1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Theo dõi chấp hành pháp luật từ thực tiễn huyện quế sơn, tỉnh quảng nam

86 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 512,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 05/3/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP nhằm góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng của c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN CÔNG HÙNG

THEO DÕI CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN,

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính về “Theo dõi chấp hành pháp

luật từ thực tiễn huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam” là hoàn toàn trung thực

và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Nguyễn Công Hùng

Trang 3

UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội

VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THEO DÕI CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT

Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 40

2.1 Khái quát tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến theo dõi chấp hành pháp luật 40 2.2 Hoạt động theo dõi chấp hành pháp luật ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 41 2.3 Nhận xét về theo dõi tình hình chấp hành pháp luật ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 58

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THEO DÕI CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 63

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động theo dõi chấp hành pháp luật từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 63 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động theo dõi chấp hành pháp luật từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 65

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chấp hành pháp luật, thi hành pháp luật là những hình thức quan trọng của thực hiện pháp luật Hai nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đó là Xây dựng và tổ chức chấp hành pháp luật, đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang tập trung chỉ đạo tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thực thi pháp luật tạo sự liên thông giữa công tác xây dựng pháp luật và công tác tổ chức thi hành pháp luật, chấp hành pháp luật thì vai trò của công tác theo dõi chấp hành pháp luật càng trở nên quan trọng Đây là một nhiệm vụ mới, có tính phức tạp, phạm vi rộng có liên quan đến tổ chức và hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương Vì vậy, để công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật được triển khai có hiệu quả, việc nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật vẫn là yêu cầu cấp thiết Ngày 05/3/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2020/NĐ-CP sửa đổi,

bổ sung một số Điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP nhằm góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong việc quản lý Nhà nước và xã hội; khẳng định vị trí, vai trò của công tác này trong hoạt động của bộ máy Nhà nước ở cả trung ương

và địa phương; từng bước củng cố, kiện toàn các cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật; đảm bảo công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật là là một kênh thông tin nhạy bén trong việc đánh giá, phản biện đối với các chính sách 3 Về tổ chức thực hiện theo dõi thi hành pháp luật, việc triển khai các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật (đặc biệt là hoạt động kiểm tra tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng

Trang 6

tâm, liên ngành, kiểm tra công tác quản lý nhà nước về theo dõi thi hành pháp luật) ở nhiều bộ, ngành và địa phương vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực sự phát huy vai trò, hiệu quả của công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước; việc kiểm tra, xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật đối với các vụ việc đột xuất hoặc theo chuyên đề chưa thực hiện được nhiều và chưa có hiệu ứng xã hội lan tỏa, việc phản ứng chính sách thông qua theo dõi tình hình thi hành pháp luật vẫn còn chậm, thụ động, đặc biệt việc xử lý các kiến nghị của Bộ

Tư pháp tại báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật hằng năm vẫn chưa được các Bộ, ngành quan tâm xử lý triệt để; việc huy động sự tham gia của nhân dân, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chưa thực sự sâu rộng, chưa phát huy được đầy đủ sự tham gia và phản biện từ chính cộng đồng xã hội trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật; theo dõi tình hình thi hành pháp luật chưa trở thành một kênh thông tin nhạy bén trong việc đánh giá, phản biện đối với các chính sách Chính vì vậy, Đề tài "Theo dõi chấp hành pháp luật từ thự tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam" là Đề tài có tính cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

"Quản lý Nhà nước (QLNN) về công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo (KNTC) ở Việt Nam hiện nay" do TS Nguyễn Tuấn Khanh, Phó Viện trưởng làm chủ nhiệm Các tác giả tham gia nghiên cứu Đề tài đã đề ra mục tiêu mục tiêu của đề tài là nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QLNN

về công tác thanh tra, giải quyết KN,TC trong bối cảnh thực hiện Chiến lược Phát triển ngành Thanh tra đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Đề tài cũng chỉ rõ được những ưu điểm và kết quả đạt được, những hạn chế bất cập, nguyên nhân, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn QLNN về công tác thanh tra, giải quyết KN,TC cần tháo gỡ trong giai 4 đoạn 2011-2017 Các tác giả

Trang 7

cũng đề cập hoạt động theo dõi thi hành pháp luật của các cơ quan thanh tra Bài viết của TS Nguyễn Tuấn Khanh "Một số vấn đề đặt ra đối với công tác theo dõi thi hành pháp luật từ thực tiễn ngành thanh tra"

mot-so-van-de-dat-ra-doi-voi-cong-tac-theo-doi-thi-hanh-phap-luat-tu-thuc-tiennganh-thanh-tra.html) Tac giả cho rằng cần có nhâṇ thưc thống nhất về nôị dung , mục đích, ý nghĩa của hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật Măc ̣ dù công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật đã đươc ̣ thưc ̣ hiêṇ khá lâu Tuy nhiên, hiêṇ chưa có sư giải thích thống nhất về nôị dung của hoaṭ động này nhằm bảo đảm không bi ̣trùng lăp̣ vớ i các hoaṭ đôṇ g khác như hoaṭ đôṇ g thanh tra , kiểm tra, giám sát Nên chăng, khi sửa đổi số Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, cần có quy phaṃ giải thích rõ nội hàm hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật "Để tăng cường QLNN về công tác thanh tra, giải quyết KN,TC đòi hỏi phải thực hiện rất nhiều biện pháp Trong đó, quan trọng nhất là các giải pháp về nhận thức và hoàn thiện

cơ sở pháp lý của lĩnh vực công tác này Bên cạnh đó, các cơ quan QLNN và đặc biệt là các cơ quan thanh tra Nhà nước phải tiến hành các giải pháp nhằm thực hiện tốt chức năng QLNN của mình trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành “Bàn về khái niệm thi hành pháp luật” của TS Nguyễn Thị Hồi năm 2009 [39]đã tiếp cận THPL dưới bốn hình thức thực hiện pháp luật: Tuân theo pháp luật, THPL, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Và, việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật chỉ có tính chất tương đối, chủ yếu có ý nghĩa về mặt lý luận, trong thực tế các thuật ngữ tuân theo, thi hành,

sử dụng và áp dụng pháp luật nhiều khi được dùng đồng nghĩa với nhau “Mối quan hệ giữa xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật: Ý nghĩa thực tiễn” của Vũ Viết Thiệu năm 2007 [85]; “Thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước: Khái niệm, hiệu quả và sự tác động (ảnh hưởng) của hiệu quả tới xã hội” của

Trang 8

PGS TS Nguyễn Văn Động năm 2010 [31], theo các tác giả: Thực hiện pháp luật - xét 5 trong quy trình “quản lý nhà nước bằng pháp luật”, là sự tiếp nối xây dựng pháp luật, gồm toàn bộ các hoạt động nhằm đưa các quy phạm pháp luật vào đời sống nhà nước, xã hội và sinh hoạt của công dân và cần phải đánh giá, xác định được hiệu quả THPL trong đời sống xã hội, nhất là làm rõ

sự tác động, ảnh hưởng của hiệu quả THPL của cơ quan nhà nước đối với xã hội Các kết quả nghiên cứu này gởi mở cho đề tài luận án một số cơ sở lý luận để hệ thống, làm rõ cơ sở lý luận về TDTHPL và vận dụng một số nội dung đối với việc hoàn thiện điều chỉnh pháp luật về TDTHPL ở Việt Nam hiện nay -Thi hành pháp luật tiếp cận ở phương diện quản lý Nhà nước Ở phương diện nghiên cứu này, các công trình nghiên cứu tập trung làm rõ và bàn sâu về trách nhiệm của Nhà nước và cơ chế đảm bảo THPL trong thực tế Điều này dễ nhận thấy trong hầu hết trong các công trình nghiên cứu sau: Các cuốn sách: Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề: “Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật” năm 2002 [89], “Thực trạng và nhu cầu phát triển, hoàn thiện các thiết chế lập pháp, thi hành pháp luật, điều ước quốc tế, giải quyết tranh chấp và bổ trợ tư pháp” năm 2003 [90] của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp Trong 02 cuốn sách, các tác giả đã làm rõ những hạn chế, bất cập của bộ máy THPL ở trung ương, ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan đảm bảo THPL và xác định vai trò của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật

là trực tiếp, cụ thể, thường xuyên và toàn diện nhất Nghiên cứu này đã đặt ra một số gợi mở cho việc TDTHPL hiện nay như: Theo dõi cần tập trung vào các vấn đề: đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước; Năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức trong các thiết chế THPL; Ý thức pháp luật của Nhân dân… theo nguyên tắc:Việc gì, ở cấp nào có điều kiện và khả năng thực hiện

Trang 9

tốt nhất thì phân giao đầy đủ thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn) và đảm bảo những điều kiện cần thiết cho cấp đó giải quyết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về theo dõi chấp hành pháp luật, tổng hợp và đánh giá thực tiễn theo dõi chấp hành pháp luật từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Trên cơ sở lý thuyết về theo dõi chấp hành pháp luật đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả theo dõi chấp hành pháp luật ở huyện Quế Sơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về theo dõi chấp hành pháp luật như khái niệm, nội dung, vai trò của các cơ quan của huyện Quế Sơn trong việc thực hiện theo dõi chấp hành pháp luật; những mặt đƣợc và chưa được trong công tác này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận, thực tiễn theo dõi chấp hành pháp luật; quy định của Hiến pháp và pháp luật về theo dõi chấp hành pháp luật; thực tiến công tác theo dõi chấp hành pháp luật tại huyện Quế Sơn

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Địa bàn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam; Từ năm 2016, khi Chính phủ ban hành Nghị định 59/2012/NĐ-CP về theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Trang 10

Luận văn được thực hiện trên phương pháp luận duy vật biện chứng

của chủ nghĩa Mác-Lenin, quan điểm của Đảng ta về pháp luật và thi hành pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được vận dụng để nghiên cứu Đề tài luận văn là: Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và luật học so sánh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn đối với các cơ quan nhà nước tại huyện Quế Sơn trong việc thực hiện nhiệm vụ theo dõi chấp hành pháp luật trên địa bàn huyện

7 Kết cấu luận văn

Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về theo dõi chấp hành pháp luật

Chương 2: Thực trạng theo dõi chấp hành pháp luật ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động theo dõi chấp hành pháp luật ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ THEO DÕI CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT

1.1 Nhận thức chung về theo dõi chấp hành pháp luật

1.1.1 Quan niệm về chấp hành pháp luật

Trước hết cần phải khẳng định rằng, chấp hành pháp luật và thi hành pháp luật là các hình thức thực hiện pháp luật Chấp hành pháp luật là nhận lấy trách nhiệm để thực hành những điều mà pháp luật quy định

Chấp hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định cho mình bằng hành động tích cực Ví dụ: Pháp luật quy định công dân nam từ 18 tuổi đến 25 tuổi phải làm nghĩa vụ quân sự Một thanh nhiên trong hạn tuổi trên bằng hành vi của mình, không chờ ai nhắc nhở, chủ động đăng kí nhập ngũ, phục vụ trong quân đội đúng thời hạn quy định, tức là thanh niên đó đã chấp hành pháp luật

Nét đặc trưng tiêu biểu của chấp hành pháp luật, với tính cách là một trong những hình thức thực hiện pháp luật, là việc chấp hành quy định pháp luật đối với chủ thể pháp luật là việc phải làm, dù muốn hay không muốn Cùng với tuân thủ pháp luật với tính cách là một hình thức thực hiện pháp luật, chấp hành pháp luật có tầm quan trọng to lớn trong việc xác lập một trật

tự pháp luật bền vững trong đời sống của xã hội

Tuân thủ pháp luật cũng là một trong những hình thức thực hiện pháp luật Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật có chủ thể là mọi cá nhân, cơ quan tổ chức Áp dụng pháp luật là hình thức của thực hiện pháp luật mà chủ thể chỉ là các cá nhân có thẩm quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 12

Trước khi nói về thi hành pháp luật, cũng cần phải nhấn mạnh các hình thức thực hiện pháp luật

Tuân thủ pháp luật là chủ thể pháp luật kiềm chế mình để không thực

hiện điều pháp luật cấm Tuân thủ pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện Bản chất của tuân thủ pháp luật có tính chất thụ động và thể hiện dưới dạng hành vi không hành động Đối tượng thực hiện tuân thủ pháp luật là mọi chủ thể Hình thức thể hiện của tuân thủ pháp luật thường thể hiện dưới dạng những quy định cấm đoán Tức quy phạm không bắt buộc chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định Ví dụ: Pháp luật cấm hành vi mua bán dâm Do đó, không thực hiện hành vi mua bán dâm được xem là tuân thủ pháp luật

Áp dụng pháp luật là việc người có chức vụ, cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện

Bản chất của áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, được thể hiện dưới hình thức hành vi hành động và hành vi không hành động Đối tượng thực hiện: Chỉ có những người có chức vụ, có thẩm quyền, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Hình thức thể hiện áp dụng pháp luật là các loại quy phạm Bởi Nhà nước quyền hạn và nghĩa vụ tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật Ví dụ: Khi bên A khởi kiện bên B, tòa án có trách nhiệm xem xét và thụ

lý đơn khởi kiện của bên A

Sử dụng pháp luật là chủ thể pháp luật thực hiện điều mà pháp luật cho

phép Không mang tính bắt buộc thực hiện và phụ thuộc vào ý chí, sự lựa chọn của từng chủ thể Bản chất của sử dụng pháp luật có thể là hành vi hành

Trang 13

tượng thực hiện sử dụng pháp luật là mọi chủ thể Hình thức thể hiện: Thường được thể hiện dưới những quy phạm trao quyền, tức pháp luật quy định về quyền hạn của các chủ thể

Ví dụ: Khi bên A cho rằng mình bị xâm quyền và lợi ích hợp pháp bởi bên B Bên A có quyền khởi kiện B ra tòa án, vì pháp luật trao cho A quyền được khởi kiện B ra tòa án có thẩm quyền Khi đó, A được xem là đang sử dụng pháp luật

Trong khoa học pháp lý và thực tiễn pháp luật ở Việt Nam, khái niệm

“thi hành pháp luật” được giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau Thi hành

pháp luật là việc chủ thể pháp luật chủ động thực hiện điều pháp luật yêu cầu Thi hanh pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện Bản chất của thi hành pháp luật có tính chủ động, tích cực, thực hiện pháp luật dưới hình thức hành vi hành động Thi hành pháp luật mang tính chủ động thực hiện điều luật pháp yêu cầu Đối tượng thực hiện thi hành pháp luật là mọi chủ thể Hình thức thể hiện của thi hành pháp luật thường thể hiện dưới dạng những quy phạm bắt buộc Do đó, chủ thể buộc phải thực hiện hành vi hành động mang tính hợp pháp Ví dụ, pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập doanh nghiệp/thuế thu nhập cá nhân Do đó, nếu không thuộc đối tượng được miễn thuế, chủ thể đóng đầy đủ khoản thuế được coi là đang thi hành pháp luật

Theo quan điểm thứ nhất được thể hiện trong các giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của một số cơ sở đào tạo luật như Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội…thường cho rằng “thi hành pháp luật” (hoặc “chấp hành pháp luật”) chỉ là một trong bốn hình thức “thực hiện pháp luật” Theo đó, thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật thông qua bốn hình thức: Tuân theo (tuân thủ) pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng

Trang 14

pháp luật Theo quan điểm này, thi hành pháp luật là hình thức thông qua đó nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật được hiện thực hóa bằng hành động tích cực của chủ thể này Đối với quan điểm này PGS, TS Nguyễn Văn

Mạnh nhận xét: “Việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật như vậy không làm rõ được mối quan hệ, tính liên thông của các hình thức thực hiện pháp luật Chẳng hạn, các cơ quan nhà nước sử dụng pháp luật thì không thể tách rời với áp dụng pháp luật và tuân thủ pháp luật Hạn chế này do sai lầm về mặt phương pháp luận, đem phương pháp siêu hình thay cho phương pháp biện chứng, không thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa các hình thức đó” [18-8]

Quan điểm thứ hai, thi hành pháp luật được hiểu là mọi hoạt động nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, biến quy định của pháp luật trở thành hành vi của các chủ thể Quá trình này gắn liền và là sự tiếp nối của quá trình xây dựng pháp luật.[20] Theo quan điểm này, thi hành pháp luật với thực hiện pháp luật

là đồng nhất với nhau, đây đều là những hoạt động có mục đích của các chủ thể nhằm biến những quy định của pháp luật thành hoạt động thực tế của mình Quan điểm này đã được thể chế hóa trong nội dung các bản Hiến pháp qua các thời kỳ như:

+ Điều 96, Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 112, Điều 114 Hiến pháp

năm 2013 quy định: Chính phủ “tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước”, Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức thi hành pháp luật”, “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật”, Bộ trưởng “chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được

Trang 15

ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”, “Chính quyền địa phương tổ chức

và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương”, “Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương”

+ Khoản 2 Điều 112, Điều 115 Hiến pháp năm 1992 quy định: Chính phủ

có trách nhiệm “bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật”, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền “Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ

ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó”

+ Điều 52, Điều 59 Hiến pháp năm 1946 quy định: Chính phủ có quyền

“thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện”, Ủy ban hành chính có trách nhiệm “thi hành các mệnh lệnh của cấp trên”

Như vậy, đối với các cơ quan nhà nước THPL trong trường hợp này là hình thức để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, là quá trình hoạt động có mục đích, có ý chí, có lý trí của các cơ quan nhà nước và những người có trách nhiệm, quyền hạn để pháp luật đi vào cuộc sống; với các

cá nhân và tổ chức khác thì THPL là việc họ sử dụng quyền và làm nghĩa vụ pháp lý của mình

Với tư cách là một thực thể tự nhiên, đồng thời là một thực thể xã hội, con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động của các quan hệ xã hội

Và xã hội cũng chỉ tồn tại và phát triển dựa trên sự giao tiếp giữa người và người bằng ngôn ngữ Vì vậy, cần xem xét quan niệm về thi hành pháp luật dưới cả góc độ về ngôn ngữ

Theo từ điển Luật học định nghĩa: “thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động Chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật được” [17, tr 758] Như

vậy, dưới góc độ ngôn ngữ khái niệm thi hành pháp luật cũng được hiểu là

Trang 16

một trong những hình thực thực hiện pháp luật, tuy nhiên khái niệm khác với quan điểm trên bởi với hình thức thực hiện pháp luật này chủ thể không phải chỉ thực hiện nghĩa vụ bằng hành vi tích cực mà hành động thực hiện pháp luật ở đây có thể là thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ, vậy thi hành pháp luật lúc này nó vừa là hình thức chấp hành pháp luật, vừa là sử dụng pháp luật trong khoa học pháp lý Trên cơ sở kế thừa các quan điểm trên, dưới góc độ ngôn ngữ và khoa học pháp lý, có thể hiểu thi hành pháp luật là hành vi hợp pháp của chủ thể pháp luật trong quá trình hiện thực hóa hoặc đảm bảo hiệu lực pháp lý của các quy phạm pháp luật trong đời sống

1.1.2 Quan niệm về theo dõi chấp hành pháp luật

Khi chúng ta nói về theo dõi chấp hành pháp luật, cũng là nói về hình thức thực hiện pháp luật, hiểu theo nghĩa rộng hơn là theo dõi thi hành pháp luật Tuy nhiên, khái niệm CHPL được hiểu theo nghĩa hẹp hơn so với khái niệm THPL Khái niệm về THPL còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, vì vậy đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một tài liệu nào đưa ra khái niệm TDTHPL một cách chính xác, cụ thể Do đó, có thể hiểu khái niệm TDTHPL

thông qua phân tích về mặt từ ngữ như sau: “Theo dõi” là việc quan sát, kiểm

tra từng diễn biến, từng hoạt động để biết rõ hoặc có sự ứng phó, xử lý kịp

thời “Thi hành pháp luật” là làm các quy phạm do nhà nước ban hành có

hiệu lực nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ trật tự xã hội [37, tr

1458, 1515,1201] Như vậy, theo dõi thi hành pháp luật là hoạt động xem xét,

xử lý kịp thời những chuyển biến của toàn bộ quá trình đưa pháp luật vào đời sống nhằm đảm bảo hiệu lực của các quy định pháp luật

Hiện nay quan điểm cơ bản về TDTHPL ở Việt Nam được chia làm ba nhóm cơ bản sau đây:

Trang 17

Quan điểm thứ nhất cho rằng TDTHPL là việc cơ quan có thẩm quyền

xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật, mức độ đạt mục tiêu đặt ra

và kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật [4, tr.365-366] Với cách tiếp cận này, trong hoạt động TDTHPL các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành thu thập thông tin một cách có hệ thống, sau đó phân tích, so sánh giữa thực tế đạt được so với mục tiêu đề ra và chỉ ra sự tác động của quy định pháp luật cùng với những tồn tại, bất cập và nguyên nhân của những tồn tại, bất cập để có những kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với mục tiêu mong muốn Quan điểm này có ý nghĩa trong việc tạo ra khả năng tìm kiếm các giải pháp trên nhiều hướng khác nhau để đưa pháp luật đi vào cuộc sống Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm này tồn tại ở chỗ: TDTHPL là việc của cơ quan hành chính nhà nước nên dẫn đến thực trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, vì vậy khái niệm TDTHPL đã bị thu hẹp phạm vi nằm trong giới hạn của quản lý hành chính, chưa phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân Do đó, việc xác định các thành

tố hợp thành của TDTHPL gặp những vướng mắc nhất định

Quan điểm thứ hai cho rằng TDTHPL là một công cụ quản lý nhà nước

qua đó giúp cho người quản lý tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi: Năng lực thực hiện có đảm bảo và phù hợp không; Nguồn lực có đủ và có được sử dụng tốt hay không; [38138, tr 42-43], [16, tr 80 - 88] Quan điểm này đã chú trọng đến tầm ảnh hưởng của chủ thể quản lý nhà nước đối với việc tổ chức, thực hiện pháp luật và yêu cầu tối ưu hoạt động THPL trong thực tiễn Tuy nhiên, quan điểm này có mâu thuẫn khi quá đề cao vai trò của Nhà nước, chưa tính đến tính tích cực của các chủ thể pháp luật khác, dẫn tới khó khăn

Trang 18

khi giải quyết những vấn đề có tính thống nhất và toàn diện của hoạt động TDTHPL

Quan điểm thứ ba cho rằng TDTHPL là hoạt động chủ yếu của cơ quan

hành chính nhà nước có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân nhằm xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về tổ chức thực hiện, điều kiện bảo đảm, tình hình tuân thủ pháp luật nhằm kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật [7: Điều 3, Điều 7] Quan điểm này giúp cho khoảng cách giữa pháp luật trên giấy và pháp luật trong cuộc sống ngày càng thu nhỏ lại, đồng thời phản ánh sát thực đời sống

xã hội, tạo cơ sở cho việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý khác để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật Tuy nhiên, quan điểm này cũng dừng lại ở việc khẳng định TDTHPL là hoạt động chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà nước còn cá nhân, tổ chức chỉ có vai trò phối hợp thì chưa toàn diện, bởi trong quá trình thi hành pháp luật luôn có sự tương tác giữa Nhà nước, công dân và các thành viên khác trong xã hội nhằm làm sáng tỏ những quy phạm pháp luật không hoàn thiện, không hiệu quả để kiến nghị, đề xuất hoàn thiện quy phạm pháp luật và hoàn thiện hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước Tổng hợp những quan điểm và phân tích trên, có thể hiểu khái niệm

theo dõi thi hành pháp luật một cách toàn diện nhất: TDTHPL là hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân nhằm thu thập thông tin, xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật trong thực tế để kịp thời hoàn thiện quy phạm pháp luật và hoàn thiện hoạt động thi hành pháp luật, đảm bảo pháp luật được thi hành hiệu quả, phục vụ tốt nhất cho sự phát triển của con người, sự bền vững của quốc gia, dân tộc

Hiện nay, công tác theo dõi thi hành pháp luật đang tồn tại đồng thời

Trang 19

Các hoạt động này có một số điểm khác biệt và tương đồng với hoạt động TDTHPL

Theo điều 1 và điều 3 Luật Thanh tra năm 2010 quy định “ Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”

Như vậy, thanh tra là xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định nhằm phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái quy định của pháp luật Thanh tra là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới Bên cạnh đó thanh tra gắn liền với quản

lý nhà nước được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục luật định để đánh giá, xem xét, xử lý việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015: “Là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” Như vậy, nếu thanh tra là sự xem xét của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới thì giám sát là hoạt động xem xét, đánh giá của chủ thể bên ngoài

hệ thống đối với chủ thể được giám sát, giữa chủ thể giám sát và chủ thể bị giám sát không có mối quan hệ trực thuộc lẫn nhau

Trang 20

Khái niệm kiểm tra theo Từ điển tiếng Việt “là xem xét tình hình thực tế

để đánh giá nhận xét” [37, tr 813] Trong các văn bản QPPL ở những lĩnh

vực khác nhau khái niệm kiểm tra cũng có sự khác biệt nhất định, nhưng nhìn chung kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình Qua kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp để hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn Hoạt động kiểm tra được tổ chức định kỳ, thường xuyên hoặc đột xuất, do đặc thù và tính chất nhiệm vụ nên giữa chủ thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra có sự phân cấp nên hoạt động kiểm tra có tính quyền lực cao Do đó, cơ quan thực hiện nhiệm vụ kiểm tra có quyền ra quyết định buộc đối tượng bị kiểm tra phải chấp hành quyết định kiểm tra, có quyền đình chỉ, bãi bỏ các văn bản trái pháp luật của đối tượng kiểm tra

Về cơ bản, TDTHPL với giám sát, thanh tra, kiểm tra việc THPL có nghĩa gần như nhau là xem xét, đánh giá hoạt động của các chủ thể để hiến pháp, pháp luật được thực hiện nghiêm minh, chính xác, đầy đủ, nhưng chúng khác nhau về chủ thể thực hiện, về mục đích, nội dung, hình thức, phạm vi, đối tượng chịu sự xem xét, đánh giá Các đối tượng thanh tra, kiểm tra phải có trách nhiệm thực hiện kết luận kiểm tra, thanh tra một cách đầy đủ, nếu không thực hiện sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật Trong khi

đó, hoạt động theo dõi thi hành pháp luật chưa quy định trách nhiệm cụ thể của các đối tượng kiểm tra phải thực hiện kết luận kiểm tra, mà những kết luận của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật chỉ đề xuất, kiến nghị là chủ yếu chứ không có những chế tài mang tính pháp lý cao như thanh tra, kiểm tra

Như vậy, có thể coi theo dõi thi hành pháp luật là việc thu thập một

Trang 21

tế đạt được nhằm chỉ ra sự tác động của quy định pháp luật cùng những tồn tại, bất cập do các nguyên nhân nào để có những kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật hay tăng cường biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành cho phù hợp với mục tiêu đặt ra [16]

1.1.3 Nguyên tắc chấp hành pháp luật

Xuất phát từ các quy luật phát triển khách quan của pháp luật trong xã hội Việt Nam và chính sách pháp luật về TDTHPL phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn nhất định Đồng thời, để đảm bảo các hoạt động TDTHPL phát hiện và kịp thời có giải pháp thống nhất tác động thích hợp đến các quy phạm pháp luật nên hoạt động TDTHPL phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Điều 4 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP quy định cụ thể TDTHPL phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, hoạt động TDTHPL phải đảm bảo tính khách quan, công khai

và minh bạch: Các cơ quan nhà nước vừa là đối tượng vừa là chủ thể của theo dõi thi hành pháp luật Vậy, việc theo dõi thi hành pháp luật phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan để kết quả theo dõi thi hành pháp luật phản ánh chính xác về tính chất, nội dung và tình hình thi hành pháp luật

Hai là, nguyên tắc thường xuyên, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm:

Theo dõi thi hành pháp luật phải được tiến hành từ trung ương đến địa phương trên tất cả các lĩnh vực một cách liên tục, không gián đoạn, không mang tính

vụ việc nhất thời; thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, ở mỗi thời điểm khác nhau và trên mỗi địa bàn khác nhau, xuất hiện những vấn đề bức xúc, nổi cộm, ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải có những giải pháp khắc phục kịp thời

Trang 22

Ba là, kết hợp theo dõi thi hành pháp luật theo lĩnh vực với theo địa

bàn: Hệ thống pháp luật bao gồm nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nhiều ngành luật Mỗi văn bản pháp luật điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể thuộc phạm vi quản lý của từng bộ, ngành Tuy nhiên, tất cả các văn bản đều phải được thi hành trên các lĩnh vực cụ thể

Bốn là, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong

quá trình theo dõi thi hành pháp luật: Chủ thể có trách nhiệm chính trong việc theo dõi thi hành pháp luật là các cơ quan nhà nước Theo dõi thi hành pháp luật không đánh giá sự phù hợp về hành vi của các chủ thể với quy định pháp luật mà tập trung đánh giá hiệu quả điều chỉnh của pháp luật; xem xét, đánh giá việc tổ chức thi hành pháp luật, áp dụng pháp luật, mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân, không đánh giá việc chỉ đạo, điều hành, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước; mục đích của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật nhằm phát hiện, xử lý các hạn chế, vướng mắc có tính chất vĩ mô trong thi hành pháp luật không phải nhằm phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm cụ thể

Năm là, TDTHPL cần huy động sự tham gia của các tổ chức, của nhân

dân và các cơ quan truyền thông đại chúng: Theo dõi thi hành pháp luật là một hoạt động có phạm vi rất rộng, nên đòi hỏi các ngành phải được thực hiện một cách khách quan Hơn nữa, để hoạt động TDTHPL có hiệu quả cao

và mang tính cộng đồng cần huy động sự tham gia của đông đảo các lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước

Có thể thấy, với vai trò vừa là chủ thể sáng tạo cơ chế điều chỉnh pháp luật về theo dõi nhưng đồng thời cũng là đối tượng của cơ chế điều chỉnh này Nhà nước phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và đây là vấn đề cần được thực hiện xuyên suốt trong các

Trang 23

quá trình thực hiện chức năng của Nhà nước, quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật Các quá trình này cần thiết phải được thực hiện theo những nguyên tắc trên

1.1.4 Chủ thể theo dõi chấp hành pháp luật

Nhà nước nói chung, các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền nói riêng là những chủ thể đóng vai trò hạt nhân trong TDTHPL Lúc này, Nhà nước với tư cách chủ thể xây dựng, sáng tạo pháp luật đồng thời là chủ thể THPL và đảm bảo hiệu quả TDTHPL trên cơ sở tính tích cực của các chủ thể

xã hội Theo đó, chủ thể TDTHPL đại diện cho Nhà nước là hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, bao gồm:

1.1.4.1 Bộ Tư pháp

“Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật; quản

lý nhà nước về thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án và các công tác tư pháp khác trong phạm vi cả nước; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ”

Theo quy định tại điều 15 Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 23/7/2015

Bộ Tư pháp là cơ quan theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước được thể hiện cụ thể như sau: “Trình Thủ Tướng Chính phủ ban hành Chỉ tiêu thống kê quốc gia làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật ; Trình cơ quan có thẩm quyền ban hanh hoặc ban hành theo thẩm quyền các VBQPL về theo dõi tình hình thi hành pháp luật;

Trang 24

Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND các cấp trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan nganh bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước và trong lĩnh vực thuộc phạm vị quản

lý liên ngành, có nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành; hằng năm báo cáo Thủ Tướng Chính Phủ công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước trước ngày 15 tháng 11”

Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về công tác thi hành pháp luật, theo quy định tại khoản 6 Điều 15 Nghị định số 59/2012/NĐ- CP, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chung trong lĩnh vực theo dõi thi hành pháp luật như Bộ,

cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ [11] Bên cạnh những trách nhiệm nêu trên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp

1.1.4.2 Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật của

bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; bảo đảm các điều kiện cho việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trước ngày 15 tháng 10 Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 59/2010/NĐ-CP, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm xây dựng, ban hành

Trang 25

Chỉ tiêu thống kê quốc gia ngành làm cơ sở xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật

1.1.4.3 Ủy ban nhân dân các cấp

Trách nhiệm của UBND các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý ở địa phương cụ thể như sau: “chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp, UBND cấp dưới trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật của UBND; xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; bảo đảm các điều kiện cho việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; hằng năm, UBND cấp tỉnh báo cáo Bộ Tư pháp về công tác theo dõi thi hành pháp luật trước ngày 15 tháng 10” UBND cấp huyện, cấp

xã thực hiện việc báo cáo về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo yêu cầu của UBND cấp trên trực tiếp”

Bên cạnh đó, UBND các cấp có trách nhiệm tham mưu thực hiện các nhiệm vụ: Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc UBND cấp xã theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý ở địa phương

Tổ chức pháp chế ở cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh tham mưu, giúp người đứng đầu cơ quan chuyên môn theo dõi tình hình thi hành pháp luật Từ phương diện tổng quan nhất chúng ta có thể nhận thấy việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước hiện nay theo các nhóm công việc sẽ có tác động đến rất nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau, của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau trong hệ thống chính trị Vì vậy, sự phối hợp của các cơ quan, cấp hành chính trong hoạt động quản lý và thực thi

Trang 26

công vụ là một nhu cầu tất yếu khách quan, vì không có bất cứ cơ quan, cấp hành chính nào thực hiện được chức năng quản lý, hoàn thành được nhiệm vụ của mình một cách biệt lập Bởi vậy, dù các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau trong công tác TDTHPL thì việc nâng cao hiệu quả phối hợp thực thi công vụ của các cơ quan, cấp hành chính cũng là một trong những nhiệm

vụ quan trọng của công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay

1.1.5 Vai trò của theo dõi chấp hành pháp luật

Để đánh giá hiệu quả THPL phải thông qua hoạt động TDTHPL, chỉ thông qua việc theo dõi mới xác định được những giá trị của pháp luật “đã được hiện thực hóa”; Trạng thái pháp luật trong quan hệ xã hội thực tế; Mức

độ tích cực xã hội của cá nhân và của xã hội nói chung Cụ thể, TDTHPL có những vai trò như sau:

Một là, TDTHPL là một trong những biện pháp bảo đảm đường lối,

chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, làm cho những quy định pháp luật không còn là pháp luật trên giấy mà là pháp luật trong thực tiễn

Hai là, TDTHPL là một trong những phương thức giữ vững bản chất

bản chất của Nhà nước ta là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, là phương thức đề cao trách nhiệm của cơ quan, người có trách nhiệm trong việc THPL

Ba là, hoạt động theo dõi thi hành pháp luật giúp cơ quan quản lý nhà

nước nắm bắt được việc thực thi pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân Từ đó, giúp cá nhân, tổ chức nâng cao ý thức pháp luật, bồi dưỡng năng lực thực hiện chủ quyền của nhân dân để tham gia quản lý xã hội, nhà nước và bảo đảm pháp luật vì hạnh phúc con người

Trang 27

Bốn là, Để có cơ sở sửa đổi những nội dung văn bản pháp luật không phù hợp với thực tiễn, thông qua kết quả kiểm tra tình hình thi hành pháp

luật mà cơ quan quản lý nhà nước phát hiện những vướng mắc, bất cập trong quá trình kiểm tra

Năm là, Công việc theo dõi chấp hành pháp luật giúp cơ quan nhà nước

dự đoán được những tình huống của pháp luật từ đó đề ra những phương hướng, biện pháp, giải pháp, quản lý phù hợp

Sáu là, TDTHPL là biện pháp phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật,

tăng cường pháp chế XHCN

1.2 Nội dung và hoạt động theo dõi chấp hành pháp luật

1.2.1 Nội dung theo dõi chấp hành pháp luật

1.2.1.1 Xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật

Thực tế pháp luật Việt Nam cho thấy, sau khi VBQPPL được ban hành,

để đi vào thực hiện cần một khoảng thời gian chờ văn bản hướng dẫn thi hành, vì vậy, có những QPPL đã được ban hành nhưng không thể thực hiện được do không có văn bản quy định chi tiết, hoặc có nhưng chồng chéo nhau trong quy định của các cơ quan nhà nước cùng được giao nhiệm vụ Thiết nghĩ, để pháp luật đi vào cuộc sống thì hoạt động TDTHPL cần xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản QPPL trên những phương diện sau:

Thứ nhất, Theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm

pháp luật, đối với những văn bản cần quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành trong các văn bản như Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH; Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ … thì ngay tại quy định sẽ có nội dung

Trang 28

ủy quyền cho các cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành bằng một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể Do vậy, cần rà soát nhằm làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Thứ hai, Trung ương và địa phương cần rà soát, đối chiếu chương trình

xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước Việc ban hành VBQPPL của các cơ quan nhà nước cần có Chương trình, kế hoạch cụ thể theo từng năm, từng giai đoạn Trên cơ sở đó chủ thể theo dõi thi hành pháp luật có trách nhiệm nắm bắt các thông tin về số lượng, hình thức, tên văn bản chưa được ban hành và ban hành chậm tiến độ Trên cơ sở đó đánh giá về tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết, trường hợp văn bản chậm được ban hành thì cần nêu và đánh giá nguyên nhân của việc ban hành, đề xuất phương án xử lý một cách kịp thời

Thứ ba, không phải tất cả các VBQPPL được ban hành đều phù hợp với

điều kiện thực tiễn, bởi sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội

Do đó, chủ thể theo dõi thi hành pháp luật có trách nhiệm phát hiện và chỉ ra những quy định của pháp luật không được thực hiện trên thực tế hoặc có nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện mà nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do các quy định pháp luật còn quy định chung chung, cần quy định cụ thể hơn Ngoài ra cần đánh giá về những khó khăn vướng mắc mà nguyên nhân là sự phối hợp liên ngành chưa đồng bộ hoặc còn chồng chéo

Thứ tư, Thống nhất, đồng bộ là một trong những yêu cầu của VBQPPL

Là cần được xem xét chi tiết và hướng dẫn thi hành nội tại trong hệ thống các văn bản được quy định; cũng như hệ thống các văn bản này với các văn bản

Trang 29

thuộc lĩnh vực khác có liên quan Do đó, nhiệm vụ của TDTHPL là cần phát hiện và chỉ ra những văn bản quy phạm pháp luật hoặc những quy định pháp luật cụ thể không bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và tính khả thi không cao, từ đó có những giải pháp khắc phục

1.2.1.2 Xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật

Điều kiện đảm bảo cho hoạt động TDTHPL ở mỗi quốc gia không giống nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển, điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử văn hoá nhất định Do đó, một trong những nội dung TDTHPL

là phải xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật để phù hợp với truyền thống, văn hóa của quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Thứ nhất, tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập

huấn, phổ biến pháp luật Tập huấn, phổ biến pháp luật là một trong chuỗi những hoạt động trong tổ chức thi hành pháp luật Một văn bản quy phạm pháp luật hay một quy phạm pháp luật được thực thi trên thực tế thì trước tiên phải được phổ biến để các cơ quan, tổ chức và cá nhân biết được quyền, nghĩa

vụ và trách nhiệm của mình Tùy thuộc vào đối tượng, mục đích, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được thực hiện dưới nhiều hình thức phù hợp Đối với cán bộ, công chức có trách nhiệm thi hành pháp luật thì việc tập huấn có thể tiến hành bằng hình thức như lồng ghép trong hội nghị,

mở lớp bồi dưỡng, phát động phong trào…Đối với nhân dân thì sử dụng các hình phổ biến như tư vấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật…Ngoài ra, còn có các hình thức tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù Để đánh giá về công tác tập huấn, phổ biến pháp luật có hiệu quả, chủ thể theo dõi thi hành pháp luật cần đánh giá về tính đầy đủ, kịp thời và phù hợp của hoạt động này

Trang 30

Thứ hai, Mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực và tính phù hơp của tổ

chức bộ máy cho công tác thi hành pháp luật Nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy là những yếu tố không thể thiếu trong việc bảo đảm cho pháp luật được thực thi Việc ban hành VBQPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền luôn gắn liền với việc giao trách nhiệm thực hiện cho một cơ quan, tổ chức nhất định cùng với nguồn nhân lực cụ thể Chỉ khi tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao thì Pháp luật mới có thể được thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm minh và thống Trong quá trình thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật, chủ thể theo dõi thi hành pháp luật phải đánh giá về sự phù hợp về khối lượng và tính chất công việc đối với tổ chức bộ máy, từ đó đưa ra kiến nghị đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bố trí, sắp xếp một cách phù hợp để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh, đầy đủ và thống nhất

Thứ ba, mức độ đáp ứng về cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho thi

hành pháp luật Cũng giống như vấn đề về nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy,

cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí là những yếu tố không thể thiếu trong việc bảo đảm cho pháp luật được thực thi Mức độ hợp lý của việc đầu

tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của pháp luật Chủ thể thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật có trách nhiệm đánh giá, xem xétvề mức độ đáp ứng về cơ sở vật chất, trang thiết

bị và kinh phí để bảo đảm cho việc thi hành đối với từng VBQPPL cụ thể Đối chiếu với mức độ đầu tư trên thực tế, trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền có sự đầu tư thích hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra

1.2.2 Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật

1.2.2.1 Thu thập thông tin về tình hình thi hành pháp luật

Trang 31

Để thực hiện hoạt động TDTHPL, trước tiên, cần thiết nắm được đầy

đủ thông tin về tình hình thi hành pháp luật liên quan đến các nội dung theo dõi THPL đã được nêu trên, trên cơ sở đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành phân tích và xử lý thông tin để đưa ra các nhận định, đánh giá, đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi hành pháp luật Thông tin về tình hình thi hành pháp luật được thu thập từ hai nguồn cơ bản sau:

Một là, Bộ, Cơ quan quản lý hành chính nhà nước chung như các bộ,

cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp tổng hợp thông tin về tình hình thi hành pháp luật căn cứ từ báo cáo của cơ quan nhà nước theo các nội dung về hình thức, số lượng, hình thức và tên văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật; hình thức và tên văn bản ban hành chậm tiến độ và lý do chậm tiến độ; số lượng văn bản không thống nhất, chưa đồng bộ và tính khả thi không cao; Hình thức tập huấn, nội dung phổ biến pháp luật đã được thực hiện; thực trạng về nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy, các điều kiện về kinh phí và cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật; tình hình áp dụng pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền

Hai là, Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các

cấp thu thập thông tin về tình hình thi hành pháp luật được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông tin do tổ chức, cá nhân cung cấp Cá nhân, tổ chức có thể cung cấp thông tin trực tiếp về tình hình thi hành pháp luật hoặc qua Trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp Thông tin tổ chức, cá nhân cung cấp và các thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trước khi sử dụng để đánh giá tình hình thi hành pháp luật phải được kiểm tra, đối chiếu và

kiểm chứng về tính xác thực của thông tin

Trang 32

Tổ chức, cá nhân có thể cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật bằng văn bản hoặc trực tiếp tại trụ sở tiếp công dân hoặc qua Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (Chuyên mục Tình hình thi hành pháp luật), hoặc trực tiếp cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật bằng văn bản tại trụ sở tiếp công dân của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

và Ủy ban nhân dân các cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp nhận thông tin do tổ chức,

cá nhân cung cấp; thu thập thông tin về tình hình thi hành pháp luật được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng

Sau khi kiểm tra, đối chiếu tính xác thực, thông tin về tình hình thi hành pháp luật được sử dụng làm căn cứ để tiến hành bước tiếp theo trong quá trình TDTHPL là kiểm tra về tình hình thi hành pháp luật

1.2.2.2 Kiểm tra tình hình thi hành pháp luật

Kiểm tra tình hình thi hành pháp luật có thể được thực hiện định kỳ theo kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật đã ban hành hoặc kiểm tra đột xuất khi có những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật hay trong trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Nội dung kiểm tra tình hình thi hành pháp luật được thực hiện theo quy định sau: “Bộ, cơ quan ngang Bộ kiểm tra tình hình thi hành pháp luật đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý Ủy ban nhân dân cấp trên kiểm tra tình hình thi hành pháp luật đối với Ủy ban nhân dân cấp dưới trong phạm

vi địa bàn thuộc thẩm quyền quản lý nhằm kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thi hành pháp luật và khiếm khuyết, bất cập của hệ thống pháp luật”

Trang 33

Ngoài việc kiểm tra theo chiều dọc của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới, Bộ Tư pháp còn chủ trì, phối hợp với các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thành lập đoàn kiểm tra liên ngành về tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý liên ngành, có nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành

Cơ quan tư pháp đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thành lập đoàn kiểm tra

về tình hình thi hành pháp luật trong các lĩnh vực liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhiều đơn vị có nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành Quyết định thành lập đoàn kiểm tra phải nêu rõ nội dung, kế hoạch làm việc của đoàn kiểm tra, thành phần đoàn kiểm tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng được kiểm tra Quyết định thành lập đoàn kiểm tra phải nêu rõ nội dung, kế hoạch làm việc của đoàn kiểm tra, thành phần đoàn kiểm tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng được kiểm tra

Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng kiểm tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của cơ quan tiến hành kiểm tra theo quy định của pháp luật; báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung kiểm tra; giải trình những vấn đề thuộc nội dung kiểm tra Đoàn kiểm tra hoặc người có thẩm quyền kiểm tra xem xét, xác minh, kết luận về những vấn đề thuộc nội dung kiểm tra; đồng thời gắn với kiểm tra thực hiện nội dung trọng tâm trong lĩnh vực kiểm soát thủ tục hành chính và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã được xác định trong kế hoạch năm của Bộ, ngành, địa phương

Trong quá trình kiểm tra, đoàn kiểm tra và người có thẩm quyền kiểm tra cần cần kiến nghị cơ quan khi phát hiện những thông tin cần xử lý, đoàn kiểm tra và người có thẩm quyền kiểm tra kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết nếu phát hiện có những thông

Trang 34

tin cần xử lý Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kiến nghị phải thông báo về kết quả xử lý kiến nghị của đoàn kiểm tra cho người ra quyết định kiểm tra trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị xử lý kết quả k iểm tra, về kết quả xử lý Trường hợp không không nhận được kết quả xử lý hoặc không nhất trí với kết quả xử lý, người ra quyết định kiểm tra

có quyền gửi kiến nghị xử lý đến cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kết quả kiểm tra Đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm tra cho người ra quyết định kiểm tra trong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày ra quyết định kiểm tra

1.2.2.3 Điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật

Trong quá trình theo dõi THPL nếu có yêu cầu của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền hoạc mắc phải những vướn mắc, khó khan, bất cập trong thực tiễn thi hành thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành điều tra khảo sát tình hình THPL Theo đó, kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật phải xác định đối tượng, nội dụng, mục đích, địa bàn, thời gian, cách thức thực hiện điều tra, khảo sát Đối tượng điều tra, khảo sát liên quan tới thi hành pháp luật thông thường là các hiện tượng phức tạp và đa dạng, có liên quan đến với nhau và đôi khi tồn tại cả những mối quan hệ chồng chéo, đan xen lẫn nhau Mặt khác, các hiện tượng trong điều tra, khảo sát thi hành pháp luật thường mang tính chất định tính thay vì định lượng nên chủ thể tiến hànhđiều tra nên chủ thể tiến hành điều tra, khảo sát cần phải áp dụng các phương pháp thu thập thông tin một cách linh hoạt và phải kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp đan xen để có thể thu thập số liệu một cách đầy đủ và chính xác nhất Hoạt động điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật được thực hiện theo các bước:

Bước 1: Giai đoạn chuẩn bị Thứ nhất, xác định phạm vi (nội dung, địa

bàn điều tra, khảo sát): Nội dung điều tra, khảo sát cần tập trung vào những

Trang 35

nội dung như tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật; tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật; tình hình tuân thủ pháp luật Vấn đề cần lưu ý trong việc lựa chọn địa bàn phải dựa trên các tiêu chí sau: Địa bàn có vấn đề liên quan đang gây nhiều bức xúc trong dư luận, địa phương có nhiều cách làm sang tạo, đổi mới hoặc địa phương vùng miền có đặc thù về văn hóa, tôn giáo, điều kiện phát triển

kinh tế - xã hội cần điều tra để biết thực trạng Thứ hai, xác định đối tượng để

tiến hành khảo sát: Đối tượng chủ yếu được điều tra, khảo sát gồm: Những người lao động liên quan trực tiếp đến tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực được lựa chọn điều tra, khảo sát như cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; Tổ chức, cá nhân là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản pháp luật được lựa chọn điều tra, khảo sát; Các chuyên gia, nhà khoa học

có am hiểu về lĩnh vực được lựa chọn điều tra, khảo sát Thứ ba, xác định

phương pháp điều tra Điều tra, khảo sát có thể được thực hiện thông qua tọa đàm, phỏng vấn trực tiếp, phiếu khảo sát và các hình thức khác Có thể được thực hiện độc lập hoặc thực hiện kết hợp, lồng ghép giữa các hình thức điều

tra, khảo sát với các hoạt động khác Thứ tư, Tiến hành xây dựng nội dung

tọa đàm hoặc phiếu khảo sát: Nội dung các câu hỏi phỏng vấn và phiếu khảo sát cần tập trung vào các tiêu chí đánh giá đã ghi, cần lưu ý thiết kế các câu hỏi khác nhau có thể là câu hỏi đóng, câu hỏi mở hay câu hỏi kết hơp

Bước hai, giai đoạn tiến hành tổ chức điều tra, khảo sát, gồm các nội dung: rút kinh phí, sắp xếp các phương tiện đi lại; kiểm tra lại tài liệu, công

cụ, vật tư phục vụ điều tra, khảo sát; công tác tiền trạm; làm việc trực tiếp tại

cơ quan, tổ chức và triển khai phát, thu phiếu điều tra; tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối tượng cần phỏng vấn; tổ chức tọa đàm

Bước ba, giai đoạn xử lý, phân tích và xây dựng báo cáo kết quả điều

tra “Trên cơ sở kết quả xử lý phiếu khảo sát, kết quả tọa đàm và phỏng vấn

Trang 36

trực tiếp, cơ quan, đơn vị chủ trì điều tra, khảo sát tổng hợp, xây dựng dự thảo báo cáo điều tra, khảo sát Báo cáo điều tra, khảo sát phải có nhận định, đánh giá khách quan về tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực và địa bàn tiến hành điều tra, khảo sát; kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật Cơ quan, đơn vị chủ trì điều tra, khảo sát có thể tổ chức tọa đàm, hội thảo để chia sẻ và lấy ý kiến góp ý đối

với dự thảo báo cáo kết quả điều tra, khảo sát” [19]

1.2.2.4 Xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật

Trên cơ sở kết quả thu thập thông tin, kết quả kiểm tra, điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý

kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo các nội dung: Ban hành kịp

thời, đầy đủ các văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tập huấn, phổ biến pháp luật; bảo đảm về tổ chức, biên chế, kinh phí và các điều kiện khác cho thi hành pháp luật; kịp thời tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật

đã có hiệu lực; thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật; sửa đổi,

bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện các biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống

pháp luật

Căn cứ theo đề nghị của Bộ tư pháp hoặc của Bộ, cơ quan ngang bộ,

cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo phạm vi lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của mình UBND cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm xử lý kết quả theo dõi

tình hình thi hành pháp luật theo yêu cầu của UBND cấp trên trực tiếp [7]

1.2.2.5 Báo cáo về tình hình thi hành pháp luật

Trang 37

Định kỳ hàng năm, hoặc theo yêu cầu của Thủ Tướng Chính Phủ Bộ

Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp báo cáo tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực, địa bàn quản lý Việc báo cáo tinh hình THPL cũng được tiến hành khi phát hiện những vướng mắc, bất cập hoặc thấy cần thiết phải áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn kịp thời những thiệt hại có thể xảy ra cho đời sống xã hội

Báo cáo tình hình thi hành pháp luật cần đảm bảo: bám sát và phản ánh chính xác kết quả các mục tiêu đã được đề ra trong Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật đã được cơ quan xây dựng ban hành từ đầu năm; các

số liệu nêu trong báo cáo cần rõ ràng, cụ thể có sự so sánh, đối chiếu tỷ lệ hoàn thành với mong muốn của công việc cần làm hằng năm và so sánh kết quả đạt được so với năm trước trên cùng lĩnh vực về nội dung báo cáo; nêu khó khăn, vướng mắc trong thực hiện thực tế; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

1.3 Các yếu tố tác động đến theo dõi chấp hành pháp luật

1.3.1 Các yếu tố khách quan

Thứ nhất, chính trị là yếu tố chiếm vị trí quan trọng nhất trong

TDTHPL, bởi đây là tất cả các quá trình, hiện tượng chính trị, các sự kiện, hoạt động chính trị ở những mức độ khác nhau trong tổng thể tác động đến sự thay đổi của hệ thống pháp luật Yếu tố này được thể hiện dưới hình thức thực tiễn chính trị, các nguyên tắc, mục đích và định hướng, đường lối, quan điểm, nhận thức chứa trong văn kiện của đảng cầm quyền, của chính sách phát triển của Nhà nước đối với các mặt phát triển cơ bản của pháp luật, các lĩnh vực, ngành và chế định riêng của nó; Thể hiện các lợi ích cơ bản nhất của các nhóm, các tầng lớp xã hội, của các giai cấp và của xã hội nói chung Mặt khác, yếu tố chính trị tác động cơ bản đến nội dung của các quy phạm pháp

Trang 38

luật và hiệu quả hoạt động THPL thông qua việc xác định các triển vọng chung, các khuynh hướng cơ bản và chiến lược phát triển pháp luật; ghi nhận

và bảo đảm nguyên tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế và quan trọng nhất là bảo đảm tính thống nhất của pháp luật nói chung và TDTHPL nói riêng trên lãnh thổ Việt Nam

Thứ hai, mức độ hoàn thiện của pháp luật về theo dõi thi hành pháp

luật Một trong hai bản chất cơ bản của pháp luật là tính xã hội, điều đó có nghĩa pháp luật ra đời phải phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội thì mới

có thể tồn tại và phát triển, mặt khác, xã hội vận động và phát triển một cách liên tục nên không trách khỏi việc pháp luật sẽ trở nên lạc hậu trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định Để hoạt động theo dõi thi hành pháp luật được nâng cao có tiếng nói giúp các cơ quan thực hiện nhiệm vụ này phát huy hiệu quả thì yêu cầu hệ thống văn bản pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật có giá trị pháp lý cao Ngược lại, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật chưa được quan tâm đúng mức, gia trị văn bản pháp luật trong lĩnh vực này chưa mang tính pháp lý cao còn chồng chéo với các hoạt động khác của hoạt động quản lý nhà nước thì hiệu quả sẽ không mang lại như mong Chính vì vậy, để TDTHPL thì hệ thống pháp luật và quy phạm pháp luật về TDTHPL phải hoàn thiện, được công khai, minh bạch, dễ dàng tiếp cận, nắm bắt, hiểu biết và tự giác thực hiện trên thực tế Chính sách pháp luật về TDTHPL thể hiện trong các quy phạm pháp luật phải có đầy đủ điều kiện để bảo đảm tổ chức thực thi trên thực tế, hợp lòng dân

Thứ ba, nguồn lực vật chất phục vụ cho TDTHPL Các điều kiện vật

chất phục vụ cho hoạt động TDTHPL là kinh phí, hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ, phát triển Chính phủ điện tử, các nguồn lực khác cho TDTHPL Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật rất sẽ phát huy hiệu quả nếu nguồn kinh phí cấp cho hoạt động được đảm bảo, phù hợp đáp ứng nhiệm vụ và

Trang 39

công việc được, ngược lại phân bổ kinh phí không thỏa đáng thì không thể đòi hỏi nhiệm vụ này đạt được theo yêu cầu đặt ra Đồng thời, đây cũng là các điều kiện giúp cho hoạt động Nhà nước minh bạch, gần dân, đảm bảo cho công dân tích cực tham gia TDTHPL

Để đảm bảo yâu cầu chất lượng nguồn nhân lực, các chủ thể trực tiếp THPL phải thường xuyên nâng cao nhận thức theo những tiêu chuẩn, tiêu chí phân loại, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức TDTHPL gắn với sự gương mẫu, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp Các cơ quan nhà nước cần lưu ý đến việc đảm bảo số lượng cán bộ, công chức tham gia vào hoạt động TDTHPL thì hoạt động này mới mang lại hiệu quả như mong muốn

Bên cạnh năng lực của chủ thể thực hiện TDTHPL thì vấn đề nhận thức

và hiểu biết pháp luật của xã hội, đặc biệt là người có thẩm quyền theo dõi thi hành pháp luật cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến hoạt động TDTHPL Người có thẩm quyền TDTHPL có nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của công tác TDTHPL, trong việc đánh giá kết quả, hiệu quả thực thi pháp luật thì trong hoạt động quản lý sẽ gắn trách nhiệm của từng chủ thể tham gia

Trang 40

vào quá trình tổ chức THPL, từ đó, đề cao trách nhiệm và đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành và thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức

Về phía xã hội, nếu cá nhân, tổ chức không nhận thức đầy đủ về quyền chủ thể quyền lực nhà nước của người dân cũng như quyền tham gia, phối hợp của cá nhân, tổ chức trong TDTHPL sẽ dẫn đến hạn chế về năng lực tham gia xây dựng pháp luật, giám sát, theo dõi và phản biện xã hội đối với việc thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước

Thứ hai, sự phối kết hợp giữa các cơ quan liên quan trong công tác theo

dõi thi hành pháp luật Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật được thực hiện

cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc, vì vậy sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương về theo dõi thi hành pháp luật được quan tâm, có trách nhiệm thì việc thực hiện nhiệm vụ sẽ nhanh chóng, hiệu quả và bảo đảm theo yêu cầu Ngược lại, nếu sự phối kết hợp này chỉ mang tính hình thức, chưa có sự liên

hệ thì khó có thể đạt được hiệu quả như mong muốn

Thứ ba, yếu tố văn hóa xã hội, ý thức pháp luật Văn hóa là tất cả các

sản phẩm hoạt động con người bao gồm vật chất và tinh thần, các giá trị được tạo dựng trong quá trình hoạt động gồm các khuôn mẫu và quy phạm hành vi

đã được thừa nhận, được chuyển từ thế hệ này đến thế hệ khác Văn hóa bao giờ cũng được hạn định về thời gian, không gian Nó không tồn tại bên ngoài nhóm xã hội Trong đó, văn hóa pháp lý là trật tự tư tưởng, được Nhà nước,

xã hội định hướng đến sự hình thành và phát triển ý thức chính trị và ý thức pháp luật của mọi người, đến sự hình thành và phát triển tổng thể quy phạm, giá trị của chúng và như vậy đến cả sự hình thành và phát triển hành vi và hoạt động trong lĩnh vực pháp luật Sự tác động đó được thực hiện bằng cách: Củng cố các quan điểm pháp luật nhất định, các giá trị tinh thần…; Phát triển

và biến đổi nội dung của hệ tư tưởng pháp luật và ý thức pháp luật; Đưa vào ý

Ngày đăng: 09/12/2020, 07:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w