Với sự lựa chọn đề tài Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứuvà khám phá sâu hơn về vai tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
=== ===
QUẢNG VĂN HOÀNG
QUAN HỆ TỪ BIỂU THỊ QUAN HỆ ĐIỀU KIỆN – HỆ QUẢ NHÌN TỪ CÁC BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ
NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
=== ===
QUẢNG VĂN HOÀNG
QUAN HỆ TỪ BIỂU THỊ QUAN HỆ ĐIỀU KIỆN – HỆ QUẢ NHÌN TỪ CÁC BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ
NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học:
TS Hoàng Thị Thanh Huyền
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô, những người đã tận tìnhgiảng dạy, động viên, giúp đỡ, nhận xét và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trìnhhọc tập cũng như khi thực hiện khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Hoàng Thị Thanh Huyền,người đã tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt khóa luận này.Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ, khuyếnkhích, động viên tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sựđóng góp, giúp đỡ của quý Thầy Cô và các bạn
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2016
Sinh viên
Quảng Văn Hoàng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướngdẫn của Tiến sĩ Hoàng Thị Thanh Huyền Các luận cứ nêu trong khóa luận là xácthực Những kết luận khoa học của khóa luận chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Quảng Văn Hoàng
Trang 5QUY ƯỚC TRÌNH BÀY TRONG KHÓA LUẬN
1 Quy ước kí hiệu
: kí hiệu dành riêng cho cấu trúc đề - thuyết
: dấu hiệu phân chia ranh giới đề - thuyết
2 Quy ước trình bày
- Chú thích cho tài liệu trích dẫn được đặt trong dấu ngoặc vuông [ ] theo thứ tự: tên tài liệu trích dẫn, trang tài liệu; thông tin tài liệu được trích dẫn được ghi trong mục Tài liệu tham khảo.
- Khóa luận sử dụng 164 ví dụ; các ví dụ được đánh số thứ tự từ 1 đến 164,các số thứ tự đó được đặt trong ngoặc đơn ( ) Sau mỗi ví dụ là xuất xứ của ví dụ ấy
theo thứ tự: tên tác phẩm, số trang; thông tin đầy đủ về tác phẩm được ghi trong mục Nguồn ngữ liệu.
Trang 6MỤC LỤC MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Bố cục của khóa luận 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Khái quát về quan hệ từ trong tiếng Việt 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Các loại quan hệ từ 7
1.2 Khái quát về quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện hệ quả trong tiếng Việt 8
1.2.1 Đặc điểm của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả 8
1.2.2 Các loại quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả 8
1.3 Lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học 10
1.3.1 Bình diện ngữ pháp 10
1.3.1.1 Các thành phần câu 11
1.3.1.2 Phân loại kiểu câu theo cấu tạo 13
1.3.2 Bình diện ngữ nghĩa 14
1.3.2.1 Nghĩa miêu tả ( nghĩa sự việc, nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề) 14
1.3.2.2 Nghĩa tình thái 16
1.3.3 Bình diện ngữ dụng 17
Trang 71.3.3.1 Cấu trúc đề - thuyết 17
1.3.3.2 Cấu trúc thông tin 18
CHƯƠNG 2: CHỨC NĂNG CỦA QUAN HỆ TỪ BIỂU THỊ QUAN HỆ ĐIỀU KIỆN – HỆ QUẢ TRÊN CÁC BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG 20
2.1 Chức năng ngữ pháp của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả 21
2.1.1 Đánh dấu chức năng ngữ pháp trong câu 21
2.1.2 Nối kết các vế trong câu ghép 25
2.1.3 Liên kết trong văn bản 29
2.2 Chức năng ngữ nghĩa của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả 34
2.2.1 Đánh dấu các vai nghĩa 34
2.2.2 Phân biệt các loại sự tình trong nghĩa miêu tả 36
2.2.3 Biểu thị các loại ý nghĩa tình thái 40
2.3 Chức năng ngữ dụng của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả 45
2.3.1 Biểu thị quan hệ lập luận 45
2.3.2 Đánh dấu cấu trúc đề thuyết 49
2.3.3 Đánh dấu cấu trúc thông tin 52
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NGUỒN NGỮ LIỆU
Trang 9- Từ loại
Trang 10tiếp)
-Chức năng ngữ pháp trong cụm từ (nối kết) trong câu (thành phần chuyển
- Chức năng lập luận (kết tử)
- Chức năng liên kết văn bản (phép nối)
Mặc dù vậy nhưng trên thực tế, người học và người sử dụng quan hệ từ tronghoạt động giao tiếp thường chưa nắm vững các chức năng, vai trò của chúng mộtcách đầy đủ, toàn diện, từ đó chưa biết cách vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan hệ từvào việc tổ chức, xây dựng văn bản, tạo nên tính mạch lạc, chặt chẽ, rõ ràng vàtrong sáng cho văn bản Hệ quả tất yếu của việc chưa nắm vững vai trò, chức năngcủa quan hệ từ dẫn đến nhiều lỗi trong diễn đạt do dùng quan hệ từ không chính xáchoặc thiếu quan hệ từ làm cho nội dung câu diễn đạt mơ hồ, tối nghĩa
Quan hệ điều kiện – hệ quả là một trong những quan hệ rất phổ biến thuộc về
tư duy, nó tồn tại ở tầng sâu và được biểu hiện bằng phương tiện ngôn ngữ Nghiêncứu mối quan hệ này đặc biệt là cách biểu hiện của nó giúp ta thấy được nét đặc thùtrong cách biểu hiện mối quan hệ điều kiện – hệ quả và mối tương quan giữa mặthình thức và mặt nội dung trong tiếng Việt nói riêng và trong ngôn ngữ nói chung
Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng là vấn đề mới mẻ và hấp dẫn Quan hệ từ là những từ
không có ý nghĩa tự thân mà chỉ biểu hiện ý nghĩa quan hệ nhưng nó lại có vai trò tolớn trong việc biểu thị mối quan hệ điều kiện – hệ quả, góp phần làm rõ những vấn
đề quan trọng như ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng trong một ngôn ngữ cụ thể (tiếng
Trang 11Việt) Với sự lựa chọn đề tài Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu
và khám phá sâu hơn về vai trò, chức năng của quan hệ từ và qua việc nghiên cứunày cũng nhằm tự trang bị cho bản thân mình hành trang tri thức để bước vào nghềđược tự tin hơn, hướng tới tầm cao tri thức mới về từ loại tiếng Việt Khi chúng tanắm vững bản chất của các từ loại tất yếu sẽ vận dụng chúng vào giao tiếp đạt hiệuquả cao làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú và giàu đẹp
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề quan hệ từ và chức năng của nó đã được các nhà ngôn ngữ học nghiêncứu từ rất sớm và có nhiều công trình về ngữ pháp và chức năng của quan hệ từ củanhiều tác giả khác nhau
Năm 1985, Đinh Văn Đức trong chuyên luận “Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)”
đã dành trọn một chương để trình bày về quan hệ từ Tác giả đã chỉ rõ vai trò củacác hư từ cú pháp trong việc diễn đạt mối quan hệ giữa thực từ và thực từ trong cácphát ngôn, vai trò trong việc diễn đạt các mối quan hệ và phương tiện liên kết trongcấu trúc phát ngôn Tuy nhiên, tác giả Đinh Văn Đức lại thiên về miêu tả các quan
hệ từ chỉ hướng và chỉ vị trí (đây chỉ là một phần nhỏ trong hệ thống các quan hệ từcủa tiếng Việt) mà chưa đi sâu vào các quan hệ từ phản ánh tư duy như: điều kiện –
hệ quả; nguyên nhân – kết quả…
Năm 2007, trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” (Sách dành cho các trườngCao đẳng Sư phạm), tác giả Bùi Minh Toán cũng đã nghiên cứu về quan hệ từ vàvai trò của các loại quan hệ từ trong câu Trong đó tác giả đã căn cứ vào quan hệngữ pháp của quan hệ từ, chia thành 2 nhóm: quan hệ từ phục vụ cho quan hệ chínhphụ và quan hệ từ phục vụ cho quan hệ đẳng lập căn cứ vào loại quan hệ ngữ pháp
mà từ biểu thị Tác giả cũng chỉ ra thêm rằng quan hệ từ có thể được dùng thành cặp
để liên kết các bộ phận của câu với nhau, nhất là việc liên kết giữa các vế của câughép chính phụ.Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến các vấn đề liên quan đến đề tàichứ chưa đi tìm hiểu sâu về vai trò của các quan hệ từ
Trang 12Năm 2008, tác giả Hoàng Trọng Phiến trong chuyên luận “Ngữ pháp tiếngViệt (Câu)” đã nghiên cứu rõ vai trò của các quan hệ từ trong tổ chức cú pháp củacâu Trong chương thứ ba và thứ tư của chuyên luận, ông chỉ ra vai trò của các quan
hệ từ khi tham gia vào tổ chức cú pháp của câu Tác giả nhấn mạnh: quan hệ từkhông đảm nhận vai trò làm thành tố chính của câu nhưng nó lại có vai trò quantrọng trong việc làm cho câu được hoàn chỉnh về mặt cú pháp Đặc biệt ở chươngthứ tư, khi viết về tổ chức cú pháp của câu ghép, tác giả đã đi sâu phân tích và chỉ ravai trò của quan hệ từ trong việc nối kết các vế của câu ghép với các quan hệ về thờigian, nhân – quả, điều kiện/giả thiết – hệ quả, nhượng bộ, tăng tiến, mục đích, sosánh trên câu ghép chính phụ; quan hệ từ trong kiểu câu biểu thị quan hệ lựa chọn,quan hệ liên hợp, quan hệ tương phản trong câu ghép đẳng lập Điều này cho ta thấycái nhìn toàn diện về vai trò của quan hệ từ khi xem xét ở bình diện ngữ pháp
Năm 2008, trong luận văn Thạc sĩ “Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quảtrong câu tiếng Việt” tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã đi sâu phân tích và miêu tả vaitrò của quan hệ từ trong việc biểu thị mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt.Năm 2009, Diệp Quang Ban trong chuyên luận “Ngữ pháp tiếng Việt (phầncâu)” và năm 2012 trong chuyên luận “Ngữ pháp tiếng Việt” (2 tập) đã phân loại,miêu tả các loại quan hệ từ và tìm hiểu vai trò của từ loại này từ các góc độ khácnhau Đồng quan điểm với Bùi Minh Toán, Diệp Quang Ban đã đi phân loại vàmiêu tả lớp quan hệ từ tiếng Việt thành hai loại: chính phụ và đẳng lập Trong đótác giả đã đi phân tích và chỉ ra ý nghĩa quan hệ của lớp quan hệ từ này cùng vớikhả năng kết hợp của chúng để liên kết, kết hợp các từ, các câu và các đoạn trongvăn bản
Có thể nói, việc nghiên cứu về quan hệ từ đã được các tác giả đề cập đến trongnhiều công trình nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau nhưng quan hệ từ biểuthị quan hệ điều kiện – hệ quả thì chưa có một công trình nghiên cứu hay bài viếtnào đề cập tới Kế thừa và tiếp thu những kết quả từ các bài viết và công trìnhnghiên cứu về quan hệ từ, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài “Quan hệ từ biểu thị
Trang 13quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng”
để từ đó giúp cho bạn đọc có cái nhìn tổng quan hơn về vai trò của quan hệ từ, đặcbiệt là quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữpháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
-Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát quan hệ từ trong “Thạch Lam văn và đời”, Nxb
Hà Nội (1999); “Nguyễn Công Hoan truyện ngắn chọn lọc”, Nxb Văn học (2005);
“Truyện ngắn chọn lọc Nam Cao”, Nxb Văn hóa Thông tin (2006);“Số đỏ” của VũTrọng Phụng, Nxb Văn hóa – Thông tin (2010)
- Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn
từ các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
4.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệquả trong tiếng Việt trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng để thấy rõchức năng của từ loại này trên các bình diện đó Đây là khoảng trống vẫn còn bỏngỏ của các công trình nghiên cứu về từ loại trước đây Qua đó góp phần hoàn thiện
lí luận về các bình diện của quan hệ từ và nâng cao năng lực sử dụng và lĩnh hội từtrong hoạt động giao tiếp
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết về quan hệ từ nói chung và quan hệ từbiểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả nói riêng trong tiếng Việt
+ Nghiên cứu lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học (ngữ pháp, ngữ nghĩa
và ngữ dụng) để làm cơ sở lí luận cho đề tài
+ Nghiên cứu chức năng của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quảtrên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ: Phương pháp này được sử dụngkhi chúng tôi giải thích, tường minh hóa các chức năng của quan hệ từ trên các bìnhdiện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng
Trang 14- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Khi nghiên cứu quan hệ từ, chúng tôi luônđặt trong ngữ cảnh, trong những đơn vị của diễn ngôn (câu) Chính ngữ cảnh chiphối các chức năng của quan hệ từ Do đó, phương pháp phân tích diễn ngôn đượcchúng tôi sử dụng để làm rõ từng chức năng của quan hệ từ trên các bình diện ngữpháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng.
Ngoài 2 phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng một số thủ pháp sau:
Thủ pháp thống kê, phân loại được chúng tôi áp dụng để thu thập, xử lí cáccâu có sử dụng quan hệ từ biểu thị điều kiện – hệ quả
Thủ pháp đối chiếu, so sánh được chúng tôi sử dụng để làm nổi bật những néttương đồng và khác biệt của các quan hệ, các hiện tượng ngữ nghĩa và ngữ phápliên quan đến cách biểu hiện mối quan hệ điều kiện – hệ quả
6 Đóng góp của khóa luận
Về lí luận: khóa luận làm rõ lý thuyết về chức năng của quan hệ từ nói chung,chức năng của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nói riêng nhìn từ cácbình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Về thực tiễn: khóa luận giúp người đọc có cái nhìn cụ thể về chức năng củaquan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả và vận dụng các quan hệ từ để tạo lậpvăn bản
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luậnđược trình bày trong hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Ở chương này, chúng tôi trình bày những lí thuyết về quan hệ từ, chú trọngđến quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả và những lí thuyết về ba bìnhdiện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Đó là cơ sở, tiền đề để chúng tôi khảo sát,phân loại và đưa ra kết quả ở chương 2
Chương 2: Chức năng của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả trêncác bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Trang 15Từ những lí thuyết về quan hệ từ, quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệquả và các bình diện nghiên cứu câu, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân loại ngữliệu, phân tích và chỉ ra chức năng của các quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện –
hệ quả khi xem xét chúng trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng khinghiên cứu câu
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 Khái quát về quan hệ từ trong tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm
Quan hệ từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp,
nó được dùng để biểu thị quan hệ, nối kết giữa từ với từ, từ với cụm từ, giữa các bộphận của câu, các vế câu hoặc các câu với nhau
Quan hệ từ không đảm nhiệm vai trò làm thành tố chính, cũng không đảmnhiệm vai trò làm thành tố phụ trong cụm từ, cũng không đảm nhiệm chức năng củacác thành phần câu
Trong khóa luận này, chúng tôi chia sẻ quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban
và Hoàng Văn Thung: Về ý nghĩa khái quát, quan hệ từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh Quan hệ từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ và hư từ một cách tường minh Về khả năng kết hợp và chức năng cú pháp, quan hệ từ được dùng nối kết các từ, các kết hợp từ, các câu và các đoạn văn có quan hệ cú pháp [4, tr.152].
1.1.2 Các loại quan hệ từ
Dựa vào các kiểu ý nghĩa quan hệ (quan hệ cú pháp) được thể hiện bằng quan
hệ từ, có thể chia thành hai lớp: lớp quan hệ từ chính phụ và lớp quan hệ từ đẳnglập
Quan hệ từ chính phụ chỉ ý nghĩa quan hệ chính phụ, được dùng để nối kếtthành tố phụ và thành tố chính trong câu Do đó, quan hệ từ chính phụ thường có xuhướng gắn với thành tố phụ, nó gồm hai nhóm là quan hệ từ hạn định và quan hệ từphụ thuộc Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính quy ước, căn cứ vào phạm vihoạt động của chúng
- Nhóm quan hệ từ hạn định là quan hệ từ đứng trước thành tố phụ để nối kết
thành tố phụ và thành tố chính Một số quan hệ từ hạn định thường gặp như: của,
Trang 17cho, bằng, để, mà, ở, với, đối với, cùng, cùng với, về, đến, tới, từ, trong, ngoài, trên, dưới, giữa, như…
- Nhóm quan hệ từ phụ thuộc là quan hệ từ dùng trước thành phần phụ ở bậccâu (trong quan hệ với thành phần chính) gồm quan hệ từ phụ thuộc là từ đơn vàquan hệ từ phụ thuộc là cặp từ phối hợp
+ Quan hệ từ phụ thuộc là từ đơn dùng kèm với thành phần phụ của câu, nốikết thành phần phụ của câu với nòng cốt câu là một cụm chủ – vị Một số thường
gặp như: vì, do, bởi, tại, mà, nhưng, như, để mà, để cho…
+ Quan hệ từ phụ thuộc là cặp từ phối hợp đứng trước cả thành phần phụ lẫn
thành phần chính Trong nhiều trường hợp có thể lược bỏ đi một trong hai quan hệ
từ đi kèm các thành phần này Các cặp từ thường gặp như: tuy/dù.mặc dù… nhưng…; nếu/ giá/ hễ/ giả thử (là)… thì/ là/ thì là…; vì/ bởi/ tại/ do… nên/ cho nên/ mà…
Quan hệ từ đẳng lập chỉ ý nghĩa quan hệ đẳng lập, được dùng để nối kết các
từ, các kết hợp từ và không gắn bó với bất cứ thành tố nào trong một kết hợp có
quan hệ đẳng lập Một số quan hệ từ đẳng lập thường gặp như: và, với, cùng, hay, hoặc, rồi, là, rằng là, hình như, thì, cũng như, chứ…
1.2 Khái quát về quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện hệ quả trong tiếng Việt 1.2.1 Đặc điểm của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả
Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hê quả có đặc điểm là biểu thị quan hệchính phụ (nối kết thành tố chính và thành tố phụ)
Trong câu ghép, quan hệ từ thường đứng ở đầu vế chính và đầu vế phụ đánhdấu vế chỉ điều kiện và vế chỉ hệ quả Trong nhiều trường hợp có thể lược bỏ đi qua
hệ từ đứng trước thành phần chính hoặc quan hệ từ đứng trước thành phần phụ
1.2.2 Các loại quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả
Về vấn đề phân loại các quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả, chođến nay vẫn có nhiều cách phân loại khác nhau Quan hệ điều kiện – hệ quả trongcâu tiếng Việt gồm 2 thành tố, thành tố chỉ điều kiện và thành tố chỉ hệ quả Đi cùng
Trang 18với hai thành tố ấy là quan hệ từ biểu thị điều kiện và quan hệ từ biểu thị hệ quả.Tuy nhiên, do đặc trưng về ngữ pháp có các câu khuyết thiếu hoặc rút gọn nên vấn
đề phân loại quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả trở nên phức tạp và chưa
đi đến thống nhất Có thể phân chia quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quảtheo 2 tiêu chí:
* Tiêu chí 1: Căn cứ vào hình thức, chúng tôi chia làm hai loại:
- Loại 1: Theo vị trí của quan hệ từ, chia làm hai dạng:
+ Dạng 1: Quan hệ từ chỉ thành tố điều kiện đứng trước thành tố chỉ hệ quả
Ví dụ: (1)Giá con tham tâm, thì con lấy rồi.[16,tr.534]
+ Dạng 2: Quan hệ từ chỉ thành tố điều kiện đứng sau thành tố chỉ hệ quả Ví
dụ: (2) Tôi thương hại thằng bé, nếu nó gặp nạn.”[16, tr.536]
- Loại 2: Theo sự hiện diện của quan hệ từ, chia làm hai dạng:
+ Dạng đơn: Chỉ có quan hệ từ đứng trước thành tố chỉ nguyên nhân hoặc đứng trước thành tố chỉ hệ quả trong câu.Ví dụ:
(3) Vì nếu anh không nín, ông bà ở nhà nghe tiếng khóc, nó sẽ phải đòn, phải
chửi [16, tr.592]
+ Dạng kép: quan hệ từ xuất hiện thành cặp: giá/hễ/nếu…thì…Ví dụ:
(4) Mà nếu gặp người phu xe thực thà hoặc ngu ngốc thìbà có thể lấy lại số
Trang 19(5)Nếu ta thả một hòn đá vào nước, nó sẽ chìm.
- Điều kiện – hệ quả giả định, chỉ là mong muốn và không thực hiện đượctrong thực tế.Ví dụ:
(6) Giá còn, tao cho thêm mày một vài đồng nữa [16, tr.352]
Tuy nhiên, phải nói rằng mọi sự phân chia các kiểu loại quan hệ từ chỉ là tương đối Trên đây chúng tôi đã phân loại các quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện
Trang 20– hệ quả theo 3 tiêu chí và sẽ tiến hành khảo sát cách dùng cũng như chức năng của các quan hệ từ này được sử dụng trong câu tiếng Việt.
1.3 Lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học
Trước đây khi nghiên cứu câu tiếng Việt, ngữ pháp truyền thống chỉ tập trungmiêu tả mối quan hệ giữa câu với câu ở mặt cấu trúc Ngày nay trong sự phát triểncủa hàng loạt các lý thuyết mới, câu bắt đầu được nghiên cứu ở cả ba bình diện, đặcbiệt là bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng
Nghiên cứu câu trên ba bình diện xuất phát từ lí thuyết kí hiệu học củaPeircevà Morris Hai ông cho rằng kí hiệu học phải được nghiên cứu trên ba bìnhdiện: kết học, nghĩa học, dụng học
- Kết học: là lĩnh vực của các quy tắc hình thức kết hợp tín hiệu thành mộtthông điệp Nói vắn tắt, kết học nghiên cứu tín hiệu trong mối quan hệ với tín hiệukhác
- Nghĩa học: là lĩnh vực của chức năng miêu tả, của những thông tin miêu tả,thông tin sự vật Nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực bên ngoài màtín hiệu biểu thị
- Dụng học: nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu và việc sử dụng tín hiệu(người sử dụng, mục đích, hoàn cảnh sử dụng…)
Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả được chúng tôi khảo sát chủyếu trong câu ghép Vì lẽ đó, lí thuyết ba bình diện của câu sẽ là “tiền đề” giúpchúng tôi tìm hiểu chức năng của quan hệ từ được biểu hiện qua ba bình diện đó
1.3.1 Bình diện ngữ pháp
Đây là bình diện hình thức của câu có nhiệm vụ nghiên cứu mối quan hệ giữacác thành tố tạo nên câu: từ và từ, cụm từ và cụm từ Ở bình diện này, những vấn đềđược quan tâm nghiên cứu là các chức vụ cú pháp của các yếu tố ngôn ngữ tạothành cấu trúc cú pháp của câu (thành phần câu) và kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu(cấu trúc câu).Ví dụ:
Trang 21(7) Sáng na y ,/tại giảng đường,/lớp chúng tôi/ học Ngữ pháp tiếng V iệt
TN1 TN2 CN VN
1.3.1.1 Các thành phần câu
Theo ngữ pháp truyền thống, tổ chức của câu được miêu tả thông qua hệ thốngcác thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ… Mỗi thànhphần này có những đặc trưng riêng về ý nghĩa và hình thức ngữ pháp Từ trước tớinay, vấn đề thành phần câu luôn được quan tâm chú ý khi nghiên cứu về cú pháptiếng Việt, nhưng cho đến nay nó vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi và chưa đi đếnthống nhất Trong khóa luận này, chúng tôi xin được chia sẻ quan niệm về thànhphần câu của hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp, cho rằng:
thành phần câu là những từ tham gia nòng cốt câu (bắt buộc có mặt để đảm bảo tính trọn vẹn của câu) hoặc phụ thuộc trực tiếp vào nòng cốt câu [13, tr.57 ] Tuy
nhiên, khác với quan điểm về sự phân chia thành phần câu của hai tác giả này,chúng tôi cho rằng để phân loại thành phần câu một cách chi tiết đồng thời để thuậnlợi cho các thao tác khi phân tích câu về mặt hình thức, thành phần câu tiếng Việtđược chia thành bốn kiểu, đó là:
a, Thành phần chính của câu
Đây là thành phần nòng cốt đảm bảo cho câu được trọn nghĩa và thực hiệnđược chức năng giao tiếp, ngay cả trong trường hợp câu tồn tại độc lập, tách biệtvới văn cảnh hoặc hoàn cảnh sử dụng Có hai quan niệm về phân chia thành phầnchính:
+ Quan niệm thứ nhất của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp: các
thành phần chính gồm chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ bắt buộc.Ví dụ:
(8) Tôi đến tr ư ờ ng .
CN VN BN
+ Quan niệm thứ hai, câu có hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ.
Ở đây chúng tôi theo quan niệm thứ hai, câu gồm hai thành phần chủ ngữ và
vị ngữ
Trang 22- Chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần chính của câu có mối quan hệ qua lạivới nhau, trong đó chủ ngữ nêu lên đối tượng được nói tới còn vị ngữ nói về nộidung của đối tượng đó Thông thường chủ ngữ đứng trước vị ngữ nhưng cũng cónhiều trường hợp đứng sau vị ngữ (do sự tri nhận, điểm nhìn của người nói, ngườiviết).
- Chủ ngữ và vị ngữ có thể do danh từ, động từ, tính từ, đại từ hoặc số từ đảm nhiệm.Ví dụ:
(9)Tôi là sinh viên (chủ ngữ là đại từ, vị ngữ là danh từ)
Thành phần phụ của từ là thành phần đóng vai trò bổ sung ý nghĩa cho một
thực từ (danh từ, động từ, tính từ) trong câu Đó là hai thành phần: định ngữ và bổ ngữ.
Định ngữ và bổ ngữ có thể do danh từ, động từ, tính từ, số từ hay đại từ đảmnhận.Ví dụ:
Thành phần phụ của câu bao gồm:trạng ngữ, đề ngữ và vị ngữ phụ.
d, Thành phần biệt lập
Trang 23Thành phần biệt lập là thành phần không nằm trong cấu trúc ngữ pháp cơ bảncủa câu, không tham gia vào việc biểu hiện nghĩa sự việc của câu, đồng thời thường
được tách biệt khỏi phần còn lại của câu bằng ngữ điệu Bao gồm: tính thái ngữ, phụ chú ngữ, hô ngữ, liên ngữ.
1.3.1.2 Phân loại kiểu câu theo cấu tạo
Trong câu tiếng Việt, mỗi kiểu cấu trúc đều được xây dựng thành một môhình khái quát Trong tiếng Việt, phần đông các nhà nghiên cứu đều dựa vào số
lượng kết cấu chủ - vị để phân biệt cấu trúc câu thành ba phạm trù: câu đơn, câu phức và câu ghép.
- Câu đơn: được cấu tạo bằng một kết cấu chủ – vị nòng cốt Với nòng cốt nhưvậy, câu đơn đáp ứng được nhu cầu tối thiểu về tư duy và giao tiếp
- Câu phức: có hai kết cấu chủ – vị trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu chủ –
vị làm nòng cốt, các kết cấu chủ – vị còn lại bị bao chứa và góp phần tạo nên mộtthành phần nào đó trong câu (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ…) Cụm chủ – vị
bị bao trùm tạo nên thành phần nào thì phức thành phần đó
- Câu ghép: là kiểu câu có từ hai kết cấu chủ – vị trở lên, trong đó không cókết cấu chủ – vị nào bao chứa kết cấu chủ - vị nào Các kết cấu chủ – vị có tính độclập tương đối so với nhau, không là thành tố cấu tạo của nhau, tuy vậy vẫn có quan
hệ với nhau cả về ý nghĩa và ngữ pháp
Trong mỗi phạm trù cấu trúc trên lại phân biệt thành một số tiểu loại cấu trúcnhỏ hơn Chẳng hạn, trong câu đơntiếp tục phân thành câu đơn bình thường và câuđơn đơn đặc biệt; trong câu phức lại phân thành: câu phức thành phần chủ ngữ, câuphức thành phần vị ngữ, câu phức thành phần trạng ngữ…; trong câu ghép lại phânthành câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập Ví dụ:
(15) Chao ôi! (câu đơn đặc biệt danh từ ghi lại cảm xúc)
(16) Cấm hút thuốc (câu đơn đặc biệt vị từ biểu thị sự cấm đoán)
(17) Ông Bụt xuất hiện khiến cho cô Tấm bàng hoàng (câu phức chủ ngữ) (18) Tôi thấy cô gái đang đến gần (câu phức vị ngữ)
(19) Nếu trời mưa thì đường lầy lội (câu ghép chính phụ)
Trang 24(20) Bố tôi là bộ đội còn mẹ tôi là giáo viên (câu ghép đẳng lập)
1.3.2 Bình diện ngữ nghĩa
Bình diện ngữ nghĩa nghiên cứu nội dung của câu, hay nói cách khác, đây làbình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa câu xét ở mặt âm thanh với các sự vật, hiệntượng liên quan mà câu biểu hiện
1.3.2.1 Nghĩa miêu tả (nghĩa sự việc, nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề)
a, Nghĩa sự tình
Nghĩa sự tình là thành phần nội dung phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng,hành động, tính chất, trạng thái trong thực tế hiện thực khách quan được biểu hiệntrong câu qua lăng kính chủ quan của người nói hoặc người viết
(23) Tôi là giáo viên.
Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối vì trên thực tế còn mộtloại sự tình trung gian (đó là sự tình tồn tại)
b, Cấu trúc nghĩa miêu tả
Sự tình trong câu được phản ánh nhờ thành phần nghĩa miêu tả Thành phầnnày được ví như một màn kịch nhỏ mà động từ, vị ngữ là trung tâm của màn kịch
ấy Song, xung quanh động từ, vị ngữ là các tham thể (tham tố) Mỗi tham thể đảmnhiệm một vai nghĩa nhất định trong đó chủ ngữ cũng là một trong những tham thể
và nó được xem là tham thể quan trọng nhất Cấu trúc của nghĩa miêu tả gồm 2thành phần: vị tố trung tâm (có thể là động từ, danh từ, tính từ) và tham thể (là cácnhân tố tham gia vào sự tình, thường được biểu thị bằng danh từ, cụm danh từ, đạitừ)
Trang 25b1)Vị tố
Vị tố là thành phần cốt lõi nằm ở đỉnh sự tình và đòi hỏi số lượng tham thểxoay xung quanh nó Trên thực tế có những vị tố không đòi hỏi một tham thểnào, đó là những vị tố trong câu đặc biệt nhưng xuất hiện ít và được gọi là vô trị Vídụ:
(27) Tôi xây một ngôi nhà.
Ở đây “tôi” là chủ thể, “xây” là vị tố tác động và “một ngôi nhà” là đối thể
Vị tố đòi hỏi ba tham thể (tam trị) là những vị tố trao tặng, vị tố sai khiến.Ví
Trang 26(28) Tôi tặng bạn một quyển sách.
Vị tố đòi hỏi 4 tham thể (vị tố phát ngôn) Ví dụ:
(29) Mẹ nhắc tôi bảo Lan trả sách.
b2)Tham thể (vai nghĩa)
Tham thể bắt buộc (tham thể cơ sở hay diễn tố) là những thực thể xoay xungquanh vị tố mà sự có mặt của chúng là do vị tố trong cấu trúc nghĩa đòi hỏi.Ví dụ:
(30) Tôi đánh nó.
Tham thể không bắt buộc (còn gọi là tham thể mở rộng hay chu tố) là nhữngthực thể xuất hiện trong sự tình, song sự có mặt của chúng không do vị tố đòihỏi mà do tình huống hoàn cảnh mách bảo Ví dụ:
(31)Tối qua, nó mời tôi đi chơi.
Tham thể chỉ hoàn cảnh tương đương với trạng ngữ, bổ ngữ, thời gian, cáchthức, phương tiện, nguyên nhân, mục đích chúng không thuộc cái nút của độngtừ,
Trang 27có thể lược bỏ và không liên quan đến tính trọn vẹn của câu Tuy nhiên, chúngphải được ý nghĩa nêu ở động từ, được vị tố chấp nhận chứ không phải sự lắpghép tùy thuộc Ví dụ:
(32) Chị Dậu chào chồng bằng hai hàng nước mắt.
Cấu trúc nghĩa miêu tả của ví dụ (32) có hai tham thể cơ sở: chị Dậu – chủ thể của hành động chào; chồng – đối thể được chào; tham thể mở rộng: bằng hai hàng nước mắt – chỉ phương tiện của hành động chào Sự hiện diện của tham
thể mở rộng trong câu chỉ tùy thuộc nhu cầu thông tin và tình huống giao tiếp
Nếu thiếu tham thể mở rộng bằng hai hàng nước mắt thì cấu trúc nghĩa nòng cốt: chị Dậu chào chồng vẫn tồn tại được.
Tham thể bắt buộc và tham thể không bắt buộc chỉ có tính chất tương đối.Một tham thể bắt buộc ở sự tình này có thể không bắt buộc ở sự tình khác
a, Tình thái của hành động nói
Tình thái của hành động nói thể hiện mục đích của người nói khi phát ngôn.Tức là người nói định nói nhằm mục đích gì và được diễn đạt bằng 3 cách:
- Cách 1: dùng câu ngôn hành tức là câu có chứa các động từ ngôn hành (hayđộng từ ngữ vi) là động từ được thực hiện bằng lời nói ngay trong lúc nói, khi nóixong hành động cũng được thực hiện xong Ví dụ:
(33) Anh xin lỗi em!
- Cách 2: dùng câu phân loại theo mục đích nói trực tiếp như câu hỏi, câu cầukhiến… Ví dụ:
(34) Anh hãy đóng cửa lại.
- Cách 3: dùng câu phân loại theo mục đích nói gián tiếp, mục đích và hìnhthức không tương ứng nhau Ví dụ:
Trang 28(35) Mai thi rồi, em đã học bài kỹ chưa? (hình thức là câu hỏi nhưng nhằm
mục đích nhắc nhở)
b, Tình thái của phát ngôn
Tình thái của phát ngôn là tình thái chỉ quan hệ, thái độ, cách đánh giá củangười nói với nội dung của câu hoặc người nghe Gồm có 3 loại: tình thái kháchquan, tình thái chủ quan, tình thái liên cá nhân (còn gọi là tình thái quan hệ) Ví dụ:
(36) Bẩm các cụ, Phú ông đã ra đấy ạ.(tình thái quan hệ biểu thị thái độ kính
trọng)
(37) Chắc chắn, anh đã biết chuyện này từ trước (tình thái chủ quan biểu thị
thái độ tin cậy)
(38) Anh xem xét lại chứ tôi chưa bao giờ đến nhà anh (tình thái phủ định bác
bỏ)
1.3.3 Bình diện ngữ dụng
Bình diện ngữ dụng nghiên cứu mối quan hệ giữa câu với người sử dụng,giữa câu với việc sử dụng câu trong tình huống giao tiếp cụ thể nhằm phát hiệnnhững ý nghĩa của câu – phát ngôn trong tình huống cụ thể đó
Bình diện ngữ dụng có nhiệm vụ:
- Làm rõ giá trị thông báo của câu đâu là tin cũ, đâu là tin mới
Trang 29- Làm rõ mục đích của phát ngôn (người nói nói ra câu đó nhằm mục đích
- Làm rõ hàm nghĩa hay ẩn ý suy ra từ phát ngôn
Trong những năm gần đây, với việc xem xét câu trong hoạt động giao tiếp,bình diện dụng học quan tâm đến cấu trúc đề thuyết và cấu trúc thông tin của câu
1.3.3.1 Cấu trúc đề - thuyết
a, Khái niệm
Theo ngữ pháp chức năng thì cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt tương ứng với cấu trúc mệnh đề gồm hai phần đề và thuyết.Phần đề chỉ ra cái được nói đến trong
Trang 30câu, thường là cái đã biết trong quá trình giao tiếp.Phần thuyết chứa đựng nộidung nói về phần đề, do đó nó là phần chứa đựng thông tin mới và là trọngtâm thông báo.
b, Phương tiện đánh dấu sự phân chia đề
thuyết
Phương tiện đánh dấu sự phân chia đề thuyết là các quan hệ từ thì, là, mà.
- Từ thì: nếu câu xuất hiện từ thì, trước nó là đề, sau nó là thuyết Ví dụ:
(39) Anh Nam thì chăm chỉ.
Tuy nhiên trong một số trường hợp từ thì không đánh dấu phân chia đề
thuyết Ví dụ:
(40) Anh quyến rũ tôi thì có.
- Từ là: biểu thị quan hệ giữa phần đề và phần thuyết Ví dụ:
(41) Tình yêu là một điều kỳ diệu.
Nếu câu xuất hiện cả thì và là thì ranh giới phân chia đề thuyết chính đa số nằm ở thì Ví dụ:
(42) Đàn bà thì nói nắng là mưa.
Nhưng cũng có một số trường hợp ngược lại Ví dụ:
(43) Cách tốt nhất là chị thì xin lỗi anh, anh thì xin lỗi chị.
- Từ mà có thể là ranh giới phân chia đề thuyết và phân chia tiểu cú Ví dụ:
Trang 31(44) Người đàn ông mà được nhiều người thích thì sẽ khiến người phụ nữ lo
1.3.3.2 Cấu trúc thông tin
a, Khái niệm
Khác với cấu trúc vị tố - tham thể (cấu trúc nghĩa miêu tả) và cấu trúc chủ - vị(cấu trúc ngữ pháp), cấu trúc thông tin gọi là cấu trúc tin cũ tin mới Chỉ có đặt câutrong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể thì mới có thể xác định được đâu là phần tin cũvà
Trang 32đâu là phần tin mới của câu Các phát ngôn dù có cùng mô hình cấu trúc ngữ phápthậm chí cùng trật tự thành tố nhưng xuất hiện trong các văn cảnh, tình huốngkhác nhau mang những nhiệm vụ thông báo khác nhau.
b, Căn cứ xác định cấu trúc thông tin
- Dựa vào ngữ điệu: thông thường phần tin mới được phát âm mạnh hơn phần tin cũ
- Dựa vào hư từ: thông thường phần tin mới thường được đánh dấu bằng các hư từ nhất định:
+ Các trợ từ tình thái: chỉ, ngay, cả, những, mãi, tận, chính, Ví dụ:
(45) Chỉ anh ta mua bánh mì.
+ Căn cứ vào từ là, nếu câu vừa có từ là vừa có các trợ từ nhấn mạnh thì
dựa vào trợ từ Ví dụ:
(46) Anh ấy là lớp trưởng.
-Dựa vào trợ từ như: cũng, còn, cứ, lại, vẫn, đều, đã, sẽ, đang Ví dụ:
(47) Ngoài tuổi 30, Thị vẫn chưa có chồng.
- Dựa vào khả năng tỉnh lược, phần có thể tỉnh lược là tin cũ, không thể tỉnh lược là tin mới
- Dựa vào các từ lặp lại, các từ thay thế, các từ này chỉ là tin cũ Ví dụ:
(48) Nam là bạn thân nhất của tôi Nam đang học đại học.
Trang 33CHƯƠNG 2:CHỨC NĂNG CỦA QUAN HỆ TỪ BIỂU THỊ QUAN HỆ ĐIỀU KIỆN – HỆ QUẢ TRÊN CÁC BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
Trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu được xem là đơn vị tối thiểu đểtiến hành hoạt động giao tiếp Nó vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp, vừa
là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp Trong câu, các quan hệ từ, đặcbiệt là quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả đảm nhiệm những vai tròhết sức quan trọng, nhất là khi xem xét chúng từ các bình diện: ngữ pháp, ngữnghĩa và ngữ dụng của câu
Để chỉ ra vai trò và chức năng của các quan hệ từ trên cả ba bình diện, chúngtôi tiến hành khảo sát 500 phiếu ngữ liệu có sử dụng các quan hệ từ biểu thị quan
hệ điều kiện – hệ quả Qua khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi thu được kếtquả như sau:
* Tiêu chí 1: Căn cứ vào hình thức, chia làm hai loại:
- Loại 1: Theo vị trí của quan hệ từ, có thể chia quan hệ từ biểu thị quan
hệ điều kiện – hệ quả ra làm 2 dạng: quan hệ từ biểu thị thành tố điều kiện đứngtrước thành tố hệ quả và quan hệ từ biểu thị thành tố điều kiện đứng sau thành tố
- Loại 2: Dựa vào sự hiện diện của quan hệ từ trong câu, có thể chia quan hệ
từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả làm 2 dạng: dạng đơn (chỉ có một quan hệtừ) và dạng kép (sử dụng cả cặp quan hệ từ)
Trang 34BẢNG THỐNG KÊ VÀ PHÂN LOẠI NGỮ LIỆU THEO TIÊU CHÍ 2
Dạng Lượt sử dụng Tỉ lệ sử dụng
* Tiêu chí 2: Dựa vào nội dung ý nghĩa, có thể chia quan hệ từ biểu thị quan
hệ điều kiện – hệ quả ra làm 2 loại: điều kiện – hệ quả hiện thực (có thể xảy
ra trong thực tế) và điều kiện – hệ quả giả định
BẢNG THỐNG KÊ VÀ PHÂN LOẠI NGỮ LIỆU THEO TIÊU CHÍ 3
Điều kiện – hệ quả Lượt sử dụng Tỉ lệ sử dụng
2.1 Chức năng ngữ pháp của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả
Ngữ pháp học nghiên cứu về câu, tìm hiểu các quy tắc, cách thức liên kết các
từ thành cụm từ, và thành câu, các kiểu câu Trên bình diện ngữ pháp, các quan
hệ từ đảm nhiệm những chức năng, vai trò khác nhau
2.1.1 Đánh dấu chức năng ngữ pháp trong câu
Trong trường hợp bình thường, câu có hai thành phần nòng cốt là chủ ngữ
và vị ngữ, nó đảm bảo cho câu được trọn nghĩa và thực hiện được chức năng giaotiếp cả trong trường hợp câu tồn tại độc lập, tách biệt với văn cảnh hoặc hoàncảnh sử dụng Ngoài chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần chính, câu còn có cácthành phần phụ như trạng ngữ, khởi ngữ (đề ngữ) Các thành phần này tuyvẫn nằm trong nòng cốt của câu nhưng không đóng vai trò quyết định đối với tínhtrọn vẹn về ý nghĩa và tính tự lập về ngữ pháp của câu
Cũng như các loại quan hệ từ khác, quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện –
hệ quả không đảm nhiệm vai trò làm thành tố chính và thành tố phụ trong câu
mà chỉ
Trang 35đảm nhận vai trò đánh dấu các chức năng ngữ pháp Ở đây, chúng ta đang đềcập đến vấn đề vị trí của quan hệ từ trong câu Vị trí chính là tổng thể các dấu hiệuhình thức của thành tố được xác định nhờ 3 yếu tố: sự phân bố của thành tốtrong cấu trúc tuyến tính của ngôn ngữ; khả năng kết hợp của các thành tố và sự
có mặt hay vắng mặt các hư từ Trong khóa luận, chúng tôi đi tìm hiểu kỹ về cácchức năng của câu với sự có mặt của các quan hệ từ (hư từ) để thấy rõ tính trọnvẹn về nội dung và đầy đủ về hình thức của câu với các thành phần, từ đó làm rõvai trò đánh dấu chức năng ngữ pháp của các quan hệ từ
Xem xét trên câu đơn, khi sử dụng quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện –
hệ quả nó đảm nhiệm chức năng đánh dấu giữa trạng ngữ với thành phần nòngcốt của câu Khi quan hệ từ được sử dụng ở dạng đơn chỉ có quan hệ từ biểu thị
điều kiện (giá, hễ, nếu ) thì nó đảm nhận vai trò đánh dấu thành phần trạng ngữ
chỉ điều kiện Ví dụ:
(49) Nếu trúng, lão với tôi uống rượu [15, tr.95]
(50) Giá còn, tao cho thêm mày một vài đồng nữa [16, tr.352]
(51) Nếu thành công, ta không phải vất vả như thế này nữa [16, tr.279]
(52)Nếu rỗi, ông vừa đi vừa lách móng tay út gọt sẵn như lưỡi dao vào
những tờ giấy cuối cùng để rọc, và ngấu nghiến đọc một chập cho hết [16, tr.358]
Các ví dụ (49), (50), (51), (52) đều là các câu đơn có trạng ngữ chỉ điều kiệnđứng ở đầu câu Sự hiện diện của điều kiện được nêu ở trạng ngữ là tiền đề cho
sự xuất hiện của hệ quả được nêu ở nòng cốt câu Như ở ví dụ (49), trong điềukiện “trúng” thì mới có chuyện (hệ quả) “lão với tôi uống rượu”, các ví dụ (50),(51), (52) cũng tương tự như vậy Với sự xuất hiện của các quan hệ từ “giá”, “nếu”đứng ở đầu trạng ngữ, nó đảm nhận vai trò đánh dấu trạng ngữ chỉ điều kiệntrong câu điều kiện này
Với các câu đơn chỉ điều kiện, quan hệ từ còn được sử dụng ở dạng képvới các cặp quan hệ từ Ví dụ:
(53) Nếu có thì bu em cho tôi một bát để tôi ăn cho mát ruột rồi tôi chết [16,
tr.224]
Trang 36(54) Giá phải lúc khác thì anh đã cho ăn tát [16, tr.110]
Tương tự như ví dụ (49), (51), (52), quan hệ từ nếu ở ví dụ (53) cũng đảm
nhận vai trò đánh dấu trạng ngữ chỉ điều kiện trong câu nhưng ở đây có sự khác
biệt là các quan hệ từ được sử dụng theo cặp nếu – thì Với sự tham gia của quan
hệ từ thì, nó đảm nhiệm vai trò đánh dấu nòng cốt câu (cụm chủ – vị) phân biệt với trạng ngữ chỉ điều kện của câu Còn ví dụ (54), giá đứng ở đầu trạng ngữ chỉ điều kiện có liên quan tới thời gian phải lúc khác, thì đứng sau trạng ngữ và đứng trước nòng cốt câu đánh dấu giữa trạng ngữ chỉ điều kiện và kết cấu nòng cốt anh
đã cho ăn tát của câu Ta có thể xem thêm các ví dụ sau để thấy được vai trò đánh
dấu trạng ngữ chỉ điều kiện của các quan hệ từ:
(55)Nếu có việc thì còn phải lo gì nữa! [15, tr.121]
(56) Nếu không có việc thì thật tôi cũng không dám về [17, tr.107]
(57) Nếu cứ thay cái bộ máy thì lại như mới ngay [16, tr.181]
(58) Giá phải lần khác thì Ngạn đã gạt đi [15, tr.81]
(59) Nếu để mời mua báo gõ mõ thì tôi không mua đâu, vì tôi chỉ thích đập
trống [18, tr.149]
(60) Nếu chê ít thì ta mang về [16, tr.507]
Đảm nhận vai trò đánh dấu thành phần chính và thành phần phụ trongcâu đơn, quan hệ từ biểu thị điều kiện – hệ quả khi xét trên câu ghép lại đảmnhận những vai trò khác nhau Ví dụ:
(61)Nếu ông làm việc, ông không sống lâu được đâu [15, tr 337]
(62) Nếu ông thong thả, mời ông lại đằng nhà chúng tôi mà xem [16, tr.294]
Khi tìm hiểu về các quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả, chúng tôithấy nó chỉ được sử dụng trong các câu ghép chính phụ biểu thị quan hệ chínhphụ của câu Hai ví dụ (61) và (62) là hai câu ghép chính phụ với vế phụ là vế chỉ
điều kiện còn vế chỉ hệ quả là vế chính Ở ví dụ (61), vế chính ông không sống lâu được đâu là cái cốt lõi thể hiện thông tin muốn cung cấp của người nói, còn ông làm việc chỉ là phần phụ nêu lên điều kiện cho sự xảy ra ở phần chính Ví dụ (62)
Trang 37cũng tương tự, vế phụ ông thong thả chỉ là điều kiện cho hành động mời ông lại nhà chúng tôi
Trang 38mà xem ở vế chính Quan hệ từ nếu ở đây đảm nhiệm vai trò đánh dấu vế phụ
chỉ điều kiện trong các câu ghép này Ví dụ:
(63)Nếu chẳng may ông tôi có thế nào, thì chúng tôi để ông tôi ở nghĩa trang
hội Hợp Thiện [16, tr.293]
(64)Nếu quý nương muốn, thì hôm nay ta đi bar chơi hơn [18, tr.93]
(65) Nếu ông không thương mà bắt giải thì vợ con tôi chết đói [15, tr.36]
Sự xuất hiện của cả cặp nếu – thì trên các ví dụ (63), (64), (65) làm rõ thêm
vai trò đánh dấu chức năng ngữ pháp của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện –
hệ quả Nếu vẫn đảm nhiệm vai trò đánh dấu vế phụ chỉ điều kiện trong câu ghép còn thì đánh dấu vế chính chỉ hệ quả của câu.
Không dừng lại ở việc đánh dấu trạng ngữ chỉ điều kiện và đánh dấu vế phụchỉ điều kiện của câu ghép, quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả còn giữvai trò trong việc đánh dấu thành phần bổ ngữ chỉ điều kiện trong câu Ví dụ:
(66)Nó tự thấy đáng hổ thẹn nếu không đọc thơ như một kẻ tình địch.
[18,tr.112]
(67)Cây sẽ chẳng sống được nếu thiếu ánh mặt trời.
Các ví dụ (66), (67) sử dụng quan hệ từ nếu biểu thị điều kiện Xét về vị trí,
thành tố chỉ điều kiện đứng sau thành tố chỉ hệ quả còn xét về mặt cấu tạo ngữpháp của câu, nó đứng trước thành phần bổ ngữ để bổ sung ý nghĩa cho phần đi
trước nó Ở ví dụ (66) ta thấy không đọc thơ như một kẻ tình địch là thành phần bổ ngữ bổ sung ý nghĩa cho sự việc nó tự thấy đáng hổ thẹn đi đằng trước nó; còn ở ví
dụ (67) bổ ngữ thiếu ánh mặt trời bổ sung ý nghĩa cho sự việc cây sẽ chẳng sống được Như vậy, quan hệ từ nếu ở đây đứng trước bổ ngữ đánh dấu thành phần bổ
ngữ chỉ điều kiện và phân biệt giữa bổ ngữ với thành phần chính (chủ ngữ và vịngữ) của câu
Qua những ví dụ trên, chúng ta có thể nhận thấy các quan hệ từ biểu thịquan hệ điều kiện – hệ quả mặc dù không đảm nhận vai trò làm thành tố chính vàthành tố phụ trong câu nhưng lại giữa một vai trò hết sức quan trọng trong cấutrúc ngữ pháp của câu, nó đánh dấu các chức năng ngữ pháp, phân định giữa các
Trang 39thành phần chính – phụ của câu kể cả khi câu có sử dụng quan hệ từ ở dạng đơnhay dạng kép.
Trang 40Đặc biệt, loại quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện hệ quả này chủ yếu được
sử dụng trong loại câu ghép chính phụ, nó còn đảm nhận vai trò đánh dấugiữa vế chính và vế phụ của câu ghép Trong trường hợp sử dụng cả cặp quan hệ
từ nếu thì hay giá thì , ta hoàn toàn có thể lược bỏ một trong hai quan hệ từ nếu đứng trước vế chỉ điều kiện hoặc thì đứng trước vế chỉ hệ quả, thường thì
quan hệ từ đứng trước vế chỉ điều kiện sẽ dễ dàng bị lược bỏ hơn so với quan hệ
từ đứng trước vế chỉ hệ quả Nhưng dù có lược bỏ bớt quan hệ từ hay hoán đổi vịtrí của các thành phần ngữ pháp trong câu thì các quan hệ từ được sử dụng trongcâu, dù đứng ở vị trí nào đi chăng nữa vẫn đảm nhận vai trò đánh dấu chức năngngữ pháp, phân định ranh giới giữa các thành phần câu
2.1.2 Nối kết các vế trong câu ghép
Câu ghép thuộc đơn vị giao tế bậc cao, so với câu đơn, câu ghép biểuhiện nhận thức nhiều mặt các hiện tượng khách quan và biểu đạt tính phức tạpbên trong các hiện tượng khách quan đó thông qua biện pháp tư duy phức tạp
Theo Hoàng Trọng Phiến: Về mặt nguồn gốc mà nói, câu ghép là hiện tượng tiếp theo sau và là thành tựu cao của văn hóa ngôn ngữ [11;254] Từ phương diện cấu
trúc mà nói, câu ghép gồm các phần mà mỗi phần đều được xây dựng theo “côngthức” câu đơn, chúng liên kết lại thành một thể thống nhất tương ứng theo môhình cú pháp câu ghép Trên phương diện ý nghĩa, câu ghép biểu hiện nội dungthông báo phức tạp, giữa các bộ phận ý nghĩa trong câu có quan hệ rất chặt chẽ.Trong tiếng Việt, khi nối liền hai vế để thành một tổng thể câu có thể sử dụng quan
hệ từ như một phương tiện nối kết giữa các vế trong câu ghép Trong câu ghép chỉquan hệ điều kiện – hệ quả, quan hệ từ đóng vai trò quan trọng để nối kết giữa các
vế của câu
Theo khảo sát thông kê và phân loại, chúng tôi thấy khi có quan hệ từ được
sử dụng, ý nghĩa của câu trở nên rõ ràng và chặt chẽ hơn, còn khi không sử dụngquan hệ từ để biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả, ý nghĩa của hai vế câu trở nênmập mờ, lỏng lẻo Và ngoài việc dùng để nối kết các vế trong câu ghép, các quan