Xung đột xã hội, về mặt khách quan là không thể tránh khỏi trong bất kỳ cơ cấu xã hội nào. Hơn thế nữa, chúng là điều kiện tất yếu của sự phát triển xã hội. Toàn bộ quá trình phát triển xã hội nằm ở xung đột thỏa thuận, hòa hợp đối đầu, chính bản thân cơ cấu xã hội của xã hội với sự phân dị ngặt nghèo, chia thành giai cấp, tầng lớp xã hội, tập đoàn và cá thể cũng là nguồn xung đột bất tận. Cơ cấu xã hội càng phức tạp, xã hội càng phân hóa, xã hội càng nhiều quyền tự do và đa nguyên thì nó càng nhiều lợi ích, mục đích, giá trị bất tương đồng, đôi khi còn loại trừ lẫn nhau và tương ứng với nó càng có nhiều nguồn xung đột tiềm ẩn. Tuy nhiên, trong hệ thống xã hội phức tạp tồn tại nhiều khả năng và cơ chế hơn để giải quyết thành công mọi xung đột, tìm ra các thỏa thuận. Vì vậy, vấn đề của bất cứ xã hội, của cộng đồng xã hội nào là không cho phép (giảm tới mức thấp nhất) những hậu quả tiêu cực của xung đột, vận dụng xung đột để giải quyết tốt mọi vấn đề nảy sinh.
Trang 1MỞ ĐẦU
Xung đột xã hội, về mặt khách quan là không thể tránh khỏi trong bất
kỳ cơ cấu xã hội nào Hơn thế nữa, chúng là điều kiện tất yếu của sự phát triển xã hội Toàn bộ quá trình phát triển xã hội nằm ở xung đột - thỏa thuận, hòa hợp - đối đầu, chính bản thân cơ cấu xã hội của xã hội với sự phân dị ngặt nghèo, chia thành giai cấp, tầng lớp xã hội, tập đoàn và cá thể cũng là nguồn xung đột bất tận Cơ cấu xã hội càng phức tạp, xã hội càng phân hóa, xã hội càng nhiều quyền tự do và đa nguyên thì nó càng nhiều lợi ích, mục đích, giá trị bất tương đồng, đôi khi còn loại trừ lẫn nhau và tương ứng với nó càng có nhiều nguồn xung đột tiềm ẩn Tuy nhiên, trong hệ thống xã hội phức tạp tồn tại nhiều khả năng và cơ chế hơn để giải quyết thành công mọi xung đột, tìm
ra các thỏa thuận Vì vậy, vấn đề của bất cứ xã hội, của cộng đồng xã hội nào
là không cho phép (giảm tới mức thấp nhất) những hậu quả tiêu cực của xung đột, vận dụng xung đột để giải quyết tốt mọi vấn đề nảy sinh
NỘI DUNG
I Lý thuyết xung đột
Thuyết xung đột có nguồn gốc từ học thuyết đấu tranh giai cấp của K Marx, sau ông các học giả như Gluckman, Pareto, Simmel, Weber, Dahrendorf, Collins đã phát triển thuyết này theo hướng sâu hơn Thuyết nhấn mạnh mâu thuẫn là một phần không thể tránh được trong mối quan hệ giữa con người với con người Đồng thời thuyết cũng cho rằng xung đột và mâu thuẫn đóng góp không ngừng vào sự thay đổi của xã hội
Thuyết này dùng để giải thích mâu thuẫn giưa các tầng lớp xã hội, giữa người giàu với người nghèo, giữa các nhóm trong xã hội Giai cấp, quyền lực chính trị, địa vị chính trị là những yếu tố được đề cập, đối với thuyết này, tất
cả các thể chế chính trị, luật pháp và truyền thống xã hội được tạo ra để hỗ trợ
và bảo vệ những người có quyền lực hoặc nhóm người có địa vị cao hơn trong
xã hội
1 Khái niệm xung đột
Hiện nay, trong nghiên cứu của xã hội học có một số khái niệm khác nhau về xung đột, cụ thể:
1
Trang 2Xung đột xã hội là các quan hệ và quá trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều cá nhân hay nhóm có quyền lợi đối lập nhau trong những cách giải quyết vấn đề nhất định” 1
“Theo cách hiểu rộng lý thuyết xung đột là mọi cách tiếp cận khoa học
xã hội mà trong đó các hiện tượng xung đột xã hội mang một ý nghĩa trung tâm đối với việc giải thích các quan hệ, và quá trình xã hội Sự đồng thuận là tối thiểu ở đây: Xung đột xã hội là những tranh chấp giữa hai hoặc nhiều cá nhân hay nhóm (tổ chức, quốc gia, )2
Vậy chúng ta có thể hiểu: “Xung đột là sự đối đầu công khai, là mâu
thuẫn giữa hai hoặc nhiều hơn nữa chủ thể và người tham gia vào tương tác
xã hội mà nguyên nhân là sự bất đồng về nhu cầu, lợi ích và giá trị” 3
Trong thực tế có hai loại xung đột cơ bản:
- “Xung đột quyền lợi: đó là những đối thủ trong cuộc đấu tranh giành phương tiện hạn chế, quyền lực, địa vị, vị thế, ”4
- “Xung đột giá trị: sự không đồng thuận về tính ưu tiên trong trật tự thứ hạng của các giá trị Dựa trên cơ sở tính mâu thuẫn trong các đánh giá của định thủ xung đột trong quá trình đánh giá cơ bản về độ khao khát và tức là
độ hạn chế của hàng hóa và mục tiêu sống (thí dụ như “tự do - trật tự”; “kinh
tế thị trường - kinh tế kế hoạch”5
Cụ thể hơn về khái niệm xung đột chúng ta có:
- Các chủ thể tham gia xung đột: chủ thể xung đột và người tham gia xung đột không bao giờ cũng đồng nhất.6
Chủ thể xung đột đó là “bên tích cực” có năng lực tạo ra tình thế xung đột và ảnh hưởng đến tiến trình xung đột phù hợp với lợi ích của mình Người tham gia xung đột có thể tự giác và không hoàn toàn ý thức được mục đích và nhiệm vụ đối kháng tham gia vào xung đột và cũng có thể ngẫu nhiên hoặc bất chấp ý chí của nó.Chủ thể xung đột khi tham gia đối đầu tự giác theo đuổi
và bảo vệ mục đích và lợi ích của mình Trong tiến trình phát triển xung đột, quy chế của những người tham gia và của các chủ thể có thể đổi chỗ cho nhau
1 Gunter Endruweit - Các lý thuyết Xã hội học hiện đại Nxb Thế giới Hà Nội 1999 Tr173.
2 Gunter Endruweit và G Trommsdorff – Từ điển Xã hội học Nxb Thế giới Hà Nội 2002 Tr.890.
3 Vũ Quang Hà - Xã hội học đai cương Nxb Thống Kê Hà Nội 2002 Tr 108.
4 5 Gunter Endruweit và G Trommsdorff – Từ điển Xã hội học Nxb Thế giới Hà Nội 2002 Tr.890 - 891.
5
6 Vũ Quang Hà - Xã hội học đai cương Nxb Thống Kê Hà Nội 2002 Tr 108 - 109.
Trang 3Trong xã hội học, thường sử dụng khái niệm “bên xung đột” Khái niệm này có thể bao hàm những người tham gia trực tiếp cũng như gián tiếp xung đột Đôi khi người ta gọi những người tham gia gián tiếp vì lợi ích riêng của họ trong xung đột là “bên thứ 3” hoặc “người tham gia thứ ba” Các chủ thể và nhưng người tham gia xung đột xã hội có thể có thứ bậc, quy chế khác nhau và có một sức mạnh nhất định
- Khách thể của xung đột đây là yếu tố hình thành tình thế xung đột Khách thể đó là nguyên nhân, động cơ, động lực cụ thể của xung đột Có ba dạng khách thể cơ bản: i Các khách thể mà chúng không thể phân thành các phần và không thể hợp sức chế ngự chúng; ii Các khách thể mà chúng có thể phân theo những tỷ lệ thức khác nhau giữa những người tham gia xung đột; iii Các khách thể mà cả hai người tham gia xung đột có thể hợp sức chế ngự chúng, đây là tình thế “xung đột ảo”
- Các hình thức xung đột cơ bản: theo V.I Sperankij nếu lấy đặc thù của các bên làm cơ sở thì có thể tách ra xung đột giữa các cá nhân, xung đột giữa các cá nhân và tập đoàn, xung đột bên trong tập đoàn, xung đột giữa các cộng đồng xã hội nhỏ và lớn, xung đột giữa các sắc tộc và các quốc gia; nếu lấy phạm vi đời sống xã hội có: xung đột chính trị, kinh tế, hệ tư tưởng, xã hội, pháp lý, đời sống gia đình, văn hóa xã hội
Hoặc căn cứ vào nguyên nhân có 3 cụm xung đột: xung đột về việc phân chia quyền lực và vị trí quyền lực hiện có trong thứ bậc các cấu trúc quyền lực và quản lý; 2.xung đột về vật chất; 3.xung đột về các giá trị, các phương châm sống cơ bản
- Những giai đoạn phát triển chính của xung đột7
Giai đoạn tiền xung đột (giai đoạn tiềm ẩn)
Đây là giai đoạn gia tăng căng thẳng trong quan hệ giữa các chủ thể tiềm tàng của xung đột trên cơ sở những mâu thuẫn được khẳng định Tuy nhiên, chỉ những mâu thuẫn nào được các chủ thể tiềm tàng của xung đột nhận thức là những mặt đối lập xung khắc nhau về lợi ích, mục đích, giá trị mới dẫn đến tình huống xung đột - căng thẳng xã hội gay gắt
Sự gia tăng căng thẳng xã hội theo các nhà nghiên cứu thường xuất phát từ ba nguyên nhân:
+ "Những người tổn thương" thực sự về lợi ích, nhu cầu và giá trị của mọi người
7 Vũ Quang Hà - Xã hội học đai cương Nxb Thống Kê Hà Nội 2002 Tr 113 - 119.
Trang 4+ Nhận thức không đúng về những thay đổi đang xảy ra trong xã hội hoặc trong một số cộng đồng xã hội
+ Thông tin sai hoặc bóp méo về các sự kiện, biến cố này hay khác Căng thẳng xã hội và thái độ không vừa lòng được coi là trạng thái tâm
lý của mọi người trước khi bắt đầu xung đột
Trong giai đoạn tiền xung đột, các nhà nghiên cứu xã hội học lại chia làm 3 thời kỳ với những đặc điểm tương ứng sau:
+ Phát sinh các mâu thuẫn về khách thể tranh chấp nào đó, gia tăng thái
độ không tin cậy và căng thẳng xã hội; đưa ra các yêu sách đơn phương; giảm tiếp xúc và tích tụ sự oán giận
+ Cố gắng chứng minh tính đúng đắn trong những yêu sách của mình
và buộc tội đối thủ không muốn giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng những biện pháp "công bằng", thu mình trong những khuôn mẫu của riêng mình; xuất hiện thái độ định kiến và hằn học trong tình cảm
+ Phá bỏ các cơ cấu tương tác; chuyển từ lời buộc tội lẫn nhau sang đe dọa; tăng cường gây sự; tạo ra hình ảnh "kẻ thù" và chuẩn bị xung đột
Giai đoạn phát triển xung đột
Đây là giai đoạn đối đầu công khai giữa các bên bằng hành vi xung đột nhằm buộc bên đối địch từ bỏ mục tiêu hoặc thay đổi mục tiêu Các nhà nghiên cứu đã phân ra một số loại hành vi sau:
+ Hành vi xung đột chủ động (thách thức)
+ Hành vi xung đột bị động (đáp trả thách thức)
+ Hành vi xung đột nhượng bộ
Ở giai đoạn này cũng có thể chia làm 3 giai đoạn phát triển của nó: + Giai đoạn xung đột chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái đối đầu công khai giữa các bên Ở giai đoạn này vẫn còn khả năng chấm dứt xung đột
và giải quyết bằng biện pháp khác;
+ Giai đoạn tiếp tục leo thang đối đầu Hai bên phong tỏa hành động của đối thủ, sử dụng tất cả mọi nguồn lực Ở giai đoạn này, những tìm kiếm
sự hòa giải, nhượng bộ đều bị phá vỡ;
+ Xung đột đạt tới đỉnh điểm và mang tính đối đầu tổng lực, áp dụng tất cả mọi lực lượng và phương tiện có thể có Ở giai đoạn này, cả hai bên
Trang 5hình như quên cả nguyên nhân và mục đích xung đột, chỉ tập trung vào việc gây tổn thất tối đa cho phía bên kia
Giai đoạn giải quyết xung đột
Khi xung đột phát triển đến một giai đoạn nào đó, các bên xung đột có
sự thay đổi về nhận thức hay khả năng của mình và của đối thủ và xuất hiện nhu cầu đánh giá lại "các giá trị" xuất phát và ý thức được rằng việc đạt được mục tiêu đề ra phải trả giá quá đắt Những thay đổi trên sẽ kích thích sự thay đổi sách lược và chiến lược hành xử trong xung đột và tình hình tranh chấp sẽ giảm xuống Từ tình thế đó, hai bên có thể đi tìm kiếm những con đường thoát khỏi xung đột và quá trình xung đột dẫn đến chấm dứt
Từ thực tiễn nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn giải quyết xung đột có thể xuất hiện những vấn đề sau đây:
+ Ưu thế rõ ràng của một bên cho phép nó áp đặt cho phía đối phương yếu hơn chấm dứt xung đột của mình;
+ Tranh chấp đi đến sự thất bại hoàn toàn của một bên;
+ Do thiếu nguồn lực, tranh chấp mang tính chất kéo dài;
+ Do cạn nguồn lực nên cả hai bên không thể hiện rõ ưu thế, các bên đi tới nhượng bộ nhau trong xung đột
+ Xung đột cũng có thể bị ngăn chặn dưới áp lực của thế lực thứ ba Kết quả nghiên cứu những xung đột xã hội ở Việt Nam cũng rút ra một
số hình thức chấm dứt xung đột như:
+ Chấm dứt xung đột do hai bên dàn hòa (hòa giải) được với nhau; + Chấm dứt xung đột do hai bên giải quyết nó "một cách không cân xứng", một bên thắng áp đảo;
+ Chấm dứt xung đột do hai bên chuyển nó sang một sự đối đầu khác; + Chấm dứt xung đột do có sự can thiệp từ thế lực khác hoặc do xung đột từ từ chấm dứt
Trong quản lý xã hội, để giải quyết xung đột người ta đề cập đến các tiền đề và cơ chế sau:
+ Phải chuẩn đoán được sự đối đầu bao hàm cả việc làm sáng tỏ các nguyên nhân dẫn đến xung đột, các mục đích, động cơ hành động của các bên:
Trang 6+ Phân tích tình huống xung đột và phân tích lập trường của các bên + Dự báo diễn biến và các hậu quả của xung đột xã hội (cái được, cái mất của mỗi bên khi xung đột chấm dứt)
Giai đoạn hậu xung đột
Xung đột kết thúc, song điều đó không có nghĩa chấm dứt hoàn toàn cuộc đối đầu giữa các bên Trên cơ sở nhường nhịn lại mục đích, lợi ích, hậu quả khi chấm dứt xung đột các đối thủ sẽ có cách nhìn nhận, đánh giá mới về nhau cũng như về môi trường xã hội xung quanh
- Các chức năng xung đột xã hội8
+ Chức năng báo hiệu: chức năng này xác định xung đột xã hội là tiêu chí của trạng thái xã hội nhất định Ở đâu có xung đột, ở đó có một sự đảo lộn của một thứ gì đó trong các mối liên hệ và quan hệ xã hội quen thuộc cũng như có nhu cầu biến đổi một thứ gì đó sâu sắc bên trong xã hội Về nguyên tắc, bản thân những cuộc xung đột không phản ánh độ sâu của những nguyên nhân phát sinh ra nó Xung đột xã hội – xét về loại thì đó là yêu cầu cần thiết phải áp dụng ngay tức khắc, không trì hoãn nhằm phát hiện và xóa bỏ các nguyên nhân gây ra tình hình căng thẳng xã hội, nhu cầu nghiên cứu một cách thấu đáo mọi tình tiết gây ra tình huống xung đột và phương hướng thoát khỏi tình huống xung đột đó
+ Chức năng thông tin: các cuộc xung đột thể hiện một cách đáng tin cậy nhu cầu, lợi ích, khát vọng của các chủ thể xung đột và những người tham gia xung đột, cũng như các nguyên nhân của sự không hài lòng hoặc chống đối xã hội mà trong hoàn cảnh bình thường được “ẩn” trong những quy tắc hành vi và hoạt động thuộc ở trong trang thái xung đột các bên nhận thức rõ ràng hơn lợi ích của mình và bên đối lập, phát hiện một cách đầy đủ hơn sự tồn taị của những vấn đề khách quan cũng như những mâu thuẫn của sự phát triển xã hội
+ Chức năng phân hóa phản ánh đặc điểm của quá trình phân hóa xã hội vốn được hình thành dưới sự ảnh hưởng của xung đột thông qua sự thay đổi và biến đổi của cơ cấu xã hội trước đây Chức năng này phản ánh đặc điểm chung của hành vi xung đột xã hội có trong sự định hướng và việc sắp xếp lại các lực lượng xã hội tham gia xung đột Dưới sự tác động của cuộc xung đột, quá trình phân hóa xã hội phát triển theo hai hướng đối lập nhau Trong hướng chuyển động đó diễn ra sự phân hóa của các mặt đối lập Thế
8 Võ Khánh Vinh – Chức năng xung đột xã hội.Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6.2009.
Trang 7nhưng cung trong hướng chuyển động đó diễn ra một quá trình đối lập khác,
đó là quá trình liên kết, hợp nhất các mặt đã bị phá vỡ và một lần nữa hình thành nên các trung tâm liên kết mới
+ Chức năng vận động: ý nghĩa của chức năng vận động của xung đột
xã hội được chủ nghĩa Mác lập luận một cách thuyết phục trong các tác phẩm đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội Qua các lập luận của Mác chúng ta thất bất kỳ một cuộc xung đột xã hội nào cũng thúc đẩy xã hội phát triển với tốc độ nhanh hơn, làm cho sự thay đổi của một xã hội diễn ra mạnh mẽ hơn
Ở nơi nào đời sống xã hội trôi đi một cách đều đặn thì nơi đó không có những cuộc cải tạo, biến đổi một cách cơ bản, nếu có thì chỉ là những thay đổi nhỏ không đáng kể
2 Nội dung thuyết xung đột theo hướng tiếp cận xã hội học
- Sự xung đột quy định cả một loạt những hành động đặc thù nhằm giải quyết nó, và đi từ sự thảo luận để sửa lại sự vật cho đúng và tìm kiếm một miếng đất thỏa hiệp cho cuộc đấu tranh và chiến tranh Sự giải quyết nó đem lại những kết quả khác nhau, trong đấy có khả năng một tập đoàn hay nhiều
có thể biến mất Nhưng nó luôn luôn dẫn đến một sự phân phối lại, ít nhiều quan trọng các vai trò xã hội, xuất phát từ đây mà tạo nên một sự thống nhất mới Người ta phân biệt hai kiểu xung đột lớn: những xung đột nguy hại cho
sự tồn tại của tập đoàn và những xung đột xét cho cùng chỉ là biểu hiện sức sống của nó Tuy nhiên, một sự tích lũy quá lớn những xung đột nhỏ có thể đưa đến một sự đổi về chất, được thể hiện thành một cuộc xung đột lớn và không sao có thể hàn gắn được Tiêu chuẩn nặng hay nhẹ của một cuộc xung đột không phải hoàn toàn khách quan, theo nghĩa, nó phụ thuộc một phần vào cái cách mà những người liên quan nhìn nó, cảm thụ nó và đương đầu với nó Trong phần lớn các trường hợp, một cuộc xung đột chính yếu không gây nên
sự đoạn tuyệt của những mối liên hệ xã hội, mà chỉ xác nhận sự đoạn tuyệt ấy
Sự đoạn tuyệt đã có trong thực tế và tập đoàn chỉ tiếp tục sống về bên ngoài
- Nguồn gốc của những xung đột có sự khác nhau, tùy theo tính chất của từng xung đột cụ thể Nhưng mọi cuộc xung đột đều được giải thích bởi
sự kiện là những hành động xã hội và những mục đích mà chúng tìm kiếm tất yếu sẽ gặp nhau, đúng như là sự tự do của mỗi người gặp gỡ tự do của người khác Việc gặp gỡ này là hạn chế lẫn nhau, nếu nó được thuàn nhận và chấp nhận ngay tức khắc, thì tình hình xung đột không nảy sinh Trong trường hợp ngược lại, sự xung đột là không thể tránh khỏi Tóm lại, nguồn gốc của những xung đột là ở trong vô số quyền lợi xã hội đặc thù Nếu nhiều cuộc xung đột
Trang 8không nảy sinh đó là vì xã hội, bằng các quyền lực và các luật lệ của nó, đã quy định từ trước những giới hạn mà con người đều biết và chấp nhận như một quy luật của trò chơi Một số xung đột rất hiện thực và được thể hiện thành một cuộc thử sức mạnh, cũng diễn ra trong khuôn khổ của xã hội, điều này cũng duy trì chúng trong một giới hạn nào đó Người ta cũng nhận thấy rằng những cuộc thử sức (chiến tranh) đều không xóa bỏ sự thảo luận, bàn bạc; các bên hữu quan của xung đột vẫn tiếp tục, nếu không phải là điều đình thì ít ra cũng là thảo luận và thường là thảo luận kín
- Người ta muốn coi ganh đua như một thứ xung đột Thực tế, nó là hành vi bình thường của những cuộc xung đột bình thường của một xã hội Đôi khi người ta đề nghị những người ganh đua hãy tỏ ra hiếu chiến Và giống như những cuộc xung đột nghiêm trọng hơn, việc ganh đua, dẫn đến sự loại bỏ một đối thủ Thêm nữa, ganh đua và xung đột không phải là vô chính phủ; chúng có những quy tắc mà trong cả hai trường hợp, đôi khi cũng bị vi phạm Cuối cùng, việc loại bỏ đối phương không bao giờ là vĩnh viễn Trong ganh đua, đối thủ này trỗi dậy, thay đổi và cuộc đấu tranh lại tiếp tục Trong một cuộc xung đột xã hội, đối thủ bị thua không bao giờ thừa nhận hoàn toàn
sự thất bại của họ Vì thế, thường thường những sự xung đột lại là nguồn gốc
đẻ ra những sự xung đột
- Sự xung đột có thể diễn ra bên trong tập đoàn hoặc giữa tập đoàn này với tập đoàn khác Trong trường hợp sau, sự đe dọa xung đột là một yếu tố làm cho tập đoàn có liên kết cấu kết lại với nhau, và chính quyền có thể viện
ra cho sự đe dọa ấy, dù cho nó là hoang đường, vì những mục đích đoàn kết nói trên Thực vậy, trước sự đe dọa này, các quyền lợi đang xung đột hoặc ganh đua với nhau có thể đang tự hạn chế lại để đương đầu với tình hình: sự tồn tại của tập đoàn là một điều kiện cơ bản cho sự sống còn của họ
II Học thuyêt đấu tranh giai cấp của K Marx
Từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, các nhà xung đột học đã quan tâm đến lý luận xã hội học của C.Mác Điều đó không hoàn toàn ngẫu nhiên Xã hội học mácxít đã hiệu chỉnh đáng kể những quan điểm ngự trị lúc bấy giờ về các quá trình phát triển xã hội
Theo C.Mác, sống trong xã hội, không tùy thuộc vào các mối quan hệ ý chí hay lý trí, con người buộc phải liên kết lại với nhau Chính sự hiện diện của các mối quan hệ đó tạo ra tính xã hội của chúng với tính cách các vấn đề
xã hội đặc thù, mà bằng khoa học có thể nhận thức được một cách khách quan
Trang 9Theo quan điểm của C.Mác, cơ cấu xã hội có bốn yếu tố cơ bản: các lực lượng lao động, các quan hệ lao động, thượng tầng chính trị và các hình thái ý thức xã hội Như vậy, hệ thống các yếu tố cơ bản của cơ cấu xã hội đã được sắp xếp lại và hệ thống các mối liên hệ mật thiết qua lại giữa những yếu
tố đó tạo thành nền tảng lý luận chung của xã hội học mácxít
Đồng thời, lý luận xã hội học mácxít không chỉ là bộ phận chính của xã hội học nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học lý luận chung về xã hội, mà còn là hệ thống lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về xung đột xã hội
Trên mọi mức độ nhận thức về các quá trình xã hội, chủ nghĩa Mác đều thừa nhận các cuộc xung đột xã hội, các mâu thuẫn đối kháng là những hiện tượng có thể xảy ra; còn trong những điều kiện của cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt trong khuôn khổ của cái gọi là “các hình thức đối kháng”, chúng là những hiện tượng tất yếu của đời sống xã hội
Cả C.Mác lẫn Ph.Ăngghen đều tin tưởng rằng, mâu thuẫn đối kháng về lợi ích giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản chỉ giải quyết được trong quá trình cách mạngxã hội chủ nghĩa - cuộc cách mạngthủ tiêu chế độ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, xây dựng những điều kiện để xóa bỏ các quan
hệ đối kháng, xóa bỏ các giai cấp bóc lột vốn không muốn từ bỏ sở hữu và địa
vị thống trị của mình Sự hiểu biết về những vấn đề này liên quan đến khá nhiều vấn đề có quan hệ trực tiếp với hệ vấn đề về xung đột xã hội Cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, như động lực cách mạng và mối quan hệbiện chứng của động lực cách mạng, nghệ thuật lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang
và lôgíc của việc lôi kéo đồng minh đứng về phía giai cấp công nhân, ngăn chặn cuộc phản cách mạngvà tổ chức công tác trong điều kiện hòa bình cũng như những vấn đề tương tự khác từ lập trường mácxít, tạo ra kinh nghiệm phân tích lịch sửcụ thể các tình huống xung đột xã hội phong phú và đa dạng
Chủ nghĩa Mác trong thế kỷ XIX luôn coi trọng hành động cách mạng, thể hiện rõ nét nhất trong chương kết thúc Đấu tranh giai cấp ở nước Pháp; trong đó, C.Mác trực tiếp kêu gọi những người công nhân và những người dân chủ không ngả theo những ảo tưởng sửa đổi Hiếp pháp, không tuyệt đối hóa nền dân chủ tư sản và các phương pháp cải lương, không thỏa hiệp vì nhân danh một thế giới dân sự tưởng tượng ra Ông cũng tin tưởng rằng, chỉ thông qua con đường đấu tranh, các hành động ngoài nghị trường với sự “áp lực từ bên ngoài” mới có thể đạt được kết quả mong muốn, mới có thể tạo ra được những thay đổi lớn lao trong xã hội Sự hưng phấn mang tính cách mạng
đó của C.Mác đã được thời đại lúc bấy giờ chứng minh
Trang 10Các quan niệm về sự phát triển xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhìn từ góc độ pháp luật và chính trị - xã hội cho thấy rõ nhu cầu nghiên cứu
lý luận của toàn bộ hệ thống các vấn đề về xung đột xã hội Nhu cầu đó chủ yếu được phân tích dựa trên nền tảng phương hướng có tính phương pháp luận của chủ nghĩa Darwin về xã hội, của xã hội học phương Tây, của chính trị học và của luật học Những ưu điểm cũng như những nhược điểm tạo thành thực chất của hiện tượng hết sức phức tạp như xung đột xã hội, ở mức
độ đáng kể, được xác định bởi các đặc điểm phương pháp luận của những phương hướng nghiên cứu đó Và chúng ta không nghi ngờ về sự ảnh hưởng nhất định của những sự kiện chính trị và xã hội lúc đó đối với các kết luận mang tính lý luận về những vấn đề chung của sự phát triển xã hội cũng như về xung đột xã hội Khi bàn về những tư tưởng cơ bản vốn đã được thể hiện trong các học thuyết về sự phát triển xã hội của thời kỳ này, chúng ta có thể lựa chọn trong số đó những tư tưởng có tính phổ quát và tính thời sự đối với các quan điểm hiện đại về xung đột xã hội
III So sánh thuyết xung đột với học thuyết đấu tranh giai cấp của
K Marx.
1 Những điểm song trùng:
Thuyết xung đột Học thuyết đấu tranh giai cấp
- Hành động chiến lược vì quyền lợi
và cấu trúc bất bình đẳng xã hội là
“động cơ” cho biến đổi xã hội hay
định hướng vào vấn đề khan hiếm, là
điểm đối chiếu cho các quá trình xã
hội đều đúng cho cả 2 truyền thống lý
thuyết
- Lịch sử là lịch sử của đấu tranh giai cấp (sự đấu tranh do xung đột lợi ích) (đấu tranh giai cấp là nguồn gốc và động lực thúc đẩy xã hội phát triển)
2 Những điểm khác biệt
Thuyết xung đột Học thuyết đấu tranh giai cấp
1 Thừa nhận bức tranh đa nguyên với
nhiều nhóm xung đột , cạnh tranh với
nhau (có sự thống nhất nào đó giữa
các bên xung đột…)
2 Biến đổi xã hội không chỉ xảy ra
1 Xung đột dẫn đến sự phân hóa thành 2 giai cấp có lợi ích đối lập nhau (không thể dung hòa)
2 Nhấn mạnh nhiều đến những biến đổi xã hội bằng cách mạng