Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, cùng với việc giao cho Chính phủ nhiệm vụ, quyền hạn trong việc bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kin
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về công tác theo dõi thi hành pháp luật
5
1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý cho việc thực hiện theo dõi thi hành pháp luật 5
1.2 Quy định pháp luật hiện hành về theo dõi thi hành pháp luật 15
Chương 2 Thực trạng hoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở tỉnh Gia Lai
35
2.2 Tình hình hoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở tỉnh Gia Lai 37
2.3 Các điều kiện, phương tiện bảo đảm cho công tác theo dõi thi hành pháp luật 62
2.4 Một số kết quả đạt được và những hạn chế bất cập trong triển khai công
tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai
65
Chương 3 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương
70
3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương 70
3.2 Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động theo dõi thi
hành pháp luật ở địa phương
75
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chính quyền địa phương có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức bộ máy nhà nước và đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành một số văn bản về chính quyền địa phương như: Sắc lệnh số 63, ngày 22 tháng 11 năm 1945 về tổ chức chính quyền ở nông thôn; Sắc lệnh số 77 về tổ chức chính quyền đô thị và mô hình tổ chức chính quyền ở mỗi cấp Trong giai đoạn kháng chiến đã ban hành các Sắc lệnh số 73-SL, ngày 3 tháng 9 năm 1947 về tổ chức Ủy ban hành chính chiến khu; Sắc lệnh số 91, ngày 1 tháng 10 năm 1947 về tổ chức Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính tại các tỉnh, huyện, phủ, châu, xã; Sắc lệnh số 136-SL, ngày 29 tháng 11 năm 1949 ấn định thể lệ và kiện toàn Hội đồng nhân dân thị xã và thành phố Chính quyền địa phương được củng cố và hoàn thiện dần trong các bản Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, và Điều 112, Hiến pháp năm 2013 quy định nhiệm vụ của Chính quyền địa phương “Chính quyền địa phương tổ chức
và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn
đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên; Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương; Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó”
Để cụ thể hóa Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định “1 Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này
2 Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã
Trang 63 Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn” [10, Điều 4] và quy định các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương trong các lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh chính trị, nông nghiệp, lâm nghiệp,… các lĩnh vực trên qua thực hiện của Chính quyền địa phương thể hiện qua công việc cụ thể:
Chấp hành chính sách, pháp luật và tổ chức triển khai thi hành trên địa bàn thể hiện qua: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật;
và giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong việc thi hành chính sách pháp luật trên địa bàn địa phương
Qua quá trình hình thành, lịch sử phát triển của Chính quyền địa phương qua các thời kỳ; thực trạng hoạt động của chính quyền địa phương trong việc đảm bảo thi hành Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, trên cơ sở đó sẽ đưa ra giải pháp cho việc triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ của Chính quyền địa phương trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật Tuy nhiên, trong thực tiễn tổ chức công tác theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương vẫn còn những nội dung cần hoàn thiện để đưa
pháp luật vào cuộc sống, đó là lý do tôi chọn luận văn “Theo dõi thi hành pháp
luật từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Công tác theo dõi thi hành pháp luật là một nội dung mới trong nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, từ việc triển khai cho đến tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng, nên việc nghiên cứu đối với nội dung này chưa thể hiện được chiều sâu dưới dạng đề tài, luận văn mà chỉ mới ở dạng hội thảo, bài viết Nội dung theo dõi thi hành pháp luật
đã có một số bài viết như: Bàn về cơ chế phối hợp theo dõi thi hành pháp luật của Nguyễn Quốc Hoàn; Huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật của Chu Thị Hoa; Theo dõi thi hành pháp luật ở một số nước Đông Nam Á và kinh nghiệm cho Việt Nam… Hội nghị lấy ý kiến góp ý Đề án
“Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật”
Việc nghiên cứu chuyên sâu tổ chức thi hành pháp luật ở một địa phương chưa
Trang 7có đề tài nào đề cập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai, luận văn đề xuất những phương hướng và giải hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả công tác này trong thực tiễn:
Luận văn đề ra những nhiệm vụ sau đây để đạt mục đích nghiên cứu:
- Phân tích cơ sở lý luận đối với quy định theo dõi thi hành pháp luật trong thực tiễn
- Phân tích pháp luật và thực tiễn công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai
- Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trong thực tiễn
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam
Trên cơ sở lý luận, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn
5 Phạm vi nghiên cứu và những đóng góp của luận văn
Đây là công trình khoa học nghiên cứu tương đối hệ thống về công tác theo dõi thi hành pháp luật Luận văn có những điểm mới sau:
- Làm rõ quy định pháp luật về vai trò của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc đảm bảo thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh
- Đưa ra một số giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương
Luận văn nghiên cứu công tác theo dõi thi hành pháp luật và vai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn công tác theo dõi thi hành pháp
Trang 8luật ở địa phương Qua đó, có thể làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vấn đề nâng cao công tác theo dõi thi hành pháp luật ở Gia Lai và địa phương khác
7 Kết cấu của luận văn
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, Luận văn đã xác định mục đích của việc nghiên cứu Để phù hợp với mục đích trên luận văn có kết cấu như sau:
Luận văn gồm các phần mở đầu; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 Chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật ở tỉnh Gia Lai;
Chương 2: Thực trạng hoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở tỉnh Gia Lai; Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC THEO DÕI
THI HÀNH PHÁP LUẬT 1.1 Cơ sở lý luận và pháp lý cho việc thực hiện theo dõi thi hành pháp luật
Xây dựng và thi hành pháp luật luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Hiện nay, Việt Nam đã có một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, gần 200 luật, pháp lệnh điều chỉnh toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; chất lượng các văn bản pháp luật ngày càng được nâng cao, bảo đảm các yêu cầu của hệ thống pháp luật Những thành tựu trong công tác xây dựng pháp luật, nhất là kết quả từ năm 2005 đến nay, kết quả đó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung ở Việt Nam
Thi hành pháp luật là hoạt động có ý nghĩa, quyết định hiệu lực, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành Những phản hồi của xã hội trong quá trình thi hành pháp luật chính là thước đo hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, giúp cho việc phát hiện kịp thời những tồn tại, hạn chế và những vấn đề mới phát sinh nhằm có giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật
Từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp năm 1992 đều quy định chức năng, nhiệm
vụ của Chính phủ về thi hành pháp luật [5, 6] Theo quy định của Hiến pháp năm
1992, cùng với việc giao cho Chính phủ nhiệm vụ, quyền hạn trong việc bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân [6, Điều 112], Hiến pháp năm 1992 cũng quy định Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [6, Điều 137], Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong phạm vi luật định [6, Điều 140] Tuy nhiên, sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết
Trang 10số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 thì các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát đã có một số thay đổi Theo đó, Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Tổ chức thực hiện Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10, của Quốc hội khóa X chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đã được điều chỉnh để bảo đảm các nhiệm vụ quản lý nhà nước, trong đó có các nhiệm vụ liên quan đến công tác thi hành pháp luật và đã được quy định tại Luật tổ chức Chính phủ [8], các nghị định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu
tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, văn bản về cải cách và kiểm soát thủ tục hành chính, về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật và tại các các văn bản quy phạm pháp luật khác cơ liên quan Cụ thể, từ năm
2003, chính phủ đã giao Bộ Tư pháp nhiệm vụ kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 135/2003/NĐ-CP); từ năm 2008 Chính phủ tiếp tục giao cho Bộ tư pháp chức năng mới, đó là quản lý nhà nước về công tác thi hành pháp luật (Nghị định số 93/2008/NĐ-CP) Bên cạnh đó, Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 05/3/2009 quy định chi tiết về biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng quy định trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc đánh giá tình hình thi hành các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, trình Chính phủ
Tuy nhiên, các văn bản nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc giao nhiệm vụ cho Bộ
Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật nói chung Xét về tổng thể, vẫn chưa có một cơ chế hợp lý, đầy đủ, toàn diện để Chính phủ đánh giá tình hình tổ chức thi hành và áp dụng pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước; việc chấp hành, tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; khắc phục, xử lý những hạn chế, vướng mắc và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn thi hành nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và ngược lại để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Nhà
Trang 11nước cần có một văn bản có hiệu lực pháp lý cao để điều chỉnh và quy định chi tiết
về nhiệm vụ này ở các bộ, ngành và địa phương
Hiện nay, Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định mang tính đột phá về thi hành pháp luật Theo đó, Chính phủ là cơ quan hành pháp, cơ quan chấp hành của Quốc hội, thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc; Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ chức thi hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân [9, Điều 114] Đây là những nội dung cần được cụ thể hóa trong Luật
tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản pháp luật khác có liên quan để triển khai thi hành Hiến pháp và đồng thời đẩy mạnh thi hành pháp luật trong thời gian tới
Về công tác theo dõi thi hành pháp luật Trên cơ sở Hiến pháp và các văn bản luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định, Bộ Tư pháp ban hành hoặc phối hợp với các
bộ ban hành thông tư để tổ chức theo dõi thi hành pháp luật
Theo Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp (Nghị định 93/2008/NĐ-CP), Nghị định số 16/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8
Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức
các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Tư pháp được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thi hành pháp luật, với hai nhiệm vụ cụ thể là theo dõi chung về tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Sở Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn cấp tỉnh
Trang 12Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP và Nghị định số 16/2009/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2101/QĐ-BTP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật Theo
đó, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật được xác định là đơn vị thuộc Bộ
Tư pháp, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thi hành pháp luật Thành lập Phòng Công tác thi hành pháp luật thuộc Vụ,
là đơn vị trực tiếp giúp Bộ trưởng triển khai thực hiện nhiệm vụ này Ngày 28/4/2009, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Uỷ ban nhân dân cấp xã Theo đó, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thi hành văn bản quy phạm pháp luật Về mặt tổ chức, trong cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp có thể thành lập các phòng theo các lĩnh vực: xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; hành chính tư pháp; bổ trợ tư pháp; quản lý luật sư; các lĩnh vực khác Phòng Tư pháp là
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về, công tác thi hành văn bản quy phạm pháp luật Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật, phát hiện, đề xuất biện pháp giải quyết những khó khăn vướng mắc trong thi hành văn bản quy phạm pháp luật ở
thống các cơ quan trong ngành Tư pháp, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các
Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các tổ chức pháp chế, theo đó giao các tổ chức pháp chế có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trang 13thực hiện nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý
1.1.1 Khái niệm theo dõi thi hành pháp luật
Khái niệm theo dõi thi hành pháp luật Khái niệm “theo dõi” được từ điển tiếng Việt năm 2013 của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin định nghĩa là “chú ý theo sát từng hoạt động, từng diễn biến để biết rất rõ hoặc có sự ứng phó, xử lý kịp thời” [4]
Có nghĩa là, để chú ý theo sát từng hoạt động, từng diễn biến thì cần phải tiến hành các hoạt động nhằm nắm bắt, hiểu rõ và đánh giá đúng thực trạng của vấn đề như hoạt động quan sát, thu thập thông tin, điều tra khảo sát, thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiến nghị
Theo dõi thi hành pháp luật là hoạt động quan sát, thu thập dữ liệu, thông tin về việc thi hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân để có những giải pháp, biện pháp can thiệp cần thiết, kịp thời hoặc để đánh giá đúng, chính xác về tình hình thi hành pháp luật Do vậy, theo dõi thi hành pháp luật phải đưa ra nhận xét, đánh giá về kết quả theo dõi, tính hiệu quả của hoạt động thi hành pháp luật… thông qua hoạt động theo dõi thi hành pháp luật giúp cơ quan có thẩm quyền nhận biết những khó khăn, vướng mắc, bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc, bất cập, hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật và đề xuất các kiến nghị, các biện pháp bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm minh, thống nhất, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Trong mối liên hệ với tổ chức thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật được xem là một hoạt động quan trọng của việc tổ chức thi hành pháp luật Theo dõi thi hành pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá toàn diện các vấn đề liên quan đến việc thi hành pháp luật, từ việc xây dựng các chương trình, kế hoạch triển khai thi hành pháp luật cho đến việc phổ biến, tuyên truyền ban hành văn bản hướng dẫn
áp dụng pháp luật; thực hiện các điều kiện bảo đảm cho thi hành pháp luật và theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thi hành pháp luật Thông qua hoạt động theo dõi thi hành pháp luật, các cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ thực hiện các giải pháp khắc phục, tháo gỡ các vướng mắc, bất cập trong việc thi hành pháp luật
Có thể nói, theo dõi thi hành pháp luật là một khâu của chu trình tổ chức thi
Trang 14hành pháp luật, thực hiện chức năng xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật nhằm mục đích nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thời là một trong những công cụ, phương tiện hữu hiệu thực hiện giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho việc thi hành pháp luật được thực hiện nghiêm minh, triệt để và chính xác
Xuất phát từ phân tích trên, có thể hiểu theo dõi thi hành pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với quá trình tổ chức thi hành, đưa pháp luật vào thực hiện trong đời sống xã hội của các cơ quan nhà nước
và người có thẩm quyền Qua đó, phát hiện những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành pháp luật và kiến nghị các giải pháp khắc phục, tháo gỡ để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo trật
tự kỷ cương pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội
1.1.2 Cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật
* Khái niệm của cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật Theo từ điển tiếng Việt [2] (Viện Ngôn ngữ học 1996) thì “cơ chế” là cách thức theo đó một quá trình thực hiện”, “tổ chức” được hiểu là “làm những gì cần thiết để tiến hành hoạt động nào đó để có được hiệu quả tốt nhất” Từ cách hiểu này, cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật chính là cách thức theo đó quá trình tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được diễn ra trên thực tế Sự phân tích trên đây về hai khái niệm theo dõi thi hành pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật có thể cho phép chúng ta không cần phân biệt cơ chế theo dõi thi hành pháp luật với cơ chế tổ chức thi hành pháp luật Như vậy, cơ chế theo dõi thi hành pháp luật được hiểu là cách thức để quá trình theo dõi thi hành pháp luật được vận hành, hoạt động Nói cách khác, cơ chế theo dõi thi hành pháp luật là toàn bộ các thành tố, các khâu diễn ra trong quá trình tổ chức thực hiện theo dõi thi hành pháp luật
Vì vậy, có thể quan niệm, cơ chế theo dõi thi hành pháp luật là một chỉnh thể gồm tất cả các thể chế pháp lý, các thiết chế nhà nước và các điều kiện bảo đảm có liên quan đến việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật, gắn kết chặt chẽ với nhau,
Trang 15cùng vận hành và bảo đảm cho hoạt động theo dõi thi hành pháp luật được tổ chức thực hiện đúng mục đích và hiệu quả, là công cụ hữu hiệu để xem xét, đánh giá đúng thực trạng thi hành pháp luật, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo trật tự, kỷ cương pháp luật và phát huy truyền thống làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước và
Cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật là do các cơ quan, tổ chức và cá nhân tiến hành trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật Trong các cơ chế pháp lý cho hoạt động tổ chức thi hành hành pháp luật thì cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được xem là có các chủ thể tham gia rộng rãi nhất Ngoài trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp và công dân đều được Hiến pháp, pháp luật quy định được tham gia vào hoạt động theo dõi thi hành pháp luật dưới các hình thức và mức độ khác nhau
- Cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật luôn đổi mới, linh hoạt đáp ứng yêu cầu của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội Chủ thể, nội dung, hình thức, quy trình theo dõi thi hành pháp luật được xác lập bởi pháp luật nên luôn mang tính bắt buộc, công khai, chính thống và minh bạch, nó đòi hỏi các chủ thể phải tiến hành thường xuyên, định kỳ, đột xuất tùy theo đối tượng và nội dung theo dõi
* Các yếu tố cấu thành cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật Từ khái
niệm đã phân tích trên, cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được cấu thành
Trang 16bởi các yếu tố sau:
Một là, thể chế theo dõi thi hành pháp luật, bao gồm tổng thể các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình theo dõi thi hành pháp luật giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật có cấp độ hiệu lực pháp lý khác nhau, từ Hiến pháp đến các đạo luật và văn bản dưới luật
Thể chế theo dõi thi hành pháp luật thường xác lập, quy định các quyền, nghĩa
vụ của các chủ thể; nội dung, hình thức, phương pháp và trình tự thủ tục theo dõi thi hành pháp luật; các điều kiện bảo đảm cho việc theo dõi thi hành pháp luật Ở Việt Nam hiện nay, Hiến pháp năm 2013 là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất đã có những quy định đặt nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện thể chế
về theo dõi thi hành pháp luật [7, Điều 99] Bên cạnh những quy định mang tính căn bản của Hiến pháp năm 2013, hệ thống thể chế pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật hiện nay đang được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý ở tầm nghị định do Chính phủ ban hành và một số văn bản quy định chi tiết thi hành
Hai là, thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật là hệ thống các tổ chức
được hình thành và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo dõi thi hành pháp luật
Hệ thống thiết chế tham gia vào quá trình theo dõi thi hành pháp luật bao gồm chủ thể tổ chức việc theo dõi thi hành pháp luật, chủ thể thực hiện việc theo dõi thi hành pháp luật (nhiều trường hợp hai chủ thể này là một), chủ thể thi hành pháp luật (chủ thể bị theo dõi, chủ thể có trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ, cung cấp thông tin, báo cáo, giải trình … trong quá trình theo dõi thi hành pháp luật Hệ thống thiết chế
đó ở nước ta bao gồm: Nhà nước và các tổ chức chính trị (Đảng Cộng sản Việt Nam); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn, Đoàn thanh niên…); các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp (Hội nhà văn, Hội nhà báo…); các phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế dân chủ ở cơ sở Hệ thống thiết chế đầy đủ, chặt chẽ, tổ chức khoa học là cơ sở để cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật hoạt động có hiệu lực và tránh được các biểu hiện chung
Trang 17chung, hình thức, kém hiệu quả
Ba là, các điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật là tất
cả những yếu tố mà nhờ đó, hoạt động theo dõi thi hành pháp luật có thể chắc chắn thực hiện được và đạt kết quả tích cực trên thực tế Đó là những bảo đảm về chính trị, sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng trong tổ chức theo dõi thi hành pháp luật; môi trường dân chủ pháp quyền để huy động sự tham gia đông đảo của nhân dân vào việc theo dõi thi hành pháp luật; bảo đảm về tổ chức bộ máy, biên chế và kinh phí dành cho công tác tổ chức theo dõi thi hành pháp luật và bảo đảm sự đồng thuận, phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong việc thực hiện công tác này
1.1.3 Vai trò của cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật
Theo dõi thi hành pháp luật là một bộ phận cấu thành của hoạt động tổ chức thi hành pháp luật, có vị trí, vai trò quan trọng trong việc tổ chức thi hành pháp luật Việc tổ chức và thực hiện theo dõi thi hành pháp luật có hiệu quả sẽ giúp cho việc xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật một cách chính xác, khách quan và khoa học Theo dõi thi hành pháp luật, trên phương diện là cơ chế “nhằm xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật” có vị trí, vai trò rất lớn trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền con người, đáp ứng yêu cầu hội nhập Quốc
tế
* Theo dõi thi hành pháp luật là công cụ, phương tiện giúp nâng cao hiệu quả thi hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nghị quyết 48-NQ/TW, ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02 tháng 6 năm 2005
về Chiến lược cải cách tư pháp của Bộ Chính trị là những văn kiện pháp lý nền tảng, tạo cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao vai trò của pháp luật trong điều kiện thực hiện chính sách đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
Trang 18nhập quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Một trong những yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Hệ thống pháp luật phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật là của tất cả công dân, không loại trừ đối với bất kỳ ai Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật giúp Nhà nước phát hiện, xử lý những bất cập, tồn tại trong quá trình xây dựng và
tổ chức thực hiện Hiến pháp và pháp luật Thông qua quá trình theo dõi, đánh giá việc đưa pháp luật vào thực thi trong đời sống xã hội, các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân, công dân sẽ góp phần tìm ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập của pháp luật Trên cơ sở đó, đóng góp ý kiến, kiến nghị
và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
* Theo dõi thi hành pháp luật góp phần bảo đảm và phát huy dân chủ trong đời
sống xã hội Theo Hiến pháp năm 2013, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của
mình bằng việc kiểm soát quyền lực nhà nước Việc kiểm soát đó bao gồm kiểm soát quyền lực nhà nước ở bên trong là kiểm soát việc thực thi lập pháp, hành pháp
và tư pháp; kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài là nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng Điều 9 Hiến pháp năm
2013 ghi rõ “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Để thực hiện đúng nguyên
Trang 19tắc “mọi ngồn lực trong xã hội và của Nhà nước đều thuộc về nhân dân”, trong khi thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” cần có cơ chế bảo đảm để người dân có thể thực hiện tốt quyền làm chủ của mình thông qua các hoạt động theo dõi, giám sát quá trình tổ chức thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước Theo dõi thi hành pháp luật là cơ chế hữu hiệu nhất để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình Người dân có thể trực tiếp tham gia vào hoạt động theo dõi thi hành pháp luật thông qua việc theo dõi, phản ánh, kiến nghị việc thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước bằng nhiều phương thức khác nhau như phản ánh tình hình thi hành pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, gửi đơn tới cơ quan có thẩm quyền hoặc thực hiện gián tiếp thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp địa diện cho mình
* Theo dõi thi hành pháp luật góp phần đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Trước yêu cầu đòi hỏi công cuộc hội nhập quốc tế, theo dõi thi hành pháp luật
là phương thức hiệu quả để xem xét, đánh giá kết quả thi hành pháp luật trong thực tiễn đời sống xã hội Thông qua hoạt động theo dõi thi hành pháp luật, các quy định, các văn bản pháp luật tồn tại nhiều bất cập, hạn chế, khiếm khuyết sẽ được kịp thời phát hiện để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhằm thiết lập hành lang pháp lý đầy đủ, phù hợp đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực
1.2 Quy định pháp luật hiện hành về theo dõi thi hành pháp luật
Theo dõi tình hình thi hành pháp luật là một nhiệm vụ mới, rất quan trọng, có ý nghĩa xã hội lớn, liên quan đến tổ chức và hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức
từ Trung ương đến địa phương, nhưng Bộ Tư pháp, các bộ, ngành và địa phương chưa có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện Chính vì vậy, bên cạnh việc tập trung vào hoạt động nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp lý; giao chức năng, nhiệm vụ cho hệ thống các cơ quan thuộc ngành Tư pháp trong việc giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương từng bước nghiên cứu, xây dựng, ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản về thể chế thực hiện công tác này
Trang 20Ngày 30 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1987/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật” Đây là nhiệm vụ có tính chất chiến lược, là bước thí điểm, tập dượt, chuẩn bị cho công tác theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật được triển khai một cách bài bản, lâu dài Đề án được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm
2010 đến ngày 30 tháng 6 năm 2011, gồm nhiều nội dung hoạt động, trong đó có một số nội dung thực hiện thí điểm Sau khi việc thực hiện Đề án hoàn thành, Bộ Tư pháp đã tiến hành tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và triển khai nhân rộng trong phạm vi cả nước
Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị định 93/2008/NĐ-CP, Bộ tư pháp đã
tổ chức nghiên cứu xây dựng thông tư hướng dẫn công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật Sau khi nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học trong cả nước, ngày 03 tháng 3 năm 2010, Bộ trưởng
Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 03/2010/TT-BTP hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Thông tư 03/2010/TT-BTP) Thông tư có hiệu lực từ ngày 17 tháng 4 năm 2010 Đây là cơ sở pháp lý ban đầu và chủ yếu, hướng dẫn cụ thể về nội dung, cơ chế, cách thức cũng như trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc theo dõi, đánh giá, báo cáo tình hình thi hành pháp luật với tư cách là một nhiệm vụ thường xuyên một cách kịp thời và thống nhất
Ngày 23 tháng 7 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định
số 59/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về theo dõi tình hình thi hành pháp luật,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2012 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP có 5 Chương, 20 Điều, quy định cụ thể về đối tương, phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc, phạm vi trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật; nội dung theo dõi tình hình thi hành pháp luật, hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật Đặc biệt, Nghị định đã quy định cụ thể về mục đích của hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật Theo đó, theo dõi tình hình thi hành pháp luật nhằm xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật, kiến nghị
Trang 21thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Để có hướng dẫn cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh triển khai và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, ngày 15 tháng 5 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 14/2014/TT-BTP quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-
CP Văn bản này đã quy định chi tiết, cụ thể về nghiệp vụ theo dõi thi hành pháp luật theo hướng “cầm tay chỉ việc”, với hy vọng tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật
Để tổ chức triển khai thực hiện hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP đã quy định về cơ chế, trách nhiệm và việc phối hợp thực hiện công tác này Theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 16, Điều 17
và Điều 18 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật được thực hiện theo 4 cơ chế: (i) theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật; (ii) theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo ngành, lĩnh vực; (iii) theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo địa bàn; (iv) phối hợp và huy động sự tham gia của các
tổ chức, cá nhân trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật
Đối với từng cơ chế thực hiện, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP quy định cụ thể
về phạm vi trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc chủ trì, tham mưu, phối hợp thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật Theo đó, theo dõi tình hình thi hành pháp luật được xác định là trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và của Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của tổ chức pháp chế các Bộ, ngành, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp cấp huyện và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã trong việc tham mưu, giúp các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc triển khai thực hiện; trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc các Bộ, ngành, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm theo dõi thi hành pháp luật trong lĩnh vực được giao quản lý
Trang 221.2.1 Thẩm quyền của các cơ quan Trung ương
1.2.1.1 Bộ Tư pháp
- Về phạm vi, theo quy định Bộ Tư pháp thực hiện theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước
- Trách nhiệm của chủ thể theo dõi thi hành pháp luật: Trình cơ quan có thẩm
quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước và trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý liên ngành, có nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành; Hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước trước ngày 15 tháng 11 Bên cạnh những trách nhiệm nêu trên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp Ngoài ra, với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về công tác thi hành pháp luật, theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ tiêu thống kê quốc gia để làm cơ sở xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật
1.2.1.2 Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Theo quy định phạm vi theo dõi tình hình thi hành pháp luật: Bộ, cơ quan ngang Bộ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ Cơ quan thuộc Chính phủ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực được phân công
- Trách nhiệm của chủ thể theo dõi thi hành pháp luật: Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch theo dõi tình
Trang 23hình thi hành pháp luật của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Bảo đảm các điều kiện cho việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp
về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trước ngày 15 tháng 10
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm xây dựng, ban hành Chỉ tiêu thống kê quốc gia ngành làm cơ sở xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật
- Trách nhiệm tham mưu thực hiện: Tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực được phân công
1.2.2 Thẩm quyền của các cơ quan Chính quyền địa phương
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các cấp
- Phạm vi theo dõi tình hình thi hành pháp luật: Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý ở địa phương
- Trách nhiệm của chủ thể theo dõi thi hành pháp luật: Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; Ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật của Ủy ban nhân dân; Xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Bảo đảm các điều kiện cho việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tư pháp về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trước ngày 15 tháng 10
Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện việc báo cáo về công tác theo dõi
Trang 24tình hình thi hành pháp luật theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp
- Trách nhiệm tham mưu thực hiện: Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý ở địa phương; Tổ chức pháp chế ở cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham mưu, giúp người đứng đầu cơ quan chuyên môn theo dõi tình hình thi hành pháp luật
1.2.3 Phối hợp và huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong theo dõi thi hành pháp luật
1.2.3.1 Phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật:
Công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật có phạm vi rất rộng, chủ thể và đối tượng theo dõi tập trung vào các cơ quan nhà nước Bên cạnh việc đánh giá về tình hình thi hành pháp luật của các cơ quan nằm trong phạm vi quản lý, điều hành của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, thì việc theo dõi, đánh giá về tình hình thi hành pháp luật trong các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát và các tổ chức xã hội thông qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức này là rất cần thiết, khi thực hiện các nội dung xem xét, đánh giá về tình hình tuân thủ pháp luật được quy định tại Điều
Trang 25quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện công tác theo dõi tình
hình thi hành pháp luật”
1.2.3.2 Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong theo dõi thi hành pháp luật:
Theo quy định, công tác theo dõi thi hành pháp luật chủ yếu được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, trong khi đây là công việc phức tạp, có phạm vi rộng với khối lượng lớn Điều này đã làm cho mức độ đáp ứng yêu cầu công việc đặt ra còn nhiều hạn chế và kết quả của công tác theo dõi thi hành pháp luật chưa thật sự bảo đảm tính khách quan, chính xác Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật, tại các Điều 4, Điều 6 và Điều 13 Nghị định số 59/2012/NĐ-
CP quy định về sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật
1.2.4 Ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì nội dung theo dõi tình hình thi hành pháp luật được quy định từ Điều 7 đến Điều 10 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và được quy định chi tiết từ Điều 1 đến Điều 5 Thông tư số 14/2014/TT-BTP Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP “Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên
cơ sở xem xét, đánh giá các nội dung sau đây:
1 Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
2 Tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật;
3 Tình hình tuân thủ pháp luật” [15, Điều 7]
Nội dung này được thực hiện thông qua các nội dung xem xét, đánh giá tình
hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết là một nội dung theo dõi tình
Trang 26hình thi hành pháp luật Theo Điều 8 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ thì việc xem xét, đánh giá tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện theo 03 nội dung sau: Tính kịp thời đầy đủ trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết; Tính hợp hiến hợp pháp, thống nhất đồng bộ với
hệ thống pháp luật của văn bản quy định chi tiết; Tính khả thi của văn bản quy định chi tiết
1.2.4.1 Tính kịp thời đầy đủ trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết
Quy định về tính kịp thời đầy đủ trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết tại Điều 8 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP đã được cụ thể hóa tại Điều 1 Thông tư số 14/2014/TT-BTP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP Theo đó, việc xem xét, đánh giá tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện Nội dung này được thể hiện:
Cơ quan theo dõi có thể thu thập thông tin về tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân, quan các phương tiện thông tin đại chúng… tuy nhiên, thông tin về tiến độ tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết chủ yếu được thu thập từ cơ quan có trách nhiệm xây dựng, ban hành văn bản Việc thu thập thông tin từ cơ quan này sẽ bảo đảm tính kịp thời và độ tin cậy cao hơn
Xem xét, đánh giá tính kịp thời đầy đủ trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết cần xem xét, đánh giá từng nội dung cụ thể sau:
* Rà soát các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, bao gồm: luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ Hiện nay, việc xem xét, đánh giá tính kịp thời đầy đủ trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết thông tư liên tịch của các Bộ, cơ quang ngang Bộ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân chưa được quy định là nội dung bắt buộc của việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân các cấp vẫn
Trang 27có thể vận dụng các tiêu chí nêu tại Điều 1 Thông tư số 14/2014/TT-BTP để yêu cầu cơ quan tư pháp (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã) xem xét, đánh giá tình hình xem xét, đánh giá tính kịp thời đầy đủ trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết thông tư liên tịch của các Bộ, cơ quang ngang Bộ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân
Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải thường xuyên cập nhật tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên để kịp thời rà soát, xác định các nội dung được giao quy định chi tiết Việc rà soát được thực hiện đối với từng văn bản và phải được thực hiện đối với tất cả các nội dung trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên để xác định các nội dung giao quy định chi tiết Để có thể tổ chức xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết kịp thời, đầy đủ, việc rà soát này phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời ngay sau khi các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành văn bản quy phạm pháp luật và phải được phân loại theo thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Việc xác định nội dung giao quy định chi tiết căn cứ các quy định giao trách nhiệm, hay ủy quyền như: Cơ quan A, cơ quan B quy định chi tiết Điều này hoặc khoản 1, khoản 2 Điều này; trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định (hoặc theo hướng dẫn) của cơ quan A, cơ quan B; cơ quan A, cơ quan B có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện nội dung tại Điều này; cơ quan A có trách nhiệm chủ trì phối hợp với
cơ quan B… hướng dẫn việc thực hiện các quy định nêu tại Điều này; cơ quan A quy định cụ thể việc thực hiện nội dung tại khoản 1 Điều 5… Sau đây là một số ví
dụ cụ thể về nội dung giao quy định chi tiết:
Ví dụ 1: Luật tiếp công dân năm 2013:
Khoản 2 Điều 33 quy định: "Chính phủ quy định chi tiết về các điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân"
Điều 36 quy định: "Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan, tổ chức
Trang 28khác có thẩm quyền quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật"
Ví dụ 2: Đối với Luật cán bộ, công chức năm 2008
+ Điều 6 quy định: “Chính phủ quy định cụ thể chính sách đối với người có tài năng”
+ Khoản 2 Điều 25 quy định:“Chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ do cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định”
+ Điều 40 quy định “Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế
độ tập sự theo quy định của Chính phủ”
+ Khoản 5 Điều 61 quy định “Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô, đặc điểm của địa phương, Chính phủ quy định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp xã”…
- Ví dụ 3: Luật nhà ở năm 2005, khoản 3 Điều 62 quy định: “Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể hộ gia đình nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này phù hợp với thực tế địa phương”
* Xem xét, đánh giá việc lập dự kiến danh mục văn bản quy định chi tiết
Sau khi rà soát xác định nội dung giao quy định chi tiết, cơ quan rà soát phải lập danh mục các nội dung giao quy định chi tiết đối với từng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên để dự kiến danh mục văn bản quy định chi tiết
Một số vấn đề cần lưu ý khi xem xét, đánh giá về việc rà soát nội dung giao quy định chi tiết và lập dự kiến danh mục văn bản quy định chi tiết:
- Để dự kiến danh mục văn bản quy định chi tiết, cơ quan có nhiệm vụ rà soát cũng cần tiến hành rà soát các văn bản hoặc các quy định hiện hành có liên quan đến vấn đề giao quy định chi tiết Bởi vì, có trường hợp nội dung giao cho một cơ quan quy định chi tiết cũng đã được giao cho chính cơ quan đó quy định chi tiết bằng một văn bản khác và trong thường hợp đó cơ quan rà soát, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đề xuất phương án xử lý, có thể quy định dẫn chiếu
Trang 29đến việc áp dụng các quy định của văn bản đã quy định chi tiết hoặc có thể đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản thay thế văn bản quy định chi tiết nội dung được giao đã ban hành trước đó
- Một văn bản quy định chi tiết có thể quy định chi tiết nhiều nội dung được giao trong 01 văn bản cơ quan nhà nước cấp trên hoặc trong nhiều văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên (1 nhóm nội dung có liên quan với nhau) Đây là một trong những giải pháp mà các cơ quan nên áp dụng trong quá trình rà soát, dự kiến danh mục văn bản quy định chi tiết để tiết kiệm thời gian và tập trung nguồn lực cho việc quy định chi
tiết, cũng như việc bảo đảm sự thống nhất giữa các nội dung quy định chi tiết
* Xem xét, đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo, góp ý, thẩm định, trình ban hành văn bản quy định chi tiết
Căn cứ kế hoạch tổ chức phân công cơ quan, đơn vị xây dựng, ban hành văn bản của cấp có thẩm quyền phê duyệt nếu có hoặc căn cứ theo quy định của văn bản giao quy định chi tiết, cơ quan theo dõi xem xét, đánh giá về tính đầy đủ, kịp thời trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao của các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tổ chức khảo sát, đánh giá tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, soạn thảo, góp ý, thẩm định, thẩm tra, trình, ban hành văn bản; công tác phối hợp trong việc xây dựng, ban hành văn bản; việc tiếp thu, chỉnh lý các ý kiến góp ý, tiếp thu giải trình các ý kiến thẩm định, thẩm tra văn bản…
Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết có trách nhiệm tuân thủ đầy
đủ các trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật hiện hành Như vậy, xem xét, đánh giá tính kịp thời, đầy đủ trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết cũng có nghĩa là việc cơ quan theo dõi xem xét, đánh giá việc thực hiện trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết của cơ quan chủ trì soạn thảo
Việc soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết được coi là kịp thời, đầy đủ khi ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết được giao trong đó quy định đầy
đủ các nội dung được giao quy định chi tiết theo đúng tiến độ theo Kế hoạch đã được
Trang 30cấp có thẩm quyền phê duyệt Việc cơ quan chủ trì soạn thảo kịp thời có giải pháp, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản, như có sự thay đổi phạm vi, nội dung quy định chi tiết trong văn bản quy định chi tiết, về số lượng văn bản quy định chi tiết
1.2.4.2 Xem xét, đánh giá tính thống nhất, đồng bộ của văn bản quy định chi tiết
Nội dung này thể hiện đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi chung là cơ quan chuyên môn), thu thập thông tin, bao gồm:
- Thông tin của các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức trực tiếp tổ chức thi hành văn bản;
- Kết quả của hoạt động kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật;
- Kết quả của hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển quy phạm pháp luật, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính;
- Phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội;
- Ngoài ra có thể tham khảo thông tin từ các nguồn văn bản khác trong các cơ quan nhà nước
Trên cơ sở các thông tin thu thập được cơ quan chuyên môn rà soát, xem xét, đánh giá tình trạng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có quy định trái, chồng chéo, mâu thuẫn với quy định khác trong chính văn bản đó và với quy định của các văn bản sau:
- Văn bản được rà soát, bao gồm cả điều ước quốc tế mà Nhà nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký hoặc gia nhập sau thời điểm ban hành văn bản được rà soát;
- Văn bản của chính cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản được rà soát;
Trang 31- Văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cùng cấp với cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản được rà soát;
Theo quy định, trường hợp các văn bản là căn cứ để rà soát, đối chiếu có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn; nếu các văn bản là căn cứ để rà soát, đối chiếu do một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản được ban hành sau
1.2.4.3 Xem xét tính khả thi của văn bản
Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi chung là cơ quan chuyên môn), thu thập thông tin, bao gồm:
- Thông tin của các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức trực tiếp tổ chức thi hành văn bản;
- Kết quả của hoạt động kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật;
- Kết quả của hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển quy phạm pháp luật, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính;
- Phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội;
- Thông tin từ các văn bản góp ý, thẩm định, thẩm tra, các báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến…
Trên cơ sở thông tin thu thập được, cơ quan chuyên môn xem xét, đánh giá tính khả thi của văn bản quy định chi tiết căn cứ vào các tiêu chí sau:
- Sự phù hợp của các quy định với điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa và phong tục tập quán: theo đó cần xem xét, đánh giá sự phù hợp của các cơ chế, chính sách quy định trong văn bản quy định chi tiết đối với điều
Trang 32kiện phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, phong tục tập quán, ý thức chấp nhận của người dân và các điều kiện thực tiễn thi hành các quy định đó
- Sự phù hợp của các quy định của văn bản quy định chi tiết với các điều kiện thực tế về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, nguồn tài chính để tổ chức đưa các quy định đó đi vào cuộc sống
- Sự phù hợp của các biện pháp giải quyết vấn đề; sự toàn diện của các biện pháp tương xứng của các chế tài trong văn bản quy định chi tiết so với yêu cầu giải quyết vấn đề; mức độ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, sự hài hòa về lợi ích giữa các chủ thể
- Sự rõ ràng, cụ thể của các quy định để bảo đảm dễ hiểu và được áp dụng một cách thống nhất, thuận tiện khi thực hiện và áp dụng
Căn cứ kết quả xem xét, đánh giá, cơ quan chuyên môn phát hiện văn bản quy định chi tiết có nội dung không bảo đảm tính khả thi hoặc có khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành, đánh giá nguyên nhân, kiến nghị hình thức xử lý, gửi về cơ quan tư pháp để tổng hợp
Trên cơ sở phân tích, xem xét, tổng hợp các nguồn thông tin được quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan tư pháp lập danh mục các văn bản quy định chi tiết
có nội dung không bảo đảm tính khả thi hoặc có khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành, báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý
1.3 Bảo đảm các điều kiện cho theo dõi thi hành pháp luật
Cơ sở pháp lý cho nội dung này quy định tại Điều 9 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, bao gồm: “Tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật; Tính phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực cho thi hành pháp luật; Mức độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật”
Trang 331.3.1 Tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật
Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi chung là cơ quan chuyên môn), thu thập thông tin, bao gồm:
- Kết quả của hoạt động kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật;
- Kết quả của hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển quy phạm pháp luật, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính;
- Phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội
Trên cơ sở những thông tin thu thập được, cơ quan chuyên môn xác định nhu cầu tập huấn, phổ biến pháp luật đối với từng lĩnh vực và đối tượng cụ thể, đối chiếu với các hoạt động, nội dung, hình thức, đối tượng tập huấn, phổ biến pháp luật đã được thực hiện, đánh giá tính đầy đủ, kịp thời, phù hợp của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật, tác động của công tác tập huấn, phổ biến pháp luật đến ý thức tuân thủ và mức độ nâng cao nhận thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức, công dân, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, tập huấn pháp luật, gửi cơ quan tư pháp cùng cấp để theo dõi, tổng hợp
Căn cứ nội dung đánh giá tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật do cơ quan chuyên môn gửi đến, cơ quan tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan phụ trách công tác tài chính cùng cấp tổng hợp, phân tích, xem xét các kiến nghị, báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, xử lý Đối với bảo đảm này đặt ra yêu cầu như: tính phù hợp với đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật; tính khả thi trong điều kiện của địa bàn thực hiện; tính hiệu quả, diện bao quát của hình thức được chọn đối với đối tượng
Trang 341.3.2 Tính phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực cho thi hành pháp luật
Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi chung là cơ quan chuyên môn), thu thập thông tin, bao gồm:
- Kết quả của hoạt động kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật;
- Kết quả của hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển quy phạm pháp luật, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính;
- Phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội
Trên cơ sở những thông tin thu thập được, cơ quan chuyên môn xác định nhu cầu về tổ chức bộ máy, số lượng, tiêu chuẩn cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của công tác thi hành pháp luật, đối chiếu với tình hình thực tế, đánh giá về
sự phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực, kiến nghị việc bảo đảm về tổ chức, biên chế và nguồn nhân lực, gửi cơ quan phụ trách công tác tổ chức cán bộ cùng cấp để tổng hợp, xử lý, đồng thời gửi cơ quan tư pháp cùng cấp
để theo dõi, tổng hợp chung
Căn cứ nội dung đánh giá tính phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng
về nguồn nhân lực cho thi hành pháp luật do cơ quan chuyên môn gửi đến, cơ quan
tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan phụ trách công tác tổ chức cán bộ và cơ quan phụ trách công tác tài chính cùng cấp tổng hợp, phân tích, xem xét các kiến nghị, báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, xử lý
1.3.3 Mức độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật
Trang 35Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi chung là cơ quan chuyên môn), thu thập thông tin, bao gồm:
- Kết quả của hoạt động kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật;
- Kết quả của hoạt động hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển quy phạm pháp luật, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính;
- Phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội
Trên cơ sở thực tế theo dõi, cơ quan chuyên môn lập dự toán về kinh phí, trang thiết bị và cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu của công tác thi hành pháp luật, đối chiếu với thực trạng bảo đảm, đánh giá về mức độ đáp ứng của việc bảo đảm, kiến nghị việc bảo đảm kinh phí, trang thiết bị và cơ sở vật chất, gửi cơ quan phụ trách công tác tài chính cùng cấp để tổng hợp, xử lý, đồng thời gửi cơ quan tư pháp cùng cấp để theo dõi, tổng hợp chung
Căn cứ đánh giá về mức độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật do cơ quan chuyên môn gửi đến, cơ quan tư pháp tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan phụ trách công tác tài chính cùng cấp tổng hợp, phân tích, xem xét các kiến nghị, báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị
cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý
Kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất và trang thiết bị có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của pháp luật Chủ thể thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật có trách nhiệm xem xét, đánh giá về mức độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cho việc thi hành đối với từng văn bản quy phạm pháp luật hoặc từng quy định pháp luật cụ thể; đối chiếu với mức độ đầu tư trên thực tế, từ đó kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có sự đầu tư một cách phù hợp, đáp ứng
Trang 36yêu cầu thực tiễn đặt ra
1.4 Quy định pháp luật về bảo đảm tuân thủ pháp luật
Nội dung xem xét, đánh giá về tình hình tuân thủ pháp luật được quy định tại Điều 10 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, nội dung này thể hiện: “Tính kịp thời, đầy
đủ trong thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; Tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền; Mức độ tuân thủ pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân”
Nội dung này thể hiện, các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi chung là cơ quan chuyên môn), thu thập thông tin, tiến hành như các chủ thể chuyên môn cấp Trung ương và cấp địa phương thực hiện
Trên cơ sở nội dung thông tin thu thập được, cơ quan chuyên môn tổ chức xem xét, đánh giá nhằm phát hiện, đồng thời lập danh mục:
- Các quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật chưa được cơ quan
nhà nước và người có thẩm quyền thi hành kịp thời, đầy đủ, hướng dẫn chưa chính
xác hoặc thiếu thống nhất;
- Các quyết định áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền ban hành có vi phạm về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, không bảo đảm tính chính xác;
- Các hành vi phạm pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể;
Trên cơ sở thông tin về tình hình tuân thủ pháp luật nêu trên, cơ quan chuyên môn thực hiện việc đánh giá nguyên nhân của tình hình vi phạm theo các tiêu chí về nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, công tác tổ chức thi hành pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguyên nhân khác; đồng thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
Trang 37- Thực hiện các biện pháp để kịp thời tổ chức thi hành văn bản pháp luật đã có hiệu lực;
- Xử lý các vi phạm nhằm bảo đảm tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn
và áp dụng pháp luật;
- Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật;
- Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, công dân có thể được xem xét, đánh giá thông qua nhiều tiêu chí và yếu tố khác nhau, song việc đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật rõ ràng, cụ thể và chính xác nhất là thông qua việc xem xét, đánh giá về tình hình vi phạm pháp luật Trách nhiệm của chủ thể thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật là phải nắm bắt được các thông tin, số liệu về tình hình vi phạm pháp luật, mức độ vi phạm, các loại hành vi vi phạm pháp luật điển hình nổi lên trong từng thời kỳ, tìm ra nguyên nhân của tình hình vi phạm, từ đó đưa ra kiến nghị về các giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật Những thông tin, số liệu vi phạm pháp luật chính xác và tin cậy nhất là các thông tin, số liệu được chính các cơ quan
và người có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật cung cấp (đối với các vi phạm pháp luật hình sự cần lấy từ cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát; đối với các vi phạm hành chính cần lấy từ các cơ quan và người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, v.v….) Bên cạnh những thông tin, số liệu về tình hình vi phạm pháp luật, chủ thể theo dõi thi hành pháp luật có thể thu thập các thông tin về tình hình vi phạm pháp luật do các cơ quan, tổ chức cá nhân cung cấp hoặc do các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh Tuy nhiên, các thông tin này chỉ được sử dụng để đánh giá tình hình thi hành pháp luật sau khi đã được đối chiếu, kiểm tra và khẳng định về tính chính xác, khách quan
Ví dụ: Trong việc theo dõi thi hành pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về hút thuốc lá, mới chỉ ra nguyên nhân lớn nhất được xác định là việc kiểm tra, xử lý không thường xuyên, chưa nghiêm túc, bên cạnh đó việc tuyên truyền, phổ biến mới chỉ chủ
Trang 38yếu tập trung vào những tác hại của thuốc lá mà chưa chú trọng đến các quy định về
xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về địa điểm hút thuốc lá
Bên cạnh các quy định thường xuyên bị vi phạm thì cũng có nhiều quy định được tuân thủ cao Ví dụ: Quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe mô
tô, xe gắn máy, quy định về cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo Các quy định này cần được nghiên cứu, phân tích trên nhiều mặt giúp cơ quan quản lý rút kinh nghiệm trong xây dựng và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật
Trong quá trình xem xét, đánh giá, đề nghị tập trung vào các quy định có mức
độ tuân thủ thấp; nêu, đánh giá nguyên nhân (chẳng hạn do pháp luật thực định không khả thi, do yếu kém trong tổ chức thi hành, do chưa đáp ứng yêu cầu thực tế hoặc nguyện vọng của số đông người dân…) đồng thời đề xuất biện pháp xử lý
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT Ở TỈNH
GIA LAI 2.1 Đặc điểm địa lý và kinh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai
Gia Lai là một tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc Tây nguyên có toạ độ địa lý từ 120 58'20'' đến 140 36'30'' độ vĩ Bắc, từ 1070 27'23'' đến 1080 54'40'' độ kinh đông, phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Tây giáp Campuchia, với 90 km đường biên giới quốc gia, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên Tỉnh có trục quốc lộ 14 nối với tỉnh Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam bộ; trục quốc lộ 19 nối với các tỉnh duyên hải miền Trung, từ Quy Nhơn đi Pleiku và sang các tỉnh đông bắc Campuchia; quốc
lộ 25 nối Gia Lai với Phú Yên
Gia Lai có độ cao trung bình 800 m so với mực nước biển, có dãy Trường Sơn hùng vĩ chia Gia Lai thành 2 vùng đông và tây Trường Sơn với khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau tạo nên sự đa dạng, độc đáo của một tỉnh cao nguyên, là vùng đất đầu nguồn của nhiều hệ thống sông lớn như sông Ba, Sê San, Ayun chảy xuống vùng duyên hải miền trung và sông Mê Kông với tiềm năng lớn về thuỷ điện Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10; mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Khí hậu Gia Lai thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp dài và ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi bò và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp Tổng diện tích của tỉnh là: 1.553.693,31 ha; Dân số toàn tỉnh theo số liệu sơ bộ điều tra dân số và nhà ở ngày 01/4/2009 là: 1.272.279 người (trong đó, 363.396 người ở thành thị và 909.396 người ở nông thôn), có 34 dân tộc cùng sinh sống (đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 44,7%, trong đó, dân tộc Jrai chiếm 30,5% và Bahnar chiếm 12,4% dân số toàn tỉnh) So với toàn quốc, Gia Lai chiếm 4,7% về diện tích (lớn thứ 2, sau tỉnh Nghệ An) và 1,48% về dân số Đến ngày 31/7/2009, Gia Lai có 14 huyện, 2 thị xã, 1 thành phố với đơn vị hành chính cấp xã (183 xã, 24 phường, 12 thị trấn), 2.082 thôn, làng, tổ dân phố (335 tổ dân phố); toàn
Trang 40tỉnh còn 68 xã đặc biệt khó khăn (vùng III) và 309 thôn, làng đặc biệt khó khăn của
có tổng chiều dài 503 km; 11 tuyến tỉnh lộ tổng chiều dài là 479 km và khoảng 150
km đường đô thị, 6.060 km đường liên thôn, liên xã
- Đến tháng 6/2018, toàn tỉnh đã đăng ký 405.000 phương tiện giao thông; trong đó có 19.160 ô tô, 382.202 mô tô, 3.638 xe công nông, xe độ chế Bình quân 66,08 người dân có 1 ô tô và 3,3 người dân có 1 xe mô tô
- Về cơ sở sản xất kinh doanh: đến tháng 6/2009, toàn tỉnh có 2.495 doanh nghiệp, tổng số vốn đăng ký 10.988 tỷ đồng (55 doanh nghiệp nhà nước, 2.440 doanh nghiệp ngoài quốc doanh); có trên 1.000 tổ hợp tác, 159 hợp tác xã và 33.113
hộ sản xuất, kinh doanh cá thể
Một số kết quả đạt được trong việc phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 trên địa bàn tỉnh:
Cụ thể tốc độ tăng trưởng GDP năm 2018 ước đạt 15,61% (Trong đó, nông lâm nghiệp đạt 5,19%, công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng 31,59%, dịch vụ tăng 14,97%) GDP bình quân đầu người đạt 12,3 triệu đồng/ năm tăng 12,4% so với năm
2008 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, nông nghiệp chiếm 43,3%, công nghiệp - xây dựng chiếm 29,57%, dịch vụ chiếm 27,13% Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.900 tỷ đồng bằng 108,6% KH vượt chỉ tiêu nghị quyết Hội đồng nhân dân giao và tăng 6,8% so với cùng kì năm 2008 Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng mạnh đạt 7,182 tỷ đồng bằng 107,2% KH tăng 19,32% so với năm 2008