Tuy nhiên, chưa có công trình nghiêncứu nào đề cập một cách cụ thể về vấn đề áp dụng hình phạt đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội mà chỉ có các công trình nghiên cứu về áp dụng hìnhphạt
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THÀNH LONG
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI
NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VĂN HIỂN
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” là công trình nghiên cứu khoa học
của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Nguyễn Văn Hiển
Các số liệu, kết quả, trích dẫn được đề cập trong Luận văn hoàn toàntrung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của Luận vănchưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Đinh Thành Long
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 81.1 Lý luận về người dưới 18 tuổi phạm tội 81.2 Lý luận về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 131.3 Mối quan hệ giữa quyết định hình phạt và áp dụng hình phạt đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội 22
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH GIA LAI 252.1 Quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội 252.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại tỉnhGia Lai 38
CHƯƠNG 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 573.1 Các yêu cầu áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 573.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới 18 tuổiphạm tội 61
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật Hình sự
BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sựCHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩaCQĐT Cơ quan điều tra
Trang 62.3 Kết quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi 44
phạm tội giai đoạn 2014 – 2019
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia Lai là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninhcủa khu vực Bắc Tây Nguyên Với diện tích tự nhiên lớn thứ hai cả nước(15.536km2), tỉnh Gia Lai có 17 đơn vị hành chính cấp huyện, 222 đơn vịhành chính cấp xã, trong đó có 07 xã thuộc 03 huyện có đường biên giới tiếpgiáp với nước Campuchia Dân số của tỉnh có hơn 1,3 triệu người với 34 dântộc Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 45% dân số, chủ yếu là dân tộcJrai và Bahnar
Với diện tích rộng, dân số đông, cơ cấu dân cư đa dạng, một bộ phậnkhông nhỏ người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn hoặc đặc biệtkhó khăn có trình độ học vấn, nhận thức pháp luật còn hạn chế Đây là mộttrong những nguyên nhân khách quan làm cho tình hình tội phạm trên địa bàntỉnh diễn biến phức tạp và không ổn định Thời gian gần đây, không nằmngoài xu thế chung của cả nước, tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Gia Lai
có xu hướng diễn biến phức tạp và trẻ hóa về độ tuổi
Người dưới 18 tuổi phạm tội là phạm trù có tính pháp lý và xã hội sâusắc Xuất phát từ đặc điểm thể chất, tâm sinh lý, nhận thức chưa hoàn thiệncủa người dưới 18 tuổi, một yêu cầu quan trọng đặt ra trong chính sách phápluật hình sự là phải xây dựng các nguyên tắc xác định trách nhiệm và xử lýhình sự phù hợp với lứa tuổi, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật nhưngcũng bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội
Mặc dù BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng vềnguyên tắc xử lý cũng như các quy định về xác định trách nhiệm hình sự và
áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng yêu cầu, đòi hỏithực tiễn đặt ra đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, hệ thống
Trang 8TAND tỉnh Gia Lai nói riêng trong việc áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội ngày càng khó khăn, nặng nề Bên cạnh những kết quả tíchcực đã đạt được, việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tộitrong hệ thống TAND tỉnh Gia Lai vẫn còn xảy ra vi phạm, sai lầm như: việcđánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân ngườidưới 18 tuổi phạm tội chưa chính xác; quan điểm áp dụng hình phạt chưathống nhất; việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc phạt cảitạo không giam giữ chưa đúng pháp luật; áp dụng hình phạt còn nặng về răn
đe, trừng trị, chưa đề cao mục đích giáo dục, hướng thiện Những tồn tại, hạnchế này là nguyên nhân dẫn đến việc các bản án áp dụng hình phạt còn bịkháng cáo, kháng nghị, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ngườidưới 18 tuổi phạm tội, làm suy giảm niềm tin của người dân vào tính nghiêmminh của pháp luật
Chính vì những lý do nêu trên, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận vàthực tiễn về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địabàn tỉnh Gia Lai có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và áp dụngpháp luật hình sự Một mặt góp phần hoàn thiện, làm phong phú cơ sở lý luận
về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, mặt khác góp phầnnâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tộitrong thực tiễn xét xử của hệ thống TAND
Mặc dù việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đãđược các tác giả nghiên cứu trong nhiều công trình hoặc bài viết nhưng chođến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệthống về vấn đề này gắn với thực tiễn của tỉnh Gia Lai Chính vì vậy, tác giả
chọn đề tài “Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” để làm Luận văn kết thúc chương trình đào tạo Thạc sĩ
Luật học của Học viện Khoa học xã hội
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Áp dụng hình phạt nói chung và áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội nói riêng là vấn đề mới, có phạm vi nghiên cứu rộng Một sốtác giả đã đề cập, nghiên cứu vấn đề này trong nhiều tài liệu, công trình vớigóc độ và mức độ tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nghiêncứu nào đề cập một cách cụ thể về vấn đề áp dụng hình phạt đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội mà chỉ có các công trình nghiên cứu về áp dụng hìnhphạt hoặc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như: Luận
án Tiến sỹ Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay của Lê Xuân Thân (2014); Luận văn Thạc sỹ Áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình của Vũ Quang Chung (2016); Luận văn Thạc sỹ Áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang của Hoàng Văn Huyền (2016); Luận văn Thạc sỹ Áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam của Đinh Tấn Long (2017); Luận văn Thạc sỹ Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn huyện Bến Lức, tỉnh Long An của Nguyễn Thị Giang
thông, Hà Nội, năm 2018, của tác giả Đinh Văn Quế Hoặc một số công trình
đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Tư pháp hình sự đối với NCTN:
Trang 10Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học, đăng trên Tạp chí TAND số 20/2004 của GS.TSKH Lê Cảm, TS.
Đỗ Thị Phượng; Quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội, đăng trên Tạp
chí TAND số 6/2007 của Ths Đinh Văn Quế…
Nhìn chung cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứumột cách độc lập, hệ thống ở mức độ Luận văn Thạc sĩ Luật học về áp dụnghình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Mặt khác, nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến các quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng cần được nghiên cứu toàn diện,chuyên sâu hơn, gắn liền với thực tiễn của một địa phương cụ thể như tỉnhGia Lai mà tác giả lựa chọn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn cần giải quyết cácnhiệm vụ cụ thể như sau:
- Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội như: khái niệm, đặc điểm của người dưới 18 tuổiphạm tội; khái niệm, đặc điểm, chủ thể, nội dung, hình thức và ý nghĩa ápdụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; phân tích, làm rõ mốiquan hệ giữa quyết định hình phạt và áp dụng hình phạt và đối với người dưới
18 tuổi phạm tội
Trang 11- Phân tích các quy định của BLHS năm 2015 về áp dụng hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội gồm: các nguyên tắc xử lý, các hình phạtđược áp dụng và việc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạmtội trong một số trường hợp cụ thể.
- Phân tích tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự có người dưới
18 tuổi phạm tội và đánh giá kết quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18tuổi phạm tội tại tỉnh Gia Lai giai đoạn 2014 – 2019; phân tích những viphạm, sai lầm, hạn chế trong việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18tuổi phạm tội trong hệ thống TAND tỉnh Gia Lai và nguyên nhân của những
vi phạm, sai lầm, hạn chế này
- Phân tích các yêu cầu áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới 18tuổi phạm tội và đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung của đề tài, Luận văn sử dụngcác quan điểm khoa học luật hình sự, lý luận về áp dụng hình phạt đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội, các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam được
áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và kết quả áp dụng hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội tại tỉnh Gia Lai giai đoạn 2014 – 2019
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý của ngànhLuật hình sự và tố tụng hình sự Các số liệu nghiên cứu được thu thập từ kếtquả xét xử đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của hệ thống TAND tỉnh GiaLai trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019
Trang 125 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đườnglối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền con người,quyền công dân, quyền trẻ em, về tội phạm, hình phạt và đấu tranh phòng,chống tội phạm… làm phương pháp luận nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, có mốiliên hệ logic và nằm trong một tổng thể thống nhất như: phương pháp phântích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp so sánh, phươngpháp thống kê, phương pháp nghiên cứu vụ việc điển hình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có tính hệthống về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thông quathực tiễn tại tỉnh Gia Lai; góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cơ sở lýluận về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và nâng caonăng lực áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của các chủthể có thẩm quyền
Kết quả nghiên cứu của Luận văn cũng góp phần làm phong phú thêm
cơ sở khoa học và lý luận của mục tiêu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ lý luận vàchuyên môn của tác giả để vận dụng hiệu quả vào thực tiễn công tác Đồngthời là tài liệu tham khảo có giá trị nhất định trong công tác nghiên cứu, giảng
Trang 13dạy; tạo cơ sở thống nhất về mặt nhận thức trong áp dụng hình phạt đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội; góp phần bảo đảm tính công bằng, nghiêm minhcủa pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền trẻ em.
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được cơ cấu gồm ba chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
- Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Gia Lai
- Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Bên cạnh đó, Luận văn cũng có các phần cơ cấu chung tương tự cácLuận văn Thạc sỹ khác gồm: phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tàiliệu tham khảo
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI
NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
1.1 Lý luận về người dưới 18 tuổi phạm tội
1.1.1 Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội
Độ tuổi là một trong những yếu tố quan trọng để xác định năng lựcnhận thức và điều khiển hành vi của một cá nhân khi tham gia vào các quan
hệ pháp luật Xuất phát từ điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, quan điểm tôngiáo, đạo đức, truyền thống… khác nhau nên các quốc gia trên thế giới quyđịnh độ tuổi một cá nhân có đầy đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vicũng khác nhau Ở Việt Nam, một cá nhân được xem là có đầy đủ khả năng
nhận thức, điều khiển hành vi khi đạt độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên [39].
Pháp luật Việt Nam hiện nay sử dụng nhiều thuật ngữ như “người chưathành niên”, “trẻ em”…để chỉ người dưới 18 tuổi và quy định đây là chủ thểcủa nhiều loại quan hệ pháp luật Mặc dù về mặt pháp lý còn tồn tại nhiềuthuật ngữ liên quan đến người dưới 18 tuổi tương ứng với các ngành luật khácnhau nhưng pháp luật Việt Nam thống nhất xác định người chưa thành niên làngười chưa đủ 18 tuổi còn người đã thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên
Theo Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 của Liên
hiệp quốc thì “trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [9] Mặc dù
pháp luật quốc tế cho phép các quốc gia tùy vào chính sách pháp luật củamình mà quy định độ tuổi cụ thể để xác định người chưa thành niên nhưngnhìn chung khái niệm “người chưa thành niên” và “trẻ em” là đồng nhất, được
sử dụng để thay thế cho nhau và đều dùng để chỉ những người dưới 18 tuổi.Đây là độ tuổi để một cá nhân được xem là có khả năng nhận thức đầy đủ
Trang 15Như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam về độ tuổi được xem là có đầy đủkhả năng nhận thức, điều khiển hành vi của cá nhân phù hợp với quy định củapháp luật quốc tế.
Chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã hình thành,phát triển cùng với lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam và ngày càng được hoànthiện, phù hợp hơn với thực tiễn Việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự không chỉ phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước mà còn xuất phát từquan điểm: con người đến một độ tuổi nhất định mới có năng lực trách nhiệmhình sự, hay nói cách khác là có năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội và điềukhiển hành vi theo sự nhận thức của bản thân Khi đó mới có thể buộc họ phảichịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình
Trước khi BLHS năm 2015 ra đời, pháp luật hình sự Việt Nam sử dụngthuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” Thuật ngữ này chưa thống nhấtvới quy định của các ngành luật khác về “người chưa thành niên” BLHS năm
2015 đã sử dụng thống nhất các thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” và “ngườidưới 16 tuổi” để thay thế cho các thuật ngữ “người chưa thành niên” và “trẻem” Đây là sự thay đổi cần thiết, phù hợp với quan điểm về người chưa thànhniên, tạo cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụngnhận thức và áp dụng pháp luật một cách thống nhất
Điều 8 của BLHS năm 2015 đã đưa ra khái niệm pháp lý về tội phạm,
và độ tuổi là một trong những dấu hiệu quan trọng để xác định chủ thể của tộiphạm Điều 12 của BLHS năm 2015 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệmhình sự như sau:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại
Trang 16một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170,
171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,
303 và 304 của Bộ luật này”.
Như vậy, BLHS năm 2015 đã phân hóa trách nhiệm hình sự đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội tương ứng với hai nhóm tuổi là “từ đủ 14 tuổiđến dưới 16 tuổi” và “từ đủ 16 tuổi trở lên” Đồng thời liệt kê cụ thể 28 tộidanh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệmhình sự Điều này có nghĩa pháp luật hình sự đã giới hạn cụ thể phạm vi chịutrách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội
Theo GS TS Võ Khánh Vinh, “người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội” [38, tr.466] Còn tác giả Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa pháp lý:
“Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm” [10, tr.367] Như vậy, các nhà khoa học pháp lý đều định nghĩa về người dưới
18 tuổi phạm tội gồm hai yếu tố: một là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
và hai là, người đó đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS
Tham khảo các quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm pháp lý vềngười dưới 18 tuổi phạm tội như sau:
Người dưới 18 tuổi phạm tội là người tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm đã đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, không ở trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
và không thuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.
1.1.2 Đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội
Người dưới 18 tuổi phạm tội là chủ thể đặc biệt của tội phạm bởi họchưa có sự phát triển hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý Ở khía cạnh pháp lý,
Trang 17họ là những người chưa có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Có thể nêu ra một số đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:
Thứ nhất, người dưới 18 tuổi phạm tội có đặc điểm thể chất và tâm sinh lý chưa hoàn thiện:
Về sinh học, người dưới 18 tuổi chưa phát triển đầy đủ, toàn diện vềcấu trúc sinh học và thể chất của cơ thể Hệ thần kinh trung ương của ngườidưới 18 tuổi hoạt động chưa cân bằng khiến họ dễ rơi vào những cơn xúcđộng mạnh hoặc nóng nảy vô cớ, dễ nảy sinh những hành vi thiếu kiềm chế
Về tâm lý, người dưới 18 tuổi bắt đầu có xu hướng sinh hoạt độc lập,dần hình thành thế giới quan cá nhân và đa số mong muốn tách mình ra khỏi
sự quản lý của gia đình, nhà trường
Về nhân cách, người dưới 18 tuổi đang ở giai đoạn quan trọng của sựđịnh hình về tính cách và chịu ảnh hưởng lớn từ thế giới bên ngoài
Về tình cảm, đây là giai đoạn người dưới 18 tuổi nảy sinh mối quan hệtình yêu khác giới, bắt đầu biểu lộ tình cảm và thể hiện cảm xúc, thái độ thânmật hơn trong các mối quan hệ khác giới Tuy nhiên do chưa phát triển hoànthiện về nhận thức và tâm lý nên họ gặp những khó khăn nhất định trong việcduy trì các mối quan hệ này
Về trí tuệ, người dưới 18 tuổi thích lập luận, suy diễn và nhìn nhận sựvật, hiện tượng theo quan điểm riêng của bản thân Trong giai đoạn này, ngườidưới 18 tuổi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ điều kiện kinh tế, quan điểm vănhóa, giáo dục của gia đình Đây là giai đoạn gây nhiều lo ngại cho các bậc cha
mẹ và xã hội vì lứa tuổi này dễ gặp phải những khủng hoảng về nhân cách,tâm lý Mặc dù đã có sự trưởng thành nhất định nhưng do chưa có sự tích lũyđầy đủ tri thức, kinh nghiệm sống nên trong nhiều trường hợp người dưới 18tuổi không thể tự giải quyết ổn thỏa những mâu thuẫn cá nhân Sự biến đổinhanh về thể chất, tâm sinh lý cùng với nhận thức còn hạn chế của
Trang 18người dưới 18 tuổi dẫn đến việc họ dễ bị người khác lôi kéo, kích động.
Thứ hai, đa số người dưới 18 tuổi phạm tội thường thực hiện tội phạm giản đơn, có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội hạn chế hơn rất nhiều so với người trưởng thành:
Đa phần người dưới 18 tuổi phạm tội xuất phát từ sự bộc phát cảm xúchoặc do bị người khác rủ rê, lôi kéo, kích động Tội phạm do người dưới 18tuổi thực hiện thường có tính chất giản đơn, mức độ nguy hiểm cho xã hộikhông lớn, trong đó các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản chiếm tỉ lệlớn Khi thực hiện tội phạm, người dưới 18 tuổi thường giữ vai trò đồngphạm, cách thức thực hiện tội phạm cũng đơn giản, không có tính quyết liệtđến cùng và không tinh vi, xảo quyệt như người trưởng thành
Thứ ba, người dưới 18 tuổi phạm tội có khả năng cải tạo, giáo dục cao:
Người dưới 18 tuổi là những người dễ học hỏi, tiếp thu vì đang ở trong lứatuổi định hình, hoàn thiện về nhân cách Do đó, việc giáo dục, cải tạongười dưới 18 tuổi phạm tội thường thuận lợi hơn so với người trưởng thành.Đây là một trong những cơ sở khoa học và lý luận để pháp luật hình sự xâydựng nguyên tắc xử lý nhân đạo, hướng thiện đối với người dưới 18 tuổiphạm tội Việc giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội thường gắn với nhiềuthiết chế xã hội như gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội trong đó vai tròcủa gia đình, bạn bè đóng vai trò đặc biệt quan trọng Người dưới 18 tuổiphạm tội nếu nhận được sự quan tâm, động viên thay vì kỳ thị, xa lánh củanhững người thân xung quanh thì khả năng giáo dục, cải tạo sẽ được cải thiệnrất nhiều Xuất phát từ cơ sở này mà chính sách hình sự đối với người dưới 18tuổi phạm tội đã nhấn mạnh việc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội “chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” [14].
Trang 191.2 Lý luận về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội
1.2.1.1 Khái niệm áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Áp dụng hình phạt là một hoạt động áp dụng pháp luật Từ điển Luật
học định nghĩa áp dụng pháp luật là “hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với
cá nhân, tổ chức cụ thể” [35, tr.15] Còn theo GS.TS Võ Khánh Vinh thì “áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực của các cơ quan nhà nước
và của những người có chức vụ, quyền hạn được thực hiện nhằm mục đích đưa ra các quyết định chuyên môn để giải quyết vấn đề xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ cụ thể” [36, tr.294].
Phân tích những quan điểm khoa học pháp lý trên, có thể nhận thấynhững dấu hiệu đặc trưng cơ bản của áp dụng pháp luật gồm: (1) là hoạt độngmang tính quyền lực nhà nước; (2) do các cơ quan nhà nước và những người
có chức vụ, quyền hạn thực hiện; (3) nhằm giải quyết các vấn đề liên quanđến hoạt động của nhà nước, xã hội hoặc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứtmột quan hệ cụ thể trong lĩnh vực nhất định của xã hội
Áp dụng hình phạt mang những dấu hiệu đặc trưng của áp dụng phápluật Trong đó, đặc trưng cơ bản để phân biệt áp dụng hình phạt với các hìnhthức áp dụng pháp luật khác là chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình phạt
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân
là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện
Trang 20quyền tư pháp” [19] BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa quy định này như sau:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [14] Như vậy, TAND là chủ thể duy
nhất có thẩm quyền áp dụng hình phạt
Việc áp dụng hình phạt của TAND phải tuân thủ trình tự, thủ tục đượcquy định trong BLTTHS Cơ sở để áp dụng hình phạt là việc có một hành vinguy hiểm đáng kể cho xã hội xảy ra trên thực tế, bị CQĐT khởi tố, điều tra,
bị VKSND truy tố, bị TAND đưa ra xét xử và cuối cùng, bị HĐXX xác định
là tội phạm và quyết định xử phạt bằng một loại hình phạt, mức hình phạt cụthể theo các quy định của BLHS về trách nhiệm hình sự và hình phạt
Theo PGS TS Nguyễn Ngọc Chí thì “áp dụng hình phạt là việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Tòa án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt
bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho cá nhân người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự” [3, tr.19] Còn theo GS.
TS Võ Khánh Vinh thì “quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội” [38, tr.386].
Quan điểm của nhiều nhà khoa học pháp lý nổi tiếng ở Việt Nam xem
áp dụng hình phạt gồm hai giai đoạn là giai đoạn nhận thức pháp luật hình sự
Trang 21và giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự, và quyết định hình phạt với biểu hiện
là việc lựa chọn một loại hình phạt, mức hình phạt được quy định trong điềuluật hoặc khoản của điều luật cụ thể được quy định trong BLHS là một giaiđoạn hay nói cách khác là một nội dung quan trọng, có tính quyết định cuốicùng của áp dụng hình phạt
Từ những nghiên cứu, phân tích trên, tác giả rút ra khái niệm áp dụnghình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:
Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự mang tính quyền lực Nhà nước, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân, do Thẩm phán, Hội thẩm trực tiếp thực hiện thông qua việc xét xử theo trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS; nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án; trên cơ sở các nguyên tắc xử lý và ưu tiên đặc biệt của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt để miễn hình phạt hoặc lựa chọn loại hình phạt, mức hình phạt cụ thể, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội.
1.2.1.2 Đặc điểm áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Thứ nhất, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hoạt động áp dụng pháp luật mang tính quyền lực Nhà nước và chỉ thuộc thẩm quyền của Tòa án:
Tính quyền lực Nhà nước trong việc áp dụng hình phạt đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội thể hiện ở điểm đây là hoạt động mang tính đơnphương, thể hiện ý chí một chiều của chủ thể được Nhà nước trao quyền, cụthể là Thẩm phán và Hội thẩm Các chủ thể này áp dụng hình phạt đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội thông qua quyền lực được Nhà nước trao và nhândanh Nhà nước thể hiện sự lên án đối với tội phạm, nhằm mục đích cải tạo,
Trang 22giáo dục người phạm tội và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của xã hội.
Thứ hai, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung về quyết định hình phạt, việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn phải tuân thủ các nguyên tắc xử lý hình sự riêng:
Khoản 1 Điều 3 của BLHS năm 2015 quy định 07 nguyên tắc chungtrong việc xử lý người phạm tội Đối với người phạm tội là người dưới 18
tuổi, Điều 90 của BLHS năm 2015 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới
18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này” Điều 91 của BLHS năm 2015 quy định
07 nguyên tắc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Như vậyngoài việc bảo đảm các nguyên tắc chung về quyết định hình phạt thì việc ápdụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn phải bảo đảm cácnguyên tắc xử lý riêng Quy định này xuất phát từ việc người dưới 18 tuổiphạm tội là những người có thể chất, tâm sinh lý chưa hoàn thiện, mặc dù làchủ thể của tội phạm nhưng đây là chủ thể có sự hạn chế về khả năng nhậnthức và điều khiển hành vi Vì vậy, việc xử lý hình sự đối với họ cũng cần cónhững quy định riêng để phù hợp với khả năng nhận thức của họ về tính nguyhiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội màmình gây ra
Thứ ba, việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải tuân thủ trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và được thể hiện bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án:
Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, thuộcthẩm quyền của nhiều cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụngkhác nhau Trong mỗi giai đoạn, BLTTHS quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụthể đối với các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng và trình tự, thủ tục để
Trang 23các chủ thể này thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Việc áp dụng hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc thẩm quyền Thẩm phán, Hộithẩm và chỉ được thực hiện sau khi Thẩm phán, Hội thẩm đã xem xét, đánhgiá khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thựchiện việc thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa để xác định bị cáo có tộihay không có tội; nếu có tội thì là tội gì, quy định tại điểm, khoản, điều nàocủa BLHS và cần phải xử lý như thế nào để tương xứng với tính chất, mức độhành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội Việc Tòa án ban hành bản án xácđịnh người dưới 18 tuổi phạm tội và quyết định loại, mức hình phạt cụ thể làkết quả cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án hình sự nên phụ thuộc rất lớnvào tính hợp pháp, đúng pháp luật của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng củacác cơ quan, người tiến hành tố tụng trong các giai đoạn tố tụng trước đó.
Đặc biệt, ngoài việc đảm bảo thủ tục tố tụng nói chung, Thẩm phán,Hội thẩm còn phải tuân thủ thủ tục tố tụng được áp dụng riêng đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương thứ XXVIII của BLTTHS năm
2015 Điều này có nghĩa rằng, song song với việc lựa chọn loại hình phạt,mức hình phạt thì để ban hành bản án, quyết định áp dụng hình phạt có hiệulực pháp luật, Thẩm phán, Hội thẩm phải bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội, nếu không sẽ bị xem là vi phạm nghiêmtrọng thủ tục tố tụng và bản án, quyết định đã ban hành có thể bị cấp có thẩmquyền hủy, sửa Trong thực tiễn, nhiều bản án áp dụng hình phạt đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội bị hủy để xét xử lại do có những vi phạm nghiêm trọng
về thủ tục tố tụng như: thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không có Hộithẩm là giáo viên, cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểubiết tâm lý người dưới 18 tuổi; Tòa án không yêu cầu người bào chữa hoặckhông mời người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi tham gia phiêntòa…
Trang 24Thứ tư, việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có tình tùy nghi cao và nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ người phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội:
BLHS năm 2015 quy định các nguyên tắc xử lý và hình phạt được ápdụng đối với ngưới dưới 18 tuổi phạm tội Hệ thống hình phạt có thể được ápdụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội gồm 04 hình phạt, được quy địnhthành nhiều khung hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm củahành vi phạm tội và có sự phân hóa theo hai độ tuổi của người dưới 18 tuổiphạm tội Đồng thời, một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất
được BLHS năm 2015 tiếp tục ghi nhận tại khoản 1 Điều 91 là: “việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” Đây là nguyên tắc
xuyên suốt mà các chủ thể áp dụng hình phạt phải bảo đảm Trong thực tiễn,
áp dụng hình phạt là hoạt động rất cần phát huy tính chủ động, sáng tạo, linhhoạt của Thẩm phán, Hội thẩm bởi mỗi hành vi phạm tội nảy sinh bởi nhữngnguyên nhân, điều kiện khác nhau, nhân thân người phạm tội cũng khôngtương đồng… từ đó đặt ra yêu cầu áp dụng hình phạt không được rập khuôn,cứng nhắc Thẩm phán, Hội thẩm cần phải có tri thức và kinh nghiệm phongphú, có bản lĩnh, đạo đức nghề nghiệp vững vàng để áp dụng hình phạt đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội đúng pháp luật
1.2.2 Chủ thể, nội dung và hình thức áp dụng hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội
1.2.2.1 Chủ thể:
Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hoạt động chỉthuộc thẩm quyền của TAND, mà cụ thể và trực tiếp là của HĐXX hoặc củaThẩm phán trong trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn
Trang 25BLTTHS năm 2015 xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án theo loại tộiphạm, theo lãnh thổ và quy định thành phần HĐXX theo tính chất nghiêmtrọng, phức tạp của vụ án Theo đó, thành phần HĐXX sơ thẩm có thể gồm 01Thẩm phán và 02 Hội thẩm hoặc gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm Thành
phần HĐXX phúc thẩm gồm 03 Thẩm phán [16].
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” [19] Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, BLTTHS năm 2015 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” [14] Như vậy, áp dụng hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hoạt động độc lập của Thẩm phán,Hội thẩm, không ai có quyền can thiệp, tác động vào hoạt động này Trongquá trình xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật, tôn trọng và
bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân [16].
1.2.2.2 Nội dung
Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hoạt độngnhận thức, áp dụng pháp luật hình sự mang tính quyền lực nhà nước, do Thẩmphán, Hội thẩm trực tiếp thực hiện Việc lựa chọn loại hình phạt, mức hìnhphạt cụ thể để áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là kết quả cuốicùng của toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật theo trình tự, thủ tục đượcBLTTHS quy định Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội làmột hình thức biểu hiện nên có đầy đủ các nội dung của áp dụng pháp luậthình sự, cụ thể:
Một là, Thẩm phán, Hội thẩm xác định, đánh giá các tình tiết của vụ án
liên quan đến việc áp dụng hình phạt gồm: các tình tiết thể hiện tính chất, mức
độ nguy hiểm đối với xã hội của tội phạm; các tình tiết nhân thân của
Trang 26người dưới 18 tuổi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệmhình sự Ngoài ra, Thẩm phán, Hội thẩm cũng phải xác định các tình tiết đểlàm căn cứ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong một
số trường hợp đặc biệt như: áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khunghình phạt, áp dụng hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt, áp dụnghình phạt trong trường hợp đồng phạm
Hai là, Thẩm phán, Hội thẩm nhận thức hiệu lực và các quy định của
BLHS hiện hành liên quan đến việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18tuổi phạm tội Trong đó quan trọng nhất là việc nhận thức chế tài có thể ápdụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Trong quá trình này, Thẩm phán,Hội thẩm cần đặc biệt chú ý bởi bên cạnh các nguyên tắc chung về quyết địnhhình phạt thì việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội còn phải bảo đảm nhữngnguyên tắc riêng
Ba là, Thẩm phán, Hội thẩm lựa chọn một loại hình phạt và mức hình
phạt cụ thể của điều luật để áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.Trong giai đoạn này, Thẩm phán, Hội thẩm phải xem xét, đánh giá ngườiphạm tội có đủ căn cứ để miễn hình phạt hay không; nếu không thì tiếp tụclựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người bị kết tội
Bốn là, Thẩm phán, Hội thẩm ban hành bản án kết tội người dưới 18
tuổi về tội phạm đã thực hiện và quyết định loại, mức hình phạt cụ thể trongphần “Quyết định” của bản án Trong giai đoạn này, Thẩm phán, Hội thẩmcũng quyết định áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trongmột số trường hợp đặc biệt như: áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất củakhung hình phạt, áp dụng hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt, ápdụng hình phạt trong trường hợp đồng phạm, áp dụng hình phạt trong trườnghợp phạm nhiều tội…
Trang 27Áp dụng hình phạt là giai đoạn nối tiếp của định tội danh Quyết địnhhình phạt được biểu hiện ở nội dung thứ ba và thứ tư của áp dụng hình phạt, làgiai đoạn cuối cùng của áp dụng hình phạt Một trong những đặc điểm khôngthể thiếu của tội phạm và cũng là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt tộiphạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác là tính phải chịu hình phạt, hay
nói cách khác là tính “phải bị xử lý hình sự” [14] Hình phạt chỉ có thể được
áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi và chỉ khi hành vi phạm tộicủa người đó được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và
bị Tòa án kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật [16].
1.2.2.3 Hình thức
Hình thức của áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật Mỗihoạt động áp dụng pháp luật khác nhau được biểu hiện bằng văn bản áp dụngpháp luật khác nhau Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
có hình thức biểu hiện là các bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, các quyếtđịnh giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm của Tòa án có thẩm quyền, gọichung là bản án, quyết dịnh có hiệu lực pháp luật BLTTHS năm 2015 quy
định: “Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bản án phải có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng xét xử…” [16].
1.2.3 Ý nghĩa của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Về mặt chính trị, áp dụng hình phạt là hình thức quan trọng nhất của ápdụng pháp luật hình sự, là biểu hiện của quyền lực Nhà nước, thể hiện sự lên
án đối với tội phạm và người dưới 18 tuổi phạm tội; góp phần bảo vệ độc lập,chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi íchhợp pháp của tổ chức, bảo vệ quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN [14].
Trang 28Về mặt pháp luật, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạmtội là sự cụ thể hóa tinh thần của nhà lập pháp trong chính sách hình sự đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội Đặc biệt là các ưu tiên về pháp lý và mụcđích xử lý nhân đạo, hướng thiện, nhằm giáo dục, giúp người dưới 18 tuổiphạm tội trở thành người có ích cho xã hội.
Bên cạnh đó, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tộicòn có ý nghĩa xã hội to lớn BLHS năm 2015 quy định Tòa án chỉ áp dụnghình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn tráchnhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục trongtrường hợp được miễn trách nhiệm hình sự hoặc việc áp dụng biện pháp giáodục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa
[14] Việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội “chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” [14] Đây là mục đích và ý nghĩa xã
hội cao cả mà Thẩm phán, Hội thẩm phải luôn tâm niệm và hướng đến khi ápdụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Áp dụng hình phạt đúngpháp luật, hợp lý sẽ tác động, định hướng, thay đổi ý thức, hành vi của ngườidưới 18 tuổi phạm tội nói riêng và các chủ thể khác trong xã hội nói chungtheo hướng tích cực, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm hiệu quả
1.3 Mối quan hệ giữa quyết định hình phạt và áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Khoa học pháp lý Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu nghiên cứu, phântích và sử dụng thuật ngữ “quyết định hình phạt” Qua nghiên cứu một sốquan điểm của các nhà khoa khọc pháp lý nổi tiếng, tác giả cho rằng áp dụnghình phạt và quyết định hình phạt là hai phạm trù không đồng nhất mà có sựkhác biệt nhất định, trong đó áp dụng hình phạt có nội dung biểu hiện rộnghơn quyết định hình phạt
Trang 29Quyết định hình phạt là “xác định loại và mức hình phạt cụ thể (kể cả hình phạt bổ sung nếu có) trong phạm vi luật cho phép để áp dụng với người phạm tội cụ thể” [35, tr.659] Theo GS TS Võ Khánh Vinh thì “quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội” [38, tr.386] Như vậy, trong
mối quan hệ với áp dụng hình phạt thì quyết định hình phạt là một giai đoạncủa áp dụng hình phạt, tuy nhiên đây là giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhấtcủa áp dụng hình phạt
Trong hoạt động áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạmtội, chủ thể thực hiện không chỉ lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội mà còn phải thực hiện quá trình từ nhận thức,đánh giá tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, sau đó là đối chiếu,lựa chọn các quy phạm pháp luật hình sự tương ứng nhằm xác định tội phạm,trách nhiệm hình sự và cuối cùng là quyết định hình phạt cụ thể đối với ngườidưới 18 tuổi phạm tội
Như vậy, quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của áp dụng hìnhphạt và là hậu quả pháp lý trực tiếp tác động đến người dưới 18 tuổi phạm tộitrong toàn bộ hoạt động áp dụng hình phạt
Trang 30Luận văn cũng đã phân tích, chỉ ra mối quan hệ giữa quyết định hìnhphạt và áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Theo đó,quyết định hình phạt là một nội dung, một giai đoạn biểu hiện quan trọng, cótính then chốt trong toàn bộ hoạt động áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội
Những vấn đề đã phân tích trong Chương 1 là cơ sở lý luận quan trọng
để tác giả tiếp tục nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định cụ thể củapháp luật hình sự về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội vàthực tiễn áp dụng tại tỉnh Gia Lai trong Chương 2
Trang 31CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH GIA LAI
2.1 Quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
2.1.1 Nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội
Nguyên tắc áp dụng pháp luật là “những nguyên tắc cơ bản do luật định dựa vào đó các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền vận dụng những văn bản pháp luật, tập quán pháp luật thích hợp nhằm giải quyết công việc thuộc thẩm quyền” [36, tr.567].
Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một hình thức
áp dụng pháp luật hình sự nên phải tuân thủ những nguyên tắc của áp dụngpháp luật nói chung và áp dụng pháp luật hình sự nói riêng BLHS năm 2015
quy định:“Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này” [14].
Ngoài các nguyên tắc chung về quyết định hình phạt đối với ngườiphạm tội được quy định từ điểm a đến điểm g khoản 1 Điều 3 thì việc xử lýngười dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm 07 nguyên tắc xử lý riêng được quyđịnh từ khoản 1 đến khoản 7 Điều 91 của BLHS năm 2015, cụ thể gồm:
Một là, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã
Trang 32nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm:
Nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 59 của BLHS năm
1985 [11] Và từ BLHS năm 1999 cho đến BLHS năm 2015, nguyên tắc này
luôn đóng vai trò là nguyên tắc đầu tiên, quan trọng nhất, bao trùm cácnguyên tắc khác trong việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội Theo tinh thầncủa nguyên tắc này, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợiích tốt nhất và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội Điều này có nghĩarằng trong mọi trường hợp, các chủ thể áp dụng hình phạt phải tạo điều kiệntối đa để áp dụng các biện pháp không nhằm mục đích trừng trị người dưới 18tuổi phạm tội Nguyên tắc này thể hiện chính sách hình sự nhân đạo đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội và phù hợp với nguyên tắc đã được Công ước
Quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 của Liên hiệp quốc ghi nhận là “những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu” [9].
Nội dung của nguyên tắc này cũng quy định, việc xử lý người dưới 18tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chấtnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ratội phạm Vì vậy, yêu cầu đặt ra với các chủ thể áp dụng hình phạt là việc ápdụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải hướng đến và đạtđược hiệu quả giáo dục, giúp người phạm tội nhận thức được sự nguy hiểmcho xã hội trong hành vi phạm tội mà họ đã gây ra và giúp đỡ họ sửa chữa sailầm chứ không nhằm mục đích trừng trị
Một điều cần lưu ý thêm là nguyên tắc này không chỉ được vận dụngtrong quá trình áp dụng hình phạt mà phải được bảo đảm trong suốt quá trình
xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, từ khi phát hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội, khởi tố, điều tra, truy tố cho đến khi xét xử và thi hành án
Trang 33Hai là, người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp cụ thể được quy định tại khoản 2 Điều 91 của BLHS năm 2015 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của BLHS năm 2015, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn:
Điều 29 của BLHS năm 2015 quy định các trường hợp được miễn hoặc
có thể được miễn trách nhiệm hình sự đối với cá nhân đã thực hiện hành viphạm tội không phân biệt cá nhân đó dưới 18 tuổi hay từ đủ 18 tuổi trở lên.Tuy nhiên ngoài các trường hợp này, người dưới 18 tuổi phạm tội còn có thểđược miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát,giáo dục nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậuquả, không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 29, bản thân họhoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng biện pháp giámsát, giáo dục và thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 91của BLHS năm 2015, cụ thể là:
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạmtội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại Điều 134 (Tội cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 141 (Tội hiếp dâm),Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 248 (Tội sản xuất trái phép chất matúy), Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (Tội vận chuyểntrái phép chất ma túy), Điều 251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy) và Điều
252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy)
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quyđịnh tại khoản 2 Điều 12 của BLHS năm 2015, trừ tội phạm quy định tại Điều
123 (Tội giết người), Điều 134 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khỏe của người khác), Điều 141 (Tội hiếp dâm), Điều 142 (Tội hiếp dâm
Trang 34người dưới 16 tuổi), Điều 144 (Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16tuổi), Điều 150 (Tội mua bán người), Điều 151 (Tội mua bán người dưới 16tuổi), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 248(Tội sản xuất trái phép chất ma túy), Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất matúy), Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy), Điều 251 (Tội muabán trái phép chất ma túy) và Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy).
- Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án
Khoản 2 Điều 91 của BLHS năm 2015 đã kế thừa và sửa đổi khoản 2Điều 69 của BLHS năm 1999 theo hướng mở rộng phạm vi miễn trách nhiệmhình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêmtrọng do cố ý đồng thời quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sựđối với từng loại tội phạm Đây là cơ sở để Thẩm phán, Hội thẩm áp dụngthống nhất hình phạt
Bà là, việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm:
Đây là nguyên tắc có mối liên hệ và bổ sung cho nguyên tắc thứ nhấtnhằm hạn chế việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội trong khi chỉ cần áp dụng các biện pháp xử lýkhác cũng bảo đảm hiệu quả giáo dục và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tộiphạm Thực tiễn cho thấy, các tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra ngàycàng tăng về số lượng và nghiêm trọng hơn về tính chất, mức độ nguy hiểm
đã đặt ra yêu cầu phải xử lý nghiêm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Tuynhiên, xuất phát từ quan điểm nhất quán trong chính sách hình sự đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội là “việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải
Trang 35bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” [14] nên BLHS năm 2015 vẫn tiếp tục ghi nhận
Nội dung của nguyên tắc này quy định Tòa án chỉ được áp dụng hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệmhình sự và áp dụng một trong các biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộngđồng hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc việc xử lý hình sự đối vớingười dưới 18 tuổi phạm tội bằng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡngkhông bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa Điều này có nghĩa rằng, trướckhi áp dụng hình phạt đối với người 18 tuổi phạm tội, Tòa án phải ưu tiênxem xét, cân nhắc áp dụng mọi biện pháp không phải là hình phạt, nếu cácbiện pháp đó vẫn không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa thì mới ápdụng hình phạt
Năm là, không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới
18 tuổi phạm tội:
Đây vừa là nguyên tắc xử lý hình sự, vừa là căn cứ quyết định hình phạtđối với người dưới 18 tuổi phạm tội Nguyên tắc này lần đầu tiên được ghinhận tại khoản 4 Điều 59 của BLHS năm 1985 và được tiếp tục quy địnhtrong BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 Nguyên tắc này thể hiện quan
Trang 36điểm nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta là không áp dụng hình phạt tử hình
và hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bởi việc ápdụng các hình phạt này quá nghiêm khắc, đi ngược lại mục đích giáo dục,giúp đỡ người dưới 18 tuổi phạm tội như đã quy định tại nguyên tắc thứ nhất.Nếu áp dụng các hình phạt này thì gần như người dưới 18 tuổi phạm tộikhông còn cơ hội để sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội
Sáu là, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới
18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không
có tác dụng răn đe, phòng ngừa; khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:
Đây cũng vừa là nguyên tắc xử lý, vừa là căn cứ quyết định hình phạtđối với người dưới 18 tuổi phạm tội Nguyên tắc này quy định, trong mọitrường hợp Tòa án phải hạn chế đến mức thấp nhất việc áp dụng hình phạt tù
có thời hạn, kể cả việc áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điềukiện là án treo Tòa án chỉ xem xét, áp dụng hình phạt tù đối với người dưới
18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt khác hoặc các biện pháp giáo dụckhông có tác dụng răn đe, phòng ngừa Trong trường hợp bắt buộc phải ápdụng hình phạt tù có thời hạn thì Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tộiđược hưởng mức hình phạt nhẹ hơn mức hình phạt áp dụng đối với người đủ
18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng Quy định này phù hợp với cơ sở lý luậnrằng người dưới 18 tuổi là những người thiếu hoàn thiện trong nhận thức vànăng lực điều khiển hành vi Đồng thời cũng biểu hiện cụ thể cho chính sáchhình sự nhân đạo, nhằm hạn chế đến mức tối đa những tác động tiêu cực củamôi trường giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Bên cạnh việc hạn chế đến mức thấp nhất việc áp dụng hình phạt tù có
Trang 37thời hạn, nguyên tắc này còn quy định không được áp dụng hình phạt bổ sungđối với người dưới 18 tuổi phạm tội Đây là quy định bắt buộc nhằm tiết chếtối đa việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Bảy là, án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:
Luật Trẻ em năm 2016 quy định “trẻ em là người dưới 16 tuổi” [18].
Như vậy, nguyên tắc này thể hiện tính khoan hồng cao trong chính sách hình
sự đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội, độ tuổi được xem là trẻ
em bởi suy cho cùng, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của độ tuổinày còn rất hạn chế Nguyên tắc này cũng đồng thời là biểu hiện cụ thể củaquan điểm không thành kiến, không xem trừng trị là mục đích khi xử lý hình
sự đối với người dưới 16 tuổi phạm tội, tạo điều kiện tốt nhất để người phạmtội hòa nhập, phát triển bình thường bởi tương lai của họ còn rất dài
2.1.2 Các hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Theo quy định của BLHS năm 2015 thì người dưới 18 tuổi phạm tộikhông bị áp dụng hình phạt bổ sung và chỉ bị áp dụng một trong bốn hìnhphạt chính đối với mỗi tội phạm gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam
giữ và tù có thời hạn [14].
2.1.2.1 Cảnh cáo
Đây là hình phạt nhẹ nhất trong bốn hình phạt chính được áp dụng đốivới người dưới 18 tuổi phạm tội Theo từ điển Luật học Việt Nam thì cảnh cáo
là “biện pháp công khai lên án, phê phán đối với người phạm tội… được tòa
án tuyên trong bản án ” [35, tr.102] Hình phạt cảnh cáo tuy không tước đi
tự do nhưng thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội màngười dưới 18 tuổi đã gây ra, ít nhiều tác động đến nhận thức, suy nghĩ củangười bị kết án, giúp họ nhận thức được sai lầm để sửa chữa
Trang 38Điều 34 của BLHS năm 2015 quy định: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt” [14] Theo quy định tại Điều 12 của BLHS
năm 2015 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọitội phạm còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộcmột trong các tội phạm được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 12 của BLHSnăm 2015 Như vậy, hình phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với người từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội
2.1.2.3 Cải tạo không giam giữ
Cải tạo không giam giữ là “buộc người phạm tội phải tự cải tạo dưới
sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức nơi họ làm việc hoặc cư trú qua việc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định” [35, tr.98] Đây không chỉ
là hình phạt chính được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội mà cònđược áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội Vì vậy, khi áp dụnghình phạt này Tòa án phải đồng thời áp dụng quy định tại Điều 36 và Điều
100 của BLHS năm 2015 Cụ thể, hình phạt cải tạo không giam giữ được ápdụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng
do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng Đây là hình phạt được
Trang 39áp dụng khi Tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly người dưới 18 tuổiphạm tội ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện để họ được giáo dục, giúp
đỡ trong chính môi trường sống, làm việc, học tập của mình, từ đó nâng caohiệu quả giáo dục, giúp đỡ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Ngoài ra cần lưu ý, khác với việc áp dụng hình phạt cải cải tạo khônggiam giữ đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội, trong quá trình áp dụnghình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa ánkhông khấu trừ thu nhập của người phạm tội, kể cả trường hợp người đó cóthu nhập hoặc có tài sản riêng Thời hạn cải tạo không giam giữ có thể ápdụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng được giới hạn không quá mộtphần hai thời hạn mà điều luật quy định
2.1.2.4 Tù có thời hạn
Tù có thời hạn là “phạt tù có khoảng thời gian xác định” [35, tr.824].
Với việc buộc người dưới 18 tuổi phạm tội bị giam giữ, cách ly khỏi đời sống
xã hội trong một khoảng thời gian xác định, tù có thời hạn là chế tài nghiêmkhắc nhất được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Xuất phát từnguyên tắc xử lý nhân đạo, khoan hồng mà hình phạt tù có thời hạn chỉ được
áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp thật sựcần thiết, nếu Tòa án xét thấy các biện pháp xử lý khác không có tác dụnggiáo dục, phòng ngừa
Mức phạt tù có thời hạn được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạmtội được quy định thấp hơn đáng kể so với mức phạt tù có thời hạn được ápdụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội Cụ thể, BLHS năm 2015 quyđịnh, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, nếu điều luậtđược áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hìnhphạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thìmức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà