luận và đánh giá thực tiễn
Thứ ba, nghiên cứu xác định nhu cầu và khung lý thuyết về điều chỉnh pháp
luật đối với TDTHPL Trên cơ sở đó, sử dụng khung lý thuyết để phân tích, đánhgiá toàn diện về thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với TDTHPL ở Việt Nam Kếtquả nghiên cứu cần đi tới nhận xét tổng thể về những hạn chế, bất cập và nguyênnhân của hạn chế, bất cập trong điều chỉnh pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, nghiên cứu thực tiễn triển khai TDTHPL đối với trường hợp tỉnh Gia
Lai để đánh giá tổng thể thực tiễn hoạt động TDTHPL đối với tất cả các yếu tố cấuthành TDTHPL nhằm kiểm định lý luận trong thực tiễn, xác định rõ những ưu điểm,hạn chế trong TDTHPL, xác định nguyên nhân, bài học kinh nghiệm để xây dựngcăn cứ cho các đề xuất bảo đảm TDTHPL ở Việt Nam hiện nay
Thứ năm, nghiên cứu xác định các quan điểm và đề xuất hệ thống các giải
pháp đảm bảo TDTHPL theo hướng tối ưu hiệu quả THPL để phục vụ tốt nhất hạnhphúc của con người; hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về TDTHPL; tăngcường hiệu quả tổ chức thực hiện, quản lý nhà nước và các hoạt động TDTHPL;huy động xã hội tham gia, thực hiện TDTHPL của Nhà nước trong đời sống xã hội;xây dựng các điều kiện đảm bảo hiệu quả TDTHPL…
1.3.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu theo dõi thi hành pháp luật
- Câu hỏi 1: Nhận thức như thế nào về theo dõi thi hành pháp luật ?
+ Giả thuyết nghiên cứu: Khái niệm TDTHPL chưa được định hình, bản chất
và các đặc điểm của TDTHPL chưa được xác định và phân tích rõ Điều này đangảnh hưởng lớn tới việc nhận diện chính xác các yếu tố hợp thành mô hình tổ chức
và hoạt động TDTHPL ở Việt Nam
+ Kết quả nghiên cứu (dự định): Xây dựng khái niệm THPL, TDTHPL; đặcđiểm, bản chất, vai trò, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp
TDTHPL
- Câu hỏi 2: Theo dõi thi hành pháp luật và khung lý thuyết về điều chỉnh pháp luật đối với theo dõi thi hành pháp luật được hợp thành bởi những yếu tố nào ?
Trang 40+ Giả thuyết nghiên cứu: Nhận thức về TDTHPL và khung pháp luật điềuchỉnh TDTHPL chưa phù hợp, cần phải thay đổi để tương thích với điều kiện mớihiện nay.
+ Kết quả nghiên cứu (dự định): Làm rõ TDTHP, khung pháp luật điều chỉnh
về TDTHPL và các yếu tố cấu thành theo điều kiện mới của Việt Nam hiện nay
- Câu hỏi 3: Những yếu tố, điều kiện nào có tác động, ảnh hưởng đến hiệu quả theo dõi thi hành pháp luật và trạng thái hiện hành của các yếu tố, điều kiện này trong trường hợp tỉnh Gia Lai ?
+ Giả thiết nghiên cứu: Có nhiều yếu tố chủ quan, khách quan tác động đếnTDTHPL, gây ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng hoạt động TDTHPL nhưng khảnăng tác động của các yếu tố đó chưa được nhận diện đầy đủ, một số yếu tố chưahiện diện trong đời sống chính trị - pháp lý ở Việt Nam, một số yếu tố khác đangđược hiểu và vận dụng chưa chính xác Do vậy, sự tác động của các yếu tố đang đitheo chiều hướng bất lợi, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả TDTHPL ở Gia Lainói riêng và Việt Nam nói chung hiện nay
+ Kết quả nghiên cứu (dự định): Đánh giá tầm ảnh hưởng, mức độ tác độngđến hiệu quả TDTHPL thông qua kết quả cụ thể đối với trường hợp tỉnh Gia Lai Từ
đó, xác định và lãm rõ những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến hiệu quả TDTHPL
- Câu hỏi 4: Thực trạng theo dõi thi hành pháp luật đang diễn biến như thế nào thông qua trường hợp tỉnh Gia Lai? Phù hợp hay không phù hợp với nhận thức về bản chất, vai trò của theo dõi thi hành pháp luật cũng như hình thức thực hiện, phương pháp hoạt động theo dõi thi hành pháp luật mà Việt Nam hướng tới ?
+ Giả thuyết nghiên cứu: TDTHPL đã đạt được kết quả nhất định, góp phầnhiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta Tuy nhiên, bên cạnh
đó, điều chỉnh pháp luật và thực tiễn TDTHPL ở Việt Nam thông qua trường hợptỉnh Gia Lai còn nhiều bất cập, hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan,chủ quan chưa đáp ứng yêu cầu hoàn thiện hình thức thực hiện, phương pháp hoạtđộng TDTHPL mà Việt Nam mong muốn xây dựng trong điều kiện mới hiện nay
+ Kết quả nghiên cứu (dự định): Xác định và lãm rõ những vướng mắc, bấtcập, hạn chế, nguyên nhân; xu hướng, định hướng trong điều kiện mới hiện nay; bàihọc kinh nghiệm từ thực tiễn TDTHPL của tỉnh Gia Lai
- Câu hỏi 5: Đảm bảo theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay cần xuất phát từ những quan điểm nào và cần thiết kế những biện pháp cụ thể nào để hiện thực hóa các quan điểm đó ?