Do đó, việcnghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan về nội dung và nghệ thuật,trong đó có cách dùng từ đặt câu, không chỉ làm rõ những đóng góp của tác giảvào nền văn học nước nhà mà
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––
ĐẶNG THỊ NGỌC LINH
CÂU KHÔNG ĐẦY ĐỦ TRONG “TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC” CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA, NGỮ PHÁP, NGỮ DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––
ĐẶNG THỊ NGỌC LINH
CÂU KHÔNG ĐẦY ĐỦ TRONG “TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC” CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA, NGỮ PHÁP, NGỮ DỤNG
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ là công trình nghiên cứu của bản thân.Các kết quả, số liệu trình bày trong luận văn là đúng sự thật, nguồn gốc rõ ràng
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2020
Tác giả
Đặng Thị Ngọc Linh
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong bộ mônNgôn ngữ Việt Nam,Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên đã dành thời giangóp ý giúp tôi hoàn thiện luận văn của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, người đã tận tìnhchỉ dẫn tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện luận văn.Xin cảm ơn gia đình, các học viên cùng lớp Ngôn ngữ Việt Nam và đã tạođiều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong ngày tháng học tập và nghiên cứu
Xin cảm ơn các nhà khoa học trong và ngoài trường; các đồng nghiệp đãtạo điều kiện giúp đỡ tôi trong công việc để hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng năng lực bản thân còn hạn chế, luận vănkhông tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng gópquý báu của quý thầy cô, các nhà khoa học và đồng nghiệp
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 6 năm 2020
Học viên
Đặng Thị Ngọc Linh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Dự kiến đóng góp của đề tài 3
6 Cấu trúc của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 4
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về câu 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về câu không đầy đủ 9
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan 12
1.2 Cơ sở lí luận 16
1.2.1 Một số vấn đề khái quát về câu 16
1.2.2 Câu không đầy đủ 24
1.2.3 Vài nét về Nguyễn Công Hoan và “Truyện ngắn chọn lọc”
29 1.3 Tiểu kết 33
Chương 2: CÂU KHÔNG ĐẦY ĐỦ XÉT VỀ MẶT NGỮ PHÁP 34
2.1 Nhận xét chung 34
2.2 Câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tỉnh lược 36
2.2.1 Xác định câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tỉnh lược 36
Trang 62.2.2 Vấn đề phân biệt câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tỉnh lược với
câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tách câu 38
2.2.4 Các kiểu câu tỉnh lược 40
2.2.5 Vấn đề khôi phục lại thành phần bị tỉnh lược 52
2.3 Câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tách câu 57
2.3.1 Câu không đầy đủ vốn là vị ngữ được tách ra thành câu 57
2.3.2 Câu không đầy đủ vốn là trạng ngữ được tách ra 59
2.3.3 Câu không đầy đủ vốn là vế câu được tách ra 60
2.4 Tiểu kết 61
Chương 3: CÂU KHÔNG ĐẦY ĐỦ XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA, NGỮ DỤNG 63
3.1 Dẫn nhập 63
3.2 Câu không đầy đủ xét về mặt ngữ nghĩa 63
3.2.1 Tính không đầy đủ hay tính phụ thuộc về ngữ nghĩa của câu không đầy đủ 63 3.2.2 Các kiểu câu tỉnh lược nghĩa ở câu không đầy đủ 65
3.3 Câu không đầy đủ xét về mặt ngữ dụng (giao tiếp, ngữ pháp giao tiếp) 70
3.3.1 Cấu trúc thông tin của câu không đầy đủ 71
3.3.2 Cấu trúc đề thuyết của câu không đầy đủ 75
3.3.3 Câu không đầy đủ xét theo mục đích thông báo 79
3.4 Tiểu kết 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Câu không đầy đủ là câu có sự lược bỏ hoặc thiếu vắng một hay một
số thành phần bắt buộc trong câu
1.2 Trong các loại văn bản, đặc biệt là trong văn bản nghệ thuật, câukhông đầy đủ được dùng khá phổ biến Do có những nét đặc sắc về cấu tạo và
ý nghĩa mà từ lâu, câu không đầy đủ đã thu hút sự quan tâm của các nhànghiên cứu
1.3 Trong số các tác giả văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Công Hoan
là một trong những nhà văn hiện thực có những đóng góp xuất sắc trong đó cónhững đóng góp về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Tác phẩm của ông đã đượcgiảng dạy trong các trường đại học cũng như trường phổ thông Do đó, việcnghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan về nội dung và nghệ thuật,trong đó có cách dùng từ đặt câu, không chỉ làm rõ những đóng góp của tác giảvào nền văn học nước nhà mà còn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả củaviệc nghiên cứu, dạy học tác phẩm của ông trong nhà trường
1.4 Đến nay, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về câu khôngđầy đủ từ nhiều góc độ khác nhau nhưng riêng việc nghiên cứu về câu khôngđầy đủ trong “Truyện ngắn chọn lọc” của Nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữpháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng hầu như chưa được chú ý
1.5 Theo chúng tôi, việc nghiên cứu câu không đầy đủ trong “Truyệnngắn chọn lọc” của Nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữdụng có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn
Về lý luận, việc nghiên cứu đề tài này góp phần làm rõ đặc điểm của câukhông đầy đủ trong “Truyện ngắn chọn lọc” của Nguyễn Công Hoan về cácmặt ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng; qua đó, góp phần bổ sung một số khíacạnh lý thuyết về câu nói chung, câu không đầy đủ nói riêng với tư cách là đơn
vị đa bình diện theo cách nhìn của ngữ pháp chức năng
Trang 8Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu đề tài này cung cấp một tài liệu thamkhảo hữu ích, cần thiết đối với việc nghiên cứu và dạy học về ngữ pháp nóiriêng, về ngữ văn nói chung.
1.6 Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài:
Câu không đầy đủ trong “ Truyện ngắn chọn lọc”của Nguyễn Công Hoan xét
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lí luận của đề tài
- Thống kê, phân loại câu không đầy đủ trong “Truyện ngắn chọn lọc”của Nguyễn Công Hoan
- Miêu tả, làm rõ đặc điểm của câu không đầy đủ trong “Truyện ngắnchọn lọc” của Nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là câu không đầy đủ trong “Truyệnngắn chọn lọc” của Nguyễn Công Hoan
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đặc điểm của câu không đầy đủ trong
“Truyện ngắn chọn lọc” của Nguyễn Công Hoan về các mặt: ngữ pháp (kếthọc), nghĩa học và dụng học
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương pháp miêu
tả với các thủ pháp phù hợp như : thống kê, phân loại, phân tích ngữ pháp, ngữ nghĩa, mô hình hóa, lược bỏ, thay thế, bổ sung.
Trang 95 Dự kiến đóng góp của đề tài
- Về lí luận : Qua việc miêu tả làm rõ đặc điểm của câu không đầy đủ
trong “ Truyện ngắn chọn lọc” của Nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữ pháp,ngữ nghĩa, ngữ dụng; đề tài góp phần bổ sung một số khía cạnh lí thuyết về câunói chung, câu không đầy đủ nói riêng trong tiếng Việt theo quan điểm ngữpháp chức năng (trên cứ liệu một tác phẩm văn học của một tác giả cụ thể)
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài có thể dùng làm tài liệu tham
khảo trong việc dạy học tiếng Việt và dạy học văn học trong nhà trường
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
2.2 Câu không đầy đủ được tạo ra bằng thủ pháp lược bỏ
2.3 Câu không đầy đủ được tạo ra bằng thủ pháp tách câu
2.4 Tiểu kết
CHƯƠNG 3 CÂU KHÔNG ĐẦY ĐỦ XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA, NGỮ DỤNG
3.1 Dẫn nhập
3.2 Câu không đầy đủ xét về mặt ngữ nghĩa
3.3 Câu không đầy đủ xét về mặt ngữ dụng
3.4 Tiểu kết
KẾT LUẬN
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về câu
1.1.1.1 Các khuynh hướng chính trong nghiên cứu câu về cú pháp
Vấn đề này đã được Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Mạnh Tiến tổng kết trong
cuốn Ngữ pháp tiếng Việt [20] Dựa vào ý kiến của các tác giả trong công trình
này, có thể nêu tóm tắt các khuynh hướng chính trong nghiên cứu câu tiếngViệt về cú pháp như sau:
1) Khuynh hướng truyền thống
a) Các tác giả chính và nội dung
Theo Nguyễn Văn Lộc, trong việc phân tích câu về mặt cú pháp, khuynhhướng truyền thống luôn giữ vai trò chủ đạo với những công trình tiêu biểu củacác tác giả như Hoàng Tuệ [49], Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê [6],Nguyễn Kim Thản [32],[33],[34],[35] I.X Bưxtrov, Nguyễn Tài Cẩn [4], N.V.Stankevich [17], Hoàng Trọng Phiến [22], Diệp Quang Ban [1],[2]
Nét chung đồng thời cũng là nét cơ bản của cách phân tích câu truyềnthống là thừa nhận chủ ngữ, vị ngữ là hai thành phần chính (nòng cốt) của câu
và ngoài hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, câu còn có các thành phầnphụ như trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ Cách phân tích câu theo quan niệm trênđây có tính phổ biến nhất không chỉ trong Việt ngữ học mà cả trong ngôn ngữhọc nước ngoài
b) Đánh giá
- Về ưu điểm: Cách phân tích câu theo truyền thống đã phản ánh tươngđối đầy đủ và trung thực tổ chức cú pháp của câu Nó đã đưa ra được một bứctranh về thành phần câu tương đối phù hợp với cảm nhận của người bản ngữ
Về mặt thực tiễn, hệ thống khái niệm ngữ pháp nói chung và hệ thống thànhphần câu nói riêng của ngữ pháp học truyền thống đã giúp cho người học nắm
Trang 11được một cách khá thuận lợi tổ chức ngữ pháp của câu và có thể vận dụng cóhiệu quả trong nói, viết Sự tồn tại lâu dài và tính ổn định tương đối của hệthống khái niệm ngữ pháp truyền thống chứng tỏ giá trị lí luận và thực tiễn tolớn của nó.
- Về hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm trên đây, cách phân tích câu theotruyền thống cũng còn những hạn chế nhất định như N.I Tjapkina đã nhận xét:
"Trong khuôn khổ của quan niệm truyền thống, việc miêu tả một cách không
mâu thuẫn hệ thống thành phần câu vẫn chưa đạt được; hơn nữa, vẫn chưa có được cả phương pháp cho phép định nghĩa một cách không mâu thuẫn thành phần câu như là thể thống nhất của hình thức và nội dung của nó" (Dẫn theo
[20,194])
Những hạn chế của khuynh hướng truyền thống khiến nhiều tác giả đã cốgắng tìm tòi, đề xuất những cách phân tích mới
2) Một số công trình theo hướng tìm tòi mới
a) Cách phân tích câu theo quan điểm ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo
Trong những hướng tìm tòi mới, cách phân tích câu theo quan điểm ngữ
pháp chức năng của Cao Xuân Hạo là một trong những hướng đáng chú ý.
Ảnh hưởng tư tưởng của Ch.L Li và S.A Thompson về tính thiên chủ đề
của một số ngôn ngữ trong đó có tiếng Việt, trong công trình Tiếng Việt Sơ
thảo ngữ pháp chức năng (1991), Cao Xuân Hạo không thừa nhận cấu trúc chủ
vị là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt Theo ông, cấu trúc cú pháp cơbản và duy nhất của câu tiếng Việt là cấu trúc đề thuyết Công trình trên đâycủa Cao Xuân Hạo được coi là sự mở đầu cho một hướng mới trong nghiên cứucâu tiếng Việt: hướng nghiên cứu câu theo bình diện giao tiếp (cú pháp giaotiếp, thông báo, ngữ dụng) mà trước đó còn ít được chú ý Tuy nhiên, theoNguyễn Văn Lộc, cách phân tích, phân loại câu theo đề thuyết mà Cao XuânHạo chủ trương không loại trừ và thay thế cách phân tích câu theo bình diện cú
Trang 12b) Cách phân tích câu theo đề- thuyết của Hồ Lê
Cũng chủ trương phân tích câu theo đề- thuyết, Hồ Lê dựa vào các kiểuquan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố trực tiếp tạo nên cấu trúc câu để phân loại
câu Theo ông, ngoài câu một thành phần hay câu gọi tên (thí dụ: Mùa xuân.),
các câu hai thành phần đều có cấu tạo đề thuyết và bao gồm bốn kiểu:
Ví dụ: Một cách chậm rãi, ông Ba bắt đầu kể chuyện.
- Câu điều kiện - hệ quả (điều kiện ngữ - hệ quả ngữ)
Ví dụ: Nhờ gia đình chăm sóc tốt nên ông Ba chóng bình phục (Dẫn theo [20,
194-195])
Theo nhận xét của Nguyễn Văn Lộc, đề xuất trên đây của Hồ Lê chưathật sự xuất phát từ bản chất cú pháp của câu và thành phần câu (từ ý nghĩa cúpháp và hình thức cú pháp tương ứng) và chính điều đó không cho phép phânbiệt các biến thể khác nhau của một kiểu câu
Ví dụ: Ông Ba mới mua quyển sách này.
→ Quyển sách này, ông Ba mới mua [ 20,195].
c) Cách phân tích câu của Trần Ngọc Thêm
Trong giải pháp của Trần Ngọc Thêm, mặc dù, cặp đề - thuyết cũng được
sử dụng để phân tích câu nhưng khác với các tác giả khác, ông vẫn sử dụng các
khái niệm truyền thống như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ Tác giả cho rằng cặp chủ đề - thuật đề (cặp đề - thuyết) không đồng nhất với cặp chủ ngữ -
vị ngữ cũng như cặp nêu - báo (cái đã biết - cái mới) [40, 48 - 49].
Về cách phân tích này, Nguyễn Văn Lộc đã nhận xét: với việc đưa cáckhái niệm đề - thuyết vào việc phân tích câu mà vẫn giữ lại các khái niệm
Trang 13truyền thống như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ , cách phân tích của TrầnNgọc Thêm đã gợi mở một hướng nghiên cứu phù hợp, theo đó, cấu trúc củacâu như là đơn vị đa bình diện có thể được xem xét đồng thời theo các bìnhdiện khác nhau, nghĩa là việc phân tích câu theo đề - thuyết không loại trừ cáchphân tích câu theo cấu trúc chủ vị [20,195].
d) Cách phân tích câu của V.S.Panfilov (coi vị ngữ là đỉnh của câu)
V.S Panfilov là tác giả có cách nhìn nhận có nhiều điểm khác với cách
nhìn nhận truyền thống Xem xét vấn đề thành phần câu dựa vào "những khái
niệm xuất phát về cú pháp"được xác định, V.S Panfilov quan niệm "thành phần câu là phạm trù chức năng, đó là yếu tố có quan hệ hình thái - ngữ nghĩa với vị ngữ hoặc với toàn bộ câu" [23,75] Theo quan niệm này, hệ thống thành
phần câu được V.S Panfilov xác định gồm các thành phần tiêu biểu như chủ
ngữ, bổ ngữ, định ngữ của vị ngữ và trạng ngữ Vị ngữ mặc dù được coi là đỉnh
cú pháp của câu nhưng không được xếp vào số các thành phần câu TheoNguyễn Văn Lộc, quan niệm trên đây của V.S Panfilov thể hiện cách nhìn sâusắc đối với vấn đề cú pháp nói chung, vấn đề thành phần câu nói riêng [20,195-196]
Năm 2004, với công trình Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh
Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp đã đưa ra giải pháp mới mẻ nhằm giải quyết triệt
để hơn vấn đề thành phần câu tiếng Việt [40, 122] Công trình này được coi làmột dấu mốc quan trọng trong việc giải quyết vấn đề thành phần câu tiếng Việt.Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Lộc, cách xác định, phân tích thành phần câu thiênhẳn về mặt hình thức của các tác giả, xét về mặt lí thuyết cũng như khả năng vậndụng vào thực tiễn phân tích cú pháp, cũng còn những hạn chế nhất định nhưTomita Kenji đã nhận xét trong lời giới thiệu về công trình này [20,196]
3) Lí thuyết kết trị và vấn đề phân tích câu về cú pháp theo kết trị của từ
a) Vài nét về lí thuyết kết trị
Lí thuyết kết trị của L Tesnière và cách vận dụng vào phân tích câu đã
được trình bày cụ thể trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc và
Trang 14Theo L Tesnière, kết trị của động từ chính là thuộc tính hay khả năngcủa động từ thu hút vào mình một số lượng nhất định các diễn tố (chủ ngữ, bổngữ) cũng tương tự như khả năng của nguyên tử kết hợp với một số lượng xácđịnh các nguyên tử khác.
Có thể coi cách hiểu kết trị của động từ như trên đây của L Tesnière làcách hiểu hẹp về kết trị
Dựa vào số lượng diễn tố mà động từ chi phối, L.Tesnière chia động từ
thành động từ không diễn tố hay động từ vô trị (verb avalent, ví dụ : mưa,
nắng, sáng, tối): , động từ một diễn tố hay động từ đơn trị (verb monovalent, ví
dụ: đi, chạy, nhảy, bơi… ), động từ hai diễn tố hay động từ song trị (verb
divalent, ví dụ: ăn, đọc, viết, đánh…), động từ ba diễn tố hay động từ tam trị
(verb trivalent, ví dụ: trao, tặng, mời, khuyên…) (dẫn theo Nguyễn Văn Lộc,
[20,199])
b) Các công trình vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu về cú pháp
b 1 ) Trong ngôn ngữ học nước ngoài
Theo Nguyễn Văn Lộc, sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã nhanh chóngđược phổ biến và được áp dụng rộng rãi vào việc phân tích ngữ pháp nóichung, câu nói riêng Những tư tưởng, khái niệm, thuật ngữ của lí thuyết kết trịxuất hiện phổ biến trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ họcnổi tiếng như: M.D Stepanova (1973), O.I Moskanskaja (1974), G Helbig(1978), A.A Kholodovich (1979), N.I Tjapkina (1980), S.M Kibardina(1982), A.M Mukhin (1987), S.D Kasnelson (1988) [20,200]
Trong các tác giả trên đây, S.D Kanelson là người đã có những kiến giảisâu sắc về vấn đề vận lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu Theo ông, thuộctính kết trị của vị từ là cơ sở để xác định các thành phần câu như chủ thể, đốithể, hoàn cảnh (chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ) Đề cập đến cách xác định chủ thể
(chủ ngữ), S.D Kanelson quan niệm "chủ thể (chủ ngữ) của câu đó hoặc là
tham tố (argument) duy nhất của vị từ một vị trí hoặc là một trong số các tham
Trang 15tố của vị từ nhiều vị trí thường biểu hiện chức năng chủ đề." (Dẫn theo [20,
200]) Nguyễn Văn
Trang 16Lộc cho rằng ý kiến trên đây của S.D Kanelson là những gợi dẫn hết sức bổích khi xác định chủ ngữ, bổ ngữ [20, 201]).
b 2 ) Trong Việt ngữ học
Trong Việt ngữ học, lí thuyết kết trị và cách vận dụng lí thuyết này vàoviệc nghiên cứu ngữ pháp nói chung, câu nói riêng đã được đề cập đến trongcác công trình của Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Quy, Đinh Văn Đức, NguyễnVăn Lộc, Nguyễn Văn Hiệp, Lâm Quang Đông và một số tác giả khác Tuynhiên, ở hầu hết các tác giả này, lí thuyết kết trị và việc vận dụng vào phân tíchngữ pháp chủ yếu được đề cập khi xem xét, miêu tả vị từ hoặc mặt ngữ nghĩa(nghĩa biểu hiện) của câu (Dẫn theo [20,202])
Chỉ đến công trình của Nguyễn Mạnh Tiến (2016, Phân tích câu về cú
pháp dựa vào thuộc tính kết trị của từ [46]), vấn đề vận dụng lí thuyết kết trị
vào việc phân tích câu về cú pháp mới thực sự được đặt ra và được xem xétmột cách có hệ thống và chuyên sâu Tài liệu này cũng là một trong những cơ
sở được dựa vào để triển khai một số nội dung quan trọng luận văn cụ thể làvấn đề xác định thành phần chính của câu (vị ngữ) và thành phụ của câu (chủngữ, bổ ngữ, trạng ngữ)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về câu không đầy đủ
Vấn đề câu không đầy đủ đã được đề cập đến trong một số công trìnhcủa các tác giả nước ngoài và trong nước Dưới đây tôi, xin nêu tóm tắt một sốquan niệm về vấn đề này
1) Các quan niệm về câu không đầy đủ
a) Quạn niệm của L.Blum phin
Vấn đề phân chia câu bình thường thành câu đầy đủ (câu trọn vẹn) vàcâu không đầy đủ (câu tỉnh lược) đã được đề cập đến từ lâu trong các công
trình nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung, về ngữ pháp nói riêng L.Blum phin, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Mỹ cho rằng: "Có lẽ trong tất cả các ngôn
ngữ, câu đều được chia thành hai kiểu cơ bản có thể gọi là câu đầy đủ và câu
Trang 17không đầy đủ (câu tỉnh lược)" (Dẫn theo [20,427]) Theo ông, câu đầy đủ là câu có hình thức được ưa thích nhất, có tính thông dụng nhất, còn câu không đầy đủ là những câu không có hình thức bình thường thông dụng nhất của câu
(Dẫn theo [20,427])
b) Quan niệm của S.E.Jakhontov
S.E Jakhontov, một nhà ngôn ngữ học người Nga, khi bàn về nguyên tắc
xác định thành phần câu trong tiếng Hán, đã đưa ra sự phân biệt câu trọn vẹn (câu đầy đủ) và câu không trọn vẹn (câu không đầy đủ) Theo tác giả, câu
không trọn vẹn là câu:
- Chỉ có thể hiểu đúng trong ngữ cảnh cụ thể.
- Có thể biến nó thành câu không phụ thuộc vào ngữ cảnh bằng cách bổ sung cho nó một hay một số từ Tất cả những câu còn lại đều được coi là câu trọn vẹn (Dẫn theo [20,427]).
Theo đánh giá của Nguyễn Văn Lộc, cách xác định câu trọn vẹn thôngqua câu không trọn vẹn của S.E Jakhontov như trên đây được coi là có tínhkhoa học, chặt chẽ và được nhiều tác giả tán thành, vận dụng Đây cũng là quanniệm mà tác giả luận văn tiếp thu khi xác định khái niệm câu không đầy đủ
c) Quan niệm của Diệp Quang Ban
Diệp Quang Ban không sử dụng thuật ngữ câu không đầy đủ khi đề cập
đến những câu thiếu vắng một hay một số thành phần bắt buộc (chủ ngữ, vị
ngữ, bổ ngữ) Tác giả phân biệt hai loại câu: câu tỉnh lược và câu dưới bậc.
Sự khác nhau giữa hai loại câu này là ở chỗ:
- Ở câu tỉnh lược, thành phần bị lược bỏ có thể khôi phục lại được Ví
dụ: “Của đáng mười Nhu chỉ bán được năm Có khi Ø chẳng lấy được đồng nào.” (Nam Cao) Trong câu vừa dẫn, thành phần bị lược bỏ là chủ ngữ (Nhu)
có thể khôi phục lại được
- Ở câu dưới bậc yếu tố vắng mặt không thể khôi phụ lại một cách bình
thường Ví dụ: “Huấn đi về trạm máy kéo Một mình, trong đêm.” (Nguyễn
Trang 18Thị Ngọc Tú) Câu vừa dẫn (in đậm) được coi là câu dưới bậc Theo DiệpQuang Ban, ở câu này không thể khôi phục lại các thành phần bắt buộc vắngmặt [1, 278-279]
d) Quan niệm của Trần Ngọc Thêm
Ở Trần Ngọc Thêm, câu không đầy đủ được đề cập với tên gọi là ngữ
trực thuộc Theo tác giả, ngữ trực thuộc là những phát ngôn (câu) không hoàn chỉnh về cấu trúc, tức là thiếu vắng một hay một số thành phần bắt buộc (chủ
ngữ, vị ngữ, bổ ngữ) [40, 47] Về thực chất, ngữ trực thuộc theo cách hiểu củaTrần Ngọc Thêm là những câu tỉnh lược thành phần bắt buộc Như vậy, ở TrầnNgọc Thêm, câu không đầy đủ có thể hiểu là những câu tỉnh lược thành phầnbắt buộc
đ) Cách xác định câu không đầy đủ của Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Mạnh Tiến
Dựa vào cách xác định của S.E Jakhontov, Nguyễn Văn Lộc, NguyễnMạnh Tiến, đã xác định khái niệm câu đầy đủ, câu không đầy đủ một cách đơn
giản, trực tiếp Các tác giả cho rằng có thể hiểu câu đầy đủ là câu không có
hiện tượng tỉnh lược (thiếu vắng) thành phần bắt buộc nào đó bị quy định bởi ngữ cảnh của câu Ngữ cảnh của câu nói ở đây được hiểu bao gồm: văn cảnh ngoài câu (được hiểu là những câu (hay phần văn bản) ở trước và sau câu được
xét) và hoàn cảnh, tình huống nói năng (gồm hình thức, tính chất, mục đích
giao tiếp, đặc điểm của chủ thể, đối thể giao tiếp) Phù hợp với cách hiểu vừa
nêu về câu đầy đủ, câu không đầy đủ được hiểu là câu có sự tỉnh lược (thiếu
vắng) thành phần bắt buộc nào đó bị quy định bởi ngữ cảnh của câu
[20,427-428]
2) Về cách phân loại câu không đầy đủ
Trong các công trình về ngữ pháp, câu không đầy đủ thường được phânloại theo hai cách: theo phương thức cấu tạo và theo thành phần bị lược bỏ
- Theo phương thức cấu tạo, cấu không đầy đủ được chia thành:
+ Câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tỉnh lược Ví dụ: “Tiếng hát ngừng.
Cả tiếng cười Ø.” (Nam Cao) Câu in đậm là câu không đầy đủ được tạo ra
bằng phép tỉnh lược (lược vị ngữ)
Trang 19+ Câu được tạo ra bằng phép tách câu Ví dụ: “Tôi đứng dậy Dưới trời mưa.”
(Nguyễn Huy Tưởng) Câu in đậm là câu không đầy đủ được tạo ra bằng phéptách câu (tách trạng ngữ)
- Theo thành phần bị tỉnh lược, câu không đầy đủ được chia thành:
+ Câu tỉnh lược chủ ngữ Ví dụ: “Tôi tìm dấu vết nạn lụt Ø Vẫn còn.” (Phan
Tứ)
+ Câu tỉnh lược vị ngữ Ví dụ: “Khang nghĩ đến Hà Nội, ánh sáng của nhà hát
lớn, sân khấu người xem Tôi, Ø đến vợ con." (Nam Cao)
+ Câu tỉnh lược bổ ngữ Ví dụ: “Ấy khẽ chứ cậu, để nó ngủ Tôi vừa mới đặt Ø xong." (Thạch Lam)
+ Câu tỉnh lược cả chủ ngữ lẫn bổ ngữ Ví dụ: “Thật cậu Phúc ác quá Ø Đã không cho Ø thì thôi lại còn thả chó ra đuổi Ø.” (Thạch Lam)
+ Câu tỉnh lược cả chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ Ví dụ: “Đó là tiếng cười, tiếng hát.
Có lẽ Ø Ø Ø của dân làng.” (Tô Hoài)
+ Câu tỉnh lược định ngữ của danh từ chỉ bộ phận bất khả li Ví dụ: “Hai mắt
ông trợn ngược Hai má Ø phình to Cái đầu Ø lúc lắc.” (Nam Cao)
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan là một bậc thầy truyện ngắn của văn học Việt Namhiện đại Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như
một "bách khoa thư”, một "tấn trò đời” mà đặc trưng là xã hội thực dân phong
kiến ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Qua các sáng tác của mình, Nguyễn CôngHoan đã chứng tỏ là bậc thầy về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Các tác phẩmcủa ông có sức hấp dẫn lớn, đã thu hút được rất nhiều các nhà nghiên cứu màtiêu biểu là: Lê Thị Đức Hạnh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê,Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Vương Trí Nhàn, Trương Chính, NguyễnĐức Đàn, Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Khắc Thuần, Trúc Hà, Thiếu Sơn, HảiTriều…
Trong công trình Khảo sát cấu trúc câu văn truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan Nguyễn Khắc Thuần đã nhận xét: "Nguyễn Công Hoan đã sử dụng hầu
Trang 20dụng tài tình, linh hoạt, có hiệu quả loại câu ngắn, đặc biệt là những câu có từ năm chữ trở xuống Lúc thì tác giả dùng liên tiếp tạo thành đoạn văn; lúc thì dùng độc lập ở đầu, ở giữa, hoặc cuối truyện; lúc thì phối hợp với câu dài ở trong cùng một đoạn văn để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc đến mức trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, số lượng câu dài và câu ngắn tương đương nhau nhưng khi đọc truyện ngắn của ông, người đọc có cảm giác như trong truyện ngắn của ông, câu ngắn được dùng nhiều hơn câu dài Chính câu ngắn
đã tạo nên nét khác lạ về câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan so với tác giả khác”[41, 57-85].
Nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh cũng đã dành nhiều tâm huyết chotruyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Nhận xét về ngôn ngữ của Nguyễn Công
Hoan, tác giả đã khẳng định: "Văn Nguyễn Công Hoan khá gọn gàng, sáng sủa,
thiết thực, linh hoạt Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng được chọn lọc và nâng cao, đậm hương vị ca dao, tục ngữ…chữ dùng của ông thường giản dị, giàu hình ảnh cụ thể hay so sánh ví von” [11, 201-202].
Theo tác giả:"Nguyễn Công Hoan luôn giữ cho lời văn, ngôn ngữ trong truyện
trong sáng, chính xác, mang bản sắc của văn hóa dân tộc” [11,208] Tác giả
còn chỉ ra tính chất cá thể hóa sâu sắc trong ngôn ngữ nhân vật của
Nguyễn Công Hoan: "Ngôn ngữ các loại nhân vật trong truyện của Nguyễn
Công Hoan cũng mang sắc thái riêng, bộc lộ được tâm lí xã hội của từng nhân vật, trộn cũng không lẫn” [11,117] Ngoài ra, Lê Thị Đức Hạnh còn so sánh
văn phong của Nguyễn Công Hoan với văn phong của các nhà văn hiện thựcphê phán khác với nhiều nhận xét chính xác và tinh tế về sự tương đồng, đặcbiệt là khác biệt
Nghiên cứu chất hài trong câu văn Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Thanh
Tú nhận xét: "Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là thứ ngôn ngữ suồng sã.
(…) Trong nội bộ câu văn của Nguyễn Công Hoan thường mang mâu thuẫn hài hước đối chọi ở bên trong (…) Nhà văn có những lối ví von so sánh, độc đáo, những liên tưởng bất ngờ, thú vị (…) Câu văn Nguyễn Công Hoan thường
Trang 21ngắn gọn (…) có sự tuân thủ phép lặp cú pháp vì mục đích nghệ thuật gia tăng sắc thái hài hước” [27, 209-215] Trong bài "Lời văn mỉa mai trong Đồng hào
có ma”, tác giả đã chỉ rõ tài sử dụng ngôn ngữ “suồng sã” để "lật ngửa”, "lộn trái” đối tượng nhằm mục đích mỉa mai, phê phán đối tượng.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắn NguyễnCông Hoan kể trên đây còn có loạt công trình là luận văn, luận án nghiên cứu
về ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan từ các góc độ, bình diện khác nhau Cóthể kể đến một số công trình sau đây
Lò Thị Duyên trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ của truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan, đã nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật, đối thoại và độc
thoại về các mặt từ vựng, cú pháp, các biện pháp tu từ Tác giả cho rằng ngônngữ truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ trào phúng, châm biếm với
sự tinh tế, lão luyện
Luận văn thạc sĩ "Phương tiện tu từ nói mỉa trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan” (Nguyễn Thị Hương Lan, 2000) đã đề cập đến các dạng thức nói
mỉa trên nhiều cấp độ văn bản: cấp độ từ ngữ trong câu, cấp độ đoạn văn, cấp
độ văn bản… qua đó, chỉ ra những đóng góp quan trọng của Nguyễn CôngHoan vào nghệ thuật trào phúng Nguyễn Thanh Hương trong luận văn thạc sĩ
Đặc điểm tình huống đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (2001)
đã đề cập đến ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan gắnvới tình huống giao tiếp cụ thể của cuộc thoại dựa trên lí thuyết ngữ dụng học
và phong cách học
Lê Ngọc Hòa trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm cách xưng hô của các vai
giao tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (2006) đã khảo sát lớp từ xưng
hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, qua đó, chỉ ra mối quan hệ chặt chẽgiữa ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa - xã hội
Hoàng Minh Hải với đề tài Các phương thức và đặc điểm gây cười qua
lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (2008) đã vận dụng lý
Trang 22thuyết hội thoại để nghiên cứu và chỉ ra đặc điểm của nghệ thuật và nguyên lí
gây cười của Nguyễn Công Hoan Trần Thị Thủy với đề tài Đối sánh ngôn ngữ
trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đã so sánh đặc điểm ngôn ngữ trào phúng, cụ thể, so sánh tính
chất trào phúng của ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong các tácphẩm thuộc hai thể loại khác nhau của hai nhà văn trào phúng bậc thầy của vănhọc Việt Nam hiện đại
Hà Thị Tuyết trong luận văn thạc sĩ Câu có hình thức nghi vấn trong tác
phẩm của nguyễn Công Hoan (2010) đã nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và ý
nghĩa của câu nghi vấn trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan; qua đó, chỉ ranhững nét riêng về nội dung và hình thức của câu hỏi trong tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan Với đề tài So sánh câu văn trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan và truyện ngắn Thạch Lam, Hoàng Thị Tố Quyên khảo sát chỉ ra
những nét tương đồng và khác biệt của câu văn trong tác phẩm cảu hai tác giảnày về phương diện cấu tạo và biện pháp tu từ Võ Thị Dung trong luận văn
thạc sĩ Chức năng ngữ nghĩa của từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật về mặt ngữ pháp,
ngữ nghĩa, ngữ dụng của các từ tình thái trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan Năm 2018, tác giả Nguyễn Thị Hồng Chuyên trong đề tài luận văn thạc
sĩ của mình: Các chu tố của động từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (xét
về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng) đã nghiên cứu một cách tương đối có
hệ thống về chu tố của động từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan theoquan điểm ngữ pháp chức năng Ở công trình này, tác giả đã miêu tả khá tỉ mỉđặc điểm về ngữ pháp (cấu tạo, phương thức kết hợp, vị trí, khả năng cải biến),ngữ nghĩa (vai trò ngữ nghĩa và các kiểu nghĩa biểu hiện), ngữ dụng (chức năngxác lập chủ đề, tạo lập chủ đề tương phản) của chu tố (thành tố tương đươngvới trạng ngữ)
Trang 23Ngoài các công trình kể trên, trong thời gian gần đây còn xuất hiện một
số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học Trong Tạp chí văn học nghệ thuật,
số 343 (2013), tác giả Thành Đức Bảo Thắng với bài Nghệ thuật khắc họa nhân
vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã chỉ ra ba kiểu ngôn ngữ đối thoại
trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan: người kể chuyện đối
thoại với nhân vật, người kể chuyện đối thoại với độc giả và nhân vật đối thoại với nhân vật Tác giả cho rằng vận dụng sáng tạo và linh hoạt ngôn ngữ đối thoại, Nguyễn Công Hoan đã tạo mạch nối giữa tiếng cười dân gian và tiếng cười hiện đại Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hướng tới phơi bày bản chất của con người, của xã hội bằng tiếng cười trào phúng giàu kịch tính Đó là thứ ngôn ngữ chứa đựng yếu tố hấp dẫn, tạo được
sự bất ngờ, lột trái hiện tượng, phơi bày mâu thuẫn hài hước… Với ngôn ngữ giàu kịch tính xuất hiện nhiều trong truyện ngắn trào phúng kết hợp với thủ pháp tăng cấp, Nguyễn Công Hoan đã đưa người đọc từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác và bật cười khi hiểu rõ câu chuyện.
Điểm lại một số công trình nghiên cứu trên, có thể thấy ngôn ngữ trongcác tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được nhìn nhận từ nhiều góc độ, bìnhdiện khác nhau với những ý kiến nhận xét sâu sắc, tinh tế Tuy nhiên, đến nay,
chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu về Câu
không đầy đủ trong “Truyện ngắn chọn lọc” Nguyễn Công Hoan Với đề tài
này, chúng tôi hi vọng sẽ bổ sung thêm một tài liệu góp phần làm rõ thêm đặcđiểm ngôn ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Một số vấn đề khái quát về câu
1.2.1.1 Khái niệm câu
Việc xem xét các khuynh hướng chính trong việc định nghĩa câu với một
số cách định nghĩa cụ thể cho thấy những khó khăn, phức tạp của việc địnhnghĩa câu Có thể nói rằng đến nay, vẫn chưa có được cách định nghĩa câu thoả
Trang 24mãn được tất cả hoặc hầu hết các nhà ngữ pháp Trong điều kiện như vậy, việclựa chọn cách định nghĩa nào đó phụ thuộc vào góc nhìn của nhà nghiên cứu,vào mục đích nghiên cứu, giảng dạy và học tập ngữ pháp.
Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách định nghĩa câu vào khối lượng
và chức năng Khác với các khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào nội dung (ýnghĩa), hình thức (cấu tạo) hoặc dựa vào cả nội dung lẫn hình thức, theo đó, câuđược xác định một cách độc lập, riêng biệt (không đặt trong mối quan hệ vớicác đơn vị ngôn ngữ khác trong cùng hệ thống), khuynh hướng định nghĩa câudựa vào khối lượng và chức năng chủ trương xác định câu trong mối quan hệ hệthống với các đơn vị ngôn ngữ khác Theo hướng này, câu cũng như các đơn vịngôn ngữ khác cùng hệ thống luôn được định nghĩa dựa vào hai mặt: mặt so
sánh khối lượng và mặt chức năng Cụ thể, câu được định nghĩa như sau: "Câu
là kiểu đơn vị nhỏ nhất mà có thể mang một thông báo tương đối hoàn chỉnh"
[4, 363]
Theo Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Mạnh Tiến, cách định nghĩa này thườngđược nhận xét là không nêu được các dấu hiệu hình thức đặc trưng của câu.Nhưng bù lại, cách định nghĩa này có ba ưu điểm cơ bản:
Thứ nhất, đây là cách định nghĩa mang tính hệ thống rõ rệt nhất Nó
thống nhất về nguyên tắc với cách định nghĩa các đơn vị ngôn ngữ khác cùng
hệ thống với câu như âm vị, hình vị, từ cho nên rất tiện cho việc đối chiếu
chúng với nhau
So sánh:
- Âm vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mà có chức năng khu biệt nghĩa
- Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mà có nghĩa
- Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mà có khả năng vận dụng độc lập
- Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mà có chức năng thông báo
Thứ hai, cách định nghĩa này nêu lên được những tiêu chí cần thiết cho
phép xác định câu, phân biệt nó với các đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn thuộc cùng
hệ thống: Tiêu chí "có chức năng thông báo" được đưa vào định nghĩa có tác
Trang 25dụng phân biệt câu với từ, hình vị, âm vị, vốn không có chức năng này; còn tiêu
chí "nhỏ nhất" có tác dụng phân biệt câu với đơn vị lớn hơn (văn bản) cũng có
chức năng thông báo
Thứ ba, so với một số cách định nghĩa khác, cách định nghĩa này rất ngắn
gọn nên dễ nhớ hơn [20, 175-176]
1.2.1.2 Các đặc trưng cơ bản của câu
Theo Nguyễn Văn Lộc, với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất, câuđược xác định theo những đặc trưng cụ thể sau:
1) Về nội dung
Câu biểu thị một thông báo tương đối hoàn chỉnh Kèm theo nội dungthông báo, câu còn biểu thị mục đích, thái độ, tình cảm của người nói đối vớinội dung nói năng hay đối với người nghe
2) Về cấu trúc (về hình thức bên trong)
Ở dạng điển hình, câu được cấu tạo theo mô hình nhất định với nòng cốt
là một hoặc một vài cụm chủ vị (cụm vị từ), tức là cấu trúc gồm vị từ hạt nhân(vị ngữ) và các thành tố bổ sung có tính bắt buộc (chủ ngữ, bổ ngữ) hay tự do(trạng ngữ hay các chu tố) làm rõ nghĩa cho nó
3) Về hình thức (hình thức bên ngoài hay về ngữ điệu)
Câu luôn có ngữ điệu kết thúc (thể hiện trên chữ viết bằng dấu ngắt câu)
và có thể kèm theo hư từ tình thái hay giao tiếp (à, ư, nhỉ, nhé, thôi, nào ).
Trong các đặc trưng trên đây, chỉ đặc trưng thứ ba luôn có mặt; còn cácđặc trưng thứ nhất, thứ hai có thể vắng mặt hoặc thể hiện không đầy đủ Những
câu có cả ba đặc trưng được coi câu ở dạng cơ bản (điển hình, điển thể) Những
câu thiếu các đặc trưng thứ nhất và thứ hai được coi là những biến thể không cơbản (điển hình) của câu và sự tồn tại của chúng, nhìn chung, đều phụ thuộc vàongữ cảnh [20, 176-177]
Trang 261.2.1.3 Câu phát ngôn
Có nhiều cách hiểu về khái niệm phát ngôn Theo Nguyễn Văn Lộc,
trong các công trình ngôn ngữ học, thuật ngữ phát ngôn thường được hiểu theo
những cách sau đây:
-"Phát ngôn là cái biểu hiện cụ thể trong từng lúc của câu"
- Phát ngôn là "sự hiện thực hoá mô hình câu trong lời nói" (Dẫn theo [20, 177])
Theo cách hiểu trên đây, mối quan hệ giữa câu và phát ngôn chính là mốiquan hệ giữa đơn vị trừu tượng (thuộc bình diện ngôn ngữ) với đơn vị cụ thể(thuộc bình diện lời nói) Mối quan hệ này cũng tương tự như mối quan hệ giữa
âm vị và âm tố, hình vị và hình tố, từ và các dạng thức từ
Trong luận văn này, tán thành ý kiến của Nguyễn Văn Lộc, những "cái
biểu hiện cụ thể trong từng lúc của câu" hoặc "sự hiện thực hoá mô hình câu trong lời nói" mà các tác giả gọi là phát ngôn cũng sẽ được gọi chung là câu.
Như vậy, thuật ngữ câu sẽ được dùng để chỉ cả câu như là đơn vị ngữ pháp trừutượng (câu - mô hình), cả câu như là đơn vị cụ thể - sản phẩm của sự hiện thựchoá mô hình cú pháp của câu trong lời nói
1.2.1.4 Vài nét về các bình diện của câu
Câu là kiểu đơn vị rất phức tạp, có tổ chức nhiều mặt Theo quan niệmcủa ngữ pháp chức năng, câu là thực thể hỗn hợp được tạo nên bởi ba bình
diện: bình diện cú pháp (kết học), bình diện ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện), bình
diện ngữ dụng (bình diện giao tiếp, cú pháp giao tiếp) Trong việc nghiên cứu
câu, việc xác định các bình diện của câu, bản chất, phạm vi, ranh giới củachúng đến nay vẫn còn là những vấn đề tranh luận
1) Bình diện cú pháp
a) Về bản chất của bình diện cú pháp
Theo Nguyễn Văn Lộc, trong các công trình ngôn ngữ học, có hai cáchhiểu về bản chất của bình diện cú pháp:
Trang 27- Coi bình diện cú pháp (ngữ pháp) là bình diện hình thức thuần tuý
Theo cách hiểu này thì "mặt ngữ pháp" được đồng nhất với "mặt biểu
hiện" hay "mặt hình thức" của câu.
Trong Việt ngữ học, quan niệm trên đây thể hiện rõ nhất qua ý kiến của
Cao Xuân Hạo: "Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác
định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần tuý Các chức năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp, định ngữ được xác định không phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thị cái gì mà vào mối quan hệ ngữ pháp với các ngữ đoạn khác được biểu thị bằng các phương tiện gọi là tác
tử cú pháp." [10, 8].
- Coi bình diện cú pháp là bình diện có nghĩa
Trên cứ liệu tiếng Việt, quan niệm này được thể hiện rõ trong một số bàiviết của Nguyễn Văn Lộc [20, 1 - 15]
Quan niệm coi bình diện cú pháp là bình diện có nghĩa không chỉ phùhợp với lí thuyết ngữ pháp đại cương và lí thuyết ngữ nghĩa (theo đó, sự tồn tại
của các kiểu nghĩa cú pháp như nghĩa chủ thể, đối tượng, công cụ, sở hữu đã
được xác nhận) mà còn phù hợp với thực tiễn của việc phân tích cú pháp thểhiện qua việc xác định các thành phần câu dựa vào nghĩa cú pháp, (chẳng hạn,việc xác định chủ ngữ dựa vào nghĩa cú pháp chủ thể)
Với việc khẳng định bình diện cú pháp là bình diện có nghĩa, khi xác
định các thành phần cú pháp của câu, về nguyên tắc, phải dựa đồng thời cả vào nghĩa cú pháp lẫn hình thức cú pháp [20, 188].
b) Nội dung của việc nghiên cứu câu theo bình diện cú pháp
Theo Nguyễn Văn Lộc, nội dung của việc nghiên cứu câu theo bình diện
cú pháp gồm 5 vấn đề sau:
- Xác định làm rõ các khái niệm cú pháp cơ bản (ý nghĩa, hình thức, quan hệ cú
pháp; thành tố cú pháp hay thành phần câu; vai trò, chức năng cú pháp; cụm
từ, câu, phát ngôn ).
Trang 28- Xác định các kiểu quan hệ cú pháp, phân biệt quan hệ cú pháp với quan hệ
ngữ nghĩa (quan hệ về mặt nghĩa biểu hiện) và quan hệ về mặt giao tiếp (quan
hệ đề - thuyết)
- Xác định nguyên tắc, thủ pháp, quy trình phân tích câu về cú pháp.
- Xác định, phân loại, miêu tả các loại, kiểu thành phần cú pháp của câu theo
đặc điểm nội dung và hình thức
- Xác định, phân loại, miêu tả các loại, kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp
[20, 188-189]
2) Bình diện ngữ nghĩa, (nghĩa biểu hiện)
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về bình diện ngữ nghĩa (nghĩabiểu hiện) Trong luận văn này, tán thành ý kiến của Nguyễn Văn Lộc, chúngtôi hiểu bình diện ngữ nghĩa, với tư cách là một trong ba bình diện của câu đốilập với bình diện cú pháp và bình diện giao tiếp (ngữ dụng) theo cách hiểu hẹp,nghĩa là chỉ gồm nghĩa biểu hiện
Nội dung của việc nghiên cứu theo bình diện nghĩa biểu hiện là xác định,
miêu tả các thành tố ngữ nghĩa gồm: hạt nhân ngữ nghĩa (biểu thị lõi sự tình)
và các tham thể ngữ nghĩa hay các vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu và tiến hành phân loại, phân tích, miêu tả các kiểu câu theo mặt nghĩa biểu
hiện [20, 190-191].
3) Bình diện giao tiếp
Trong các công trình nghiên cứu câu trong quan điểm chức năng, bảnchất, phạm vi của bình diện giao tiếp (ngữ dụng) thường không được hiểuthống nhất
Trong luận văn này, tán thành ý kiến của Nguyễn Văn Lộc, chúng tôi coiđối tượng của việc nghiên cứu câu theo bình diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp,
ngữ dụng) là câu -phát ngôn - đơn vị giao tiếp là kết quả của sự hiện thực hoá
sơ đồ cấu trúc của câu [20, 415] Theo cách hiểu này, nội dung của việc nghiên
cứu câu theo bình diện giao tiếp không chỉ bao gồm các vấn đề như cấu trúc
thông tin (cấu
Trang 29trúc thông báo), tiêu điểm, ngôn trung của câu mà bao gồm cả cấu trúc đề thuyết, nghĩa tình thái (chủ quan) và cấu trúc tình thái của câu [20, 192].
1.2.1.5 Các thành phần câu
Hiện nay, ý kiến của các nhà ngữ pháp về hệ thống thành phần câukhông có sự thống nhất Không có ý định bàn sâu về vấn đề vừa nêu, trong luậnvăn này, chúng tôi tiếp thu cách hiểu về hệ thống thành phần câu tiếng Việttheo quan điểm của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến Theo quan niệmcủa hai tác giả hệ thống thành phần câu tiếng Việt gồm các thành phần sau:
1) Thành phần chính - vị ngữ
Vị ngữ chính là hạt nhân của cụm vị từ nòng cốt Đó là từ mang kết trị
chủ động tuyệt đối trong câu Vị ngữ được xác định theo các tiêu chí chính sau:
a) Về nội dung:
- Là thành phần được xác định tuyệt đối, tức là không có chức năng xác định(bổ sung) cho bất cứ thành phần nào
- Có ý nghĩa cú pháp hoạt động hay đặc điểm
- Quy định bản chất của câu và chi phối tổ chức nội bộ của câu (quy định sốlượng, ý nghĩa, hình thức của các thành phần phụ bắt buộc của câu)
b) Về hình thức:
- Ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng vị từ với ý nghĩa, hình thức thời thểchiếm vị trí trung tâm của câu
- Nói chung, không có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn đích thực như: ai, gì,
nào, sao (chỉ có khả năng thay thế bằng các đơn vị có ý nghĩa nghi vấn như: làm gì, làm sao, thế nào mà trong Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên)
được gọi là các "tổ hợp" và không được chú từ loại [24,692-694]).
- Rất khó lược bỏ Trừ trường hợp đối thoại hoặc một vài trường hợp đặc biệt,
trên thực tế, hầu như không tồn tại câu thiếu vị ngữ" [20, 233].
2) Thành phần phụ của câu
a) Tiêu chí xác định
Tất cả các thực từ trong câu mà không phải là thành phần chính đều là thành phần phụ của câu Thành phần phụ của câu được xác định theo các tiêu
Trang 30+ Được biểu hiện bằng thực từ thuộc các từ loại nhất định.
+ Nói chung, có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn
+ Dễ lược bỏ hơn so với thành phần chính
Thành phần phụ của câu (trừ thành phần biệt lập) chính là các từ mang kết trị bị động được dùng để hiện thực hoá kết trị chủ động của vị từ hoặc danh từ
b) Phân loại thành phần phụ của câu
Thành phụ của câu được phân loại như sau:
b1) Theo tầm quan trọng (mức cần thiết) đối với tổ chức cú pháp của câu, thànhphần phụ được chia thành:
- Thành phần phụ bắt buộc (tham gia vào nòng cốt câu, ví dụ: chủ ngữ, bổ
- Thành phần phụ thể hiện kết trị của một từ loại nhất định (thành phần phụ
không biệt lập) Thành phần phụ không biệt lập gồm: thành phần phụ thể hiện kết trị của vị từ (chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ) và thành phần phụ thể hiện kết trị của danh từ (định ngữ).
- Thành phần phụ không thể hiện kết trị của từ loại nhất định (thành phần phụ biệt lập), ví dụ: “Tâm mơ màng nghĩ đến sự thành công của các em sau này: đỗ đạt rồi đi làm trên tỉnh giúp thầy mẹ” (Thạch Lam)
Trang 31b3) Theo tính chất của mối quan hệ cú pháp với thành phần chính, thành phầnphụ được chia thành:
-Thành phần phụ có quan hệ cú pháp trực tiếp với thành phần chính hoặc với
cả câu
Loại thành phần phụ này được gọi là thành phần phụ bậc 1 hay thành
phần phụ bậc câu.
- Thành phần phụ không có quan hệ cú pháp trực tiếp với thành phần chính
hoặc với cả câu.
Loại thành phần phụ này được gọi là thành phần phụ bậc 2, bậc 3 hay
thành phần phụ bậc từ.
b4) Xét kết hợp các tiêu chí, hệ thống thành phần phụ của câu được chia thành
5 loại: chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ, chú giải ngữ
1.2.2 Câu không đầy đủ
1.2.2.1 Xác định và phân biệt câu không đầy đủ với câu đầy đủ
1) Xác định câu không đầy đủ
Vấn đề xác định câu không đầy đủ khá phức tạp Như đã trình bày ở
mục Tổng quan, trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp, ý kiến của các
tác giả về vấn đề này không thống nhất Trong luận văn này, chúng tôi hiểukhái niệm câu không đầy đủ theo cách hiểu của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn
Mạnh Tiến Theo đó, câu không đầy đủ được xác định trong mối quan hệ với
giao tiếp).
Trang 32b) Phù hợp với cách hiểu vừa nêu về câu đầy đủ, câu không đầy đủ được hiểu
là câu có sự tỉnh lược (hay thiếu vắng) thành phần bắt buộc nào đó bị quy định bởi ngữ cảnh của câu [20, 427-428].
Chẳng hạn, trong chuỗi câu: “Tiếng hát ngừng Cả tiếng cười.”, câu thứ
nhất là câu đầy đủ (vì trong nó không có sự lược bỏ hay thiếu vắng thành phầnbắt buộc nào); câu thứ hai là câu không đầy đủ (vì trong nó có sự lược bỏ thànhphần bắt buộc là vị ngữ)
2) Phân biệt câu không đầy đủ với câu đầy đủ có thành phần bị tỉnh lược
Theo cách hiểu trên đây, câu không đầy đủ luôn là câu có sự tỉnh lược(hoặc thiếu vắng) thành phần bắt buộc nào đó (do đó, một số tác giả thường gọicâu không đầy đủ là câu tỉnh lược) Tuy nhiên, cần thấy rằng không phải mọicâu có thành phần bị tỉnh lược đều là câu không đầy đủ Đây là vấn đề khá
phức tạp Để làm rõ vấn đề này, các tác giả cuốn Ngữ pháp tiếng Việt phân tích
các ví dụ dưới đây
(1) Kẻ dốt nát khổ nhưng Ø không biết rằng mình khổ (Nam Cao)
(2) Tiền bạc cưới thì bố tôi bảo Ø đã đưa cho bố cả rồi (Tô Hoài)
(3) Tâm tin rằng Ø đã làm đủ bổn phận khi mỗi tháng gửi giúp bà cụ một số
tiền (Thạch Lam)
(4) Mọi người vào hầm lấy lương khô ra ăn Ø (Nguyễn Minh Châu)
(5) Thấy tôi lù rù như thế bọn trẻ chỉ biết ra sức săn sóc Ø (Tô Hoài)
(6) Khi Tâm quay đi, mấy người bạn nhìn theo Ø thương hại (Thạch
Lam)
(7) Cửa hàng hai chị em Liên trông coi Ø là một cửa hàng tạp hoá (Thạch
Lam) Trong những câu trên đây, đã có sự tỉnh lược các thành phần câu (chủ
ngữ ở ba câu đầu và bổ ngữ ở năm câu tiếp theo) Tuy nhiên, theo các tác giả,không nên coi những câu này là câu không đầy đủ vì có thể hiểu đúng nghĩa
Trang 33của chúng mà không cần dựa vào văn cảnh ngoài câu (những câu đứng trước)hoặc hoàn cảnh, tình huống nói năng.
Trang 34Như vậy, có thể thấy sự khác nhau giữa câu đầy đủ và câu không đầy đủthể hiện ở chỗ ở câu đầy đủ, mặc dù cũng có thể có hiện tượng tỉnh lược thành
phần nào đó (chủ ngữ, bổ ngữ) nhưng đó là sự tỉnh lược bị quy định bởi văn
cảnh trong câu; còn ở câu không đầy đủ, sự tỉnh lược luôn là kiểu tỉnh lược bị
quy định bởi văn cảnh ngoài câu (hoặc bởi hoàn cảnh, tình huống nói năng) [20,
428]
Theo chúng tôi, sự phân biệt câu không đầy đủ với câu đầy đủ qua các ví
dụ trên đây là rõ ràng, thỏa đáng, có sức thuyết phục
Như vậy, không phải mọi câu có hiện tượng tỉnh lược thành phần đều làcâu không đầy đủ
1.2.2.2 Các kiểu câu không đầy đủ
Câu không đầy đủ theo cách hiểu trên đây có thể được phân loại theophương thức cấu tạo thành hai kiểu chính: câu không đầy đủ được tạo ra bằngphép tỉnh lược và câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tách câu
1) Câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tỉnh lược
Theo tính chất của thành phần bị tỉnh lược, câu không đầy đủ được tạo rabằng phép tỉnh lược được chia thành các kiểu nhỏ sau:
a) Câu tỉnh lược chủ ngữ
Đây là kiểu câu tỉnh lược phổ biến nhất Ở kiểu này, cần phân biệt:
a 1 ) Câu tỉnh lược chủ ngữ bị quy định bởi văn cảnh
Ví dụ: (Ông ấy long tong ở sở máy đèn.) Ngày nào Ø cũng đi làm từ sáu
giờ (Nam Cao).
(Thanh quyện sắt giữ chặt chân họ) Ø Làm sao mà chạy đi cho được.
(Anh Đức)
a 2 ) Câu tỉnh lược chủ ngữ bị quy định bởi hoàn cảnh, tình huống nói năng
Hoàn cảnh, tình huống nói năng gồm các tình huống độc thoại (khi ghinhật kí), đối thoại (khi hỏi, trả lời), khi thông báo ngắn gọn ở trước các cửahàng, cửa hiệu…hoặc phòng làm việc
Trang 35Ví dụ: Tối nay Ø nôn nao và mệt rũ Ø Làm nhiều Ø Hút thuốc lá nhiều (Nam Cao - Nhật kí ở rừng)
Ø Về muộn mấy? Ø Hẵng vào chơi đã nào (Kim Lân)
Ø Bán cá giống (Thông báo trước trại nuôi cá)
Ø Mua sắt thép phế (Thông báo trước cơ sở thu mua phế liệu)
Ø Đề nghị để giày dép ở ngoài! (Lời viết ở cửa phòng làm việc)
b) Câu tỉnh lược vị ngữ
Vị ngữ rất ít khi bị lược bỏ Nhìn chung, câu tỉnh lược vị ngữ chủ yếu gặptrong lời hội thoại hay trong lời nói thuộc phong cách văn chương
Ví dụ: (Tiếng hát ngừng.) Cả tiếng cười Ø (Nam Cao)
(Khang nghĩ đến Hà Nội, ánh sáng của nhà hát lớn, sân khấu người
Ví dụ: (Bố cháu hi sinh rồi.) Ø Ø Năm 72.
(Báo văn nghệ) (Dẫn theo [40, 195])
(Thoáng chốc Quyên nhớ đến mọi nét, mọi vẻ của Cà Mỵ.) Ø Ø Cả
Ví dụ; (Ấy khẽ chứ cậu, để nó ngủ.) Tôi vừa mới đặt Ø xong (Thạch Lam)
(Tên lính đã trở lại.) Lần này có tên trung úy đi theo Ø (Anh Đức)
đ) Câu tỉnh lược cả chủ ngữ lẫn bổ ngữ
Ví dụ: (Thật cậu Phúc ác quá.) Ø Đã không cho Ø thì thôi lại còn thả chó ra
đuổi Ø (Thạch Lam)
Trang 36e) Câu tỉnh lược cả chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ
Câu tỉnh lược kiểu này rất hiếm và cũng chủ yếu gặp trong văn bản nghệ thuật
Ví dụ: (72) (Đó là tiếng cười, tiếng hát.)
Có lẽ Ø Ø Ø của dân làng (Tô Hoài) (Dẫn theo [40,191])
g) Câu tỉnh lược định ngữ của danh từ chỉ bộ phận bất khả li
Định ngữ của danh từ chỉ bộ phận bất khả li là một trong những thành tốbắt buộc của câu; vì vậy, việc lược bỏ nó luôn bị quy định bởi văn cảnh hoặchoàn cảnh, tình huống nói năng và câu tỉnh lược định ngữ kiểu này cũng đượccoi là câu không đầy đủ
Ví dụ: (Hai mắt ông trợn ngược.) (73) Hai má Ø phình to (Nam Cao)
2) Câu không đầy đủ được tạo ra bằng phép tách câu
Theo đặc tính của bộ phận tách ra, kiểu này được chia thành những kiểunhỏ sau:
a) ) Câu không đầy đủ là vị ngữ được tách ra
Ví dụ:
Bọn người nhìn theo anh ta Im lặng (Nguyễn Thị Ngọc Tú)
Tôi lặng lẽ ra khỏi hang Cũng không có một ý nghĩ gì rõ rệt (Tô Hoài) Chỉ ở những chỗ không ai ngờ tới mới có đò ngang sang sông Có lối tắt vòng sau lưng phủ Hoài ra đầu ô Và có hàng quán (Tô Hoài)
b) Câu không đầy đủ là bổ ngữ được tách ra
Ví dụ:
Anh mới mua được một quyển sách Cho em (Báo Văn nghệ)
c) Câu không đầy đủ là trạng ngữ được tách ra
Trang 37d) Câu không đầy đủ là định ngữ được tách ra
Ví dụ:
Rừng Hoành Bồ có một nương dó Rộng và sâu lắm (Nguyễn Tuân)
đ) Câu không đầy đủ là chú giải ngữ được tách ra
1.2.3 Vài nét về Nguyễn Công Hoan và “Truyện ngắn chọn lọc”
Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) là một nhà văn, nhà báo hội viên HộiNhà văn Việt Nam
Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện VănGiang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện VănGiang, tỉnh Hưng Yên) Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân Nho họcthất thế Trong gia đình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rấtnhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đảkích tầng lớp quan lại Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách vănchương của ông sau này Ông có ba người em trai đều tham gia hoạt động cáchmạng và giữ cương vị quan trọng là Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương),nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyễn Công Bồng, nguyên Phó Tổng Giám đốcNha Công an và Nguyễn Công Mỹ, nguyên Tổng Giám đốc đầu tiên của Nha
Trang 38Năm 1926, ông tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, làm nghề dạy học ở nhiềunơi (như Hải Dương, Lào Cai, Nam Định, ) cho đến khi Cách mạng thángTám nổ ra.
Nguyễn Công Hoan viết văn từ sớm, tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan (viết năm 1920, được Tản Đà thư điếm xuất bản năm 1923) là một đóng góp
cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ
Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Giám đốc kiểm duyệt báo chíBắc Bộ, kiêm Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ Sau đó, ông gia nhập Vệquốc quân, làm biên tập viên báo Vệ quốc quân, giám đốc Trường Văn hóaquân nhân, chủ nhiệm và biên tập tờ Quân nhân học báo Ông là đảng viênĐảng Lao động Việt Nam từ năm 1948 Năm 1951 ông làm việc ở Trại tu thư
của ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và sách Lịch sử Việt Nam hiện
đại (dùng cho lớp 7 hệ chín năm) Ông cũng viết bài cho báo Giáo dục nhân
dân, cơ quan ngôn luận đầu tiên của Bộ Quốc gia giáo dục lúc bấy giờ Từ saunăm 1954, ông trở lại nghề văn với cương vị Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam(khóa đầu tiên 1957-1958), Ủy viên Ban Thường vụ trong Ban Chấp hành HộiNhà văn Việt Nam các khóa sau đó Ông cũng là Ủy viên Ban chấp hành Hộiliên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, chủ nhiệm Tuần báo Văn (tiền thân củabáo Văn nghệ)
Nguyễn Công Hoan mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội Tên ôngđược đặt cho một phố ở Hà Nội, đoạn giữa hai phố Ngọc Khánh và NguyễnChí Thanh Tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình có con đường mang tênNguyễn Công Hoan ở phường Bắc Lý Nguyễn Công Hoan được tặng Giảithưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996
Tên ông sau này đã được đặt cho Trường THPT Nguyễn Công Hoan tại
xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Ông để lại một di sản nghệ thuật với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyệndài và nhiều tiểu luận văn học, các tác phẩm chính của ông là:
Trang 39Kiếp hồng nhan (truyện ngắn, 1923)
Răng con chó của nhà tư sản (truyện ngắn, 1929; đăng An nam tạp chí
số 23 năm 1931 với nhan đề Răng con vật nhà tư bản)
Hai thằng khốn nạn (truyện ngắn, 1930)
Thật là phúc (truyện ngắn, 1931)
Người ngựa, ngựa người (truyện ngắn, 1931)
Thế là mợ nó đi tây (truyện ngắn, 1932)
Xin chữ cụ nghè (truyện ngắn, 1932)
Tắt lửa lòng (truyện dài, 1933)
Lá ngọc cành vàng (tiểu thuyết, 1934)
Kép Tư Bền (tập truyện ngắn, 1935)
Cô làm công (tiểu thuyết, 1936)
Oẳn tà roằn (truyện ngắn, 1937)
Vợ (truyện ngắn, 1937)
Bước đường cùng (tiểu thuyết, 1938)
Tinh thần thể dục (truyện ngắn, 1939)
Phành phạch (truyện ngắn, 1939)
Cái thủ lợn (tiểu thuyết, 1939)
Nông dân và địa chủ (truyện ngắn, 1955)
Tranh tối tranh sáng (truyện dài, 1956)
Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn 1930 (1960)
Hỗn canh hỗn cư (truyện dài, 1961)
Đống rác cũ (tiểu thuyết, 1963)
Ðời viết văn của tôi (hồi ký, 1971)
Tuyển tập Nguyễn Công Hoan (3 tập, Nhà xuất bản Văn học, 1983-1986) Đồng hào có ma
Truyện ngắn chọn lọc (Nhà xuất bản thời đại, 2010)
Năm 1936, truyện dài Tắt lửa lòng của ông đã được Trần Hữu Trang
chuyển thể thành vở cải lương nổi tiếng Lan và Điệp
Trang 40Truyện ngắn chọn lọc bao gồm 74 truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn
Công Hoan Đây là tuyển tập thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của ông,đặc biệt là trong lĩnh vực truyện ngắn Đây cũng là nguồn tư liệu mà chúng tôi
sẽ khảo sát về câu không đầy đủ để thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Nguyễn Công Hoan là nhà văn xuất sắc của dòng văn học hiện thực phêphán Trước Cách mạng, khuynh hướng văn học giàu tính chiến đấu mà ôngtheo đuổi chưa phải là cách mạng, nhưng rất gần với cách mạng, đóng gópđược nhiều cho Cách mạng Bọn thống trị thực dân và phong kiến hồi ấy trongkhi giở đủ thủ đoạn tàn bạo để bóc lột, áp bức dân tộc ta, trong khi áp đặt lênđầu nhân dân ta một chế độ xã hội vừa độc ác lại vừa thối nát vẫn không ngớttìm đủ cách che đậy bộ mặt thật của chúng bằng nhiều hình thức man trá, lừabịp, mê hoặc , trong đó có thứ “văn học” của bọn bồi bút chuyên tán tụng,quảng cáo cho “ Nhà nước bảo hộ” và “ các vị phụ mẫu của dân” Hồi ấy, vạchtrần những sự thật của chế độ thực dân, gây cho người ta lòng khinh bỉ, ghêtởm, căm ghét đối với chế độ ấy, khiến cho người ta không thể nào chịu đựng,chung sống được với nó - chính là một sự cần thiết, là một trong những côngviệc chuẩn bị về nhận thức và tinh thần cho cách mạng Một số lớn tác phẩmcủa Nguyễn Công Hoan khi đi vào quần chúng, đã đạt được những hiệu quảcách mạng này
Ngay từ khi sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Công Hoan đươngthời trong thời kỳ phát triển, Đảng đã đánh giá đúng giá trị và tác dụng của cáctác phẩm của ông Một trong những nhà lý luận phê bình đầu tiên của Đảng,nhà văn Hải Triều đã giới thiệu tập truyện “Kép Tư Bền” của Nguyễn CôngHoan và cho rằng qua nhân vật đó, nhà văn đã phát biểu quan niệm của Đảng
Từ đó, Đảng luôn luôn ân cần theo dõi, biểu dương và, khi cần thiết, phê bình,giúp đỡ nhà văn Nguyễn Công Hoan trong sự nghiệp sáng tác của mình
Hiện nay, công việc nghiên cứu về nền văn học nước ta trước Cách mạngđang đang được quan tâm triển khai Trong nền văn học ấy, Nguyễn Công