hiện đại qua những cung bậc cảm xúc tình yêu trong thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn.Từ đó, chúng ta có thể đánh giá toàn diện hơn về thành tựu thơ tình của các nhà thơdân tộc thiểu số Việt Na
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HIÊN
TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ DÂN TỘC
THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(QUA THƠ Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HIÊN
TÌNH YÊU ĐÔI LỨATRONG THƠ DÂN TỘC
THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(QUA THƠ Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN)
Ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Công trình có sự hỗ trợ khoa học từ giáo viên hướng dẫn PGS.TS Cao Thị Hảo Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây.
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ HIÊN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn và tình cảm chân thành, em xin trân trọng cảm ơn: Khoa Ngữ văn, Phòng Đào tạo, các thầy cô giáo trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi giúp em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Cao Thị Hảo, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, Ban Giám Hiệu và các đồng nghiệp tại trường PT Vùng Cao Việt Bắc đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện về thời gian trong quá trình em hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2019
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ HIÊN
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
i ii Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Cấu trúc của luận văn 12
NỘI DUNG 13
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH THƠ CỦA Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN 13
1.1 Khái quát về tình yêu đôi lứa trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 13
1.1.1 Khái niệm về thơ tình yêu 13
1.1.2 Thơ viết về tình yêu đôi lứa của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 16 1.2 Hành trình thơ của Y Phương và Lò Ngân Sủn 30
1.2.1 Nhà thơ Y Phương với bản sắc văn hóa Tày 30
1.2.2 Nhà thơ Lò Ngân Sủn với bản sắc văn hóa Giáy 36
Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ CỦA Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN 43
2.1 Tình yêu say đắm, nồng nàn, mãnh liệt và nỗi nhớ thương da diết 43
2.1.1 Tình yêu say đắm, nồng nàn, mãnh liệt 43
2.1.2 Nỗi nhớ thương da diết dạt dào cảm xúc trong tình yêu 47
2.2 Yêu với con tim chân thành, trân trọng ngợi ca người mình yêu . 49
2.2.1 Yêu với con tim chân thành 49
2.2.2 Trân trọng ngợi ca người mình yêu 51
2.3 Những khát khao cháy bỏng về hạnh phúc lứa đôi 53
2.4 Những dự cảm cô đơn khắc khoải, buồn đau xót xa trong tình yêu 56
Trang 62.4.2 Những buồn đau xót xa trong tình yêu 59
2.5 Tình yêu giàu yếu tố phồn thực 64
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN 70
3.1 Thể thơ 70
3.1.1 Thơ tự do không cố định về số câu số chữ 70
3.1.2 Thơ tự do không cố định về số lượng câu nhưng lại cố định về số lượng chữ 72
3.2 Ngôn ngữ thơ 75
3.2.1 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị 76
3.2.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh mang tính tạo hình 78
3.2.3 Ngôn ngữ mang màu sắc văn hóa 83
3.3 Giọng điệu thơ 87
3.3.1 Giọng điệu thiết tha, rạo rực, nồng nàn, say đắm 88
3.3.2 Giọng điệu ngợi ca 89
3.3.3 Giọng điệu xót xa, day dứt, trăn trở 91
3.3.4 Giọng điệu trầm tư, ngậm ngùi, triết lý 94
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 71 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
1.1 Tình yêu từ lâu đã trở thành khởi nguồn của sự sống, đặc biệt tình yêu đôilứa luôn là bản tình ca muôn điệu với những nốt nhạc vang lên du dương xao xuyếnlòng người Nhờ có tình yêu, cuộc đời con người được nuôi dưỡng thêm nồng nàn,cuộc sống thêm xuân sắc Vì thế, tình yêu là bản nhạc làm muôn triệu trái tim conngười say đắm Nó là sức mạnh vô hình cứu rỗi cả thế gian, là khu vườn đầy hươngsắc ngọt ngào của cuộc đời Chính vì vậy, tình yêu là đề tài bất tận, vĩnh cửu trong thi
ca xưa và nay Tình yêu trong thơ ca hướng người ta đến những khao khát, ước vọngtốt đẹp trong cuộc sống, giúp con người ta vượt qua những trắc trở, éo le và vượt lênnhững khó khăn của cuộc đời Trong thơ ca Việt Nam hiện đại, tình yêu hiện hữu vớinhiều dáng vẻ, nhiều cung bậc cảm xúc Tùy từng thời điểm, nó khoác lên mìnhnhững bộ cánh khác nhau, khi thì say đắm thiết tha cuồng nhiệt, khi thì giản dị chânthành mộc mạc, lúc lại quẫy đạp, bứt phá, khát khao cháy bỏng, khi lại mãnh liệt tràodâng bất tận và có lúc lại đắng đót, nhức buốt trái tim
1.2 Trong lịch sử thơ ca nước nhà, tình yêu đã trở thành cảm hứng chủ đạotrong sáng tác của các nhà thơ Trong văn học dân gian, những câu ca dao mềm mại,uyển chuyển giàu tính nhạc, đã tạo nên những bản tình ca thiết tha rạo rực với nhữngnỗi lòng thổn thức khi yêu, làm đắm say lòng người Những câu ca dao đó, diễn tảbao lời hò hẹn nhớ nhung, những trạng thái cảm xúc của cha ông ta thuở trước Đếnvăn học thời trung đại, thơ tình yêu xuất hiện với những trạng thái khác nhau, khi thìkín đáo, nhuần nhị, e lệ, nhưng có những lúc mạnh bạo, thiết tha, rạo rực, khát khaocháy bỏng về hạnh phúc lứa đôi Những cung bậc cảm xúc đó đã được thể hiện phầnnào trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, HồXuân Hương Đến với văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta phải kể đến nhữngtiếng thơ tình say đắm lòng người như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, NguyễnBính, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Lâm Thị Mỹ Dạ,
Nguyễn Mỹ, Vũ Cao …Các nhà thơ để lại cho dòng thơ tình những áng thơ xúc
động, đi vào lòng người Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, được ghi dấubởi sự xuất hiện của những thi sĩ, với những vần thơ tình ngọt ngào, nóng bỏng, mang
Trang 8đậm sắc màu văn hóa Chúng ta có thể kể tới các thi sĩ: Mai Liễu, Dương Thuấn, BànTài Đoàn, Triệu Kim Văn, Triều Ân, Cầm Biêu, Triệu Lam Châu, Ma TrườngNguyên, Lò Cao Nhum, Dư Thị Hoàn, Nông Thị Ngọc Hòa, Hoàng Thanh Hương,Bùi Tuyết Mai, Inrasara, Nga RiVê, Thanh Pon, Nông Minh Châu, Chu Thùy Liên….Trong số đó, chúng ta phải kể đến hai cây bút viết về đề tài tình yêu mang những nétđặc sắc riêng đó là Y Phương và Lò Ngân Sủn.
1.3 Thơ tình của Y Phương và Lò Ngân Sủn, như những nhành hoa dại nhưngngát hương thơm của núi rừng Thơ tình của họ, thể hiện rõ bản sắc văn hóa độc đáocũng như tâm hồn của người miền núi Ta có thể tìm thấy trong tiếng thơ đó bản thểtình yêu của chính mình Trái tim yêu tồn tại muôn màu, khi thì mãnh liệt dạt dào đếncuồng nhiệt, khi lại sống hết mình cho tình yêu dâng hiến đến cháy bỏng đắm say đếntận cùng, khi thì trầm lắng, cô đơn lo âu khắc khoải, khiến trái tim ta trở về với miềnthương nhớ với những nhịp đập khắc khoải của con tim Thơ tình yêu của họ gắn với
vẻ phồn thực khỏe khoắn nhưng cũng ngọt ngào, quyến rũ, lãng mạn đến vô ngần.Thơ tình yêu của Y Phương và Lò Ngân Sủn đã có sự đóng góp nhất định vào mảngthơ tình của đời sống thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Tiếng thơ tình yêucủa họ góp phần làm đa dạng, phong phú cho thơ tình hiện đại Việt Nam Đặc biệt,
họ thể hiện tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ của người miền núi Với trái tim yêuthương mãnh liệt, hai nhà thơ đem đến cho dòng thơ tình Việt Nam một màu sắc lạ,tiếng nói mới, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Hai nhà thơ đại diện cho hai dân tộckhác nhau nhưng khi viết về đề tài tình yêu giữa họ đều có sự đồng điệu, và nhữngđiểm riêng thể hiện phong cách riêng của mỗi nhà thơ Qua đó, chúng ta khẳng địnhđược vai trò, vị trí của họ trong dòng chảy văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiệnđại Tiếng thơ tình yêu của hai nhà thơ góp phần tạo ra những giá trị vô cùng to lớnđặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật, mang dấu ấn riêng đậm đà bản sắc dân tộc,đại diện cho thơ tình dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
1.4 Khi nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của hai nhà thơ, chúng tôi đã lựa chọnmảng thơ viết về đề tài tình yêu đôi lứa, nhằm tôn vinh giá trị đóng góp của hai nhàthơ vào dòng thơ tình của đời sống thơ ca dân tộc thiểu số Vì thế, chúng tôi chọn đềtài này, mong muốn tìm hiểu về tình yêu đôi lứa trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam
Trang 9hiện đại qua những cung bậc cảm xúc tình yêu trong thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn.
Từ đó, chúng ta có thể đánh giá toàn diện hơn về thành tựu thơ tình của các nhà thơdân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, đồng thời khẳng định vị trí của Y Phương và LòNgân Sủn ở mảng thơ viết về tình yêu trong dòng chảy văn học dân tộc thiểu số ViệtNam hiện đại Công trình hoàn thành sẽ bổ sung tài liệu tham khảo cho nền văn họcdân tộc thiểu số hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Hai nhà thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn nhận được sự quan tâm chú ý của rấtnhiều nhà phê bình nghiên cứu Theo khảo sát ban đầu của chúng tôi đã có nhữngcông trình và bài nghiên cứu, phê bình về hai nhà thơ như sau:
2.1 Y Phương là nhà thơ có nhiều tác phẩm nổi tiếng được công bố và nhậnđược nhiều giải thưởng lớn của trung ương và địa phương Nhiều tác phẩm của ông
đã để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc Y Phương đã thu hút được sự quan tâm của nhiềucây bút nghiên cứu phê bình Tên tuổi của ông được nhắc đến trong một số công trình
nghiên cứu về thơ dân tộc thiểu số như: Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua
với vấn đề truyền thống và hiện đại (1986) của Đinh Văn Định; Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (1985) của Lâm Tiến, Tiếng nói các nhà văn dân tộc thiểu số của nhiều tác giả (Nxb văn hóa dân tộc Hà Nội); Tuyển tập văn học thiểu số miền núi (Nxb Giáo Dục 1998) do Nông Quốc Chấn chủ biên Phạm Quang Trung
với Thổ cẩm dệt bằng thơ (phê bình - 1990) Lò Ngân Sủn Hoa văn thổ cẩm, tập 2 (1999, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội) Ngoài ra còn các cuốn: Một mình trong cõi thơ (Nxb văn hóa dân tộc 2000) của Hoàng Quảng Uyên; Nét đẹp văn hóa trong thơ văn
và ngôn ngữ dân tộc 3 tập (2003-2008) của TS Hoàng An; Song thoại với cái mới
(2008) của Inrasara Hương sắc miền rừng (2008) của Mai Liễu
Đặc biệt, tên tuổi của Y Phương xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứuchuyên sâu của các tác giả là các nhà nghiên, cứu phê bình yêu quý và say mê văn
chương dân tộc thiểu số như: Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt
Nam hiện đại (2010) của PGS.TS Trần Thị Việt Trung (chủ biên); Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại - Một số đặc điểm (2011) do PGS.TS Trần Thị
Việt Trung Và PGS TS Cao Thị Hảo Đồng chủ biên; Thơ ca dân tộc HMông
Trang 10-truyền thống và hiện đại (2014) của TS Nguyễn Kiến Thọ; Những người tự đục đá
kê cao quê hương (2015) của tác giả Lê Thị Bích Hồng Gần đây, tên tuổi Y Phương
xuất hiện trong các công trình nghiên cứu khá quy mô dày dặn hàng nghìn trang đó là
cuốn: Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam - truyền thống và hiện đại (2015) của hai
tác giả Trần Thị Việt Trung và Nguyễn Đức Hạnh (Đồng chủ biên) Trong các cuốnsách phê bình này, Y Phương đều được nhắc đến như một đại diện tiêu biểu cho thơTày Thơ ông trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ
Ngữ văn như: Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và DươngThuấn của học viên
Nguyễn Thị Thu Huyền, (Đại học Thái Nguyên, 2009); Sùng Thị Hương (Đại học
Thái Nguyên) với đề tài Đặc sắc tản văn Y Phương (2013); Luận văn thạc sĩ của học viên Hoàng Thị Huệ Dinh với đề tài Thơ song ngữ Y Phương (2016) Tên tuổi
và sự nghiệp của ông cũng trở thành một phần nội dung trong Luận án Tiến sĩ của cácnghiên cứu sinh Đỗ Thị Thu Huyền (Viện văn học); Hà Anh Tuấn (Đại học TháiNguyên) Thơ Y Phương cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều độc giả,nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học như: Tế Hanh, Phạm Hổ, ChuVăn Sơn, Nguyễn Hữu Tiến, Trúc Thông, Hồng Diệu, Tạ Duy Anh, Đỗ Trung Lai,
Bế Kiến Quốc, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đức Hạnh, Lê Thị
Bích Hồng Nhà nghiên cứu lý luận phê bình Nguyễn Đức Hạnh đã nhận xét về thơ
Y Phương: “Thơ Y Phương giản dị như suối nguồn trong và sâu, nhìn xuống đáy thi
thoảng gặp những hạt vàng lấp lánh - đó là biểu tượng độc đáo có tính mơ hồ đa nghĩa Người tri ân gọi đó là vàng mười Người vô tình gọi đó là hạt cát Nhưng chính biểu tượng ấy là minh chứng cho tính hiện đại và cá tính sáng tạo, độc đáo của nhà thơ, bên cạnh tính truyền thống biểu hiện trong đề tài quen thuộc, trong hệ thống thi ảnh đậm sắc thái văn hóa miền núi nói chung, văn hóa tày nói riêng”[39; tr.259].
Trong tất cả những bài viết, các tác giả đều đánh giá rất cao tài năng của Y Phương
Họ thể hiện sự ngưỡng mộ, đồng cảm, với những vần thơ viết về tình yêu quê hương,đất nước và con người miền núi của nhà thơ
Thơ viết về tình yêu, là mảng thơ góp phần tạo nên giá trị to lớn trong sựnghiệp sáng tác thơ ca của Y Phương Ngay từ khi ra đời, thơ tình của ông đã nhận
được nhiều tình cảm yêu quý của nhiều độc giả Tập thơ Vũ khúc Tày (Tủng Tày) ra
Trang 11đời, đánh dấu sự thành công trong mảng đề tài viết về thơ tình của Y Phương Tậpthơ viết về tình yêu đôi lứa, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày trên tất cả cácphương diện thể hiện về nội dung, nghệ thuật cùng với những cung bậc cảm xúcmang hơi thở đời sống, tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ của người miền núi Nhà văn
Lê Thị Bích Hồng cho rằng: “Người nặng trái tim yêu như Y Phương luôn vịn vào thơ
và tình yêu như chính quan niệm về thơ Thơ cũng giống như tình yêu Không có sự run rẩy thì không có thơ Y Phương luôn xoắn bện thơ với tình yêu thành cặp như anh với em, như cây với đất, như bến với thuyền anh cho rằng đến như thời gian 12 tháng vận chuyển “Bướm ong còn làm bạn với hoa” huống chi con người đầy cảm xúc lại thiếu vắng tình yêu ”[39; tr.9].
Khi đọc thơ tình của Y Phương, tác giả Phạm Quang Trung đã phân tích cáihay, nét đặc sắc trong trong cung bậc cảm xúc thơ tình yêu của Y Phương và nhận
xét: “Nếu không là Y Phương thì chúng ta đã không thể có những bài thơ thắt lòng
vì tha thiết yêu mà không thể sống cùng nhau, song vết thương lòng thì chừng như không lành theo năm tháng Cứ nhức nhối hoài Mỗi khi trái gió trở trời và cả những khi trời yên biển lặng Tội nghiệp quá! Đúng là tâm thế của một kẻ tử vì Đạo - Đạo yêu”.
Nhìn chung, các bài viết mới chỉ tập trung nói về những nội dung phản ánh cuộcsống con người, quê hương làng bản, phong tục tập quán, một số nét đặc trưng vềnghệ thuật trong các tác phẩm của Y Phương Qua đó khẳng định vai trò, đóng gópcủa Y Phương với nền thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng và thơ ca Việt Nam nóichung Nghiên cứu về thơ tình của Y Phương, mới chỉ có những nhận xét bước đầu.Xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Y Phương và Lò Ngân Sủn, chúng tôi thấy thơ tìnhyêu của hai nhà thơ chưa được nghiên cứu kết hợp, cụ thể, hệ thống Những ý kiếnđánh giá của những tác giả đi trước, là tiền đề gợi ý vô cùng quý báu cho việc triểnkhai hướng nghiên cứu đề tài của chúng tôi Thơ tình yêu đôi lứa là mảng sáng tácthành công, quan trọng, đặc sắc trong sự nghiệp sáng tác của Y Phương Thơ tình yêucủa ông rải rác ở một vài tập thơ, có khi ở câu thơ, có khi ở bài thơ, nhưng tập trung
nhiều nhất trọn vẹn trong tập thơ song ngữ Vũ khúc Tày Tập thơ thể hiện tình yêu
bằng ngôn ngữ dân tộc, bằng cách cảm cách nghĩ của người dân tộc Vì vậy, chúng
Trang 12tôi đã lựa chọn đề tài tình yêu đôi lứa trong thơ Y Phương cùng và Lò Ngân Sủntrong dòng chảy thơ tình của các dân tộc thiểu số Việt Nam làm đề tài nghiên cứu, từ
đó, khẳng định những giá trị đặc sắc về mặt nội dung và nghệ thuật trong thơ tình của
Y Phương và Lò Ngân Sủn Đề tài góp phần vào việc bảo tồn giá trị văn học dân tộcthiểu số trong tiến trình phát triển văn học nước nhà
2.2 Cũng như Y Phương, Lò Ngân Sủn đã để lại sự nghiệp sáng tác thơ vănphong phú và đồ sộ về khối lượng Thơ ông mang một vẻ đẹp núi rừng hoang sơ, mây
ngàn gió núi vùng cao Bát Xát, Lào Cai Trong bài viết Mỗi bài thơ là một kỷ niệm
ông đã trải lòng mình “Ước mơ của tôi là sao có được những bài thơ thật đẹp, thật
hay, có sức lay động sâu sa và âm vang sống động trong lòng người đọc( ) Nhưng tôi lại đang say sưa như điếu đổ nên tôi sẽ còn làm thơ Tôi thở bằng thơ của tôi, tôi thở bằng thơ của mọi người, tôi thở bằng hơi thở của cuộc sống Tôi làm việc bằng cái đầu, sống bằng thơ và bay lên bằng niềm mơ ước” Lò Ngân Sủn cũng đưa ra
quan niệm sáng tác của mình: “Không sống chết với thơ, thì thử hỏi làm sao có thơ
hay cho được Cho nên tôi cứ ngĩ: Nếu còn có người dám sống chết với thơ, tâm huyết với người, với đời thì sẽ có thơ hay, thơ để đời”[19; tr.504] Vì thế trong suốt
cuộc đời cầm bút của mình, Lò Ngân Sủn đã sáng tác với bầu nhiệt huyết tuôn trào,như con ong chăm chỉ cần mẫn dâng cho đời mật ngọt Ông đã để lại cho đời 14 tậpthơ, 2 tập truyện ký, 10 công trình tiểu luận, các bài nghiên cứu, sưu tầm, biên dịch,
và nhiều bài thơ được phổ nhạc đi vào lòng người, trong đó có bài thơ Chiều biên
giới là bài ca đã “đi cùng năm tháng” Bài ca ấy mãi đọng lại trong trái tim trong tâm
hồn muôn triệu người con đất Việt Nguyễn Nhã Tiên đã từng nhận xét: “Với tôi, bài
thơ Chiều biên giới là bản tuyên ngôn bằng thơ của một người đàn ông dân tộc Giáy
về chính cái bản nhỏ bé của mình Cũng như ông, mỗi chúng ta đều có một bản tuyên ngôn về ngôi nhà của mình, về làng mình với những gì thân thuộc mà thiêng liêng nhất”[19; tr.451].
Khi nghiên cứu về các sáng tác thơ của Lò Ngân Sủn, nhiều nhà văn, nhà thơ,nhà lí luận nghiên cứu phê bình đã bày tỏ thái độ yêu mến, ngưỡng mộ đối với ông.Thơ Lò Ngân Sủn mộc mạc, chân thành, giản dị, như suối nguồn trong trẻo quêhương ông Thơ ông ẩn chứa cái tình, cái hồn của người miền núi, chứa đựng trong
Trang 13đó không ít những suy tư, triết lý, chiêm nghiệm về sự sống, cuộc đời Đặc biệt, trongphần nghệ thuật biểu hiện như thể thơ, cấu tứ, giọng điệu, ngôn ngữ trong thơ ôngcũng vô cùng độc đáo Chất liệu trong thơ ông, gắn với đời sống thường nhật của
đồng bào dân tộc quê hương Trong bài viết Thơ với tuổi thơ, Vũ Quần Phương đã
nhận định về thơ Lò Ngân Sủn: “Cấu tứ thoáng, câu gọn chữ nhưng để bài thơ không
bị giản lược hoặc sơ sài trong cảm xúc, trong nghĩ ngợi ông cần mở ra, tung tẩy, mơ mộng hơn Điều này ông đã làm được trong một số bài thơ tình yêu”[19; tr.438] Đọc
thơ Lò Ngân Sủn, chúng ta thấy được cảnh sắc thiên nhiên, bức tranh đời sống, nétđẹp trong sinh hoạt văn hóa tuyệt đẹp Tác giả Sần Cháng đã thể hiện tình cảm yêu
mến với thơ Lò Ngân Sủn bằng những nhận xét xác đáng: “Thơ Lò Ngân Sủn thường
có núi, có cây, có hoa, có suối, sông, có nước mạch, có mây, có mưa, nắng ,rừng, trăng, thung lũng là hình ảnh nằm trong kho tàng dân ca dân tộc Giáy và Lò Ngân Sủn đã từ trong dóng suối dân ca đó mà cất cánh Tôi còn thấy thơ Lò Ngân Sủn có nhịp nhanh của kèn Pí Lè, có sự chậm rãi, thướt tha của “Vườn Giáy”(dân ca), có nhấn, có trầm bổng của then làng ”[19; tr.439-440] Mỗi một bài thơ của Lò Ngân
Sủn là một kỷ niệm, là cả một ân tình, cả một tình yêu thương vô bờ bến mà cả cuộcđời cầm bút ông đã dành cho quê hương làng bản của mình Ẩn chứa trong mỗi bàithơ câu thơ, ý thơ là tình yêu quê hương nồng nàn tha thiết sâu đậm Hình ảnh conngười, làng bản, quê hương, đất nước, văn hóa đều được ông chắt chiu thể hiện trongthơ với vẻ đẹp tự nhiên, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong các mảng sáng tác thơ của Lò Ngân Sủn, thơ viết về tình yêu đôi lứa có lẽ
là đặc sắc nhất Tình yêu trong thơ ông chứa đựng sự chân thành, mộc mạc, giản dịnhưng vô cùng cuồng nhiệt, táo bạo, thể hiện cách cảm, cách nghĩ, cách tư duy củangười dân tộc Thơ tình của ông mang màu sắc riêng, đậm chất núi rừng Thơ tìnhyêu của ông đã đọng lại trong lòng nhiều độc giả, nhà văn, nhà thơ, nhà lí luận phêbình Họ đã dành cho thơ tình yêu của ông những tình cảm yêu mến và quan tâm sâu
sắc Trong bài viết Người con của núi tác giả Hoàng Quảng Uyên đã nhận xét: “Cái
thật trong thơ Lò Ngân Sủn là cái thật hoang sơ, anh không ngần ngại ví mình là con
hổ, con gấu, có trái tim người: Yêu đắm say, yêu đến tận cùng, cách nói về tình yêu của anh cũng rất riêng, nếu nói về bản sắc thơ anh, tốt nhất để anh tự bạch Trong
Trang 14một cuộc vui, tôi bảo: Tình yêu trong thơ ông cứ phải là thứ ăn được, uống được! Lò
Ngân Sủn gật gù”[19; tr.429] Khi đọc tập thơ Lều nương của Lò Ngân Sủn, trong
bài viết Thơ tình của Lò Ngân Sủn tác giả Đỗ Đức đã nhận xét: “Cả tập thơ chứa
đậm nỗi nuối tiếc, nỗi khát tình yêu hoang dã Cái tình ngọt ngào như mật chứa trong cây, như sắc long lanh của giọt sương ban mai, như nét tinh vi trong màu thổ cẩm, như mùi ngầy ngậy của thắng cố, như vị thơm ngon thanh tao của bắp ngô non, cái
huyền ảo của cỏ cây và sương khói ”[19; tr.447] Trong cuốn sách Nghiên cứu, phê
bình về văn học dân tộc thiểu số của nhà lí luận nghiên cứu phê bình Trần Thị Việt
Trung, tác giả đã nhận định: “Đọc thơ tình yêu của Lò Ngân Sủn, như đang được
chiêm ngưỡng, được chứng kiến “Bữa tiệc tình yêu” linh đình, phong phú và tươi tắn, rực rỡ về màu sắc, giàu có về các món ăn vốn là “đặc sản” và tinh hoa của núi rừng, cùng với hương vị ngọt ngào, thơm phức, đậm phong vị miền núi đầy hấp dẫn;
Và được gặp gỡ chủ nhân của “bữa tiệc” đặc biệt ấy - những người con của núi: mạnh mẽ, mãnh liệt, hào hoa, xinh đẹp, tràn đầy sức sống”[59; tr.298-299] Thơ tình
yêu của Lò Ngân Sủn chứa đựng nhiều nét mới mẻ, đặc sắc Ông có sự tiếp thu chọnlọc nét đẹp văn hóa dân tộc góp phần tạo cho thơ ông có một phong cách riêng độcđáo Thơ viết về tình yêu của ông bắt nguồn từ cảm xúc yêu lành mạnh cường tráng,cháy bỏng, đam mê, táo bạo, chứa đựng yếu tố phồn thực Nhà thơ Mai Liễu đã có sự
phát hiện vô cùng tinh tế về điều đó: “Thơ Lò Ngân Sủn chứa đựng những yếu tố
phồn thực, nhất là những bài thơ nói về tình yêu nam nữ Đó là một thái độ vui sống chân thành, si mê, hồn nhiên, táo bạo, bất ngờ, hoang dã và đầy ám ảnh Đó là bản năng sống, bản năng thơ rất riêng của Lò Ngân Sủn Đó là một loại “hương rừng quấn quýt” của một đời thơ Lò Ngân Sủn”[19; tr.484] Dù viết về đề tài nào, Lò Ngân
Sủn cũng để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả, bởi ông luôn dùng những ngôn từđặc trưng, gần gũi của người miền núi khiến người đọc cảm thấy thú vị có ấn tượngmạnh Ông có khả năng quan sát, khái quát, chiêm nghiệm về đời sống Vì thế, thơông luôn mang một dấu ấn và phong cách riêng Nhận xét về điếu đó Lê Thiếu Nhơn
đã viết : “Ngoài giọng điệu đặc thù của một nhà thơ dân tộc thiểu số, Lò Ngân Sủn có
khả năng biến hóa những quan sát ngả sang màu chiêm nghiệm Những chiêm nghiệm rời rạc đưa vào thơ thì thường đơn điệu và hơi nhiều lời Khi và chỉ khi ông
Trang 15dùng phương pháp quy nạp chiêm nghiệm thì mới có những bài thơ đóng dấu chất lượng “thương hiệu” Lò Ngân Sủn”[19; tr.461] Đây là nhận định vô cùng tinh tế và
chính xác
Lò Ngân Sủn là nhà thơ có phong cách độc đáo Khi nói về phong cách sáng tác
của ông, trong cuốn Nét đẹp văn hóa trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc (tập 2
Hương sắc núi rừng), Nxb Văn hóa dân tộc (2003), Hoàng Văn An có nhận xét về tài
năng và nghiệp viết của nhà thơ dân tộc thiểu số Lò Ngân Sủn qua tập thơ Người trên
đá Bài viết không đi sâu vào khái niệm phong cách, nhưng tác giả đã phân tích một
số ví dụ tiêu biểu để người đọc nhận ra biểu hiện và nét đẹp trong phong cách thơ Lò
Ngân Sủn Trong cuốn Nhà văn dân tộc thiểu số đời và văn Nxb văn hóa dân tộc, Hà
Nội (2003), các tác giả trong hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cógiới thiệu về quá trình công tác, các tác phẩm và các giải thưởng của Lò Ngân Sủn
kèm theo bài viết Khi kẽ tay người nở hoa của Trần Mạnh Hảo Trong bài viết này
lấy cảm hứng từ bài thơ “Người đẹp” bài thơ “Nàng” và một số bài thơ khác Trần
Mạnh Hảo đã đánh giá như sau: “Có lẽ trong thi ca sở trường của Lò Ngân Sủn là thơ
tình, thường là bài thơ ngắn và có tứ, lại khá hiện đại trong lối viết, không câu vần
vèo bằng trắc”[19; tr.418] Trong cuốn Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại khu vực phía Bắc Việt Nam, Nxb ĐH Thái Nguyên (2005),
các tác giả có viết về Lò Ngân Sủn, những trang viết đó đã chỉ ra vẻ đẹp ngôn ngữgiàu chất tạo hình trong việc miêu tả thiên nhiên con người miền núi trong sáng táccủa Lò Ngân Sủn Đây cũng chính là những nét đặc sắc trong tiếng thơ, nghệ thuật
thơ của hai nhà thơ miền núi này Trong cuốn Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam
thời kì hiện đại - Một số đặc điểm (2011) do Trần Thị Việt Trung và Cao Thị Hảo
Đồng chủ biên, các tác giả đã có những nhận xét đánh giá mang tính định hướng vềnội dung, hình ảnh, các biện pháp tu từ của các nhà thơ dân tộc thiểu số trong đó có
Lò Ngân Sủn Trong cuốn Nghiên cứu phê bình về văn học (Nxb ĐH Thái Nguyên, 2016), PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã dành hơn mười trang nói về Bữa tiệc tình yêu
trong thơ Lò Ngân Sủn, từ đó khẳng định thế mạnh, sức hấp dẫn cuốn hút trong thơ
tình Lò Ngân Sủn khi viết về tình yêu Đây cũng là những gợi ý quý báu cho việc
Trang 16triển khai hướng nghiên cứu của chúng tôi để làm sáng tỏ hơn nữa nét đặc sắc trongthơ tình yêu của Lò Ngân Sủn.
Qua những ý kiến nhận xét đánh giá của các tác giả cũng như các bài viếttrong các cuốn sách, chúng ta thấy Lò Ngân Sủn có một vị trí nhất định trong nềnthơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Thế nhưng các công trình nghiên cứu,phê bình về thơ Lò Ngân Sủn lại rất khiêm tốn chưa xứng đáng với sự nghiệp thơ ca
mà nhà thơ để lại Theo khảo sát bước đầu, ngoài những bài viết, ý kiến nhận xét
đánh giá trên thì chỉ có hai công trình luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thơ ông: Tính
tạo hình trong ngôn ngữ thơ Lò Ngân Sủn và Pờ Sảo Mìn (2010) của Nguyễn
Phương Ly và Thơ Lò Ngân Sủn (2017) của Phạm Thị Cẩm Anh Tuy nhiên họ
chưa đi sâu vào mảng đề tài viết về tình yêu trong thơ Lò Ngân Sủn Đây là mảng
đề tài đặc sắc, nhất tinh túy nhất cần đi sâu hơn nữa để thấy được sự đóng góp củaông đối với thơ tình yêu dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói riêng và văn họchiện đại Việt Nam nói chung
2.3 Như vậy, qua việc khảo sát khái quát các công trình nghiên cứu, nhữngnhận xét đánh giá phê bình của các tác giả cùng với những bài viết về thơ tình YPhương và Lò Ngân Sủn, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã có những nghiên cứubước đầu về thơ tình yêu của Y Phương và Lò Ngân Sủn Điều đó đã gợi ý cho việctriển khai hướng nghiên cứu về thơ tình yêu đôi lứa trong văn học dân tộc thiểu sốViệt Nam hiện đại qua thơ tình của Y Phương và Lò Ngân Sủn Từ đó tìm ra được nétđặc sắc về mặt nội dung, nghệ thuật trong thơ tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại Qua đó, ta khẳng định vị trí của hai nhà thơ dân tộc miền núitrong việc đóng góp vào dòng thơ tình văn học dân tộc thiểu số nói riêng và văn họchiện đại Việt Nam nói chung với những thành tựu đáng trân trọng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu thơ viết về tình yêu đôi lứa của hai nhà thơ YPhương và Lò Ngân Sủn với những đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật, từ đó gópphần làm sáng tỏ thơ viết về tình yêu đôi lứa của văn học dân tộc thiểu số Việt Namhiện đại
Trang 17Qua việc nghiên cứu, đề tài góp phần thể hiện nét đẹp trong đời sống tâm hồn,tình cảm của con người miền núi, khẳng định những đóng góp quan trọng của hai nhàthơ trong quá trình phát triển thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, nhất là sựđóng góp trong mảng thơ tình yêu, góp phần tạo nên sự phong phú trong dòng chảythơ tình Việt Nam hiện đại.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng đến giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
Luận văn khảo sát đặc điểm chung của thơ tình yêu dân tộc thiểu số Việt Namhiện đại nói chung và vị trí của hai nhà thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn trong dòngchảy thơ tình dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Chỉ ra được những đặc điểm nổi bật về nội dung trong thơ tình yêu của YPhương và Lò Ngân Sủn
Làm rõ những phương diện nghệ thuật như thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu trongthơ viết về tình yêu của hai nhà thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại để tập hợp những sáng tác thơ viết vềtình yêu của hai nhà thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn
Trang 18Phương pháp phân tích tổng hợp để làm sáng tỏ các đặc điểm nội dung cũngnhư nghệ thuật thể hiện trong thơ viết về tình yêu của hai nhà thơ Y Phương và LòNgân Sủn.
Phương pháp so sánh đối chiếu để thấy được sự giống nhau khác nhau trong nộidung cũng như nghệ thuật thể hiện tình yêu trong thơ của Y Phương và Lò Ngân Sủnvới các nhà thơ dân tộc thiểu số và nhà thơ Việt Nam khác Từ đó lí giải nguyên nhâncủa sự khác biệt đó
Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hóa học, dân tộc học ) cùng với cácphương pháp khác, để thấy được những nét đặc sắc trong văn hóa, văn học của cácdân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về đề tài tình yêutrong thơ Y Phương và Lò Ngân Sủn Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng địnhnhững đóng góp của hai thi sĩ cho thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, đồng thời
bổ sung những tài liệu tham khảo cho nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đạihiện đang được nhiều tác giả nghiên cứu và quan tâm
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nộidung của luận văn gồm ba chương
Chương 1: Khái quát về tình yêu đôi lứa trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại và hành trình thơ của Y Phương và Lò Ngân Sủn
Chương 2: Những biểu hiện của tình yêu đôi lứa trong thơ của Y Phương và Lò
Ngân Sủn
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Y
Phương và Lò Ngân Sủn
Trang 19NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
VÀ HÀNH TRÌNH THƠ CỦA Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN1.1 Khái quát về tình yêu đôi lứa, trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
1.1.1 Khái niệm về thơ tình yêu
1.1.1.1 Khái niệm về thơ
Thơ là thế giới tâm hồn đầy tình cảm của loài người, đã có nhiều định nghĩakhác nhau về thơ Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh
cuộc sống thể hiện tâm trạng những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.”[12; tr.309] Định nghĩa đã đưa ra khái niệm về thơ
một cách đầy đủ cả về mặt nội dung và hình thức nghệ thuật Định nghĩa đã giúpchúng ta phân biệt được ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ của các thể loại văn học khácnhư văn xuôi, kịch Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ hàm xúc, biểu cảm và có tính nhạc
Điều này đã được thể hiện rõ trong các bài thơ như: Chân quê, Mưa xuân, Tương
tư, Cô hàng xóm của Nguyễn Bính, Sóng, Thư tình cuối mùa thu, Hoa cỏ may của
Xuân Quỳnh
Bàn về thơ Sóng Hồng có viết “Thơ là một hình thức nghệ thuật cao quý tinh vi,
người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng, nhưng thơ là tình cảm lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lí trí ấy diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường”[12; tr.309] Thơ là sản phẩm của quá trình sáng tạo nghệ
thuật của người nghệ sĩ Thơ diễn tả sự rung động mãnh liệt, nồng cháy, của thi sĩ vớicuộc sống Mỗi sự vật hiện tượng trong đời sống, đều được phản ánh sinh động trongthơ, mỗi nhà thơ khi viết về một đề tài là một cái nhìn cảm xúc tâm trạng khác nhau.Như viết về đề tài mùa thu, các thi nhân xưa và nay đã có biết bao thi phẩm đặc sắc
Trang 20về thi liệu này Bích khê có viết trong bài Tỳ bà: “Ô! Hay! Buồn vương cây ngô
đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông” Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu lại viết: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/ Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng/ Đây mùa tu
tới mùa thu tới/ Với áo mơ phai dệt lá vàng” (Đây mùa thu tới ).
Tùy theo yêu cầu nghiên cứu có thể chia thơ theo những tiêu chí khác nhau.Dựa vào phương thức phản ánh có thể chia ra thơ tự sự và thơ trữ tình Xét về mặtgieo vần có thể chia ra thơ có vần và thơ không vần Cũng có thể người ta phân chiatheo thời đại như: Thơ Đường, thơ Tống, thơ Lý Trần Ngoài ra còn phân chia thơtheo nội dung, đề tài như: thơ tình yêu, thơ triết lý, thơ chính trị, thơ đời thường Thơtình yêu là một bộ phận hữu cơ của thơ trữ tình Thơ tình yêu lại có một đời sốngriêng, sức hấp dẫn riêng trong lòng nhân loại Có lẽ chưa một người nghệ sĩ nào lạichưa cầm bút viết về tình yêu, một thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp giàu tính nhânvăn này Dường như đề tài tình yêu ở thời kỳ văn học nào cũng có, nó xuất hiện vớinhiều dạng thức khác nhau với những mức độ và vẻ đẹp khác nhau khiến thơ tình trởthành dòng chảy liên tục và bền bỉ trong lịch sử thơ ca Việt Nam
1.1.1.2 Khái niệm về thơ viết về tình yêu
Tình yêu lứa đôi là thứ tình cảm mạnh mẽ, đặc biệt được hình thành và nảy sinh
từ tâm hồn của hai người mong muốn gắn bó, chia sẽ và động điệu với nhau Đó làtình cảm khác về cường độ so với tình cảm thích thú đơn giản đối với một người.Tình yêu bao gồm sự đam mê, đồng điệu và chia sẻ, mong muốn được yêu thương vàgắn kết với ngừoi mình yêu thương Cũng có khi, tình yêu chỉ xuất phát từ một phíanên có tình yêu đơn phương Thơ viết về tình yêu đôi lứa đã phản ánh những cungbậc trạng thái tình cảm đặc biệt này
Thơ tình yêu là một bộ phận không thể thiếu trong mạch nguồn sự sống loàingười Qua thơ tình, ta khám phá được những cung bậc cảm xúc tinh tuý của conngười Thơ tình yêu hướng con người đến chân, thiện, mỹ, ra đời giữa những vuibuồn của loài người và trở thành bầu sữa tinh thần không thể thiếu trong cuộc đờimỗi chúng ta Con người tìm đến thơ tình như tìm về chốn nương náu bình yên nhấtcủa tâm hồn, có người lại dùng thơ tình như một sự giải thoát Ai đó tìm đến thơ tìnhnhư một sự sẻ chia, thấu hiểu Với sức mạnh của mình, thơ ca viết về tình yêu có khả
Trang 21năng chữa lành, băng bó vết thương, làm hồi sinh, thức tỉnh những trái tim khô héolụi tàn Phải chăng, thơ tình yêu đã trở thành bầu rượu thế gian, để tiêu đi những tráingang tình sầu, nỗi sầu vạn kỷ của con người giữa trần thế? Thơ tình yêu là nơi thổ lộtình cảm mãnh liệt, đã được con người ý thức Thơ viết về tình yêu đôi lứa, vẫn mãi
có sức hút ngàn đời với thế gian
Thơ tình yêu của loài người xuất hiện từ rất sớm Thời kỳ văn học khởi thủy vớinhững câu ca dao, dân ca yêu thương tình nghĩa diễn tả những cảm xúc đôi lứa yêunhau, qua đó thể hiện khát vọng về một tình yêu đôi lứa chân thành, đằm thắm, sâu
kín thiết tha, da diết, đến mãnh liệt như bài Khăn thương nhớ ai Đến thời kỳ văn
học trung đại thơ viết về tình yêu xuất hiện nhiều các tên tuổi cùng với tiếng thơ tìnhyêu tha thiết, thể hiện khát vọng lứa đôi của con người, tiêu biểu như: Lý Ngọc Kiều,
Lê Ỷ Lan, Ngô Chi Lan, Nguyễn Thị Lộ Đến văn học thế kỷ XVIII- XIX thi đànđược dậy sóng bởi các áng thơ tình chấn động tâm hồn, chưa bao giờ người ta thấynỗi niềm khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc lứa đôi lại mãnh liệt đến như thếvới tên tuổi các nhà thơ: Đoàn thị Điểm, Đoàn Thị Lệ Khương, Đặng Tiểu Thư, LêThị Ngọc Hân, Hồ xuân Hương Bước sang giai đoạn văn học hiện đại đầu thế kỷ XXđến 1945, trên thi đàn xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà thơ viết về đề tài tìnhyêu đôi lứa Trong đó nổi bật là các tên tuổi của phong trào Thơ mới với những thiphẩm nổi tiếng, diễn tả đầy đủ những cung bậc cảm xúc trong tình yêu: Xuân Diệu
say đắm nồng nàn trong tình yêu với Vội vàng, Thơ duyên, Xa cách ; Hàn Mặc Tử với Mùa xuân chín, Trường tương tư ; Nguyễn Bính với Chân quê, Mưa xuân,
Tương tư Huy Cận với Vạn lý tình, Áo trắng , Vũ Hoàng Chương với Say đi em; Đến giai đoạn sau đó có Xuân Quỳnh với Sóng, Thuyền và biển ; Lâm Thị
Mỹ Dạ với Một mình, Tặng nỗi buồn riêng, Khoảng trống ; Đoàn Thị Lam Luyến với tiếng thơ yêu đơn phương mãnh liệt, nhưng vô cùng day dứt trăn trở vị tha: Lỡ
một thì con gái, Đi tìm, Tình yêu, Chồng chị chồng em, Huyền thoại một tình yêu Ngoài ra còn nhiều cây bút thơ tình khác như Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Vũ
Cao, Nguyễn Mỹ, Hữu Loan
Đặc biệt sau năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối Lúc này, cái tôi cá nhân trong thơ ca được quan tâm hơn bao giờ hết Thơ tình
Trang 22yêu xuất hiện những tên tuổi các nhà thơ viết về tình yêu đôi lứa vô cùng đặc sắc.Bên cạnh những nhà thơ quen thuộc của dân tộc Kinh, chúng ta thấy xuất hiện nhiềunhà thơ là người dân tộc thiểu số viết về tình yêu để lại dấu ấn sâu đậm trong lòngbạn đọc như: Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Cầm Biêu, Bàn Tài Đoàn, NôngViết Toại, Triều Ân, Inrasara, Nga Rivê, Bùi Thị Tuyết Mai, Nông Thị Ngọc Hòa,Hoàng Thanh Hương, Chu Thùy Liên, Vương Anh, Mã A Lềnh, Vy Thùy Linh đặcbiệt là hai nhà thơ tiêu biểu là Y Phương và Lò Ngân Sủn.
Nhìn chung, thơ tình yêu trước hết là thơ trữ tình viết về tình yêu nam nữ, thểhiện diễn tả cảm xúc yêu đương mà trạng thái cảm xúc ấy bắt nguồn sâu xa hoặc trựctiếp từ một người khác giới Thơ tình không nhất thiết là chuyện tình cảm, tình yêucủa bản thân tác giả, có khi nó là tư tưởng nghệ thuật của người viết, cũng có khi làtình cảm của tác giả được khúc xạ qua nhân vật văn chương Trong thơ tình, chúng tathấy có tình yêu trai gái cũng có tình yêu vợ chồng, tình yêu nồng nàn từ hai phía,nhưng lại có những mối tình đơn phương, có tình yêu đầu mơ mộng cũng có tình yêucuối trắc trở, éo le, cũng có những tình yêu vị tha cao cả, hay những tình yêu vị kỷtầm thường
1.1.2 Thơ viết về tình yêu đôi lứa của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1975
Đây là giai đoạn nước ta phải đương đầu với hai cuộc kháng chiến oanh liệt vàhào hùng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Chưa bao giờ lòng yêu nước và tinhthần đoàn kết lại sục sôi như vậy Vì thế, văn học thờ kỳ này có nhiệm vụ chính làphục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu Thời kỳ này, thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng vàthơ ca Việt Nam nói chung phát triển một cách mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựuvượt bậc Cảm hứng thơ ca thời kỳ này chủ yếu là cảm hứng yêu quê hương đất nước,phản ánh lòng căm thù giặc sâu sắc, niềm tự hào tự tôn dân tộc, ca ngợi hai cuộckháng chiến yêu nước vĩ đại Hòa chung không khí sục sôi yêu nước ấy, nền thơ cadân tộc thiểu số xuất hiện nhiều gương mặt tiêu biểu gắn liền với những tác phẩm thơ
như: Nông Quốc Chấn với Việt Bắc đánh giặc (1948), Dọn về làng (1950), Nói với
các anh (1953), Thư lên Điện Biên (1954) Nông Minh Châu với Đêm ba khe
Trang 23với Vợ lính ngụy mong chồng (1949), Gái thời giặc (1950), Mường muối yên vui (1954) Dặn vợ, dặn con (1940), Mừng thủ đô giải phóng (1954) Mã A Lềnh với
Rừng sáng, Vương Anh với: Hoa trong mường, Tình cồng, tình chiêng
Các tác phẩm thơ ca dân tộc thiểu số lúc này tập trung đề tài viết về hai cuộckháng chiến thần thánh, viết về tình yêu quê hương đất nước, con người, thiên nhiênnúi rừng Cảm hứng thơ ca của các nhà thơ dân tộc thiểu số là cảm hứng trữ tìnhchính trị, cảm hứng trữ tình đời tư đan xen kết hợp hài hòa với nhau Một số bài thơ
đã đề cập đến tình yêu đôi lứa, tuy nhiên số lượng chưa nhiều và chủ yếu đan xentrong tình yêu đất nước, quê hương, bản làng
Thời đại nào cũng vậy, tình yêu luôn là đề tài bất tận trong thi ca, bất kỳ nhà thơnào cũng đều viết về thơ tình Tình yêu lúc nào cũng được nhen lên trong lòng ngườithi sĩ Tuy nhiên, mảng thơ viết về tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số ViệtNam hiện đại ở giai đoạn trước năm 1975 chưa có nhiều thành tựu đáng kể Tình yêuđôi lứa lúc này đã được hòa chung với tình yêu quê hương đất nước, tình yêu luôngắn với nhiệm vụ chính trị Cái tôi trong thơ ca dân tộc thiểu số lúc này chưa đượcchú trọng thể hiện, những nỗi niềm khao khát cháy bỏng trong tình yêu của con ngườichưa được bộc lộ Tình yêu đôi lứa chỉ được ẩn hiện trong mỗi ý thơ hay câu thơ mộtcách sâu kín và ý nhị Cái tình trong thơ ca dân tộc thiểu số giai đoạn này, có thể cảmnhận được đó là nỗi buồn man mác, gắn với nỗi nhớ, niềm thương vì sự xa cách trongchiến tranh, tình yêu gắn liền với những nhiệm vụ chính trị, bảo vệ quê hương đấtnước Tình yêu chứa đựng sự khao khát được yêu, được sống trong tình yêu, kín đáo,nhẹ nhàng, trong sáng, thiết tha
Bài thơ Chiếc khăn của Vương Trung đã gửi gắm một tình yêu thầm kín, sâu
lặng Trong hoàn cảnh đất nước thời đó họ đã biết hy sinh tình yêu cá nhân cho tình
yêu lớn lao với Tổ quốc Nói như Nguyễn Mỹ trong bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ
“Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” Bài thơ đã đem đến cho ta một sự cảm nhận
về nỗi buồn xa cách trong tình yêu thời chiến Ẩn chứa trong đó là sự khao khát tìnhyêu và hạnh phúc lứa đôi Vì nhiệm vụ đánh giặc cứu nước, anh phải gạt tình cảmriêng tư, để lên đường chiến đấu:
Vừa bắn máy bay đứt đầu nát đuôi
Trang 24Ánh lửa hồng chưa nguôi
Anh lại sắp xa em đi bộ đội
mến, của mình dành cho gia đình khi tham gia cách mạng Ẩn chứa trong đó là tình
yêu vợ chồng, khát vọng về hạnh phúc lứa đôi: “Anh lìa em đi cứu nước/ Em khắc ở
nhà trông đứa con thơ”.
Nhà thơ Triều Ân cũng có những vần thơ thể hiện nỗi nhớ da diết trong tìnhyêu Nỗi nhớ được ví von với hình ảnh thiên nhiên, thể hiện nỗi niềm sâu lắng, kínđáo trong tình yêu:
Xa cách lâu em mong Buồn như cành lá trụi Nếu tóc anh điểm sương Lòng em buồn lá úa
(Triều Ân)Như vậy, thơ viết về tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiệnđại giai đoạn này đã có những bước đi đầu tiên thể hiện tình cảm chân thực của conngười miền núi Tuy nhiên đề tài về tình yêu chưa được các nhà thơ tập trung chú ýsáng tác, có chăng cũng chỉ là những yếu tố còn khá mờ nhạt, hòa quyện vào nhữngbài thơ trữ tình chính trị của một số tác giả tiêu biểu Bởi vậy, thơ tình yêu thời kỳnày không để lại dấu ấn trong lòng người đọc Tuy nhiên, giai đoạn quan trọng này đãtạo bước đệm hé mở một đề tài mới cho các nhà thơ dân tộc thiểu số về sau, tạo rabước ngoặt to lớn cho sự nở rộ về đội ngũ nhà thơ sáng tác về đề tài tình yêu đôi lứa
ở giai đoạn sau năm 1975
1.1.2.2 Giai đoạn từ sau 1975 đến nay
Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng non sông vẹn toàn một dải Tuynhiên chúng ta vẫn phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài chống phá đất nước
Trang 25Những năm 70 - 80, thơ ca dân tộc thiểu số một lần nữa sục sôi không khí bảo vệbiên cương của Tổ quốc thiêng liêng Tiếp nối mạch nguồn giai đoạn trước, thơ cadân tộc thiểu số phát triển một cách mau lẹ Đội ngũ nhà thơ đông đảo, các tác phẩmthơ đạt được nhiều thành tựu cả về số lượng và chất lượng Bên cạnh những tên tuổitrước đó thì nay đã xuất hiện hàng loạt các cây bút trẻ với ngòi bút sáng tác đầy nhiệthuyết Họ cho ra đời hàng trăm tập thơ với nhiều nội dung, phong cách khác nhau đểlại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả Giai đoạn này ngoài những đề tài quen thuộctrước đó, thì đề tài viết về tình yêu của các nhà thơ đã được chú ý sáng tác và đạtđược nhiều thành tựu rực rỡ Hoàn cảnh đất nước đã thay đổi, tâm trạng, tâm tư tìnhcảm của các nhà thơ đã khác trước, thơ tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số đạtđược nhiều thành tựu hơn trước Thơ tình của các nhà thơ dân tộc thiểu số đua nhau
khoe sắc: Vương Anh có Cơm mường vó, lúa mường vang Pờ Sảo Mìn với Thị
Trấn đôi ta; Lâm Quý với Tình em đêm hát ví, Nếu em bỏ chồng, Thêu cả bốn mùa; Dương Thuấn với Em người xa lạ, tháng nào cũng giống em, Cực tình;
Triệu Kim Văn có Lời mùa Xuân; Y Phương với Mùa hoa, Em-cơn mưa rào ngọn
lửa Tập thơ song ngữ Vũ khúc tày; Lò Ngân Sủn với các tập thơ với những bài thơ
tình đặc sắc Đầu nguồn cuối nước, Bữa tình yêu, Nơi mặt trăng mặt trời gặp
nhau, Tôi là một ngọn gió ; Lương Định với Ngẫu hứng đêm hội; Vi Thùy Linh
với Không thanh thản, Người dệt tầm gai ; Lối nhỏ, Tan vỡ của Dư Thị Hoàn; Mai Liễu với Lúc lắc; Bùi Thị Tuyết Mai với Tình Núi, Mưa Xuân, Hơi Thở
nhẹ ; Em loài nắng hạ của Inrasara, Thương lắm nhớ nhiều của Nga Rivê; Lò
Cao Nhum với Vòng xòe, sàn trăng; Thuận tình của Thanh Pôn Bế Phương Mai với Cộng em vào mùa đông, Định nghĩa, Bến đợi, Chờ ai, Vời vợi Thu tàn, Em
chưa nói lời yêu, Tình yêu, Hẹn
Tình yêu luôn là khát vọng sâu sắc, mãnh liệt và vĩnh cửu của nhân loại Tìnhyêu ở thời đại nào cũng đều tồn tại muôn sắc màu với những cung bậc cảm xúc làmđắm say lòng người Con người cũng không ngừng khao khát đấu tranh để có đượcmột tình yêu trọn vẹn viên mãn Thơ tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số giaiđoạn này là sự nối tiếp mạch nguồn thơ ca viết về tình yêu của giai đoạn trước Vớidòng thơ tình tuôn chảy không ngừng, các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Trang 26đã thổi một luồng gió mới, hơi thở mới, màu sắc khác lạ vào trong dòng tình ấy, đểrồi tạo nên một bản nhạc tình yêu đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Thơ viết về tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại giaiđoạn này như vườn hoa rực rỡ đua nhau khoe sắc, tạo nên một vườn tình tràn ngậphương thơm Thơ tình yêu lúc này, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc, làm thổnthức biết bao con tim Tình yêu đôi lứa trong thơ dân tộc thiểu Việt Nam hiện đại,được thể hiện với nhiều trạng thái cung bậc cảm xúc, cùng với các sắc màu văn hóakhác nhau Mỗi nhà thơ, một bài thơ tình là cách cảm cách nghĩ riêng Song họ đềugặp nhau ở những cung bậc cảm xúc vốn có đầy đủ trong tình yêu như giận, hờn,nhớ, thương, hồi hộp, lo âu thấp thỏm, buồn, vui, đau khổ, hạnh phúc Tình yêutrong thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại là tình yêu nồng nàn, thathiết, mãnh liệt đến cuồng nhiệt Khi yêu họ yêu chân thành, đằm thắm, sống hếtmình cho tình yêu, khao khát cháy bỏng về hạnh phúc lứa đôi Họ dám vượt quanhững cái hữu hạn của thời gian, của lòng người để đi đến tận cùng của hạnh phúc.Tuy nhiên tình yêu có khi là những nỗi nhớ thương về mối tình đẹp nhưng dang dở,chia lìa, một thuở yêu nhau nhưng không đến được với nhau Thơ viết về tình yêu đôilứa của họ còn thể hiện những hoài niệm, ước mơ, nỗi niềm day dứt, trăn trở, đắngđót, hoang hoải đến thắt lòng Tình yêu ấy còn ẩn chứa tâm trạng lo âu về sự trôi chảytàn phá của thời gian Trong thơ tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số còn gắn vớinhững triết lý chiêm nghiệm Thơ tình của họ có nhiều nét đặc trưng riêng, độc đáothú vị, giàu yếu tố phồn thực
* Tình yêu say đắm, nồng nàn, mãnh liệt đến cháy bỏng
Tình yêu say đắm, nồng nàn luôn gắn liền với nỗi nhớ da diết, cùng với nhữngkhát khao cháy bỏng trong trái tim yêu của những người miền núi Khi đã yêu, họluôn chủ động táo bạo trong tình yêu Với tính cách của những con người vùng cao,
họ sống ào ạt như lũ rừng, sống sôi nổi dữ dội như lốc cuốn, mạnh mẽ như những câyđại thụ hùng vĩ của núi non Bởi vậy, họ yêu bằng cả con tim cuồng nhiệt, mãnh liệt,cháy bỏng đầy bản năng Mỗi trang thơ tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số ViệtNam hiện đại đã thể hiện một cách sinh động cung bậc cảm xúc: yêu nồng nàn mãnhliệt, da diết với những vần thơ mạnh mẽ dữ dội, nóng bỏng, đầy lôi cuốn qua các bài
Trang 27thơ: Suối vắng(Mai Liễu); Yêu em, Bài thơ tình của đôi trai gái miền ngược, Vợ
chồng mới cưới, Bữa tình yêu, Tình ca lều nương, Nhớ, Xa em, Trông thấy em, Cheo leo đèo dốc (Lò Ngân Sủn); Xé, Cháy, Một (Y Phương); Anh lại về (Hùng
Đình Quý); Đêm lễ hội (Lương Định); Tự tình với hoa (Bế Phương Mai); Không
thanh thản, Người dệt tầm gai (Vi Thùy Linh); Nhớ (Tạ Thu Huyền); Dương Thuấn
với Khi yêu nhau, Mỗi bài thơ anh viết, Thương lắm nhớ nhiều của Nga
RiVê Với nhà thơ trẻ Vi Thùy Linh, yêu là phải cháy bỏng và phá cách:
Em yêu anh đến điên cuồng
Yêu anh đến tan cả em
Đập nát đơn điệu
Khuôn khổ cũ kỹ, nhàm chán và cam chịu
(Không thanh thản - Vi Thùy Linh)
Trái tim yêu của những chàng trai miền núi được Lò Ngân Sủn diễn tả một cách
say đắm, mãnh liệt, cuồng nhiệt như thiên nhiên đại ngàn ào ạt, dữ dội: Anh yêu em/
Như thác đổ/ Như gió gào/ Như sao trời thao thức thâu đêm (Treo leo đèo dốc - Lò
Ngân Sủn)
Tình yêu say đắm mãnh liệt gắn với những nỗi nhớ thương, cồn cào, da diết,khắc khoải, ngóng chờ được nhà thơ dân tộc Hrê Nga RiVê miêu tả bằng những cung
bậc nỗi nhớ, nhói lên như kiến cắn trái tim của người con gái: “Em yêu anh/ Như con
chim Vơ - ling yêu rừng/ / Em nhớ anh/ Cứ nhấp nha nhấp nhổm/ Như con kiến cắn tim/ Như lửa đốt trong bụng/ Muốn thấy ngay cái miệng/ Muốn cầm ngay cái tay”
(Thương lắm nhớ nhiều - Nga RiVê).
Tình yêu của những chàng trai, cô gái miền núi thật táo bạo, mãnh liệt nhưchính tâm hồn căng tràn đầy sức thanh xuân của họ nơi núi rừng đại ngàn
*Tình yêu chân thành, mộc mạc, đằm thắm, tha thiết
Con tim yêu thương của những chàng trai cô gái miền núi được các nhà thơmiêu tả hết rất chân thực, cụ thể như rung lên từng nhịp Tình yêu chân thành, đằmthắm, tha thiết lúc này được thể hiện là sự trân trọng ngợi ca vẻ đẹp hình thức cũngnhư tâm hồn người yêu Chưa bao giờ đời sống tình cảm, tình yêu của con người cánhân lại được các nhà thơ dân tộc thiểu số thể hiện và phản ánh một cách sinh động
Trang 28như vậy Các tác giả không ngại ngần trong việc ngợi ca vẻ đẹp về hình thức và tâmhồn của người con gái Tình yêu phải chân thành, thiết tha lắm mới cảm nhận được
hết vẻ đẹp ấy: Tháng nào cũng giống em (Dương Thuấn); Suối vắng (Mai Liễu)
Trước ngày cưới (Đinh Đăng Lượng); Đêm say Tam Đảo (Pờ Sảo Mìn); Em, Em là nỗi đam mê của đời anh, Lửa tình yêu, Tây Bắc (Lò Ngân Sủn); Em - cơn mưa rào, ngọn lửa, Gần hoa, Tựa, Em, Sen (Y Phương); Mùa lau chín, Em đã thành con gái bản anh rồi (Tạ Thu Huyền)
Em là nắng là trăng anh thầm ví vậy Mang đến cho anh ấm nóng dịu dàng
Là nắng là trăng của đất trời hết thảy Với riêng em ấm mát với riêng anh
(Ma Trường Nguyên)Nhà thơ dân tộc Chăm - Inrasara đã dành tiếng thơ tình xúc động, ca ngợi người
con gái đã đến sưởi ấm tâm hồn và làm thay đổi mọi thứ trong cuộc đời mình: “Như
ngọn gió nồng mùa xuân/ Bất ngờ em thổi vào cánh đồng ta/ Mát rượi ta/ Cây sồi thu cằn cỗi/ Thức dậy ban mai/ / Em như loài nắng hạ/ Tràn đến tan vào cánh rừng ta/
Cho trái tim băng giá ta tan vỡ/ Bất ngờ hiến tặng ta thêm mùa nữa ban mai” (Em
-loài nắng hạ - Inrasara).
Tình yêu chân thành, đằm thắm của những cô gái miền núi mang dáng vẻ e
dè, nhuần nhị hơn gợi ra một tình yêu sâu đậm, chân thành, thuỷ chung, trong chờ
đợi, khắc khoải: “Cứ lặng yên như thế/ Nghe em hát/ Về tình yêu bến đợi xa xôi/
Giành cho anh lời thơ già trăm tuổi/ Chờ ai vời vợi cuối chân trời” (Gió cháy - Bế
Phương Mai)
* Những khát khao cháy bỏng về hạnh phúc lứa đôi của con người miền núi
Trong tình yêu, ai cũng có khát vọng được yêu một cách chân thành và có hạnhphúc viên mãn với người mình yêu Đó là khát vọng yêu, được yêu một cách chânthành, tha thiết, khát vọng về một hạnh phúc lứa đôi thực sự Khi đã yêu, con người
ta luôn khao khát được vượt qua cái hữu hạn của lòng người, để đi đến cái đích thực
sự trong tình yêu đó là hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn Đặc trưng đời sống của người dânvùng cao còn nhiều tục lệ hà khắc, đôi khi họ yêu nhau nhưng không đến được với
Trang 29nhau, tình yêu bị chia ly, cách trở Họ khao khát yêu và được yêu Khát vọng đókhông chỉ được thể hiện ở những chàng trai miền núi mạnh mẽ mà ngay cả những côgái của núi rừng khát vọng ấy càng trở nên mãnh liệt hơn Đồng cảm với những khátvọng của người cùng giới, các nhà thơ nữ dân tộc thiểu số đã phản ánh hết sức chânthật và tinh tế khát vọng yêu và được yêu một cách chân thành, tha thiết của nhữngngười phụ nữ thông qua nỗi niềm mong ước được sống, được yêu, yêu hết mình,dâng hiến hết mình cho người mình yêu Bên cạnh những bài thơ tình yêu chủ động,táo bạo, mạnh dạn thể hiện những khao khát, cháy bỏng thì có những bài thơ e dè,nhuần nhị, nhẹ nhàng, kín đáo nhưng sâu tận đáy lòng họ ẩn chứa sự khao khát cháybỏng về yêu, được yêu, được sống trong hạnh phúc lứa đôi thật sự Điều đó được thể
hiện ở các tác phẩm thơ: Có đôi (Vương Anh); Em trước mặt, Sa mạc yêu (Y Phương); Bài hát tỏ tình (Dương Thuấn); Hai ta (Lò Ngân Sủn); Khi nỗi nhớ nằm
xuống (Bùi Thị Tuyết Mai); Em (Hoàng Thanh Hương); Lời hẹn (Đoàn Minh Ngọc); Người đứng trông (Bùi Thị Giáng Hương); Vượt lên lời phán quyết (Nông Thị Ngọc
Hòa); Tan vỡ (Dư Thị Hoàn)
Có phải em giận anh Tim cồn cào im lặng Anh có hay trong mắt Ngọn lửa khao khát tình
(Tự Tình với hoa - Bế Phương Mai)
Khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc lứa đôi của những chàng trai, cô gái dân tộcthiểu số còn được thể hiện ở mong muốn hòa hợp cả về thể xác và tinh thần Họ dânghiến hết mình, cùng nhau tận hưởng những giây phút yêu, với họ yêu đến mấy cũng
không bao giờ thấy đủ: “Ngày mong trời sớm tối/ Đêm mong trời chậm sáng/ Vừa
mới ăn xong đã đói/ Vừa mới uống xong đã khát/ Ăn rồi muốn ăn nữa/ Uống rồi
muốn uống thêm”(Vợ chồng mới cưới - Lò Ngân Sủn).
Nhà thơ Thanh Pon lại thể hiện nỗi niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi bằngtrái tim yêu mãnh liệt, vượt qua những thử thách khó khăn, để hỏi người mình yêu
về làm vợ:
Anh đem bao lời thề thốt
Trang 30Gánh bao gánh thóc Dọt bao cối gạo trắng Đem nơm úp cá bắt về làm mâm cỗ Mang sang nhà hỏi em làm vợ
(Thuận tình - Thanh Pon)
Nỗi niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi trong tình yêu, được Lò Cao Nhum thể
hiện là hạnh phúc mặn nồng thủy chung không bao giờ buông tay: “Chớ buông tay
em nhé/ Em buông tay làm đứt vòng xòe/ Em buông tay rời rạc mường bản / Em ơi
chớ buông tay/ Vòng xòe mênh mông tình mặn” (Vòng xòe - Lò Cao Nhum).
* Những dự cảm cô đơn, khắc khoải, buồn đau, xót xa trong tình yêu
Tình yêu bao đời nay vẫn thế, ngoài niềm vui hạnh phúc thì nó chứa đựngkhông ít khổ đau bất hạnh Bởi vì, trong tình yêu không phải lúc nào đôi lứa cũng đếnđược với nhau, có thể vì lí do nào đó khiến cho tình yêu của họ đổ vỡ chia lìa Gạt đinước mắt của đời thường để mà sống, nhưng bên trong tâm hồn họ rất đau khổ, nhungnhớ dằn vặt trong trái tim Sẻ chia với nỗi buồn ấy, các nhà thơ dân tộc thiểu số đãviết nên những vần thơ trầm buồn, đau đớn, khắc khoải, chênh chao cuồng si, đắngđót để phần nào xoa dịu những số mệnh, kiếp bạc, long đong, trắc trở, éo le trongcuộc tình Lúc này, tiếng thơ tình của các nhà thơ dân tộc thiểu số là tiếng thơ làm tan
nát con tim, cõi lòng: Tìm trâu, Không lấy được em, Hai ta, Mỗi năm ta gặp nhau
một lần, Khâu Vai (Lò Ngân Sủn); Sóng, Dòng suối nước mắt (Y Phương); Tan vỡ,
(Dư Thị Hoàn); Xa (Mã Thị Hòa)
Lời thề em đã ném xuống vực sâu
Em ăn phải thuốc lú
Em bỏ mặc tôi em bước qua cầu Không có em tôi không làm thơ nữa Trời vẫn mưa, cơn mưa này, cơn mưa sau
(Dương Thuấn)Tình yêu đầu đời trong sáng vằng vặc như trăng rằm, đã được Lò Cao Nhum
thể hiện với nỗi niềm day dứt, trăn trở, hối tiếc về những hoài niệm đã qua: “Ngày
Trang 31ấy ai dại khờ/ Nghe trăng xui/ Bẽn lẽn/ Chọc sàn trăng/ Trăng mơ” (Sàn trăng - Lò
Cao Nhum)
Nỗi niềm xót xa, day dứt cho số phận tình yêu còn được các nhà thơ thể hiện
qua những duyên tình lỡ hẹn: “Em không ước là cô gái xinh đẹp/ Đến với anh vào
ngàn đêm không lẻ/ Nàng sẽ chết khi bình minh hiển hiện/ Và em lại hát lời yêu thủa
trước/ Hạnh phúc cho nỗi buồn của riêng em/ / Em vẫn là em để anh lỗi hẹn” (Hẹn
cho nhau những nồng nàn cháy bỏng, chủ động dâng hiến: Tình khúc 33, Nửa khúc
dân ca (Mã A Lềnh), Có hai người (Lò Ngân Sủn); Em (Hoàng Thanh Hương); Người Đứng Trông (Bùi Thị Dáng Hương); Khi nỗi nhớ nằm xuống (Bùi Thị
Tuyết Mai) “Giậm chân tiến lại lột áo/ Lột yếm trong người em lột ra/ Lột từ
người em lột ra/ Bên trong lột hết đôi áo lụa hoa cà/ Bên ngoài lột hết đôi áo kép/
/Lột cả áo nẹp cài/ Phơi lồng ngực đệm đôi vú mập” (Bùi Thị Tuyết Mai).
*Tình yêu mang yếu tố phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực đi sâu vào văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số Đây
là nét văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc của người miền núi Các nhà thơdân tộc thiểu số đã vận dụng linh hoạt yếu tố đó để đưa vào trong thơ tình củamình yếu tố phồn thực, tạo cho thơ tình mang vẻ hấp dẫn làm say đắm lòng
người Màu sắc văn hóa đó được thể hiện đặc sắc qua các thi phẩm sau: Em tắm (Bạch Văn Ùi); Bài hát tháng ba, Mùa hoa, Chín tháng (Y Phương) Nỗi nhớ
Mường Khương (Pờ Sảo Mìn); Lửa tình yêu, Con gái bản Tông, Tây Bắc, Sự sống (Lò Ngân Sủn); Tình khúc 33, Nửa khúc dân ca (Mã A Lềnh); Kiến Lửa
(Bùi Thị Tuyết Mai); Lên Đồng Văn (Dương Thuấn)
Nặng nhọc cười Nặng nhọc người đàn bà
Trang 32Nặng nhọc hai bầu vú mọng căng như nước Nặng nhọc hai bầu vú phì nhiêu như đất
(Y Phương)Khi miêu tả vẻ đẹp người phụ nữ, các nhà thơ dùng ngòi bút ngợi ca vẻ đẹp gắnvới vẻ tự nhiên Người phụ nữ mang một vẻ đẹp hấp dẫn, rực rỡ tươi mát, tràn đầy
sức sống, lay động cả thiên nhiên: “Em một mình xuống tắm/ Bồng bềnh và dịu êm/
Ngực đầy lên nhịp sóng/ Một vầng mây nõn trắng/ Rơi giữa lòng sóng trao/ Lá ngồi
run trên đầu/ Đá ngồi ngây dưới vực” (Suối vắng - Mai Liễu).
Như vậy, tình yêu đôi lứa trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã thểhiện được đầy đủ những cung bậc cảm xúc sắc thái tình cảm Mỗi nhà thơ, đều chọncho mình một khoảng trời riêng để yêu thương trân trọng, nâng niu cất giữ với nhữngtrạng thái yêu đa dạng say đắm lòng người Đó là tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, đắmđuối, si mê, tha thiết Tình yêu ấy, luôn gắn với nỗi nhớ da diết, những khát khaocháy bỏng trong trái tim người đang yêu Tình yêu đó tràn đầy sự dâng hiến táo bạoquên mình cho người mình yêu Tình yêu cũng có khi đắng đót, chênh chao, nhứcbuốt, hoang hoải, làm quặn thắt trái tim, làm trái tim người đọc rung lên trong đauđớn xót xa
* Tình yêu trong thơ ca dân tộc thiểu số được thể hiện qua hình thức nghệ thuật phong phú đa dạng
Thơ tình được diễn tả bằng nhiều thể thơ, như thể thơ bốn chữ, năm chữ, sáuchữ, bẩy chữ, và thể thơ tự do Thành công nhất là khi các tác giả thể hiện tình yêuqua thể thơ tự do, đây là thể thơ không hạn định bởi số câu, số chữ cách ngắt nhịp,gieo vần Bởi vậy, thể thơ tự do phù hợp với việc thể hiện cảm xúc tình cảm, thểhiện cái tự do, phóng khoáng, trong tâm hồn của người dân tộc, miền núi Đây là sựvận dụng thành công, hợp quy luật của sự vận động phát triển thơ ca Có nhiều bài
thơ tình, thể hiện rất thành công với thể thơ tự do này như: Em - cơm mưa rào ngọn
lửa , Em (Y Phương); Tan vỡ (Dư Thị Hoàn); Người đẹp, Khau Vai (Lò Ngân Sủn),
Em loài nắng hạ (Inrasara); Thương lắm nhớ nhiều (Nga RiVê)
Ngôn ngữ thơ tình yêu của các nhà thơ dân tộc thiểu số giản dị, mộc mạc, chânthành, thô sơ, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân tộc thiểu số miền
Trang 33núi Ngoài ra, ngôn ngữ thơ còn giàu hình ảnh, mang giá trị biểu cảm cao Tuy nhiên,nhiều bài thơ ngôn ngữ lại rất hàm súc, ngả màu triết lý, chiêm nghiệm Đặc biệt hơn,ngôn ngữ thơ tình còn mang đậm sắc màu văn hóa với những phong tục tập quán,
sinh hoạt đời sống văn hóa của người miền núi: Cơm (Y Phương); Con gái vùng cao,
Con gái bản Tông, Động đất động trời (Lò Ngân Sủn); Kiến Lửa (Bùi Thị Tuyết
Mai; Người đứng trông (Bùi Thị Giáng Hương) :
Mình là trăng sao ta làm mây cuốn
(Người đứng trông - Bùi Thị Giáng Hương)
Ngôn ngữ thơ được sử dụng phong phú, đa dạng Qua việc diễn tả nỗi nhớtrong tình yêu, thơ dân tộc thiểu số mang màu sắc, trạng thái rất riêng, không bóngbẩy chau chuốt Tây hóa như thơ Xuân Diệu, không đời thường như thơ tình XuânQuỳnh, không phải nỗi nhớ “in trên muôn lá” như của Lâm Thị Mỹ Dạ, mà là kiểunỗi nhớ được tư duy đậm màu sắc văn hóa miền núi qua ngôn ngữ thơ giản dị trong
sáng vô ngần: “nhớ đầy cả đêm/ Em thương sáng cả ngày/ Nhiều như cái sao cái lá/
Cao như cái núi cái đồi” (Thương lắm nhớ nhiều - Nga Rive).
Trong thơ họ có sự sáng tạo cảm nhận mới mẻ khi sử dụng ngôn ngữ, tạo nên sựchủ động, dâng hiến, cuồng nhiệt trong tình yêu Điều đó ta thấy trong thơ HoàngThanh Hương, Đinh Thị Mai Lan, Bế Phương Mai, Hà Thị Hải Yến, Mã Thị Hà vớinhững câu thơ:
Em Người đàn bà hỏa diệm sơn Yêu và sống cuồng nhiệt như mai là tận thế
(Em - Hoàng Thanh Hương)
Trang 34Ngoài ra, các nhà thơ dân tộc thiểu số đã vận dụng nhiều các biện pháp nghệthuật như so sánh ví von, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, để cụ thể làm nổi bật lên nhữngcung bậc cảm xúc trong tình yêu.
Hình ảnh thơ độc đáo, gần gũi đời thường Khi viết về tình yêu các nhà thơ dântộc thiểu số đã thể hiện những hình ảnh thơ mang đậm sắc màu văn hoá Đây là điểmkhác biệt trong thơ tình yêu đôi lứa của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiệnđại Mỗi cung bậc cảm xúc, tình cảm đều mang bản sắc văn hóa dân tộc mình Mỗimột bài thơ tình đều mang cách cảm, cách nghĩ của các nhà thơ Chính màu sắc vănhóa dân tộc đã làm nên sự khác biệt đó Các nhà thơ còn diễn tả sự mộc mạc, chântình, quyết tâm, thủy chung gắn bó trong tình yêu, không gì có thể chia cắt được tình
yêu của họ: “Muôn sao chốn đáy biển/ Ngàn tình có chạy đằng trời/ Riêng ta/ Nhổ
phăng dốc sấm, đèo chớp/ Để em với ta/ Như nắp và dao/ Có đôi” (Có đôi - Vương
Anh)
Hình ảnh thơ độc đáo đậm sắc màu văn hóa nổi bật là: hòn đá, ngọn lử, dòng
sông, cây đàn, trang phục, Chợ phiên, chợ tình, cồng chiêng, cơm lam, mía mòi, củ mài, cơm, bếp lủa, củi, mận, đào Sen ,cây chuối, kèn Pí Lè, hoa Má Po, dao, bao dao,
những con vật nuôi gần gũi với đời sống vùng núi
Đêm nay bên bếp lửa ấm vô cùng giữ mãi ngọn lửa này em nhé
Em nghiêng đầu mỉm cười lặng lẽ Gió đưa về tiếng suối hát trong veo
(Ngọn lửa rừng - Triệu Lam Châu)
Chợ phiên và các lễ hội là một nét đẹp văn hóa của người dân tộc thiểu số vùngcao Nét văn hóa đó đã đi vào nhiều trang thơ tình của các nhà thơ dân tộc thiểu số.Mỗi lần đến phiên chợ hay ngày lễ hội, các chàng trai cô gái đều bồi hồi, rạo rựckhông ngủ được Sáng hôm sau, họ chuẩn bị mặc cho mình bộ đồ đẹp nhất để xuốngchợ Có thể đi chợ không mua cũng chẳng bán, họ đi chợ chỉ để kiếm tìm những ánh
mắt hay một tình yêu: “Chợ Lồng Tồng/ Người sao mà đông( )/ Sao không kẻ bán/
Không người mua/ Chỉ rặt ngời ngời môi đỏ/ Những con mắt liếc nhau/ Chập vào nhau/ Dính vào nhau ( ) / Họ làm gì mà vòm lá rung/ Họ nói gì mà chùm quả chín”
Trang 35(Chín Tháng - Y Phương) Khi đã tìm được ý chung nhân, họ có thể trao cho nhau
tình yêu giữa không gian núi rừng “Cái ngày đi chợ đung đưa bên đường/ Cái ngày
đối đáp trong sương/ Bụi cây cũng trở thành giường đôi lứa” Nhà thơ Mã Thế Vinh
cũng viết về tình yêu đôi lứa gắn với chợ phiên mang nét đẹp văn hóa của người vùngcao:
Lò Ngân sủn, phiên chợ vùng cao cũng được đưa vào trong thơ tình yêu đôi lứa Mỗilần xuống chợ là mỗi lần đầy ắp những kỷ niệm, niềm thương nỗi nhớ, nỗi ám ảnh đivào trong cả những giấc mơ của họ
Đi chợ là đi mây về gió
Vó ngựa đung đưa giữa rừng chiều Đốt cháy lòng nhau là nỗi nhớ Đêm về lại đi chợ trong mơ
(Đi chợ - Lò Ngân Sủn)
Chợ tình là cả khoảng trời thương nhớ của những đôi trai gái vùng cao, nơi hẹn
hò của những mối tình dang dở Chợ tình là một nét đẹp văn hóa đậm chất nhân văn.Hàng năm, chợ họp một lần để cho những đôi lứa yêu nhau không đến được với nhausau một năm xa cách được gặp gỡ và trao yêu thương cho nhau Chủ yếu là những
Trang 36người có duyên tình trắc trở, yêu thương nhau thật sự, nhưng vì lý do nào đó khônglấy được nhau, giờ đây mỗi người đều có duyên phận riêng của mình Đúng ngày họhẹn gặp nhau cùng tâm sự với nhau về cuộc sống riêng của mình, ôn lại kỷ niệm, ký
ức xa xưa mà họ đã từng có với nhau Lò Ngân Sủn với bài thơ Khau vai, Mỗi năm
ta gặp nhau một lần viết về chợ tình Khau Vai - Hà Giang một nét đẹp văn hóa giàu
tính nhân văn của người H’Mông Nhà thơ đã vô cùng xúc động, đồng cảm, chia sẻ,thấu hiểu với những câu chuyện tình dang dở của những lứa đôi Phiên chợ tình KhauVai để đôi lứa tìm về những ký ức xa xăm, thân thương, thuở trai non gái nụ với tìnhyêu đầu đời của mình Trong ngày hội ấy họ có thể gặp nhau tâm tình mà không ai có
thể ngăn cản trách cứ, cùng nhau ôn và sống lại một miền ký ức: “Từ đó/ Khau vai
trở thành nới hẹn hò/ Của những người yêu nhau nhưng không lấy được nhau/ Từ đó/
Khau vai trở thành một cái chợ/ Để mỗi năm họp một phiên” (Khau Vai - Lò Ngân
Sủn)
Khoảnh khắc ngắn ngủi, xúc động ấy, họ được bên nhau thật sự sau nhữngtháng năm xa cách Tình yêu ngang trái, dở dang, tan vỡ để lại sự hối tiếc với nỗi nhớniềm thương, day dứt cả một đời người
Như vậy, thơ tình yêu đôi lứa luôn là mạch nguồn chảy liên tục trong dòng chảythơ Việt Nam nói chung và thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói riêng Sựthành công của thi đàn phải kể đến sự góp mặt của các nhà thơ dân tộc thiểu số ViệtNam hiện đại với những bài thơ tình tha thiết, thể hiện đầy đủ những sắc màu, cungbậc tình cảm trong tình yêu, đồng thời thể hiện khát vọng tự do yêu đương, hạnh phúclứa đôi làm say đắm lòng người Điều đó cho thấy, thơ tình yêu của các nhà thơ dântộc thiểu số không ngừng phát triển trở thành bộ phận quan trọng góp thêm hương sắccho vườn thơ ca văn học Việt Nam hiện đại
1.2 Hành trình thơ của Y Phương và Lò Ngân Sủn
1.2.1 Nhà thơ Y Phương với bản sắc văn hoá Tày
1.2.1.1 Vài nét về tiểu sử và con người
Y Phương là nhà thơ dân tộc thiểu số nổi tiếng của thơ hiện đại Việt Nam Ôngđược mệnh danh là cánh chim đại bàng miền rẻo cao phía Bắc Y Phương sinh ngày
24 tháng 12 năm 1948, Quê làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh tỉnh
Trang 37Cao Bằng Ông sinh ra trong một gia đình trí thức dân tộc thiểu số Cha ông là HứaVăn Cường là thầy Tào chữa bệnh cho mọi người, rất am hiểu chữ Nôm Tày và cókhả năng sáng tác Cha ông thường sáng tác những lời than khóc người chết trong cácđám tang, hay đặt lời bài hát cho các điệu dân ca Tày Cha chính là người đã dạy cho
Y Phương những kiến thức về chữ viết, về văn hóa dân tộc Thủa nhỏ, Y Phương đãđược cha truyền dạy từ những bài cúng, bài then cổ, và chữ viết cùng với những kiếnthức văn hóa dân tộc của người Tày những gì Y Phương có được ngày hôm naychính là từ cha ông Mẹ ông là Nông Thị Lộc một người phụ nữ vùng cao đảm đangtháo vát, tài hoa hết lòng vì chồng vì con Y Phương lớn lên trên mảnh đất non xanhnước biếc, sơn thủy hữu tình cùng với những làn điệu dân ca Tày ngân nga, réo rắt đó
là những bài hát Then, hát Si, hát lượn Mảnh đất biên viễn xa xôi ấy là cái nôi nuôidưỡng biết bao nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số nổi tiếng trong số đó có Y Phương.Ông là nhà thơ dân tộc thiểu số xuất sắc, tiêu biểu của quê hương Cao Bằng Conngười của Y Phương từ nhở đã được thừa hưởng những khả năng sáng tác cũng nhưkiến thức văn hóa dân tộc từ cha Ông có vốn liếng phong phú về chữ Nôm Tày, ônghiểu biết tường tận về văn hóa Tày Ông gắn bó yêu thương, trân trọng văn hóa dântộc mình bằng cả trái tim và tâm hồn Ông yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ, yêu mảnh đấtnơi mình trôn nhau cắt rốn Ông luôn yêu và tự hào về bản sắc văn hóa quê hươngdân tộc Ông luôn có ý thức trong việc bảo tồn gìn giữ phát huy bản sắc văn hóa dântộc Ông quan niệm sáng tác văn chương không chỉ là đam mê nghệ thuật mà còn làtình yêu, lòng tự hào, trách nhiệm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mình Bởi vậy,ông sáng tác thơ văn là để trả nghĩa với nơi mình đã sinh ra Tất cả những điều đó tạonên một nền tảng vững chắc cho Y Phương gặt hái được nhiều thành công trong sángvăn thơ của mình
Để đến được với thơ văn Y Phương đã trải qua những chặng đường khác nhau.Năm 9 tuổi ông mới đi học và biết nói tiếng phổ thông Năm 20 tuổi Y Phương chưahọc hết cấp 3 nhưng đã gác bút nghiên xung phong đi bộ đội đánh Mỹ nơi biên giới.Năm 1981 ông xuất ngũ chuyển về Cao Bằng công tác Chính những tháng ngàytrong quân ngũ đã bồi đắp thêm cho Y Phương tình yêu quê hương đất nước Từ đó,ông sống có trách nhiệm với làng bản quê hương Tổ quốc hơn Năm 1976 đến năm
Trang 381982 Y Phương học tại trường Điện ảnh Việt Nam Trong khoảng thời gian từ năm
1982 đến năm 1986 ông theo học tại trường Viết văn Nguyễn Du cùng với những têntuổi nhà thơ nổi tiếng sau này như: Trần Đăng Khoa, Hà Đình Cẩn, Đặng Ái, ThanhKim Năm 1986 ông nhận nhiệm vụ công tác tại Sở văn hóa thông tin tỉnh CaoBằng Năm 1991 ông giữ chức vụ Giám đốc Sở văn hóa thông tin Năm 1993 ônglàm Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng Năm 2016 ông là Ủy viên Banchấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn ViệtNam Năm tháng đi học và công tác đã đem đến cho Y Phương những kinh nghiệm,kiến thức quý báu trong cuộc đời cầm bút của mình Từ đó đã chắp cánh cho YPhương phát triển trở thành một nhà thơ xuất sắc của nền thơ ca văn học dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại
1.2.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Y Phương cầm bút từ những năm tháng chiến tranh cho tới hôm nay, nhà thơvẫn miệt mài trên cánh đồng chữ nghĩa Ông lao động cần mẫn không ngừng để sởhữu một gia tài văn chương khá đồ sộ gồm cả thơ và tản văn Y Phương đến với vănchương như một mối lương duyên Năm 1972 khi đơn vị mở cuộc thi báo tường Vốn
là người có tâm hồn và khiếu văn chương chàng lính trẻ Y Phương đã tập tành làmthơ và gửi mấy bài tham dự Trong suy nghĩ của ông lúc ấy chỉ là tham gia cho cókhông khí và phong trào Nhưng những bài thơ Y Phương sáng tác đã để lại ấn tượngvới nhóm cán bộ phòng Văn nghệ quân đội Họ đã tuyển chọn được hai bài thơ của Y
Phương, đó là bài: Bếp nhà trời và Dáng một con sông (vào năm 1973) Với một tâm
hồn người con xứ Tày yêu tha thiết quê hương miền núi cao viễn biên của mình, Ôngluôn tự hào về truyền thống văn hóa giàu bản sắc dân tộc của mình Bởi vậy, ông đã
có sự tìm tòi trong sáng, tác nhưng chỉ khi đến bài “Tiếng hát tháng giêng”, Y
Phương mới thực sự ghi dấu ấn tên tuổi của mình vào đời sống văn học nghệ thuật.Bài thơ đạt giải A trong cuộc thi thơ trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội vào năm 1984
Từ đó, ông đã gắn đời mình vào thơ như định mệnh, lẽ sống Ông đã chọn thơ ca lànơi neo đậu là bến đỗ của cuộc đời mình Đến nay hơn 30 năm cầm bút, Y Phương đã
để lại một sự nghiệp sáng tác văn học với 1 tập kịch Người của núi, 3 tập tản văn, 10 tập thơ, trường ca Các tập thơ tiêu biểu của ông như: Tiếng hát tháng giêng (1986);
Trang 39Lời chúc (1987); Đàn then (1996); Thơ Y Phương (2000); Thất tàng lồm - ngược gió (thơ song ngữ Tày - Việt 2016); Bài hát cho xa (2011); Vũ khúc Tày (thơ song
ngữ Tày - Việt 2015) Ngoài các tập thơ có trường ca: Chín tháng (1998); Đò trăng (2009) Tản văn có: Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm (2009); Cungfu
người Cò Xàu (2009); Củi tết (2015)
Với tài năng và khối lượng tác phẩm có giá trị, Y Phương đã đạt được nhiềugiải thưởng danh giá như: Giải A hội thi Văn học Nghệ thuật năm 1987 với tâp thơ
(Tiếng hát tháng giêng); Giải A Hội Văn học Nghệ thuật năm 1992 với tâp thơ (Lời chúc); Giải B (không có giải A) của Bộ quốc phòng năm 2000 với trường ca (Chín tháng); Giải Nhất cuộc thi thơ Tạp chí Văn Nghệ Quân đội năm 1984 với chùm thơ ( Phòng tuyến Khau liêu, Tên làng, Nói với con) Ngoài ra ông còn nhận
được nhiều giải thưởng khác của Tuần báo Văn nghệ Hội Văn học nghệ thuật cácdân tộc thiểu số Việt Nam Ông rất vinh dự là một trong số ít tác giả là người dântộc thiểu số được nhận Giải thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật với 3 tâp thơ:
(Tiếng hát tháng giêng, Chín tháng, Lời chúc) Điều làm nên sự thành công ấy là
ông đã tìm được lối đi riêng Với khao khát cháy bỏng của mình, ông muốn đemđến cho độc giả cái nhìn chân xác về thiên nhiên, đời sống người miền núi dưới gócnhìn văn hóa của người dân tộc Với cội nguồn văn hóa Tày, ông luôn ấp ủ, tìm tòi,đổi mới, sáng tạo, trong các mảng đề tài sáng tác để có được những thành côngđóng góp vào nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Nhờ truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, Y Phương đã tạo cho mìnhmột tiếng thơ rất riêng biệt Tiếng thơ đậm đà bản sắc Tày của ông đã vượt qua baonúi cao, suối sâu, vực thẳm làm say đắm con tim bạn đọc Hồn thơ Y Phương là sựkết tinh cao độ khả năng nghệ thuật vốn có, từ một quá trình lao động nghệ thuật giankhổ, từ vốn văn hóa sâu rộng, từ cội nguồn văn hóa dân tộc Tày Nhưng đặc sắc hơn,sâu thẳm hơn là một tình yêu lớn dành cho quê hương đất nước, cho dân tộc mình
1.2.1.3 Bản sắc văn hóa Tày trong thơ Y Phương
Nhà thơ Y Phương sinh và lớn lên ở Cao Bằng, đây là mảnh đất có không gianvăn hóa đậm chất Tày ở vùng biên cương của tổ quốc Quê hương ông còn là xứ sởnon nước hữu tình với vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ, thơ mộng Với trái tim yêu thương
Trang 40tự hào về quê hương, làng bản nới mình sinh ra, ông đã dành những trang viết đầyxúc động về tất cả những gì thân thuộc, vốn có của quê hương Vì thế xuyên suốttrong thơ Y Phương về nội dung cũng như nghệ thuật phản ánh đều mang đậm nétbản sắc văn hóa Tày Ngoài những hình ảnh về thiên nhiên, con người đi vào trangthơ ông, thì nổi bật nhất vẫn là những phong tục, tập quán, những sinh hoạt văn hóatinh thần của đồng bào dân tộc Tày với những nét đẹp riêng.
Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Y Phương gắn với những không gian núi rừng,dòng sông, con suối, hòn đá, dòng nước, đồng ruộng, chim muông, cây cỏ Tất cảhình ảnh đó đã để thương để nhớ cho cuộc đời ông, đó là những kỉ niệm không bao
giờ quên: “Ngô rang/ Nước suối/ Khẩu súng/ Reo quanh người/ Người đeo quanh
núi” (Y Phương) Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Y Phương còn gắn với những hình
ảnh mùa xuân tươi đẹp rực rỡ như tấm thổ cẩm Mùa xuân nơi vùng cao với nhữngcánh rừng bạt ngàn cùng các loài hoa thơm quả ngọt Hình ảnh hoa đào đỏ thắm, hoa
mơ, hoa mận trắng phau khắp các triền núi, triền thung Hình ảnh những chàng trai côgái Tày đi chẩy, hội du xuân, tưng bừng, náo nức Hình ảnh dòng sông con suối cũng
đi vào thơ Y Phương với vẻ đẹp hiền hòa thơ mộng Con sông Bằng Giang hiện lên
trong thơ ông với màu xanh biếc: “Bao nhiều trời ghé xuống/ Bao nhiêu rừng lội qua/
Bao nhiêu đá chắt ra/ Mới biếc xanh Bằng Giang” (Y Phương).
Con người đồng bào dân tộc Tày hiện lên trong trang thơ Y Phương mangnhững nét đặc trưng riêng của người vùng cao Y Phương dùng ngòi bút miêu tả cácthế hệ già, trẻ, gái, trai tất cả ở họ đều giản dị, chân thật, hồn nhiên, nghĩa tình đậmchất miền núi Nhà thơ viết về những con người xung quanh bằng những tình cảmthiết tha, yêu thương, trân trọng Mỗi trang viết đều thẫm đẫm những giá trị nhân văn,ông cảm thông chia sẻ bởi hoàn cảnh cơ cực, vất vả, đói nghèo đã làm cho con người
miền núi chậm chạp thô nhám: “Con sóng núi duỗi ra dài dài/ Ngọn sóng núi chồm
lên cao cao/ Những người thấp bé/ Đi từ chân lên đỉnh núi/ Đời tiếp đời/ Mục nát cả hai bàn chân/ Tìm cái ăn/ Đi từ mùa khô/ Đến hết mùa mưa/ Chỉ thấy đá/ Đá lởm chởm/ Đá thu lu ” (Y Phương) Con người vùng cao với những nét đặc trưng của
người hay lam, hay làm lao động vất vả nặng nhọc, trèo đèo, lội suối với đặc điểm
hình thể rất đặc trưng của người miền núi Người con gái thì: “Em hiền lành/ Em