Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, mọi người đều chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, của nền văn minh tri thức. Cùng với sự phát triển ấy, nhu cầu của con người cũng không ngừng được nâng lên, từ việc có nhu cầu đảm bảo vật chất cho sự tồn tại và hoạt động đến việc đòi hỏi phải có được một đời sống tinh thần thoải mái, tốt đẹp, mọi người đến nơi làm việc không chỉ mong muốn có được việc làm để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân mà họ còn cần có nhiều điều hơn nữa. Đó là có được một môi trường làm việc với các tiện nghi kỹ thuật hiện đại, cách bày trí mang tính thẩm mỹ cao, được làm việc với những người biết đoàn kết, thương yêu nhau, có được người quản lý luôn thể hiện sự quan tâm, biết đối nhân xử thế với họ và sẵn sàng cống hiến cho sự đi lên của cơ quan. Bầu không khí tâm lý ấy không phải sẵn có và cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà có được mà là kết quả của sự nỗ lực tìm kiếm, phát hiện, đổi mới, qua giao tiếp của người quản lý với đội ngũ lao động của mình. Do vậy, việc tạo bầu không khí tâm lý dễ chịu , thoải mái, vui tươi là một vấn đề tuy đơn giản nhưng lại vô cùng khó khăn. Ngày nay, với những thay đổi về tình hình trong nước và ngoài nước, sự lớn mạnh của cơ chế thị trường ít nhiều có tác động đến đời sống tình cảm cá nhân của con người, xuất hiện tư lợi, lợi ích nhóm, chủ nghĩa cá nhân… gây ảnh hưởng đến bầu không khí làm việc của tập thể, nảy sinh mâu thuẫn, xung đột trong quá trình sống và làm việc của tổ chức. Trước những bất cập của sự xung đột đang diễn ra trong thực tại của tổ chức, tôi mạnh dạn đưa ra cách khắc phục xung đột trong tổ chức bằng khía cạnh tâm lý để góp phần cải thiện bầu không khí tâm lý trong tổ chức cơ quan, đây chính là lý do tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Bầu không khí tâm lý và cách vận dụng giải quyết xung đột trong tổ chức”.
Trang 1Số trang
A Mở đầu:……… 2
B Nội dung:………3
1 Khái niệm tổ chức:……… 3
2 Khái niệm bầu không khí tâm lý trong tổ chức:……… 3
3 Khái niệm xung đột trong tổ chức:……… 7
4 Vận dụng trong thực tiễn Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hải Hậu tỉnh Nam Định:…….8
C Kết luận:………19
Danh mục tài liệu tham khảo:……… 20
Trang 2A MỞ ĐẦU Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, mọi người đều chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, của nền văn minh tri thức Cùng với sự phát triển ấy, nhu cầu của con người cũng không ngừng được nâng lên, từ việc có nhu cầu đảm bảo vật chất cho sự tồn tại và hoạt động đến việc đòi hỏi phải có được một đời sống tinh thần thoải mái, tốt đẹp, mọi người đến nơi làm việc không chỉ mong muốn có được việc làm để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân
mà họ còn cần có nhiều điều hơn nữa Đó là có được một môi trường làm việc với các tiện nghi kỹ thuật hiện đại, cách bày trí mang tính thẩm mỹ cao, được làm việc với những người biết đoàn kết, thương yêu nhau, có được người quản
lý luôn thể hiện sự quan tâm, biết đối nhân xử thế với họ và sẵn sàng cống hiến cho sự đi lên của cơ quan Bầu không khí tâm lý ấy không phải sẵn có và cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà có được mà là kết quả của sự nỗ lực tìm kiếm, phát hiện, đổi mới, qua giao tiếp của người quản lý với đội ngũ lao động của mình.
Do vậy, việc tạo bầu không khí tâm lý dễ chịu , thoải mái, vui tươi là một vấn đề tuy đơn giản nhưng lại vô cùng khó khăn.
Ngày nay, với những thay đổi về tình hình trong nước và ngoài nước, sự lớn mạnh của cơ chế thị trường ít nhiều có tác động đến đời sống tình cảm cá nhân của con người, xuất hiện tư lợi, lợi ích nhóm, chủ nghĩa cá nhân… gây ảnh hưởng đến bầu không khí làm việc của tập thể, nảy sinh mâu thuẫn, xung đột trong quá trình sống và làm việc của tổ chức Trước những bất cập của sự xung đột đang diễn ra trong thực tại của tổ chức, tôi mạnh dạn đưa ra cách khắc phục xung đột trong tổ chức bằng khía cạnh tâm lý để góp phần cải thiện bầu không khí tâm lý trong tổ chức cơ quan, đây chính là lý do tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu: “Bầu không khí tâm lý và cách vận dụng giải quyết xung đột trong tổ chức”.
Trang 3B NỘI DUNG
1 Khái niệm tổ chức:
Theo nghĩa rộng: Tổ chức là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại
mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật
Theo nghĩa hẹp: Tổ chức là một tập hợp xã hội được phối hợp có ý thức trong một giới hạn tương đối về các chức năng cơ bản liên quan để thực hiện nhiệm vụ chung của tập hợp xã hội đó, nhằm đạt được mục tiêu xác định
Tổ chức là liên kết cộng đồng nhiều người cùng sinh sống hoạt động cho những mục đích đã xác định Các tập thể trong tổ chức có những dấu hiệu đặc trưng sau: Có cùng mục đích; có cùng tổ chức chính thức hoặc không chính thức; có quan hệ kỷ luật công tác, quy chế hợp tác; có quan hệ tình cảm nhất định
2 Khái niệm bầu không khí tâm lý trong tổ chức.
Bầu không khí tâm lý là trạng thái tâm lý của tập thể, nó thể hiện sự phức hợp tâm lý xã hội, sự tương tác giữa các thành viên và mức độ dung hợp các đặc điểm tâm lý trong các quan hệ liên nhân cách của họ, là tính chất của mối quan
hệ qua lại giữa mọi người trong tập thể, là tâm trạng chính trong tập thể, cũng như là sự thoả mãn của người công nhân đối với công việc được thực hiện.
Bầu không khí tâm lý là nét đặc trưng phản ánh thực trạng các mối quan hệ nảy sinh trong quá trình hoạt động của tập thể, nó bao gồm các mối quan hệ về tình cảm giữa cá nhân với bộ phận trong tập thể, phản ánh tâm trạng chung của tập thể được tạo
ra trong quá trình lao động thông qua giao tiếp
Bầu không khí tâm lý là một không gian chứa đựng trạng thái tâm trạng chung của tập thể lao động, nó tác động lên tình cảm của mỗi người trong tập thể, nó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của từng cá nhân và tập thể
Bầu không khí tâm lý là trạng thái tâm lý của tổ chức Nó thể hiện sự phối hợp tâm lý xã hội, sự tương tác giữa các thành viên và mức độ dung hợp các
Trang 4đặc điểm tâmlý trong quan hệ liên nhân cách Bầu không khí tâm lý tồn tại khách quan trong các tổ chức
Các dấu hiệu quan trọng nhất của bầu tâm lý xã hội là:
a) Sự tin tưởng và yêu cầu cao của các thành viên với nhau
b) Thiện chí và giúp đỡ lẫn nhau trong công việc
c) Mức độ dung hợp tâm lý giữa các cá nhân, tinh thần trách nhiệm của họđối với công việc chung và đối với mỗi cá nhân
Chính bởi tính chất và mối quan hệ chặt chẽ của bầu không khí tâm lý đối với tâm trạng của cả tập thể nói chung và của từng cá nhân trong đó nói riêng, do
đó, bầu không khí tâm lý có ảnh hưởng mạnh mẽ các hoạt động chung của tập thể, hay nói cách khác, nó ảnh hưởng một cách gián tiếp tới năng xuất lao động của tập thể.
* Vai trò của bầu không khí tâm lý trong tổ chức
B ầ u k h ô n g k h í t â m l ý đ ó n g va i t r ò t o l ớ n đ ố i v ớ i h oạ t đ ộ n g
ch u n g c ủa t ổ c h ứ c M ộ t b ầ u k h ô n g k h í tâ m l ý là n h m ạ n h, t hâ n á i
t r o n g t ổ c h ứ c s ẽ t ạ o r a t â m trạng phấn khởi, vui vẻ ở mỗi thành viên, làm tăng thêm tính tích cực của họ trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, tạo ra sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân Ở một tổ chức như vậy ít xuất hiện những xung đột gay gắt, những nhóm không chính thức đối lập và các thủ lĩnh tiêu cực Ở đó các thành viên luôn gắn bó với tổ chức, có ý thức xây dựng tập thể của mình Trái lại, ở một tổ chức mà bầu không khí tâm lý tẻ nhạt, căng thẳng sẽ tạo ra các cảm xúc, tâm trạng tiêu cực cho các thành viên, dễ dàng hình thành nên các nhóm không chính thức đối lập, xung đột có điều kiện nẩy sinh
và phát triển Trong tổ chức này, cá nhân ít gắn bó với tập thể, ít có sự quan tâm giúp
đỡ lẫn nhau
Bầu không khí tâm lý có quan hệ chặt chẽ với các mối quan hệ người -người trong sản xuất (trong đó bao gồm mối quan hệ giữa -người lao động với người lao động) và mối quan hệ giữa ngươì lao động với lao động:
Thứ nhất: Chúng ta xét mối quan hệ thứ nhất đó là quan hệ giữa người lãnh đạo với người lao động cấp dưới
Trang 5Trong mối quan hệ này chúng ta thấy rằng phong cách làm việc của người lãnh đạo có ảnh hưởng to lớn đến bầu không khí tâm lý xã hội của tập thể Khi người lãnh đạo biết đánh giá, khen thưởng và xử phạt một cách công bằng, khách quan và đúng mức đối với các thành viên thì người lãnh đạo đó sẽ khích lệ được mọi người hăng hái làm việc với năng xuất và chất lượng cao hơn Trong khi người lãnh đạo thành công là người đem hết năng lực của mình ra làm việc, tạo cho người lao động có cảm giác họ làm việc cho công ty như làm cho chính bản thân mình
Như vậy, mối quan hệ giữa người lãnh đạo với người lao động diễn ra theo hướng tích cực sẽ góp phần tạo nên bầu không khí tâm lý trong tập thể sản xuất
đó tích cực theo một yếu tố khác góp phần tạo nên bầu không khí tâm lý trong tập thể là tính chất mối quan hệ qua lại giữa người lao động - người lao động trong tập thể
Thứ hai: Đó là mối quan hệ giữa người lao động với người lao động
Trong một nghiên cứu được tiến hành người ta thấy rằng trong một xí nghiệp có những mâu thuẫn giữa các nữ công nhân với nhau nên năng suất lao động ở xí nghiệp
đó năng xuất lao động bị giảm sút, qua trắc nghiệm người ta phát hiện có những người
có ác cảm với nhau Sau khi người ta bố trí lại vị trí lao động theo những đặc trưng mối quan hệ cá nhân - cá nhân (xếp những người có thiện cảm với nhau làm việc gần nhau, những người có ác cảm với nhau làm xa nhau) thì thấy rằng mâu thuẫn chấm dứt, năng suất lao động được nâng lên Qua ví dụ trên ta thấy rằng:
Trong các tập thể, nếu mối quan hệ giữa người lao động với người lao động
là thiện cảm, khoan dung nhân ái, đoàn kết thì sẽ tạo ra bầu không khí tâm lý lành mạnh, thúc đẩy người lao động trong tập thể hoạt động tích cực, phát huy hết khả năng của mình cống hiến cho tập thể và sức mạnh đó của từng người lao động lại được cố kết với nhau tạo nên một khí thế chung, thúc đẩy hoạt động chung của toàn tập thể.
Trái lại, nếu mối quan hệ của những người đó là thù địch, ác cảm sẽ tạo ra một bầu không khí tâm lý năng nề, u ám, căng thẳng và từng thành viên hoạt động trong bầu không khí đó sẽ mất dần ý chí làm việc, chán nản giảm sút năng suất, làm ra sản phẩm kém chất lượng thậm chí sẽ dẫn tới những trường hợp bất hạnh
Trang 6Một yếu tố nữa cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với việc hình thành nên bầu không khí tâm lý đó là quan hệ giữa người lao động đối với công việc
Khi người lao động được người lãnh đạo phân công những công việc mà người lao động yêu thích, phù hợp với khả năng và trình độ của bản thân người lao động đó sẽ tạo ra ở họ những trạng thái tâm lý phấn khích, hứng thú khiến họ vui vẻ, nhiệt tình, hăng say làm việc.
Ngược lại, công việc được giao không phù hợp với năng lực chuyên môn,
sở thích thì người lao động sẽ làm việc miễn cưỡng, bực bội, thiếu nhiệt tình và không kích thích sự sáng tạo, thậm chí còn nảy sinh trạng thái tiêu cực, chán ghét công việc dẫn tới năng suất lao động giảm sút
Thứ ba: Bên cạnh việc bố trí công việc phù hợp thì việc người lao động được đánh giá như thế nào đối với công việc mà họ đang làm cũng là một yếu tố quan trọng tạo ra thái độ tích cực hay tiêu cực đối với lao động.
Thứ tư: Trong hoạt động lao động trong tập thể bên cạnh nhu cầu đảm bảo
sự tồn tại của con người cần thoả mãn, người lao động còn có nhu cầu được tự thể hiện mình, được tập thể nhìn nhận đánh giá cả về mặt vật chất và tinh thần đối với việc mình đã và đang làm.
Nhu cầu này của họ nếu được thoả mãn sẽ là những yếu tố kích thích bên trong đối với hoạt động của cá nhân, là nguồn gốc của hứng thú, của tính tích cực của người
đó trong lao động Như vậy, trong mối quan hệ giữa người lao động đối với công việc thì việc người lao động được phân công, sắp xếp làm những công việc phù hợp với khả năng, năng lực và hứng thú của mình đồng thời người lao động được đánh giá đúng công sức, năng lực mà họ đã bỏ ra sẽ là nhân tố quan trọng tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực, thúc đảy người lao động hăng say làm việc, phát huy hết khả năng của mình
* Ngoài ra còn có một số nhân tố khác ảnh hưởng đến bầu không khí tâm
lý trong tổ chức đó là:
- Phong cách lãnh đạo của người quản lý:
Chưa biết cách khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của những người dưới quyền.
Trang 7Chưa quan tâm tới lợi ích và tính công bằng cho người lao động
Do sự lan truyền trong tập thể, người lãnh đạo cần tạo được sự lan truyền tâm lý tích cực Các nghiên cứu vè tâm lý cho thấy: nếu trong một tập thể, có nhiều người tính tình vui nhộn, người lãnh đạo có đầu óc hài hước thì sẽ tạo ra bầu không khí vui vẻ trong tập thể Mặt khác, cơ cấu về giới tính, tuổi tác cũng có ảnh hưởng quan trọng đến bầu không khí tâm lý trong tổ chức.
- Điều kiện lao động: bao gồm trang thiết bị lao động, trang trí nội thất, ánh sáng, điều kiện vệ sinh…
- Phân phối lợi ích phải công bằng: khi lợi ích của người lao động được quan tâm, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện thì sẽ tạo ta bầu không khí yên tâm, phấn khởi, quan hệ giữa người với người sẽ trở nên thân mật, gắn bó.
Có nhiều phong cách lãnh đạo khác nhau, dù là phong cách nào nó cũng đòi hỏi người lãnh đạo phải tôn trọng nhân cách của người lao động.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên có thể khẳng định: từ lợi ích kinh tế khác nhau, từ tính nết, nhân cách khác nhau dẫn đến kéo bè kéo cánh Các mối quan hệ này ngày càng căng thẳng đến mức không dung hòa nổi tạo thành xung đột.
3 Khái niệm xung đột trong tổ chức:
Xung đột là một quá trình ở đó một bên liên tục nỗ lực vươn lên ngang bằng
với bên kia bằng cách cản trở đối thủ của mình đạt được các mục tiêu hoặc lợi ích nhất định
Xung đột có thể hiểu là sự đối lập về những nhu cầu, giá trị và lợi ích Xung đột có thể là nội tại trong bản thân cá nhân.
Phân loại xung đột:
Mâu thuẫn, xung đột phân theo tính chất lợi- hại gồm có:
Mâu thuẫn, xung đột có lợi và mẫu thuẫn, xung đột có hại, phân theo bộ phận thì có mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm, giữa các cá nhân và trong một con người.
Theo tính chất lợi- hại:
Mâu thuẫn, xung đột có lợi có thể cải thiện kết quả làm việc, thúc đẩy mỗi
cá nhân sáng tạo và hợp tác với nhau tốt hơn, xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp
Trang 8sâu sắc hơn, nếu quá ít mâu thuẫn này thì ắt dễ trở nên tự mãn, hài lòng với bản thân.Mâu thuẫn, xung đột có hại: là những mâu thuẫn gây ảnh hưởng xấu tới công việc, tới các mối quan hệ trong tổ chức.
Theo bộ phận:
Mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm; xảy ra giữa các nhóm làm việc, hay giữa các phòng, ban, bộ phận này với bộ phận kia trong tổ chức.
Mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân: giữa các nhân viên với nhau, nhân viên cũ với nhân viên mới, nhân viên trẻ với nhân viên già, giữa nhà lãnh đạo quản lý với nhân viên.
Mâu thuẫn, xung đột nội tại của cá nhân: xung đột vai trò cá nhân xảy ra khi vai trò của cá nhân không phù hợp với điều mà cá nhân mong đợi.
* Các yếu tổ tác động làm ô nhiễm bầu không khí tâm lý tập thể từ đó dẫn đến xung đột:
Bầu không khí tập thể là trạng thái tâm lý xã hội trong tập thể Đó là mối quan hệ giữa con người và con người tạo trạng thái tâm lý bình thường, tốt đẹp hoặc nặng nề.
Nguyên nhân gây ô nhiễm bầu không khí tập thể là do đặc điểm tâm lý khác nhau có thể dẫn đến xúc phạm nhau; hoặc do mâu thuẫn về lợi ích tạo nên bầu không khí tập thể bị ô nhiễm Các yếu tố chính gây ô nhiễm bầu không khí tập thể thường là:
Sự khác nhau ngẫu nhiên, về địa lý, tiếng nói, phong tục khác nhau, về hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sinh sống, giới tính, tuổi tác, nhân cách, cá tính.
Sự khác nhau về trình độ văn hóa, chuyên môn, trình độ lãnh đạo, quản lý.
Sự khác nhau về thu nhập và phân phối hưởng thụ dẫn đến xung đột.
4 Vận dụng trong thực tiễn Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hải Hậu tỉnh Nam Định:
Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hải Hậu được tổ chức biên chế 5 người, bao gồm 01 trưởng ban, 02 phó trưởng ban, 02 chuyên viên; thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn sau:
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN UỶ Điều 1: Chức năng
Trang 91.1- Ban Tuyên giáo Huyện uỷ là cơ quan tham mưu, giúp việc Ban Chấp hành Đảng bộ huyện mà trực tiếp là Ban Thường vụ và Thường trực Huyện uỷ về công tác
Tư tưởng-Văn hoá-Khoa giáo-Lịch sử Đảng (gọi tắt là công tác Tuyên giáo)
1.2- Là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác Tuyên giáo của Huyện uỷ
Điều 2: Nhiệm vụ:
2.1 Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất:
- Nghiên cứu, theo dõi, tổng hợp tình hình tư tưởng trong cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên và nhân dân, những diễn biến trên lĩnh vực tư tưởng – văn hoá ở địa bàn huyện; dự báo những diễn biến, xu hướng tư tưởng có thể xảy ra, kịp thời báo cáo, tham mưu với Huyện uỷ, Ban Thường vụ về phương hướng, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp giải quyết
- Nghiên cứu, dự thảo các đề án, nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Huyện uỷ
về công tác tuyên giáo; giúp Huyện uỷ đánh giá, đề xuất chủ trương, giải pháp công tác Tuyên giáo trên địa bàn huyện
- Tham gia đề xuất với UBND huyện, cấp uỷ cơ sở và các phòng, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân trong việc vận dụng, thể chế hoá các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của Trung ương, tỉnh, huyện về lĩnh vực Tuyên giáo
- Sơ kết, tổng kết về công tác Tuyên giáo
2.2 Thẩm định:
Giúp Ban Thường vụ Huyện uỷ thẩm định các đề án, chương trình, tài liệu của cấp uỷ cơ sở, các cơ quan, tổ chức chính trị-xã hội trong huyện có liên quan đến lĩnh vực Tuyên giáo trước khi trình Thường trực Huyện uỷ, Ban Thường vụ Huyện uỷ
2.3 Hướng dẫn, kiểm tra:
- Giúp Huyện uỷ xây dựng kế hoạch triển khai học tập các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, tỉnh, huyện
- Kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, tỉnh, huyện về công tác Tuyên giáo
- Tổ chức thông tin thời sự, chính sách cho cán bộ, đảng viên và đội ngũ báo cáo viên Định hướng nội dung thông tin, đồng thời phối hợp với cơ quan chức năng quản lý, kiểm tra nội dung định hướng chính trị của các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn huyện
- Hướng dẫn nghiệp vụ công tác Tuyên giáo cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cơ sở
- Hướng dẫn tuyên truyền các ngày lễ lớn, các phong trào thi đua yêu nước, các
sự kiện chính trị quan trọng ở địa phương
Trang 10- Hướng dẫn sưu tầm, biên soạn, xuất bản và giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng của các ngành, địa phương
- Tham gia tổng kết thực tiễn, phát hiện những mô hình mới trong lĩnh vực Tuyên giáo Tổng kết kinh nghiệm công tác Tuyên giáo ở địa phương và định kỳ báo cáo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Huyện uỷ
2.4 Phối hợp:
Ban Tổ chức Huyện uỷ và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện xây dựng
kế hoạch nội dung đào tạo, bồi dưỡng chính trị - hành chính, nghiệp vụ công tác đảng, mặt trận và các đoàn thể cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở
2.5 Tham gia công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ ở địa phương:
- Tham gia đề xuất việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ trong khối Tư tưởng-Văn hoá-Khoa giáo theo thẩm quyền
- Phối hợp các cơ quan chức năng tham gia công tác xây dựng Đảng thuộc khối
Tư tưởng-Văn hoá-Khoa giáo của huyện
2.6 Thực hiện một số nhiệm vụ do Ban Thường vụ, Thường trực Huyện uỷ giao:
- Tham mưu, giúp việc Ban Thường vụ Huyện uỷ về công tác xây dựng Đảng thuộc các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tuyên truyền, lý luận chính trị, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, khoa giáo và lịch sử Đảng bộ địa phương
- Tổ chức mạng lưới và chỉ đạo nội dung hoạt động đối với báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên từ huyện đến cơ sở Tổ chức thông tin thời sự, tuyên truyền chủ trương, chính sách theo kế hoạch, chương trình của cấp uỷ cấp trên và của Huyện uỷ
- Chủ trì, chỉ đạo định hướng, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát về chính trị, tư tưởng trong hoạt động của các cơ quan văn hoá, cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương, đảm bảo hoạt động theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Chỉ đạo chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng đối với Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban Thường vụ, Thường trực Huyện uỷ giao
QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BAN TUYÊN GIÁO
Điều 3: Quyền hạn và trách nhiệm của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ:
- Được yêu cầu các tổ chức, cá nhân báo cáo hoặc cung cấp những vấn đề liên quan đến công tác Tuyên giáo trên địa bàn huyện
- Được mời dự các cuộc họp của cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ban, ngành, đoàn thể bàn về công tác Tuyên giáo ở địa phương