1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng việt xét trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng

71 537 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm khẳng định sự tồn tại của phạm trù thời trong tiếng Việt Ban đầu, do không xuất phát từ đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt mà mô phỏng theo ngôn ngữ Ấn – Âu nên một số nhà nghiê

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**********

NGUYỄN THỊ QUỲNH

NHÓM PHỤ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TIẾNG VIỆT XÉT TRÊN BA BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA

VÀ NGỮ DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**********

NGUYỄN THỊ QUỲNH

NHÓM PHỤ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG TIẾNG VIỆT XÉT TRÊN BA BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA

VÀ NGỮ DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS HOÀNG THỊ THANH HUYỀN

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Thị ThanhHuyền - giảng viên tổ Ngôn ngữ, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình, chuđáo để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trongkhoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ - Trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình

4 năm học tập cũng như khi tôi làm khóa luận này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiệngiúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận

Mặc dù có nhiều cố gắng song khóa luận không tránh khỏi những thiếusót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, giúp đỡ của quý thầy cô vàcác bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018

Sinh viênNguyễn Thị Quỳnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của giảng viên – TS Hoàng Thị Thanh Huyền Khóa luận tiếp thu

và kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của những người đi trước, songkhông trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả nào khác Nếu sai, tôi xinhoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018

Sinh viênNguyễn Thị Quỳnh

Trang 6

1.2.4 Phạm trù thời và ý nghĩa thời gian

19

1.2.5 Vấn đề “thời” trong tiếng

Việt 23

1.3 Hư từ 251.3.1 Khái

niệm 25

1.3.2 Chức

năng 26

1.4 Phụ từ 271.4.1 Khái

niệm 27

1.4.2 Đặc điểm 27

Trang 8

từ rất sớm.

Trong ngôn ngữ Ấn Âu, phạm trù thời là nội dung phổ biến Nhưng đốivới tiếng Việt – loại ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái, vấn đề thờivẫn còn gây nhiều tranh luận Từ đó, vấn đề được đặt ra là “Có hay không sựtồn tại của phạm trù thời?” Việc nghiên cứu về vấn đề này được đặt ra từ khixuất hiện cuốn từ điển đầu tiên của Việt Nam vào năm 1961 Ba thế kỉ nay,người ta đã và đang nói về vấn đề này từ nhiều quan điểm, góc nhìn khácnhau Những năm gần đây, vấn đề thời lại càng được quan tâm, do nhu cầucủa việc học ngoại ngữ, nhu cầu nghiên cứu tiếng Việt một cách sâu sắc vàđộc lập Chính vì vậy, đến thế kỉ XXI, vấn đề này vẫn còn giữ nguyên tínhthời sự của nó

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã công nhận rằng các phụ từ như:

sắp, sẽ, đang, vừa, mới, từng, đã,… chính là những phương tiện cơ bản để

biểu thị phạm trù thời trong quá khứ, thời hiện tại và thời tương lai

Khi nghiên cứu nhóm phụ từ chỉ thời gian này, người ta chỉ xem xétchúng ở góc độ từ loại và ngữ pháp Nhưng ít công trình nào nghiên cứu các

từ đó trên cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Vì vậy, chúng tôinhận thấy rằng, việc áp dụng lí thuyết ba bình diện vào nghiên cứu nhóm phụ

từ chỉ thời gian: sắp, sẽ, đang, vừa, mới, từng, đã,… trong tiếng Việt là một

vấn đề khá mới mẻ và thú vị

Trang 9

Với những lí do đó, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Nhóm phụ từ chỉ thời

gian trong tiếng Việt xét trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu về phạm trù thời – thể đã là một vấn đề xa xưa bậc nhất, cómột lịch sử lâu dài trong ngành ngôn ngữ học Ngay từ thời Arixtot, ông đãcho rằng: “Động từ phải có đặc điểm thời gian” [26, tr 174 – 175] Nhà ngônngữ học A Mây - ê cho rằng: “Sự tiến bộ của nền văn minh nêu bật phạm trùthời và hướng về chỗ xóa bỏ những phạm trù có giá trị cụ thể và gợi cảm dànhcho những phạm trù trừu tượng một tầm quan trọng ngày càng to lớn” [26, tr

174 – 175]

Việc nghiên cứu phạm trù thời trong tiếng Việt cũng được bắt đầu từ

năm 1651 khi cuốn từ điển đầu tiên ở Việt Nam ra đời có tên là Từ điển An

Nam - Lusitan – La-tin của Alexandre de Rhodes, đã có nhiều công trình

nghiên cứu về vấn đề này nhưng vẫn chưa có một ý kiến thống nhất Mọitranh luận về cơ bản xoay quanh hai luồng ý kiến: một là khẳng định tiếngViệt có phạm trù thời, hai là phủ định sự tồn tại của phạm trù ngữ pháp trêntrong tiếng Việt

2.1 Quan niệm khẳng định sự tồn tại của phạm trù thời trong tiếng Việt

Ban đầu, do không xuất phát từ đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt mà

mô phỏng theo ngôn ngữ Ấn – Âu nên một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ đãkhẳng định sự tồn tại của thời và thể trong tiếng Việt Nhưng ý kiến khẳngđịnh này cũng có sự khác nhau

* Các quan niệm cho rằng tiếng Việt có 3 thời: quá khứ, hiện tại và tương lai

Trang 10

Theo G Aubaret (1864) đưa ra ý kiến: “Động từ tiếng Việt không cóhình thức biến ngôi […] Song một số từ hay hư từ đặt trước động từ dùng đểxác định thời quá khứ, tương lai và mệnh lệnh” Thời hiện tại không đượcbiểu hiện bằng bất cứ hư từ nào, nếu muốn chỉ tính hiện tại của động tác

người ta dùng phó từ đang ở trước động từ Thường thường khi người ta

muốn nói đến sự hoàn thành của động tác, thời quá khứ được bổ sung bằng

cách thêm hư từ rồi, thời tương lai biểu thị bằng cách đặt hư từ sẽ trước động

từ Người ta chỉ dùng hư từ ấy trong trường hợp muốn chỉ chắc chắn về hành

động gần như dùng từ shall trong tiếng Anh [36, tr 39- 41]

Trương Vĩnh Kí (1883) thì cho rằng thời và thể của động từ tiếng Việtđược biểu thị bằng các phụ tố, hư từ hay ngữ cú Ông phân biệt hai loại thời làcác thời cơ bản và các thời phái sinh

- Các thời cơ bản bao gồm: thời quá khứ, biểu thị bằng đã; thời hiện tại, biểu thị bằng đang; thời tương lai, biểu thị bằng sẽ.

- Các thời phái sinh, bao gồm:

+ Thời phi hoàn thành, biểu thị bằng khi ấy + Thời quá khứ không xác định, biểu thị bằng có + Thời tiền quá khứ xác định, biểu thị bằng vừa khi, rồi, đoạn,… + Thời hoàn thành sớm, biểu thị bằng thì đã…trước, đi, rồi + Thời tiền tương lai, biểu thị bằng sẽ, đã

+ Thời điều kiện hiện tại, biểu thị bằng sẽ + Thời điều kiện quá khứ, biểu thị bằng sẽ, thì, đã [20, tr.32]

Hướng nghiên cứu của Bùi Đức Tịnh (1952) thì cho rằng: “Động từ ởnguyên thức hay phối thức (có chủ ngữ hay không có chủ ngữ) đều có thểbiểu diễn ý nghĩa của các thời” [20, tr.32] Theo đó, hệ thống các từ chỉ thờilà:

- Đang, còn, vẫn, còn đang, hãy còn, vẫn còn chỉ hiện tại.

Trang 11

- Vừa, vừa…xong, mới, có, đã, đã…xong, đã…rồi, đã…xong rồi chỉ

quá khứ

- Sắp, sắp sửa, sẽ chỉ vị lai.

Nguyễn Văn Thành (2003) với cuốn sách Tiếng Việt hiện đại, lại đưa ra quan điểm đã, đang, sẽ không phải là các trạng từ và tác giả tách riêng chúng

ra thành một loại từ gọi là thời – thể từ Tác giả quan niệm: Các từ đã, đang,

sẽ, xong, được, hết, nổi là những từ trợ nghĩa ngữ pháp Và nếu căn cứ vào

một hệ thống các ý nghĩa ngữ pháp đối lập mà các từ này cùng động từthường xuyên diễn đạt, thì có thể xác định một phạm trù ngữ pháp về thời –thể của động từ theo một kiểu riêng của ngôn ngữ đơn lập Trong khi kết hợp

với động từ, các thời – thể từ có thể độc lập diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp

như: ý nghĩa thời quá khứ, thời hiện tại, thời tương lai Đồng thời, tác giả

nhấn mạnh các từ đã, đang, sẽ, xong, được, hết, nổi để diễn đạt một hệ thống

các ý nghĩa ngữ pháp đối lập tạo thành một nội dung thông báo nhất quán vàthường xuyên ở cả ba bình diện thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai), đó làcác ý nghĩa thời gian và thể cách của động từ, gọi tắt là các ý nghĩa ngữ pháp

thể trong tiếng Việt Sớm nhất là bài viết Các cấp thể và các chỉ tố tình thái –

thể trong tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ số 2, 1979) Đặc biệt, trong bài viết Một lần nữa về phạm trù thì trong tiếng Việt đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số

7, năm 2002, tác giả đã khẳng định: “Tiếng Việt có phạm trù thì, các từ đã,

đang, sẽ là ba chỉ tố thì” Panfilov đã khảo sát về ý nghĩa của các từ đã, đang,

sẽ trong các kết hợp với các tiểu loại vị từ và tác giả nhận xét: thời tương lai

có ở tất cả các tiểu loại vị từ - động từ có giới hạn, động từ không có giới hạn,

Trang 12

động từ không hành động, tính từ và điều này đủ để bác bỏ hoài nghi đối vớiphạm trù thì trong tiếng Việt, bởi vì ít nhất thì sự đối lập giữa thời tương lai

và phi thực tương lai ở ngôn ngữ này cũng hoàn toàn rõ ràng” [40] Ông cònnói thêm rằng: “Tiếng Việt có phạm trù thời bởi tiếng Việt có sự đối lập giữa

thời tương lai và thời phi tương lai nhờ từ sẽ Thời tương lai được áp dụng

cho tất cả các loại vị từ - động từ giới hạn, không giới hạn, động từ phi hànhđộng, tính từ - và từ điều này đã hoàn toàn đủ để phủ định thái độ hoài nghiđối với phạm trù thời trong tiếng Việt” [40]

Nguyễn Minh Thuyết (1995) trong bài viết của mình Các tiền phó từ

chỉ thời, thể trong tiếng Việt cũng bàn về các hư từ chuyên đứng trước thuật

ngữ để biểu thị đồng thời các ý nghĩa thời, thể Tác giả gọi chúng là các tiềnphó từ và khẳng định rằng: “Thời và thể là hai phạm trù thực sự trong tiếngViệt vì chúng bao gồm những ý nghĩa bộ phận đối lập nhau; mỗi ý nghĩa bộphận như trên được diễn đạt bằng một tiền phó từ nhất định tạo thành một hệ

thống” [34, tr.9] Ông cũng cho rằng đã, đang, sẽ là các tiền phó từ biểu thị ý

nghĩa thời – thể ấy Tác giả cũng có những nghiên cứu sơ bộ về các tiền phó

từ: đã, đang, sẽ, từng, còn, chưa, vừa, mới Nguyễn Minh Thuyết nhận định

ba tiền phó từ cơ bản có thể dùng trong mọi thời điểm của quá khứ, hiện tại,

tương lai Nghĩa là đã cũng có thể dùng trong hiện tại và tương lai; đang có thể dùng trong quá khứ và tương lai; sẽ có thể dùng trong quá khứ và hiện tại Hơn nữa, chúng còn biểu hiện ý nghĩa kết quả - hoàn thành: đã biểu thị ý nghĩa hoàn thành; đang biểu hiện ý nghĩa phi hoàn thành tiếp diễn, sẽ biểu

hiện ý nghĩa phi hoàn thành… và một số ý nghĩa tình thái khác

2.2 Quan niệm phủ định sự tồn tại của phạm trù thời trong tiếng Việt

Bên cạnh các quan niệm khẳng định tiếng Việt có phạm trù thời thìtrong giới nghiên cứu ngôn ngữ học còn tồn tại quan niệm đối lập hoàn toàn

Trang 13

khi phủ nhận sự tồn tại của phạm trù ngữ pháp này trong tiếng Việt Từ những

ý kiến đầu tiên của các tác giả M Grammông và Lê Quang Trinh (1911),Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm (1940), M B Emeneau (1951),Nguyễn Lân (1956), R B Johnes và Huỳnh Sanh Thông (1960)… cho đếncác ý kiến sau này của những tác giả như Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu,Nguyễn Đức Dân (1996) và đặc biệt phải kể đến Cao Xuân Hạo (1998), haynhư Nguyễn Ngọc Thanh (2000), Phan Thị Minh Thúy (2002), Phạm QuangTrường (2003)… trên cơ sở căn cứ vào những đặc điểm riêng của tiếng Việt,các tác giả này đi tới xu hướng khẳng định: động từ trong tiếng Việt không cóphạm trù thời Chính sự bất đồng ý kiến này đã dẫn đến cuộc bút chiến căngthẳng giữa Cao Xuân Hạo và Panfilov trên tạp chí Ngôn ngữ

Theo Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm (1940), tiếng động tự

cũng như các tự loại khác không biến đổi hình Bởi vậy, khi dùng một mình thì nó chỉ biểu diễn cái ý nói về cái dụng mà thôi Trong tiếng Việt, vì vậy

không có phạm trù thời Khi muốn diễn đạt một sự việc đã hoàn thành, người

ta dùng đã trước động từ và rồi, xong sau động từ Khi muốn diễn đạt một sự

việc đang tiếp diễn (kể cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai), thì người ta

dùng các phó từ đang hay đương đặt trước động từ Các tác giả không công nhận tác dụng của những từ đã, đang, sẽ trong việc biểu thị ý nghĩa thời [20,

tr.34]

R B Rones & Huỳnh Sanh Thông (1960) trong cuốn sách Introduction

to Spoken Vietnamese khẳng định: “Phần lớn động từ tiếng Việt không có

phạm trù thời, nhưng có hai cách thể hiện thời khi cần thiết là: 1) Sử dụng trật

tự các mệnh đề; và (2) Sử dụng các trợ động từ như sẽ chỉ thời gian tương lai

và có để chỉ thời quá khứ” [20, tr.35]

Nguyễn Kim Thản thì lại khẳng định: “Động từ tiếng Việt không có

phạm trù thời, không nên cho rằng các phó từ đã, đang, sẽ…biểu thị phạm trù

thời của

Trang 14

động từ và phạm trù thời không phải là phạm trù ngữ pháp đặc biệt của động

từ tiếng Việt Đã, đang, vừa, mới, từng, sắp, sẽ… là những từ chỉ thể - thời, tức chỉ sự tiến hành hay hoàn thành trong thời gian và việc sử dụng những phó từ

Đỗ Hữu Châu khi nghiên cứu về Cấu trúc hình thức của biểu thức chỉ

xuất thời gian trong tiếng Việt cho rằng: “Tiếng Hán, tiếng Việt và nhiều

ngôn ngữ trên thế giới không biến đổi hình thái học của động từ, cũng không

có những hư từ lập thành một hệ thống bắt buộc đi kèm với các động từ nên

không có phạm trù thời; ba phó từ đã, đang, sẽ không phải là các phó từ biểu

hiện ý nghĩa quá khứ, hiện tại, tương lai mà biểu thị ba hướng đi trước, trùnghợp và đi sau của sự kiện được chỉ xuất E đối với thời điểm chiếu vật R Ba từ

đã, đang, sẽ của tiếng Việt chỉ có ý nghĩa quá khứ, hiện tại tiếp diễn, tương lai

khi R trùng với S (S: thời điểm nói)” [1] Như vậy, ta có thể nhận ra rằngquan điểm về thời của Đỗ Hữu Châu là quan niệm về thời theo nghĩa hẹp vàtác giả chỉ công nhận thời tuyệt đối

Đại diện tiêu biểu khi kiên quyết phủ định phạm trù thời trong tiếngViệt là Cao Xuân Hạo Tác giả đã bày tỏ quan điểm của mình trong bài viết

Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt Ông khẳng định: “Trong tiếng Việt

không có phạm trù thời, các từ đã, đang, sẽ không phải là công cụ biểu thị ý

Trang 15

nghĩa thời” [12] Tác giả chỉ thừa nhận ý nghĩa tình thái của chúng và gọi đó

là những vị từ tình thái Nhưng tác giả vẫn công nhận ý nghĩa thời của phụ từ

Trang 16

sẽ, cho đây là vị từ tình thái có ý nghĩa thời gian duy nhất Đồng thời, nhà

nghiên cứu đã chứng minh rằng đã, đang, sẽ, đứng độc lập với nhau thì chúng

không có ý nghĩa thời nhưng khi chúng kết hợp với nhau thì chúng lại biểu thị

ý nghĩa thời gian thuần túy Quan niệm của Cao Xuân Hạo như trên cũng làquan niệm thời theo nghĩa hẹp

Tóm lại, khi nghiên cứu về phạm trù thời trong tiếng Việt và ý nghĩa

các phụ từ thời gian như: đã, sẽ, đang, vừa, mới, từng, sắp…có hai xu hướng

đối lập nhau Sở dĩ có những quan điểm khác nhau như trên là do các nhànghiên cứu đã dựa trên các căn cứ khác nhau (quan niệm thời theo nghĩa hẹp

và quan niệm thời theo nghĩa rộng; hoặc chỉ chấp nhận thời tuyệt đối hoặcchấp nhận có cả thời tuyệt đối và thời tương đối) và từ đó đưa ra những ý kiếnkhác nhau để khẳng định cho quan điểm của mình

Song chúng ta cần thấy rằng, tiếng Việt là loại ngôn ngữ không biếnđổi hình thái, nó khác với ngôn ngữ Ấn – Âu Việc xem xét sự tồn tại của mộtphạm trù ngữ pháp nào đó phải căn cứ vào đặc điểm riêng của ngôn ngữ tiếngViệt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt xét trên ba bìnhdiện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng nhằm cung cấp một cái nhìn vừa tổngthể vừa chi tiết về đặc điểm, chức năng của nhóm từ này trên từng bình diện

cụ thể Từ đó, ta có thể phân biệt được nhóm phụ từ chỉ thời gian với các từđồng âm của chúng và đặc biệt là thấy được vai trò quan trọng của nhóm phụ

từ chỉ thời gian ở các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng khi đặttrong câu

Trang 17

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết chung nhất về phạm trù ngữ pháp,phạm trù thời và ý nghĩa thời gian, vấn đề “thời” trong tiếng Việt, hư từ,nhóm phụ từ; đặc biệt là đi sâu nghiên cứu nhóm phụ từ chỉ thời gian trongtiếng Việt để làm rõ tương quan vị trí, đặc điểm, vai trò và chức năng của nótrong hệ thống ngôn ngữ; nghiên cứu ba bình diện ngôn ngữ là ngữ pháp, ngữnghĩa và ngữ dụng để làm cơ sở lí luận cho đề tài

- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích các phụ từ chỉ thời gian trongcác sáng tác của Nam Cao để thấy được chức năng của nhóm phụ từ chỉ thờigian trong tiếng Việt xét trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụngđược coi là nhiệm vụ trọng tâm của khóa luận

4 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếngViệt xét trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong khóa luận này, để tìm ra những dẫn chứng xác đáng nhằm chứngminh cho những kết quả đạt được, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu, khảo sát

nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt: sắp, sẽ, đang, vừa, mới, từng,

đã,… trong Tuyển tập Nam Cao tập 1 (2005), Nxb Văn học và các ví dụ tiêu

biểu trong thực tế giao tiếp hằng ngày

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích miêu tả ngôn ngữ: phương pháp này được sửdụng nhằm phân tích những ngữ liệu mà chúng tôi thống kê để hiểu nhữngkhía cạnh khác nhau của vấn đề Đồng thời, đây là phương pháp hữu hiệu cótác dụng giải thích, tường minh hóa chức năng của bình diện ngữ pháp, ngữnghĩa và ngữ dụng trong quá trình nghiên cứu

Trang 18

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: khi nghiên cứu nhóm phụ từ chỉ

thời gian: sắp, sẽ, đang, vừa, mới, từng, đã,…trong tiếng Việt, chúng tôi luôn

đặt trong ngữ cảnh nhất định, trong đơn vị của diễn ngôn (câu) Chính ngữcảnh sẽ chi phối chức năng của nhóm phụ từ này Do đó, chúng tôi sử dụngphương pháp phân tích diễn ngôn để làm rõ từng chức năng ngữ pháp, ngữnghĩa và ngữ dụng của nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số thủ pháp như sau:

- Thủ pháp thống kê, phân loại: thống kê các ngữ liệu có sử dụng phụ

từ chỉ thời gian: sắp, sẽ, đang, vừa, mới, từng, đã,…, sau đó chúng tôi tiến

hành xử lí, phân loại các phụ từ này theo những dạng thức khác nhau

- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: so sánh, đối chiếu cách biểu thị thời giantrong ngôn ngữ có thời (tiếng Anh) với cách biểu thị ý nghĩa thời gian củatiếng Việt

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nguồn ngữ liệu, nộidung chính của khóa luận được trình bày trong hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Ở chương này, chúng tôi trình bày về những vấn đề lí thuyết chungnhất về phạm trù ngữ pháp, phạm trù thời và ý nghĩa thời gian, vấn đề “thời”trong tiếng Việt, hư từ, nhóm phụ từ, phụ từ chỉ thời gian; lí thuyết ba bìnhdiện

Đó là tiền đề, cơ sở lí luận để chúng tôi khảo sát, phân loại đưa ra kếtquả ở chương 2

Chương 2: Chức năng ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt

Trong phần này, chúng tôi đưa ra bảng khảo sát nhóm phụ từ chỉ thời

gian xuất hiện trong Tuyển tập Nam Cao, tập 1 (2005), Nxb Văn học; những

Trang 19

dẫn chứng, ví dụ cụ thể; sau đó sẽ đi vào phân tích nhằm chứng minh chứcnăng của nhóm phụ từ chỉ thời gian trong tiếng Việt xét trên ba bình diện ngữpháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Từ đó, chúng tôi đưa ra kết luận về vấn đề này

để có thể thuyết phục tối đa độc giả

Trang 20

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái quát ba bình diện trong ngôn ngữ học

Lí thuyết ba bình diện của tín hiệu còn được gọi là lí thuyết tam diện.Bản chất của ngôn ngữ học là tín hiệu F De Saussure là người đầu tiên nhận

ra và phát biểu về ngôn ngữ con người như một hệ thống tín hiệu Ngôn ngữ

tự nhiên chỉ là một trong số các hệ thống tín hiệu với những mức độ phức tạpkhác nhau như: hệ thống tín hiệu giao thông, ngôn ngữ nhân tạo logic, ngônngữ toán học, tin học, lập trình, ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật, hệthống tín hiệu giao tiếp của động vật Khoa học nghiên cứu về các hệ thốngtín hiệu được gọi là tín hiệu học Mục đích của tín hiệu học là hình thành líthuyết đại cương về tín hiệu trong các hình thức thể hiện khác nhau củachúng Sau này, Charles Sanders Peirce là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ tínhiệu học và xác định các nguyên tắc chính của tín hiệu học Tuy nhiên, việc

hệ thông hóa các cơ sở lí thuyết và phương pháp của tín hiệu học lại là nhàkhoa học người Mĩ, Charles William Morris vào đầu thế kỉ XX

Quá trình tín hiệu hóa ở các trường hợp cụ thể rất đa dạng nhưng cóchung một cấu trúc gồm 3 phần:

+ Cái biểu đạt: sự vật hoặc hiện tượng có tư cách tín hiệu

+ Cái được biểu đạt: cái được tín hiệu chỉ ra hoặc biểu thị

+ Người tạo lập hoặc người sử dụng: người dùng tín hiệu

Từ nhận định trên, tín hiệu học được phân thành ba bình diện: kết học,nghĩa học và dụng học

1.1.1 Bình diện kết học

Kết học (syntax) là bình diện của quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu, củacác quy tắc hình thức liên kết các tín hiệu thành một thông điệp Chúng ta biếtrằng trong một hệ thống tín hiệu (từ tín hiệu đèn xanh đến tín hiệu đèn đỏ),

Trang 21

các tín hiệu liên kết với nhau theo bất kì quy tắc nào nhưng không phải lúcnào cũng cho ta một thông điệp có thể lĩnh hội, hiểu được Kết học là lĩnh vựccủa các quy tắc hình thức kết hợp với tín hiệu thành một thông điệp (có thể làquy tắc tuyến tính hay quy tắc đồng thời tùy theo thể chất của từng hệ thốngtín hiệu) Như vậy, kết học là lĩnh vực nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu vớitín hiệu trong thông điệp Ngoài ra, kết học còn nghiên cứu quan hệ giữa tínhiệu với tín hiệu trong cấu tạo của tín hiệu phức tạp (ví dụ: quan hệ giữa cáchoạt động trong một buổi lễ bế giảng, lễ tốt nghiệp, lễ cưới, lễ đính hôn…)

Theo Charles William Morris, cấu trúc kết học tổ chức ba loại tín hiệuphân loại theo sự tương ứng của chúng với sự vật đó là:

+ Các chỉ hiệu quy chiếu (sở chỉ) một sự vật duy nhất

+ Các định hiệu chỉ đa số các sự vật và có thể kết hợp với các tín hiệu

có dụng tường minh hóa hoặc hạn chế cách sử dụng chúng

+ Các tín hiệu phổ quát, đây là những tín hiệu chỉ tất cả mọi thứ và cóthể đi vào quan hệ với tất cả các tín hiệu khác Đây là các từ chỉ các phạm trù,quan hệ khái quát, thuộc logic, thường dùng để giải nghĩa các từ, câu… Ví dụ:

sự vật, tính chất, trạng thái, vận động, tập hợp, quan hệ… Những từ này tuyhình thức ngữ âm khác nhau trong ngôn ngữ nhưng cái được biểu thị thì đồngnhất với mọi ngôn ngữ [1, tr 52]

Morris đã dành khá nhiều trang cho sự phân tích chiều kết học củangôn ngữ xét theo quan niệm tín hiệu học Theo quan điểm này thì các câuđều gồm một tín hiệu chế ngự và những tín hiệu loại biệt hóa Mọi sự trìnhbày lại một sự vật hay một sự kiện đều đòi hỏi hai việc: thứ nhất là sự định vị,thứ hai là việc dẫn ra các đặc tính quan yếu của chúng Hai việc này phảiđược thực hiện song song, cùng lúc với nhau Ta có thể nhận thấy rằng,những kết hợp đi sau là một lời tuyên bố hay một niềm tin ở những mức độvững chắc khác nhau

Trang 22

Trong ngôn ngữ nói, ngữ điệu, chỗ ngừng, trọng âm đảm nhiệm chứcnăng này và chỉ ra cách xác định quan hệ giữa các tín hiệu là quan hệ gì.Morris bước đầu đã nhận ra các yếu tố có tính ngữ dụng ngay trong lĩnh vựckết học.

1.1.2 Bình diện nghĩa học

Nghĩa học (semantics) là bình diện của mối quan hệ giữa tín hiệu và đốitượng trong hiện thực được biểu hiện Cũng không nên đồng nhất nghĩa họccủa tín hiệu học với ngữ nghĩa học thông thường vì đối tượng của ngữ nghĩahọc, ngữ nghĩa được hiểu rộng rãi và khá mơ hồ thì nghĩa học của tín hiệu họcchỉ quan tâm tới những nội dung miêu tả nào đánh giá được tiêu chuẩn đúng,sai của logic học Cho ví dụ sau:

Trời mưa (i)

Trời cứ mưa (ii)

Trong hai ví dụ này thì nghĩa học chỉ quan tâm đến nội dung miêu tảcủa câu (ii) vì chúng ta có thể kết luận được nó đúng hay sai Khi nói (ngoàitrời đang mưa thì (ii) đúng, trời đang nắng hoặc đang mưa thì (ii) sai) mà

không quan tâm tới tình trạng “mưa cứ tiếp tục bất chấp sự cứ bực dọc, khó chịu vì nó của người nói” do từ cứ diễn đạt Ngữ nghĩa học trái lại không chỉ

nghiên cứu nghĩa miêu tả của (ii) mà còn nghiên cứu nghĩa “tình thái” của từnói ở trên [2, tr.10]

Nghĩa học là lĩnh vực của thông tin miêu tả, thông tin sự vật, của nhữngmối quan hệ giữa tín hiệu với cái được biểu thị và cái được sở chỉ Morrisphân biệt giữa nghĩa học thuần túy với nghĩa học miêu tả Nghĩa học thuầntúy quan tâm đến các khái niệm và các lí thuyết cần thiết để có thể xử lí chiềunghĩa học trong quá trình tín hiệu hóa Nghĩa học miêu tả nghiên cứu nghĩahọc trong những ngôn ngữ cụ thể mà nghĩa học trong ngôn ngữ đó có thể xemnhư một trường hợp xuất hiện của nghĩa học khái quát Nghĩa học vừa phải

Trang 23

làm thế nào để nói đến các ngôn ngữ, đối tượng của một thứ nghĩa học siêungôn ngữ, vừa có thể xử lí mối quan hệ giữ tín hiệu cụ thể với sự vật, đốitượng của chúng.

Những quy tắc nghĩa học liên kết tín hiệu với các tình huống được tínhiệu đó biểu thị Quy tắc nghĩa học có dạng tổng quát như sau: “x” biểu thịnhững điều kiện a, b, c, theo những điều kiện đó, nó có thể được vận dụng.Nêu ra các điều kiện cho ta quy tắc nghĩa học của “x” Tất cả các sự vật haytình huống thỏa mãn các điều kiện đó đều được sở chỉ bởi “x” Thí dụ: điềukiện a, b, c lần lượt là “vận động”, “tác động đến sự vật nặng”, “làm cho nódời chỗ theo đường thẳng trên mặt nền”, “bằng cách đặt tay vào vật và dùngsức của bản thân chủ thể vận động tác động vào vật theo phương nằm ngangsong song với mặt nền” [1, tr 54] Chúng ta nhận ngay ra rằng đó là nghĩacủa tín hiệu “đẩy” trong tiếng Việt

1.1.3 Bình diện dụng học

Theo Morris định nghĩa thì dụng học (pragmatics) nghiên cứu mối quan

hệ giữa tín hiệu với người dùng, người lí giải chúng Nhà ngôn ngữ chỉ rarằng cần phải biết quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu và quan hệ giữa tín hiệuvới sự vật thì mới có thể xem xét quan hệ giữa tín hiệu với người lí giải được.Quan niệm đó được hiểu là kết học, nghĩa học và dụng học là ba lĩnh vực táchrời nhau, dụng học chỉ bước cuối cùng sau khi đã có kết quả của kết học vànghĩa học Hơn thế nữa, ông cũng phân biệt dụng học thuần túy và dụng họcmiêu tả; trong đó dụng học thuần túy hướng đến xây dựng một “ngôn ngữ” cóthể dùng để nói về chiều dụng học của tín hiệu hóa Những khái niệm cơ bản

mà dụng học thuần túy phải bàn đến là các khái niệm như: người lí giải, cái lígiải, quy ước, đảm nhiệm, kiểm chứng, hiểu

Ta cần làm rõ hơn khái niệm “người dùng” Đó là thuật ngữ không chỉmột con người trừu tượng, cô lập Trong một hoạt động giao tiếp, “người

Trang 24

dùng” vừa là “người phát” vừa là người nhận tín hiệu, chúng có quan hệ vớinhau, thường xuyên tác động qua lại với nhau trong một ngữ cảnh nhất định.Những điều này khiến cho khái niệm “người dùng” trở nên phức tạp; vì vậyđịnh nghĩa “dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người dùng”trở nên chưa đầy đủ Sau đó, chính Morris đã sửa lại định nghĩa trở nên toàndiện hơn “Dụng học là bộ phận của tín hiệu học nghiên cứu nguồn gốc, cáchdùng và tác dụng của tín hiệu trong khuôn khổ của hành vi, nghĩa học nghiêncứu ý nghĩa của tín hiệu xét theo mọi góc độ của nó, kết học nghiên cứu sự tổhợp các tín hiệu mà không quan tâm tới ý nghĩa riêng biệt hay quan hệ củachúng với hành vi trong đó chúng xuất hiện” [2, tr.11]

F Armengaud cho rằng: Dụng học là một môn học trẻ, là điểm quy tụcủa nhiều khoa học xã hội với đường ranh giới mơ hồ…Điều này nhằm trả lời

cho các câu hỏi đại loại như: Chúng ta làm gì khi chúng ta nói? Chúng ta thực

sự nói gì khi chúng ta nói? Tại sao chúng ta lại hỏi người bạn cùng bàn ăn với

mình rằng anh (chị) ta có thể lấy giúp ta khăn giấy không trong khi hiển nhiên

họ hoàn toàn có thể làm điều đó? Ai nói với ai? Ai nói và nói cho ai? Chúng ta

cần biết những gì để cho câu nói này hay câu nói khác không còn mơ hồ nữa?Người ta có thể nói một điều khác với điều người ta muốn nói thế nào? Người

ta có thể tin vào nghĩa câu chữ của lời nói được không? Những công dụng củangôn ngữ là gì? Trong chừng mực nào hiện thực của con người được xác địnhbởi năng lực ngôn ngữ của con người? [2, tr.12]

Có thể nói, những câu hỏi của F Armengaud tuy chưa nêu được đầy

đủ những vấn đề cốt lõi, chủ yếu của ngữ dụng học hiện nay nhưng phần nào

đã giúp chúng ta hình dung được một cách cụ thể thế nào là dụng học và cảmnhận được sự húng thú của bộ môn học mới này Trả lời được những câu hỏinày, ngôn ngữ học dần bước ra khỏi cấu trúc luận nội tại do F De Sausurekhởi xướng

Trang 25

1.2 Phạm trù ngữ pháp

1.2.1 Khái niệm

Ngôn ngữ là một hệ thống, trong đó các yếu tố không tồn tại rời rạc,biệt lập mà có quan hệ chặt chẽ với nhau Quy định sự tồn tại và giá trị củanhau Phạm trù ngữ pháp có ý nghĩa, đặt trong mối thống nhất mà đối lập vớinhau Các ý nghĩa của ngữ pháp có quy định quan hệ lẫn nhau Vì vậy tuy cóđối lập nhưng lại thống nhất với nhau Loại ý nghĩa ngữ pháp chung bao trùmlên ít nhất hai ý nghĩa ngữ pháp bộ phận đối lập nhau, như vậy chính là phạmtrù ngữ pháp

V B Kasevich (1977) quan niệm: “Phạm trù ngữ pháp kể cả phạm trùphân loại lẫn phạm trù cấu tạo hình thái – đều là thể thống nhất của nội dungngữ pháp và sự biểu hiện ngữ pháp” [20, tr.10]

Theo Bùi Minh Toán: “Phạm trù ngữ pháp là một thể thống nhất giữa ýnghĩa ngữ pháp và các hình thức biểu hiện nó” [2, tr.75]

Còn theo Nguyễn Thiện Giáp: “Phạm trù ngữ pháp là lớp của những ýnghĩa ngữ pháp liên hợp lại với nhau trong hệ thống những vế đối lập Lớpcủa những ý nghĩa này bao gồm những đơn vị hình thức khác nhau hoặc vềmặt phương thức ngữ pháp, hoặc về mặt khả năng kết hợp có tác dụng phânloại” [9]

Mỗi ý nghĩa ngữ pháp tạo cơ sở cho việc hình thành một phạm trù ngữpháp Tất nhiên những ý nghĩa ngữ pháp này phải được biểu hiện bằng hìnhthức ngữ pháp thuộc về những phương thức ngữ pháp nhất định

V

í d ụ :

Trong tiếng Việt, tất cả các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, kháiniệm… tạo thành phạm trù danh từ trên cơ sở có cùng một ý nghĩa ngữ pháp(ý nghĩa sự vật và hình thức ngữ pháp thống nhất ở khả năng kết hợp với các

từ mang ý nghĩa chỉ số lượng và khả năng làm vị ngữ với từ là).

Trang 26

Mỗi phạm trù ngữ pháp là sự tập hợp của một số đơn vị ngữ pháp trên

cơ sở có cùng chung một ý nghĩa ngữ pháp Các ý nghĩa ngữ pháp này có thểđược phân tách thành một số phương diện đối lập Chẳng hạn, phạm trù giốngbao gồm: giống đực, giống cái và có thể là giống trung; phạm trù số bao gồm:

số ít, số nhiều,…

1.2.2 Điều kiện hình thành

Điều kiện hình thành một phạm trù ngữ pháp là phải tồn tại trong ngônngữ một ý nghĩa ngữ pháp mà nó được biểu hiện bằng hình thức ngữ pháp cụthể Cả ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp đó phải có ở tất cả các yếu tốcủa cùng một phạm trù, trong mọi trường hợp xuất hiện của các yếu tố đó.Nghĩa là chúng phải có tính đồng loạt và tính bắt buộc

Một phạm trù ngữ pháp có thể bao gồm trong thành phần của mình mộtvài phạm trù nhỏ hơn, có ý nghĩa khái quát thấp hơn và bao trùm một phạm vihẹp hơn

V

í d ụ :

Dạng thức kniga (tiếng Nga: sách) có các ý nghĩa thuộc phạm trù: số

(số ít), giống (giống cái), cách (chủ cách) Ở tiếng Việt, có quan niệm cho

rằng “dạng láy” của từ thường biểu hiện ý nghĩa về số lượng nhiều (người

người, nhà nhà, gật gật…).

Trang 27

- Phạm trù các từ loại: một từ trong ngôn ngữ, tùy thuộc vào đặc điểmtrong ý nghĩa khái quát và trong hoạt động ngữ pháp lại thuộc về phạm trù từloại hoặc tiểu loại nhất định Ví dụ các phạm trù danh từ, động từ, tính từ, số

từ, đại từ, phụ từ,…

- Phạm trù các chức năng ngữ pháp của từ: khi cấu tạo cụm từ hoặccâu, mỗi từ có một chức năng ngữ pháp nhất định Những từ có cùng chứcnăng ngữ pháp như nhau thì hợp thành một phạm trù Đối với câu, phạm trù

có thể gọi là phạm trù các thành phần câu

V

í d ụ : phạm trù chủ ngữ, phạm trù vị ngữ, phạm trù trạng ngữ, phạmtrù bổ ngữ,…

- Phạm trù các loại hình kết cấu ngữ pháp: các đơn vị ngữ pháp (từ,cụm từ, câu) có cùng một kiểu cấu tạo ngữ pháp, do đó thường có cùng mộtloại ý nghĩa ngữ pháp, cũng hợp thành một phạm trù ngữ pháp

V

í d ụ: phạm trù từ đơn, phạm trù từ ghép, phạm trù cụm từ chính phụ,phạm trù câu đơn, phạm trù cụm động từ ban phát,… [35, tr.16]

1.2.4 Phạm trù thời và ý nghĩa thời gian

Trang 28

Theo B Comrie (1978) quan niệm: “Thời biểu thị thời gian của sự tìnhtrong sự đối chiếu với các thời điểm khác, thường là với thời điểm phátngôn” [20, tr.11]

Còn W Frawley (1992) thì cho rằng: “Thời thực hiện việc định vị một

sự tình so với một điểm quy chiếu được coi là cố định trong thời gian rồi nêu

rõ mối quan hệ giữa sự tình và cái trung tâm điểm thời gian đó bằng cách chỉ

ra một cái hướng và một khoảng cách nào đó” [20, tr.11]

Từ mối quan hệ của thời điểm diễn ra sự kiện với thời điểm quy chiếu,

các nhà nghiên cứu đặt ra vấn đề phân biệt hai loại thời: thời tuyệt đối và thời

tương đối Nhìn chung sự phân loại này là thống nhất trong giới nghiên cứu

W Frawley (1992) thì quan niệm sự phân chia hai thời cơ bản như trên

là tương ứng với sự phân chia thời gian chủ quan và thời gian khách quan.

[20, tr.12]

Về sự phân chia các thời, có lẽ Từ điển Asher (1994) là trình bày cụ thể

hơn cả Nhìn chung, sự phân chia này bắt nguồn từ quan niệm về sự quy chiếu

và mối quan hệ giữa thời gian diễn ra tình huống với điểm quy chiếu Nhữngthời sử dụng thời điểm phát ngôn làm thời điểm quy chiếu được gọi là thờituyệt đối Có thể phân biệt ba thời tuyệt đối:

- Thời hiện tại tuyệt đối: E trùng với S

- Thời quá khứ tuyệt đối: E đi trước S

Trang 29

- Thời tương lai tuyệt đối: E đi sau S

Trong các công thức trên, E là thời gian của sự kiện, S là thời điểm phát

Ngược lại, những thời không sử dụng thời điểm phát ngôn làm thờiđiểm quy chiếu được gọi là thời tương đối Có thể phân biệt ba thời tươngđối:

- Thời hiện tại tương đối: E trùng với R

- Thời quá khứ tương đối: E đi trước R

- Thời tương lai tương đối: E đi sau R

Trong các công thức trên, E là thời gian của sự kiện, R là điểm quychiếu [20, tr.13]

Không xa lạ với các nhà nghiên cứu nước ngoài, Nguyễn Minh Thuyết(1998) khẳng định: “Thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệgiữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định nêu

ra trong lời nói” Khi phạm trù thời biểu thị quan hệ giữa hành động với thờiđiểm phát ngôn, ta gọi đó là thời tuyệt đối Còn khi phạm trù thời biểu thịquan hệ giữa hành động với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói, tagọi đó là thời tương đối [9, tr 234 – 235]

1.2.4.2 Ý nghĩa thời gian

Theo Từ điển tiếng Việt, thời gian được hiểu là “hình thức tồn tại cơ

bản của vật chất diễn biến một chiều theo ba trạng thái là quá khứ hiện tại

-tương lai” Thời gian có ba thuộc tính cơ bản là tính khách quan, tính vĩnh

cửu và tính đơn chiều Nghĩa là thời gian tồn tại ngoài ý muốn của con người,

tồn tại mãi mãi và một đi không trở lại Tuy nhiên, con người lấy mình làmtrung tâm, họ thể hiện thời gian trong những sáng tạo tinh thần của mìnhkhông phải bao giờ cũng trùng với thời gian trong hiện thực khách quan

Trang 30

Chẳng hạn như, thời gian trong văn học và điện ảnh là thứ thời giancảm nhận bằng tâm lí và mang ý nghĩa thẩm mĩ Thời gian ở đây không cótính khách quan và tính đơn chiều Sự nhanh, chậm, lâu, mau của thời gian dotâm trạng con người quyết định Nếu mang những quy luật của thời giankhách quan vào nghiên cứu thời gian trong thơ, ta sẽ không thể cắt nghĩa nổi

vì sao có thể viết: Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài

ghê (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Trong điện ảnh, người ta không nhất thiết

phải làm phim theo trình tự con người sinh ra rồi lớn lên, trưởng thành, già đi

và chết… Nói như thế có nghĩa là, đại lượng vật chất có thể bất biến, đa chiềutrong văn học và điện ảnh

Đối với ngôn ngữ, nó dĩ nhiên chịu sự tác động của quy luật thời giannói chung nhưng cũng phản ánh các đặc tính của thời gian theo cách riêng có.Thời gian ngôn ngữ là thời gian do ngôn ngữ tạo ra, chỉ có trong ngôn ngữ

Ảnh hưởng của thời gian tới ngôn ngữ trước hết thể hiện ở tính hìnhtuyến mà F Saussure đã tìm ra: Các yếu tố ngôn ngữ không thể đồng thờixuất hiện, mà phải lần lượt kế tiếp nhau thành một chuỗi, theo trục thời gian.Tính hình tuyến chi phối rất nhiều quy tắc vận hành của ngôn ngữ, đặc biệt làchi phối trật tự sắp xếp các từ và câu

Hơn thế nữa, thời gian còn thể hiện ở kho từ vựng của mỗi ngôn ngữ

Ở đó, ngôn ngữ nào cũng có một hệ thống các từ chỉ thời gian với các nguyên

tắc riêng Trong tiếng Việt, đó có thể là các từ chỉ đoạn: giây, phút, giờ, sáng,

chiều, tối, ngày, tháng, năm,…; các từ chỉ khoảng cách giữa các thời điểm

như: xưa nay, bấy nay, lâu nay,…; các từ chỉ tính chất của thời gian như:

nhanh, chậm, lâu, mau,…; cũng có thể dùng các thực từ chỉ thời gian như: hôm nay, ngày mai, bây giờ, năm ngoái,…; hoặc cũng thường dùng các phụ

từ chỉ thời gian như: đã, sẽ, đang, vừa, mới, từng, sắp,…

Trang 31

Ta nhận thấy rằng, cách diễn đạt bằng phương tiện từ vựng rất phongphú và cụ thể Nếu như phạm trù thời trong ngữ pháp học chỉ cho ta biết hànhđộng diễn ra trong quá khứ, hiện tại hay tương lai thì các phương tiện từ vựngcho ta biết chi tiết về thời điểm diễn ra hành động.

V

í d ụ :

Năm trước, tôi đã đi thực tế ở các tỉnh miền Trung (Khẩu ngữ)

Như vậy, sự việc đi thực tế ở các tỉnh miền Trung đã diễn ra và kết thúc

trước thời điểm phát ngôn, và ta biết đây là thời quá khứ Yếu tố từ vựng cụ

thể (năm trước) cho ta biết thời điểm cụ thể mà tôi đi thực tế ở miền Trung.

Ngoài phương tiện từ vựng thì ngữ cảnh và sự suy luận logic cũng cho

ta biết ý nghĩa về thời gian Diễn biến một trận bóng đá được người khác kể

lại cho ta biết trận đấu đã diễn ra rồi Hay một câu hỏi như: Bao giờ con lên

trường? nghĩa là con chưa lên trường…

Nói tóm lại, thời gian được phản ánh vào trong ngôn ngữ bằng nhiềuhình thức đa dạng Thời gian tác động đến nhiều mặt của ngôn ngữ như: cụm

từ, nghĩa của câu, tổ chức phát ngôn, tổ chức diễn ngôn, phạm trù thời,…Khónhận biết hơn nhưng lại đóng vai trò vô cùng quan trọng là việc ý nghĩa thờigian biểu hiện thông qua phạm trù thời và thể của động từ Đó chính là thờigian ngữ pháp

1.2.5 Vấn đề “thời” trong tiếng Việt

Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập - âm tiết tính, có đặc trưngnổi bật là từ không biến đổi hình thái Vì vậy, xoay quanh vấn đề “Có haykhông phạm trù thời trong tiếng Việt?” vẫn còn nhiều tranh luận

Trong Việt ngữ nghiên cứu, Phan Khôi hiển nhiên công nhận sự tồn tại

của phạm trù thời trong tiếng Việt, chỉ có điều, theo ông phạm trù này khácvới ngôn ngữ Ấn – Âu: “Không có thể nói được rằng về động từ tiếng Việtkhông chia thì, mà phải nói rằng tiếng Việt chia thì của động từ bằng một

Trang 32

cách khác với mấy thứ tiếng châu Âu, là dùng một số phó từ đặc biệt” Ôngcũng lí giải thêm rằng: “Sở dĩ tiếng Việt không chia thì như kiểu Pháp, vì nó

là thứ tiếng đơn âm, chữ nào chết chữ ấy, không có biến hóa như tiếng Pháp,cho nên phải tìm lối khác mà chia, không chia như tiếng Pháp được” [16, tr

111 - 112]

Đồng tình với quan điểm tiếng Việt tồn tại phạm trù thời là các nhàngôn ngữ như: Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, V X Panfilov, NguyễnVăn Thành, Nguyễn Minh Thuyết, Đinh Văn Đức,…dù căn cứ để đi đến côngnhận sự tồn tại của phạm trù thời trong tiếng Việt của các tác giả là khác nhau

Ngược lại với quan niệm trên, một số tác giả nghiên cứu về vấn đềnày, chủ trương rằng trong tiếng Việt không tồn tại phạm trù thời Tiêu biểu

là Nguyễn Đức Dân (1996), Cao Xuân Hạo (1998), Nguyễn Ngọc Thanh(2000), Phan Thị Minh Thúy (2002), Phạm Quang Trường (2003),…

Trong số các tác giả cho rằng tiếng Việt có phạm trù thời tồn tại baluồng ý kiến: tiếng Việt có ba thời (quá khứ - hiện tại – tương lai); tiếng Việt

có hai thời (tương lai – phi tương lai); tiếng Việt có một thời (thời được chỉ ranhờ ngữ cảnh chung hoặc nhờ một số quán ngữ thời gian)

Chúng tôi đồng tình với quan niệm tiếng Việt có ba thời của các tácgiả Phan Khôi (1955), Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Đào Thản(1979), Lê Quang Thiêm (1989), Nguyễn Văn Thành (1992),…

Đào Thản đã đưa ra danh sách các phó từ biểu thị thời của tiếng Việt

Theo tác giả, đã biểu thị quá khứ, đang biểu thị hiện tại, sẽ biểu thị tương lai,

vừa, mới tuy cũng thuộc thời quá khứ nhưng lại ở sát giao điểm với thời hiện

tại, sắp thuộc thời tương lai ở sát giao điểm với thời hiện tại [25, tr 42] Qua

danh sách này, ta thấy sự phân chia ba thời rõ ràng là quá khứ hiện tại tương lai

Trang 33

-1.3 Hư từ

1.3.1 Khái niệm

Trong tiếng Việt, khái niệm hư từ được hiểu theo hai quan niệm:lưỡng phân và tam phân Quan niệm lưỡng phân chia tất cả vốn từ thành haiphạm trù: thực từ và hư từ, còn quan niệm tam phân thì chia từ vựng thành baloại: thực từ, hư từ và ngữ khí từ (tình thái từ)

Theo quan niệm lưỡng phân, hư từ được hiểu là đối lập với thực từ đểmệnh danh vật, việc trong hiện thực khách quan, hư từ để chỉ tương quan giữacác ý niệm

Còn theo quan niệm tam phân, khái niệm hư từ có ngoại diên hẹp hơn

Hư từ là những từ không phải thực từ, không có ý nghĩa từ vựng, nhưng vẫn

có ý nghĩa ngữ pháp Còn tình thái từ thì không có cả ý nghĩa từ vựng và ýnghĩa ngữ pháp, không phải thực từ cũng không phải hư từ

Cùng với sự phát triển của ngữ nghĩa học, ngữ dụng học và ngữ pháp

chức năng, nhiều nhà nghiên cứu tiếng Việt quay trở lại với quan niệm lưỡng

phân, chia từ vựng thành hai phạm trù là thực từ và hư từ, trong đó hư từ bao

gồm ba tiểu loại: quan hệ từ, phụ từ, tình thái từ Như thế, các nhà ngôn ngữ

đã xem hư từ là một phạm trù rộng, đối lập với phạm trù thực từ

Như vậy, có thể thấy rằng hư từ trong tiếng Việt là lớp từ khác biệt vớithực từ, chúng không có ý nghĩa từ vựng và chức năng định danh như thực từ,thường không đảm nhiệm được vai trò thành phần ngữ pháp chính trong cụm

từ và câu nhưng lại thể hiện những ý nghĩa gắn với tổ chức hệ thống của ngônngữ (ý nghĩa ngữ pháp) hoặc liên quan mật thiết đến hoạt động hành chức củangôn ngữ (ý nghĩa tình thái, ý nghĩa thông báo) cùng với những chức năng điliền với các nghĩa đó

Trang 34

1.3.2 Chức năng

Trước đây, nhiều tác giả cho rằng hư từ chỉ có chức năng thể hiệnquan hệ ngữ pháp và các ý nghĩa ngữ pháp bổ sung cho thực từ Hư từ đượcquan niệm là phương tiện ngữ pháp đặc thù, quan trọng của tiếng Việt

Vào những thập niên cuối của thế kỉ XX, nhiều nhà nghiên cứu ngônngữ tiếng Việt trên cơ sở tiếp nhận lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ đãquan niệm hư từ có nhiều chức năng Không chỉ chức năng ngữ pháp, hư từcần được xem xét và nhìn nhận chức năng ngữ nghĩa và ngữ dụng Theo đó,

ta có thể xác định chức năng của hư từ tiếng Việt trên ba bình diện như sau:

- Chức năng ở bình diện ngữ pháp:

Hư từ tiếng Việt có thể làm từ chứng cho các loại thực từ, thể hiệnquan hệ và chức năng ngữ pháp của thực từ trong câu, bổ sung ý nghĩa ngữpháp cho thực từ và làm thành tố phụ trong ngữ Không chỉ vậy, hư từ còn cótác dụng đánh dấu tính vị ngữ và các chức vụ ngữ pháp trong câu Bên cạnh

đó, hư từ có vai trò phân biệt các kiểu câu khác nhau Hơn thế nữa, trong cácđoạn văn hay văn bản, hư từ còn làm phương tiện liên kết, tạo mạch lạc trongvăn bản

- Chức năng ở bình diện ngữ nghĩa:

Hư từ có vai trò quan trọng ở cả nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái củacâu Trong nghĩa miêu tả, hư từ bổ sung nghĩa cho vị tố và tham thể, làm dấuhiệu đánh dấu các vai nghĩa của sự tình mà câu biểu hiện Hư từ còn là cơ sở

để phân biệt các loại sự tình trong nghĩa miêu tả Với nghĩa tình thái, hư từ làphương tiện thể hiện tình thái khách quan lẫn tình thái chủ quan Đặc biệt, hư

từ tiếng Việt còn thể hiện tình thái liên nhân, thể hiện đặc điểm tri nhận trongvăn hóa của người Việt

- Chức năng ở bình diện ngữ dụng:

Xét ở bình diện ngữ dụng, hư từ tiếng Việt đảm nhiệm những chứcnăng như: làm dấu hiệu cho các hành động ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp,

Trang 35

làm dấu hiệu cho nghĩa hàm ẩn, làm kết tử, tác tử trong lập luận,…Trong cấutrúc đề thuyết và cấu trúc tin, hư từ có chức năng đánh dấu đề thuyết, phângiới tin mới và tin đã biết và nhấn mạnh tiêu điểm trong cấu trúc thông tin ởphát ngôn.

Các chức năng của hư từ tiếng Việt ở ba bình diện không tách rời,riêng rẽ mà tích hợp với nhau Vì thế, khi lĩnh hội hay hay phân tích cũng cần

có sự tiếp cận mang tính tích hợp về các chức năng của hư từ trong hoạt độnghành chức

1.4 Phụ từ

1.4.1 Khái niệm

Phụ từ là những hư từ chuyên dùng làm thành tố phụ trong các cụm từ

do thực từ làm trung tâm để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của thực từ

1.4.2 Đặc điểm

1.4.2.1 Ý nghĩa ngữ pháp

Phụ từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp

Nó thường đi kèm với thực từ (danh từ, động từ, tính từ) để bổ sung một số ýnghĩa ngữ pháp nhất định như: ý nghĩa thời gian, ý nghĩa mệnh lệnh, ý nghĩamức độ,…

1.4.3.1 Phụ từ chuyên đi kèm danh từ (định từ)

Đó là các phụ từ đi kèm và bổ sung ý nghĩa về số lượng cho danh từ

như: những, các, mỗi, mọi, từng, một,…

1.4.3.2 Phụ từ chuyên đi kèm động từ và tính từ (phó từ)

Dựa vào ý nghĩa sử dụng, người ta chia phó từ thành các loại:

Ngày đăng: 10/09/2019, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học tập 1, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
2. Đỗ Hữu Châu (2010), Đại cương ngôn ngữ học tập 2 – Ngữ dụng học, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học tập 2 – Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NxbĐại học Sư phạm
Năm: 2010
3. Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ngữ pháp ViệtNam
Tác giả: Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê
Năm: 1963
4. Nguyễn Đức Dân (1996), “Biểu hiện và nhận diện thời gian trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ (3), tr. 5 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu hiện và nhận diện thời gian trong tiếngViệt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1996
5. Nguyễn Đức Dân (1996), Lôgíc và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgíc và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
6. Hoàng Dũng – Bùi Mạnh Hùng (2003), “Vấn đề phạm trù thì trong tiếng Việt (qua một cuộc đối thoại)”, Ngôn ngữ (7), tr. 27 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phạm trù thì trong tiếngViệt (qua một cuộc đối thoại)”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Dũng – Bùi Mạnh Hùng
Năm: 2003
7. Lê Đông (1993), “Ngữ nghĩa – ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: Ý nghĩa đánh giá của các hư từ”, Ngôn ngữ (2), tr. 15 – 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa – ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: Ý nghĩađánh giá của các hư từ”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1993
8. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, từ loại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
9. Nguyễn Thiện Giáp – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết (1998), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
11. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
12. Cao Xuân Hạo (1998), “Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (5), tr. 1 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt”, "Ngônngữ
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Năm: 1998
13. Nguyễn Chí Hòa (2001), “Một vài suy nghĩ về ý nghĩa thời gian trong câu ghép tiếng Việt”, Ngữ học trẻ, tr. 59 – 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về ý nghĩa thời gian trong câughép tiếng Việt”, "Ngữ học trẻ
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Năm: 2001
14. Trịnh Thị Hiền (2001), “Cách dùng từ đã trong Truyện Kiều”, Ngữ học trẻ, tr. 382 – 383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách dùng từ "đã "trong "Truyện Kiều"”, "Ngữ họctrẻ
Tác giả: Trịnh Thị Hiền
Năm: 2001
15. Nguyễn Văn Hiệp (2003), “Cấu trúc câu tiếng Việt nhìn từ góc độ ngữ nghĩa”, Ngôn ngữ (2), tr. 26 – 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc câu tiếng Việt nhìn từ góc độ ngữnghĩa”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2003
16. Phan Khôi (1997), Việt Ngữ nghiên cứu, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Ngữ nghiên cứu
Tác giả: Phan Khôi
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
17. Nguyễn Lai – Văn Chính (1999), “Một vài suy nghĩ về từ hư từ góc nhìn dụng học”, Ngôn ngữ (5), tr. 49 – 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về từ hư từ góc nhìndụng học”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Lai – Văn Chính
Năm: 1999
18. Lê Thị Thúy Lan (2004), Phụ từ “đang” với việc biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ từ “đang” với việc biểu hiện ý nghĩa thờigian trong tiếng Việt
Tác giả: Lê Thị Thúy Lan
Năm: 2004
19. Nguyễn Thị Lương (2009), Câu tiếng Việt, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Lương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2009
20. Trần Kim Phượng (2008), Ngữ pháp tiếng Việt – những vấn để thời thể, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – những vấn để thời thể
Tác giả: Trần Kim Phượng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w