Kinh tế học về Thị trường Lao động Economics of the Labor Market Thị trường các yếu tố sản xuất Các khái niệm then chốt các yếu tố sản xuất factors of production: những đầu vào dù
Trang 1Kinh tế học về Thị trường Lao động
Economics of the Labor Market
Thị trường các yếu tố sản xuất
Các khái niệm then chốt
các yếu tố sản xuất (factors of production): những đầu
vào dùng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ
hàm sản xuất (production function): mối quan hệ giữa
lượng các yếu tố đầu vào được dùng để sản xuất một
hàng hóa và sản lượng của hàng hóa đó
sản lượng biên của lao động (marginal product of labor):
gia tăng trong sản lượng do tăng một đơn vị lao động
sản lượng biên giảm dần (diminishing marginal product):
thuộc tính mà theo đó sản lượng biên của một yếu tố đầu
vào giảm khi lượng đầu vào đó tăng lên
Trang 2Thị trường các yếu tố sản xuất
Các khái niệm then chốt
giá trị sản lượng biên (value of marginal product): sản
lượng biên của một yếu tố đầu vào nhân với giá của sản
phẩm đầu ra
vốn (capital): thiết bị và nhà xưởng dùng để sản xuất
hàng hóa và dịch vụ
Thị trường các yếu tố sản xuất
Lý thuyết tân cổ điển về phân phối thu nhập: Phân
phối thu nhập của một nền kinh tế được xác định bởi
thị trường các yếu tố sản xuất Ba yếu tố quan trọng
nhất của việc sản xuất là lao động, đất đai và vốn
Cầu của các yếu tố như lao động là cầu xuất phát từ
các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng các yếu tố để
sản xuất hàng hóa và dịch vụ
Các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận trên thị
trường cạnh tranh mua các yếu tố tại điểm giá trị
sản lượng biên bằng với mức giá của yếu tố đó trên
Trang 3Thị trường các yếu tố sản xuất
Cung lao động bắt nguồn từ sự đánh đổi giữa công
việc và sự nhàn rỗi của các cá nhân Một đường
cung lao động dốc lên có nghĩa là con người phản
ứng với một sự gia tăng trong mức lương bằng cách
làm nhiều giờ hơn và tận hưởng thời gian nhàn rỗi ít
lại
Giá được trả cho mỗi yếu tố sẽ được điều chỉnh để
cân bằng cung và cầu cho yếu tố đó Bởi vì cầu một
yếu sản xuất phản ánh giá trị sản lượng biên của nó,
tại điểm cân bằng, mỗi yếu tố sản xuất được chi trả
theo đóng góp biên của nó cho sản xuất hàng hóa
và dịch vụ
Thị trường các yếu tố sản xuất
Bởi vì các yếu tố sản xuất được sử dụng kết hợp với
nhau nên sản lượng biên của bất kỳ yếu tố nào đều
phụ thuộc vào số lượng của tất cả các yếu tố sản
xuất đang được dùng Kết quả là một sự thay đổi
cung một yếu tố sẽ lảm thay đổi thu nhập tại điểm
cân bằng của tất cả các yếu tố
Hầu hết các nhà kinh tế sử dụng lý thuyết tân cổ
điển về phân phối thu nhập như là điểm khởi đầu tìm
hiểu về việc phân phối thu nhập
Trang 4Tiền lương và phân biệt đối xử
Người lao động có mức lương khác nhau do nhiều
nguyên nhân Trong một chừng mực nào đó, chênh
lệch lương bù đắp cho người lao động theo các đặc
tính công việc Trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi, người lao động làm những công việc khó
nhọc, không thoải mái được trả lương cao hơn so
với những người lao động tham gia các công việc dễ
dàng, thoải mái
Người lao động có vốn con người cao hơn được trả
lương cao hơn so với những lao động có ít vốn con
người Lợi ích của vốn con người tích lũy là cao và
ngày càng tăng lên trong hai thập niên qua
Tiền lương và phân biệt đối xử
Các khái niệm then chốt:
chênh lệch lương (compensating differentials): phần
chênh lệch về lương nhằm bù đắp cho những thuộc tính
phi tiền tệ của những công việc khác nhau
vốn con người (human capital): tích lũy những đầu tư cho
con người như giáo dục, đào tạo thông qua công việc
mức lương hiệu quả (efficiency wage): mức lương trên
mức cân bằng được doanh nghiệp trả để thúc đẩy năng
suất lao động
phân biệt đối xử (discrimination): việc cung cấp những cơ
hội khác nhau cho những cá nhân giống nhau, chỉ khác
nhau về chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc những thuộc
Trang 5Tiền lương và phân biệt đối xử
Mặc dù số năm đi học, kinh nghiệm, và đặc điểm
công việc ảnh hưởng đến thu nhập như lý thuyết dự
báo, vẫn có nhiều sự khác biệt về thu nhập không
thể giải thích được bởi các yếu tố mà các nhà kinh
tế học có thể đo lường Sự khác biệt không thể giải
thích được về thu nhập có thể phần lớn là do khả
năng thiên bẩm, nỗ lực, và cơ hội
Tiền lương và phân biệt đối xử
Một số nhà kinh tế học cho rằng người lao động có
trình độ giáo dục cao hơn có mức lương cao hơn
không phải do giáo dục làm tăng năng suất mà do
người lao động với khả năng thiên bẩm cao có khả
năng sử dụng giáo dục như là một cách thức để
cung cấp thông tin về khả năng tiềm năng cho chủ
doanh nghiệp Nếu lý thuyết cung cấp thông tin là
đúng thì gia tăng tham gia giáo dục cho tất cả mọi
người lao động sẽ không làm tăng mức lương
chung
Trang 6Tiền lương và phân biệt đối xử
Mức lương đôi khi bị đẩy cao hơn mức cân bằng
của cung và cầu Ba lý do cho sự tồn tại mức lương
trên điểm cân bằng là luật mức lương tối thiểu, công
đoàn, và mức lương hiệu quả
Một số khác biệt về thu nhập có thể được tạo ra bởi
phân biệt đối xử về chủng tộc, giới, hay các yếu tố
khác Tuy nhiên, đo lường mức độ phân biệt đối xử
là khó khăn bởi vì phải điều chỉnh cho sự khác biệt
về vốn con người và các đặc tính công việc
Tiền lương và phân biệt đối xử
Thị trường cạnh tranh có xu hướng giới hạn tác động
của phân biệt đối xử đến mức lương Nếu mức lương
của một nhóm người lao động thấp hơn mức lương của
một nhóm người lao động khác với những lý do nào đó
không liên quan đến sản lượng biên, thì các doanh
nghiệp không có hành vi phân biệt đối xử có khả năng
tạo lợi nhuận cao hơn các doanh nghiệp có hành vi phân
biệt đối xử Do đó, hành vi tối đa hóa lợi nhuận có thể
làm giảm sự khác biệt mức lương do phân biệt đối xử
Tuy nhiên, phân biệt đối xử tồn tại trên thị trường cạnh
tranh nếu khách hàng sẵn lòng trả nhiều hơn cho các
doanh nghiệp có hành vi phân biệt đối xử hoặc nếu chính
phủ thông qua luật yêu cầu các doanh nghiệp phân biệt
Trang 7Bất bình đẳng thu nhập và nghèo
Các khái niệm then chốt:
tỷ lệ nghèo (poverty rate): phần trăm dân số có thu nhập
gia đình dưới ngưỡng nghèo
ngưỡng nghèo (poverty line): mức thu nhập tuyệt đối do
phủ xác định cho các hộ gia đình với số người trong hộ
khác nhau, mà ở dưới mức đó, hộ gia đình được xem là
nghèo
chuyển nhượng dưới dạng hàng hóa (in-kind transfers):
chuyển nhượng cho người nghèo dưới hình thức hàng
hóa và dịch vụ chứ không phải tiền
vòng đời (life cycle): xu hướng dao động thông thường về
thu nhập trong suốt cuộc đời một con người
Bất bình đẳng thu nhập và nghèo
Các khái niệm then chốt:
thu nhập thường xuyên (permanent income): mức thu
nhập bình thường kỳ vọng của một người
chủ nghĩa thỏa dụng (utilitarianism): triết lý chính trị cho
rằng chính phủ nên tối đa hóa tổng mức thỏa dụng của
các cá nhân trong xã hội
độ thỏa dụng (utility): số đo mức độ hạnh phúc hay thỏa
mãn
chủ nghĩa tự do (liberalism): triết lý trong chính trị theo đó
chính phủ nên lựa chọn những chính sách được cho là
công bằng bởi những người quan sát không thiên vị mà
những người này không quan tâm đến những thuộc tính
cá nhân của họ khi đánh giá chính sách
Trang 8Bất bình đẳng thu nhập và nghèo
Các khái niệm then chốt:
tiêu chí tối đa hóa phúc lợi nhóm người nghèo (maximin
criterion): đề xuất cho rằng chính phủ nên tập trung tối đa
hóa phúc lợi của nhóm người nghèo nhất trong xã hội
bảo hiểm xã hội (social insurance): chính sách của chính
phủ nhằm bảo vệ các cá nhân chống lại rủi ro của những
sự kiện không mong muốn
chủ nghĩa tự do cá nhân (libertarianism): triết lý trong
chính trị theo đó chính phủ nên trừng phạt tội phạm và
củng cố những thỏa thuận tự nguyện, nhưng không phân
phối lại thu nhập
Bất bình đẳng thu nhập và nghèo
Các khái niệm then chốt:
phúc lợi (welfare): trợ cấp của các chương trình chính
phủ cho những người cần trợ giúp
thuế thu nhập âm (negative income tax): một hệ thống thu
thuế từ những hộ gia đình có thu nhập cao và trợ cấp cho
những hộ gia đình có thu nhập thấp
Trang 9Bất bình đẳng thu nhập và nghèo
Dữ liệu về phân phối thu nhập cho thấy sự phân hóa lớn
trong xã hội Ví dụ như ở Hoa Kỳ, một phần năm các hộ
gia đình giàu nhất kiếm gấp hơn mười lần thu nhập của
nhóm một phần năm nghèo nhất
Bởi vì các khoản chuyển nhượng bằng hàng hóa, vòng
đời kinh tế, thu nhập tạm thời, và sự dịch chuyển giữa
các nhóm thu nhập đóng vai trò quan trọng trong việc
giải thích sự khác biệt về thu nhập, rất khó đánh giá
chính xác mức độ bất bình đẳng trong xã hội khi sử dụng
dữ liệu về phân phối thu nhập trong một năm đơn lẻ Khi
các yếu tố khác được đem vào tính toán, chúng có xu
hướng biểu thị rằng phúc lợi kinh tế được phân phối
công bằng hơn so với thu nhập hàng năm
Bất bình đẳng thu nhập và nghèo
Các triết gia chính trị có các quan điểm khác nhau về vai
trò của chính phủ trong việc làm thay đổi phân phối thu
nhập Những người theo chủ nghĩa thỏa dụng (chẳng
hạn như John Stuart Mill) sẽ chọn phân phối thu nhập để
tối đa hóa tổng hữu dụng từ mỗi người trong xã hội
Những người theo chủ nghĩa tự do (như John Rawls) sẽ
quyết định phân phối thu nhập đằng sau “bức màn vô
minh”, thứ ngăn cản chúng ta biết điểm đến của mình
trong cuộc sống này Những người theo chủ nghĩa tự do
cá nhân (như Robert Nozick) muốn chính phủ củng cố
quyền cá nhân để đảm bảo một quá trình công bằng
nhưng sau đó không quan tâm đến bất bình đẳng trong
kết quả phân phối thu nhập
Trang 10Bất bình đẳng thu nhập và nghèo
Có nhiều chính sách khác nhau có mục tiêu giúp đỡ
người nghèo – như luật mức lương tối thiểu, trợ cấp,
thuế thu nhập âm, và các chuyển nhượng bằng
hàng hóa Trong khi các chính sách này hỗ trợ một
số hộ gia đình thoát nghèo, chúng cũng gây ra các
phản ứng phụ không lường trước được Bởi vì hỗ
trợ tài chính giảm khi thu nhập tăng lên, người
nghèo thường phải đối diện với thuế suất biên hiệu
quả rất cao, mà chính nó xóa bỏ động cơ thoát
nghèo của các hộ gia đình nghèo