1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận xã hội học dân số

8 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 82,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ số giới tính của dân số toàn thế giới là 101 nam trên 100 nữ có thể coi là cân bằng giới tính. Phân tích dựa trên số liệu tổng điều tra dân số quốc gia hiện có cho thấy trong mấy thập kỷ vừa qua, tình trạng mất cân bằng về tỷ số giới tính theo chiều hướng nhiều trẻ em trai đã tăng ở một số nước trên thế giới đã dẫn tới tình trạng mất cân bằng giới tính. Mất cân bằng giới tính khi sinh: là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái.. Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) là số lượng bé trai trên 100 bé gái khi sinh. SRB ở mức bình thường dao động trong khoảng 103106 tùy theo quốc gia hay khu vực địa lý. SRB có ý nghĩa quyết định đến tỷ số giới tính chung của dân số, và qua đó ảnh hưởng đến nhiều vấn đề: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh và an sinh xã hội… SRB tăng cao hơn mức bình thường trong nhiều năm liên tục sẽ dẫn tới tình trạng mất cân bằng giới tính trong xã hội thời kỳ tiếp theo. Khi SRB cao hơn ở mức 106 trở lên và kéo dài liên tục trong nhiều năm, tình trạng mất cân bằng giới tính trong dân số của độ tuổi hôn nhân sẽ xảy ra sau đó từ 15 20 năm.

Trang 1

THỜI KỲ QUÁ ĐỘ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH

MỞ ĐẦU

Tỷ số giới tính của dân số toàn thế giới là 101 nam trên 100 nữ có thể coi là cân bằng giới tính Phân tích dựa trên số liệu tổng điều tra dân số quốc gia hiện có cho thấy trong mấy thập kỷ vừa qua, tình trạng mất cân bằng về tỷ số giới tính theo chiều hướng nhiều trẻ em trai đã tăng ở một số nước trên thế giới đã dẫn tới tình trạng mất cân bằng giới tính

Mất cân bằng giới tính khi sinh: là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái

Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) là số lượng bé trai trên 100 bé gái khi sinh SRB

ở mức bình thường dao động trong khoảng 103-106 tùy theo quốc gia hay khu vực địa lý SRB có ý nghĩa quyết định đến tỷ số giới tính chung của dân số, và qua đó ảnh hưởng đến nhiều vấn đề: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh và an sinh xã hội… SRB tăng cao hơn mức bình thường trong nhiều năm liên tục sẽ dẫn tới tình trạng mất cân bằng giới tính trong xã hội thời kỳ tiếp theo Khi SRB cao hơn ở mức 106 trở lên và kéo dài liên tục trong nhiều năm, tình trạng mất cân bằng giới tính trong dân số của độ tuổi hôn nhân sẽ xảy ra sau đó từ 15- 20 năm

Các bước quá độ dân số

Bước quá độ thứ nhất bắt đầu cách đây khoảng 10.000 năm, gắn với việc định hình và bắt đầu phát triển xã hội nông nghiệp

Bước quá độ thứ hai bắt đầu với cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước Tây

Âu ở giữa thế kỷ 17

Bước quá độ thứ ba bắt đầu từ khoảng giữa thế kỷ 19 khi mức sinh bắt đầu giảm Đến năm 1930, mức sinh đã ổn định ở mức thấp tại các nước công nghiệp (về cơ bản kết thúc quá trình công nghiệp hoá)

Bước quá độ thứ tư trong phát triển dân số đã diễn ra trong thời kỳ sau chiến tranh Thế giới lần thứ II Sự bùng nổ dân số đã xảy ra ở các nước kém phát triển do mức chết giảm xuống nhờ phát triển y tế, giáo dục và nông nghiệp

Bước quá độ thứ năm bắt đầu từ những năm 1970 khi mức sinh giảm xuống nhanh chóng ở các nước kém phát triển (bắt đầu phát triển công nghiệp)

ớ c qu á đ ộ th ứ sáu Tại tất cả các nước ở thời kỳ hậu công nghiệp hoá, mức sinh tiếp tục giảm và hiện nay ở dưới mức sinh thay thế cần thiết

Thực trạng tại Việt Nam, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, tỷ số giới tính khi sinh (GTKS) đã tăng từ khoảng 106 bé trai trên 100 bé gái vào năm 2000,

Trang 2

lên 110,5 bé trai vào năm 2009; 112,6 năm 2013; 112,4 năm 2014; 113 năm 2015

và 112,2 năm 2016

Có thể thấy rằng, trong mấy năm gần đây mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta diễn ra với tốc độ nhanh, ngày càng lan rộng và đã đến mức nghiêm trọng Theo số liệu thống kê (năm 2016) cả nước hiện vẫn còn 45 tỉnh, thành phố có tỉ số giới tính khi sinh (tỉ lệ trẻ trai/trẻ gái) gia tăng và ở mức cao Theo khảo sát khác từ Viện Khoa học giáo dục Việt Nam mới đây cho thấy, cả nước có 10 tỉnh, thành phố

có tỉ lệ mất cân bằng GTKS cao nhất gồm: Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Hòa Bình, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh và Quảng Ngãi (trong đó Hưng Yên có tỷ lệ mất cân bằng GTKS cao nhất 130,7)…Đây là những địa phương thuộc vùng kinh tế năng động, tư tưởng Nho giáo khá nặng nề, sự ưa thích con trai mãnh liệt và người dân có điều kiện tiếp cận khá dễ dàng các dịch vụ chọn lọc trước sinh Điều này có nghĩa là những vùng có đời sống kinh tế khá hơn đang dẫn đầu với một hình thức kỳ thị mới đối với trẻ em gái Tỷ số GTKS đã tăng lên ở cả thành thị và nông thôn, nhưng tăng mạnh hơn ở khu vực thành thị (đặc biệt

ở Hà Nội theo thống kê đến hết quý I/2017, tỷ số giới tính khi sinh của nhiều huyện lên tới trên 120 trẻ trai/100 trẻ gái như tại Hà Đông, Sơn Tây, Thạch Thất, Hoài Đức, Ứng Hòa, Phú Xuyên, Mê Linh ) Ở Việt Nam, không giống nhiều quốc gia khác, tỷ số GTKS mất cân bằng ngay ở lần sinh đầu tiên của các cặp vợ chồng Năm 2009, tỷ số này là 110,2 ở lần sinh đầu, 109 ở lần sinh thứ hai và 115,5

ở lần sinh thứ ba (và thậm chí đến 132 nếu hai con đầu là gái) Việc lựa chọn giới tính thai nhi ngay ở lần sinh đầu tiên hầu hết chỉ xảy ra ở khu vực thành thị Tỷ số GTKS gia tăng ở 4 vùng là trung du và miền núi phía bắc, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long Đặc biệt, tại trung du và miền núi phía Bắc tăng từ 108,5 lên 116,1 trẻ trai/100 trẻ gái và ở Đồng bằng sông Cửu Long tăng từ 109,9 lên 114,1trẻ trai/100 trẻ gái Trong khi ở Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ, tỉ số GTKS có mức giảm từ 109,7 xuống 105,5

Ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời cũng kéo theo những thay đổi trong tư duy nhận thức về vai trò, vị thế của nam và nữ trong xã hội Tuy Luật bình đẳng giới đã phổ biến nhưng tâm lý ưa chuộng con trai vẫn tồn tại trong tư tưởng của các gia đình Việt Nam góp phần gây nên mất cân bằng giới tính khi sinh Có thể kể đến các nguyên nhân chính gây nên tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh là:

Thứ nhất: Phong tục tập quán, tâm lý xã hội truyền thống, tư tưởng nho giáo

phải có con trai nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên Một trong những giá trị của Nho giáo là mô hình gia đình truyền thống, trong đó việc nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ là những giá trị nền tảng Trong nền văn hoá

đó, tâm lý ưa thích con trai trở nên mãnh liệt cho mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng,

Trang 3

mỗi gia đình và mỗi dòng họ Ví dụ như: từ khi chuẩn bị kết hôn, nhà trai phải chủ động, ngay trên thiếp mời dự đám cưới, phông chữ trang trí cũng thường lấy tên nhà trai trước Khi cưới xong con gái theo chồng, lo cho nhà chồng Người chồng thường là chủ hộ trong gia đình, có quyền quyết định những việc lớn Đến khi có con, phải theo họ của bố Quan niệm có con trai mới được xem là đã có con - “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một nam là có, mười nữ cũng như không), không

có con trai là tuyệt tự Khi cha mẹ chết, con trai được đứng trước, con gái đứng sau, chỉ có cháu trai mới được bê bát hương ông, bà; con trai mới được vào nơi thờ

tự, đóng góp giỗ tổ tiên Trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai và họ sẽ cảm thấy lo lắng, không an tâm trong tương lai nếu chưa có con trai

Thứ hai: Do tính chất công việc phải đòi hỏi lao động cơ bắp của con trai,

trụ cột về lao động đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân (ở nhiều vùng nông thôn, ở các lĩnh vực công việc nặng nhọc, đặc biệt là công việc trong các ngành Nông - Lâm -Ngư nghiệp, khai thác khoáng sản, đi biển đánh bắt thuỷ hải sản xa

bờ …đều đòi hỏi sức lao động cơ bắp của nam giới Chính vì vậy, con trai vừa là trụ cột về tinh thần, vừa là trụ cột về kinh tế cho cả gia đình)

Thứ ba: Do chế độ an sinh chưa đảm bảo, hiện nay có khoảng 70% dân số

sống ở nông thôn không có lương hưu bảo hiểm tuổi già, họ cần con trai để phụng dưỡng chăm sóc Trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai vì họ sẽ cảm thấy lo lắng và không an tâm trong tương lai nếu chưa có con trai

Thứ tư: Do chính sách đối với nữ giới chưa thoả đáng, bình đẳng giới có mặt

chưa được quan tâm đầy đủ, những chính sách giải quyết các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới chưa thật thỏa đáng cũng góp phần thúc đẩy một số phụ nữ chủ động tìm kiếm các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh

Thứ năm: Là nhóm các nguyên nhân trực tiếp Lạm dụng những tiến bộ khoa

học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh như: Áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn…); trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y,…); hoặc sau khi đã có thai (sử dụng siêu

âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối,…) để chẩn đoán giới tính thai nhi, kết hợp với phá thai chọn lọc giới tính (nếu là thai trai thì để lại, nếu là thai gái thì bỏ đi) Ảnh hưởng từ việc giảm sinh và tác động của các yếu tố kinh tế, phúc lợi xã hội Áp lực giảm sinh với khuyến cáo mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 đến 2 con cũng là nguyên nhân gián tiếp tác động đến thực trạng này Ðể sinh ít con mà vẫn đảm bảo có con trai như mong muốn, các cặp vợ chồng không thể áp dụng "quy luật dừng", mà sinh đến khi nào có con trai mới thôi, nên họ đã sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh nhằm đáp ứng được cả hai mục tiêu nói trên

Trang 4

Có thể thấy rằng nguyên nhân của việc mất cân bằng giới tính khi sinh chính

là sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, định kiến về giới, ưa thích con trai, thái độ xem thường giá trị phụ nữ đã ăn sâu, bám rễ vào các quan niệm văn hóa, tư tưởng truyền thống lâu đời đã tạo nên áp lực nặng nề đối với phụ nữ về việc phải sinh con trai Xét về một mặt nào đó, nam giới vẫn được ưu ái, coi trọng hơn Ví dụ để tuyển dụng một vị trí việc làm trong khi có hai ứng cử viên nam và nữ thì bao giờ nam cũng được lựa chọn với lý do: Nam giới có xu hướng hành động nhanh chóng, quyết đoán, trong khi phụ nữ có xu hướng thụ động, bị cảm xúc chi phối Phụ nữ yếu hơn nam giới về thể chất, bởi vì trong hàng triệu năm tiến hóa phụ nữ không thực hiện nhiệm vụ yêu cầu cao về thể chất như nam giới (phụ nữ hái lượm, nam giới săn thú) Chức năng não: Nam giới tư duy logic học tốt hơn Nam giới có tinh thần sẵn sàng đối mặt với thử thách cao hơn phụ nữ Tại Việt Nam ở thời kỳ hậu công nghiệp hoá, mức sinh tiếp tục giảm và đến khi ở dưới mức sinh thay thế cần thiết đây là thời điểm kết thúc quá độ dân số như một điều kiện tiên quyết dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh

Hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh cũng xảy ra ở một số nước châu

Á Từ cuối những năm 70, khi xuất hiện máy siêu âm, kỹ thuật chọc ối, xét nghiệm

máu, gen đã giúp cho các cặp vợ chồng biết được giới tính thai nhi Mất cân bằng giới tính khi sinh thường xảy ra ở các quốc gia thực hiện chính sách dân số hạn chế sinh đẻ, gia đình ít con (1-2 con) như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và một số nước Trung Á như Azecbaizan, Acmênia Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) mới đây đã lên tiếng báo động tình trạng mất cân bằng giới tính nghiêm trọng do tâm lý trọng nam ở các nước thuộc châu Á Ước tính nam giới tại châu lục này đang nhiều hơn nữ giới 100 triệu người, trong đó chênh lệch lớn nhất là ở Trung Quốc và Ấn Độ UNFPA dự báo đến năm 2030, chỉ riêng tại hai quốc gia trên, nam giới trong độ tuổi kết hôn sẽ nhiều gấp rưỡi nữ giới Tại Trung Quốc, do truyền thống "trọng nam khinh nữ" và nhiều thập kỷ áp dụng chính sách một con, đất nước này đã chứng kiến sự mất cân bằng giới tính nghiêm trọng ở khu vực nông thôn Theo ước tính của UNFPA, hiện cứ 106,2 đàn ông Trung Quốc thì mới có

100 phụ nữ Thực trạng này là nguyên nhân của hiện tượng “cành cây không nhánh" chỉ việc nam giới không tìm được vợ Dự báo đến năm 2030, khoảng 1/4 số đàn ông Trung Quốc ở độ tuổi 30 sẽ không thể kết hôn Tại Ấn Độ, nam giới chiếm

đa số lực lượng lao động cũng như dân số Theo ước tính của Tổ chức Lao động quốc tế, tỷ lệ nữ giới tham gia lực lượng lao động Ấn Độ ở khoảng 27% vào năm

2014, thấp hơn so với mức 50% của trung bình toàn cầu Sự mất cân bằng trong lực lượng lao động đồng nghĩa với việc quốc gia này đang bỏ lỡ tiềm năng lớn trong phát triển Trong nhiều thập kỷ, Hàn Quốc là điển hình về xu hướng "trọng nam khinh nữ" Năm 1990, khi các tiến bộ y học đã có thể hỗ trợ việc chẩn đoán giới tính, sự chênh lệch giữa tỷ lệ trẻ nam-nữ khi sinh ở nước này tăng vọt đến

Trang 5

mức cao nhất thế giới, với 116,5 bé trai so với 100 bé gái sinh ra Chỉ trong một thế

hệ, Hàn Quốc từ một xã hội "khát" con trai trở thành một xã hội nơi các bé gái được chào đón tha thiết Công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự giáo dục cùng với cuộc

"nổi dậy" của phái nữ đã loại bỏ những tàn dư "thâm căn cố đế" nhiều thập kỷ coi con trai là cần thiết để thừa kế gia tài, hương hỏa tổ tiên, chăm sóc cha mẹ và nối dõi cho dòng họ Đến năm 2015, theo Liên hợp quốc, tỷ lệ giới tính khi sinh của quốc gia này đã trở lại mức bình thường là 101 bé gái so với 100 bé trai sinh ra Sự đảo chiều thần kỳ ấy đã mang đến những bài học quan trọng cho những "người khổng lồ" ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ, nơi 1/3 dân số thế giới vẫn tiếp tục nuôi dưỡng giấc mộng có con trai Như vậy hiện tại Hàn Quốc là nước duy nhất trong khu vực cho đến nay đã thành công trong giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh

Trong bài viết này câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra là: liệu có một thời

kỳ quá độ về mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam hay không?

Trước hết tác giả xin khái quát về thời kỳ quá độ dân số: Thời kì trước quá

độ, thích ứng với xã hội mà trong đó con người sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự

nhiện, phương thức chủ yếu là du canh du cư, nông nghiệp lạc hậu, mức sống thấp, dịch bệnh nhiều, tỷ lệ chết cao Để tồn tại và phát triển, con người phải sinh

đẻ nhiều Mức sinh cao, mức chết cao dẫn đến sự gia tăng dân số diễn ra rất chậm

chạp, thời kì này được coi là thời kì “cân bằng dân số lãng phí” Tiếp đến là thời

kì quá độ có thể chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn 1 thích ứng với xã hội nông

nghiệp phát triển, bắt đầu công nghiệp hóa, nhờ những thành tựu trong y học mà con người có thể thanh toán những căn bệnh gây chết người hàng loạt như: tiêu chảy, đậu mùa làm mức chết giảm nhanh, trong khi đó mức sinh vẫn giữ nguyên, thậm chí tăng chút ít do đời sống và sức khỏe sản phụ được cải thiện Trạng thái cân bằng truyền thống giữa mức sinh và mức chết cao bị phá vỡ và bắt đầu xuất

hiện sự bùng nổ dân số Giai đoạn 2 thích ứng với quá trình công nghiệp hóa và đô

thị hóa ngày càng phát triển Trình độ học vấn của con người được nâng cao Tỷ suất sinh (CBR) và tỷ suất chết (CDR) tiếp tục giảm, nhưng CDR giảm nhanh hơn dẫn đến tỷ suất tăng tự nhiên có xu hướng giảm, tuổi thọ của con người tăng lên

Giai đoạn 3 do ở giai đoạn trước tuổi thọ của con người được nâng lên dẫn đến

dân số bị lão hóa trong giai đoạn này, tỷ suất chết có xu hướng nâng cao một chút Giai đoạn này CBR và CDR cân bằng thấp bảo đảm tái sản xuất dân số giản đơn

Cuối cùng là thời kỳ sau quá độ đặc trưng của thời kỳ này là mức chết thấp tương

đối ổn định và mức sinh thấp với những biến động nhỏ

Dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất trên thế giới, lực lượng sản xuất phát triển, điều kiện sống của con người được cải thiện, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn nên tỉ suất tử vong giảm mạnh Từ

Trang 6

những năm 1980 trở lại đây, ở một số quốc gia châu Á tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tăng cao, số lượng bé trai được sinh ra nhiều hơn bé gái Trong khi đó

ở Việt Nam, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra muộn hơn so với hầu hết các nước khác.Tỷ số mất cân bằng GTKS ở Việt Nam chỉ tăng lên khi công nghệ siêu âm phát triển rộng rãi, tạo điều kiện cho việc xác định giới tính trước khi sinh Do lực lượng sản xuất phát triển, điều kiện sống của con người được cải thiện, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn nên tỉ suất tử vong giảm mạnh Sự chênh lệch giữa mức sinh và mức tử rất lớn, dân số tăng nhanh, trong giai đoạn này

đã xảy ra hiện tượng bùng nổ dân số Giai đoạn quá độ dân số kéo dài hay rút ngắn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của từng nước (nhóm nước) Thực chất, con người có thể điều khiển quá trình quá độ dân số bằng những biện pháp khác nhau (như Hàn Quốc),

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới, nhiều chuyển biến lớn lao đã xảy

ra, tất yếu khiến quy mô gia đình truyền thống không còn thích nghi được với hoàn cảnh xã hội mới, diễn ra sự biến đổi một số chuẩn mực, giá trị xã hội về dân số, gia đình theo biến đổi phát triển xã hội từ truyền thống đến hiện đại … trong đó có biến đổi quan niệm về giá trị con trai, con gái Chẳng hạn, ngày nay sự bình đẳng

đã được đề cao hơn, những chuẩn mực lạc hậu cũng được loại bỏ nhằm hướng tới một xã hội tiến bộ hơn Đáng kể nhất là việc giải phóng phụ nữ: họ được đối xử bình đẳng hơn và có nhiều điều kiện để phát triển, nâng cao vị thế xã hội của mình; vai trò của họ trong cuộc sống, trong sản xuất, ngày càng trở nên quan trọng hơn, gánh nặng gia đình cũng dần được chia sẻ và cơ hội phát huy tiềm năng cũng đến nhiều hơn, được toàn xã hội công nhận Bình đẳng nam nữ, con trai, con gái đã thay đổi tiến bộ rất nhiều chẳng hạn đã có nhiều phụ nữ đảm nhiệm các chức vụ quan trọng của nhà nước như bà Nguyễn Thị Kim Ngân là thành viên trong Bộ Chính trị, là chủ tịch Quốc hội, có 2/4 Phó Chủ tịch Quốc hội là nữ nhiệm kỳ

2011-2016, nữ giới là đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 2011-2016 là 24.4%, và nhiều phụ nữ giữ vị trí quan trọng khác trong bộ máy nhà nước Tuy nhiên ở mức độ phát triển hiện nay của xã hội VN, con trai ở mức độ nào đó vẫn được coi trọng hơn con gái, trong các cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước tỷ lệ nữ giới là lãnh đạo mới chỉ chiếm 1/3, đa số cấp trưởng vẫn là nam giới Trong xã hội nói chung, giá trị con trai vẫn được đề cao hơn so với con gái Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới mất cân bằng giới tính khi sinh

Do ảnh hưởng quan niệm phải có con trai để nối dõi bắt nguồn sâu xa từ những phong tục, tập quán, từ truyền thống đã để lại nhiều hậu quả cho việc MCBGTKS hiện nay Hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam đã được tổ chức UNFPA cảnh báo: Nếu xu hướng này lặp lại và lan rộng diễn

ra với tốc độ nhanh sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng trong tương lai, ảnh hưởng

Trang 7

đáng kể đến cơ cấu giới tính và nhân khẩu học Cũng theo dự báo của UNFPA, nếu tiếp tục tăng như vậy các năm tiếp theo sẽ tác động nặng nề đến thế hệ nam thanh niên được sinh ra sau năm 2005 vì khi bước vào độ tuổi lập gia đình vào những năm 2030 thì nhóm nam giới này sẽ dư thừa so với phụ nữ cùng lứa tuổi 10% Nếu không có can thiệp hiệu quả để giảm mất cân bằng giới tính khi sinh thì sau 20 năm nữa Việt Nam sẽ có 4,3 triệu thanh niên ít có cơ hội lấy được vợ trong nước

Dù làm tốt can thiệp để giảm mất cân bằng giới tính khi sinh thì con số đó cũng còn tới 2,3 triệu Người ta quan ngại về sự bạo hành ở một xã hội khi có nhiều nam giới độc thân Nhóm nam giới gặp khó khăn trong việc tìm vợ hoặc không thể lấy được vợ, phải duy trì cuộc sống độc thân có thể gây ra những bất ổn về trật tự an toàn ở cộng đồng, làm gia tăng tệ nạn mại dâm, buôn bán trẻ em gái, phụ nữ và các loại tội phạm xã hội khác do nhu cầu tình dục của họ không được đáp ứng Nếu Việt Nam không nhanh chóng tìm biện pháp khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

Xã hội tiếp tục phát triển, các giá trị, chuẩn mực xã hội tiếp tục biến đổi theo tiến trình phát triển, trong đó, giá trị con trai, con gái cũng tiếp tục biến đổi theo hướng ngày càng bình đẳng hơn, con gái sẽ hoàn toàn bình đẳng với con trai, thậm chí con gái được coi trọng hơn (như trường hợp Hàn Quốc đã nêu trên); Phát triển

là nhu cầu tự thân của mỗi xã hội, do đó nó luôn phải tự điều chỉnh cơ cấu cũng như các mối quan hệ nội tại bên trong và với bên ngoài để tiếp tục phát triển Như vậy, khi Việt Nam phát triển xa hơn, đạt tới trình độ gần bằng hoặc bằng với Hàn Quốc ở thập kỷ đầu của thế kỷ 21, chúng ta có thể trở lại trạng thái cân bằng giới tính khi sinh

KẾT LUẬN

Như vậy với các lập luận đã trình bày trong bài viết có thể khẳng định rằng Việt Nam và một số nước ở Châu Á trong tiến trình phát triển xã hội đang rơi vào thời kỳ quá độ về mất cân bằng giới tính khi sinh Nước ta chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của Nho Giáo, Phật Giáo,… và trải qua hàng nghìn năm phong kiến, tư tưởng Nho Giáo vẫn còn tồn tại đến ngày nay Việc quan niệm phải có con trai để nối dõi cũng bắt nguồn sâu xa từ những phong tục, tập quán, từ truyền thống chứ hoàn toàn không dựa trên cơ sở khoa học nào Cho đến ngày nay, truyền thống đó vẫn không thay đổi, nào là người con gái phải có tam tòng tứ đức, công, dung, ngôn, hạnh Ngày nay, khi xây dựng gia đình mọi người đều biết rằng (và là điều hiển nhiển) người con gái phải về nhà chồng ở, phải lo toan công việc cho nhà chồng, còn bên nhà vợ, người con rể có lo thì cũng chỉ là phụ.Từ những quan niệm đó ta thấy, nếu không có con trai rõ ràng khi các con gái đi lấy chồng hết thì chỉ còn lại mỗi bố mẹ già ở với nhau, và không có con trai nối dõi nên sẽ tuyệt tự Ở các nước

Trang 8

tiên tiến thì hai ông bà già sống với nhau là bình thường, họ cảm thấy rất vui vẻ an dưỡng tuổi già, đi du lịch đây đó, hoàn toàn không vướng bận chuyện con cháu Còn ở ta thì khác, chúng ta chưa có hệ thống nhà dưỡng lão có thể tiếp nhận tất cả những người già không nơi nương tựa, và xã hội cũng chưa đủ giầu để có thể chu cấp cho tất cả những người già không có thu nhập một khoản có thể đủ trang trải cho cuộc sống, cho nên tư tưởng bao trùm vẫn là khi về già nhờ ở con cái (trẻ cậy cha, già cậy con) Do đó, giải pháp của vấn đề không chỉ là tập trung giải quyết hiện tượng như: Siêu âm hay phá thai lựa chọn giới tính Mà chúng ta cần nhìn nhận vấn đề trong bối cảnh rộng lớn của phát triển kinh tế xã hội khi mà nam giới được coi trọng hơn nữ giới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Dân số học – PGS, TS Nguyễn Đình Tấn – Th.s Nguyễn Văn Đoàn

UNFPA, 2009 Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt nam (Tổng cục thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009)

Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế, 2016).Kết quả Đề án kiểm soát mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh (GTKS) giai đoạn 2016-2025

Tổng cục Thống kê, Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt nam: các bằng chứng mới về thực trạng, xu hướng và những sự khác biệt

Ngày đăng: 19/10/2018, 10:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w