1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cơ sở lí luận trâm s1 sai

15 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 139,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng và phát triển năng lực cho học sinh là một trong những chiến lược cơ bản nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực của Đảng ta. Trong đó, năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học. Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là sự tổng hợp của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động. Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động. chính vì vậy trong lĩnh vực sư phạm nghề, năng lực còn được hiểu là: khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.

Trang 1

Tên đề tài: “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN ĐỂ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VI SINH VẬT HỌC, BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”

2 CƠ SỞ LÍ LUẬN

2.1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực [2]

2.1.1 Khái niệm

Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một tên gọi khác

hay một mô hình cụ thể hoá của chương trình định hướng kết quả đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học của chương trình được mô tả thông qua các nhóm năng lực

Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng và phát triển năng lực cho học sinh là một trong những chiến lược cơ bản nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực của Đảng ta Trong đó, năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học Có nhiều

định nghĩa khác nhau về năng lực Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là sự tổng hợp của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.

Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động chính vì vậy trong lĩnh vực sư phạm nghề, năng lực còn được hiểu

là: khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm

vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay

cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.

Trang 2

Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được

sử dụng như sau:

- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được

mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;

- Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên kết

với nhau nhằm hình thành các năng lực;

- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn ;

- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ

quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp;

- Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống ;

- Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung

cho công việc giáo dục và dạy học;

- Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn

nghề; Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/phải đạt được những gì?

2.1.2 Mô hình cấu trúc năng lực

Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể

Trang 3

- Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc

lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực nội dung

chuyên môn, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn.

- Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những

hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn

đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức

- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong

những tình huống xã hội xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác

- Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được

những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá

Trang 4

nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi

Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này

Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc OECD, người ta cũng

sử dụng mô hình năng lực đơn giản hơn, phân chia năng lực thành hai nhóm chính, đó là

các năng lực chung và các năng lực chuyên môn.

- Nhóm năng lực chung bao gồm:

 Khả năng hành động độc lập thành công;

 Khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ;

 Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất

- Năng lực chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt Chẳng hạn các năng

lực được hình thành và phát triển qua môn Sinh học như: năng lực kiến thức Sinh học, năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm

Như chúng ta đã biết, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo không đồng nhất với năng lực nhưng lại có quan hệ mật thiết với năng lực Năng lực góp phần làm cho sự tiếp xúc với tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo ngày một tốt hơn Năng lực của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất nhưng mặt khác điều chủ yếu là năng lực được hình thành, rèn luyện và phát triển trong những hoạt động tích cực của con người dưới sự tác động của rèn luyện dạy học và giáo dục

2.1.3 Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực

Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực:

Trang 5

Sinh học là môn khoa học nghiên cứu đối tượng sống, một dạng vật chất có sự vận động cao nhất, trong đó chứa đựng mọi mối quan hệ của sự vận động: Lý học, Hóa học, Sinh học và Xã hội học Ngày nay, Sinh học đã phát triển rất nhiều và không dừng lại ở hoạt động mô tả, thí nghiệm mà còn thiết lập những mối quan hệ bên trong hình thành những quy luật phản ánh sự vận động vốn có của tổ chức sống ở các cấp độ khác nhau Các vấn đề nảy sinh hầu hết có liên quan đến trực tiếp đến đời sống hằng ngày của chúng

ta Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng, việc rèn luyện và phát triển các năng lực chung cho HS là một việc rất quan trọng PPDH theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV- HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng

Trang 6

riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

2.2 Năng lực giải quyết vấn đề

2.2.1 Vấn đề

2.3 Dạy học dự án

2.3.1 Bản chất của dạy học dự án

2.3.1.1 Khái niệm

Có rất nhiều nhà khoa học đã định nghĩa về DHDA Qua quá trình nghiên cứu, chúng

tôi rút ra khái niệm: DHDA (Project Based - Learning) là một PPDH tích cực trong đó

GV hướng dẫn HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả.

DHDA đặc biệt nhấn mạnh tới việc hướng dẫn HS thực hiện dự án học tập gắn liền với nội dung môn học Dự án học tập được thực hiện trong những điều kiện xác định và

có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau Dự án học tập của HS thường được thực hiện theo các nhóm nhỏ HS trong lớp hoặc có khi cả một tập thể lớp Kết quả

dự án là những sản phẩm có thể công bố, giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, sản phẩm thật hoặc chương trình hành động cụ thể…

2.3.1.2 Đặc điểm của dạy học dự án [1]

Theo nhiều tác giả nghiên cứu, có thể cụ thể hóa các đặc điểm của DHDA như sau:

- Người học là trung tâm của DHDA

+ Dạy học dự án chú ý đến nhu cầu, hứng thú của người học: người học được trực

tiếp tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú của cá nhân Dạy học dự án là một phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm

+ Người học tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh

Trang 7

giá quá trình và kết quả thực hiện Giáo viên chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ, khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.

+ Người học không chỉ nghe, ghi nhớ, nhắc lại mà cần thu thập thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau rồi phân tích, tổng hợp, đánh giá và rút ra tri thức cho mình

+ Người học không chỉ tiếp thu kiến thức về các sự kiện mà còn áp dụng lý thuyết vào thực tế, rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề

+ DHDA quan tâm đến hứng thú của HS do đó phát huy được tính tự lực cao, thúc đẩy ham muốn học tập của HS, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng HS tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình học

- Dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn của một dự án

+ Trong quá trình thực hiện dự án, người học tiếp thu kiến thức và hình thành kỹ năng thông qua các hoạt động thực tiễn

+ Chủ đề của dự án luôn gắn liền với những tình huống của thực tiễn xã hội, với những nghề nghiệp cụ thể, đời sống có thực…

+ Người học thường đóng một vai gì đó khi thực hiện dự án

+ Các dự án học tập góp phần gắn liền nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội, với địa phương, với môi trường và có thể mang lại những tác động tích cực đối với xã hội

- Quan tâm đến sản phẩm của hoạt động

+ Trong quá trình thực hiện dự án, người ta quan tâm nhiều đến các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm có thể là vật chất, hoặc phi vật chất, một bản thiết kế hoặc một kế hoạch

+ Các sản phẩm không chỉ là những thu hoạch thuần túy về lí thuyết mà trong đa số trường hợp, các dự án còn tạo ra những sản phẩm vật chất mang tính xã hội

+ Để có một sản phẩm tốt do người học tự làm, giáo viên phải khéo léo điều chỉnh

dự án sao cho sản phẩm của dự án là kết quả của quá trình thực hiện một công việc thực

tế chứ không chỉ là trình bày lại các thông tin thu thập được

+ Giáo viên cùng với người học đánh giá sản phẩm dựa trên tính thực tế, tính hữu ích của sản phẩm và sự kết hợp làm việc giữa các thành viên trong nhóm

Trang 8

+ Những sản phẩm đem lại nhiều ích lợi đối với xã hội thường được đánh giá cao Chúng có thể được công bố, giới thiệu rộng rãi và đưa vào sử dụng trong thực tế

- Hoạt động học tập phong phú và đa dạng

+ Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề có thực mang tính thách đố Dự án có tính liên môn, có nghĩa

là nhiều môn học liên kết với nhau Một dự án dù là của môn nào, cũng phải đòi hỏi kiến thức của nhiều môn học để giải quyết Đặc điểm này giúp dự án gần với thực tế hơn vì trong cuộc sống ta cần kiến thức tổng hợp để làm việc

+ Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết về lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn

+ Trong dạy học dự án, việc kiểm tra đánh giá đa dạng hơn, kiểm tra qua hoạt động nhiều hơn, nên giảm kiểm tra kiến thức thuần túy và kiểm tra viết

+ Trong dạy học dự án, phương tiện học tập đa dạng hơn, công nghệ thông tin được tích hợp vào quá trình học tập

- Kết hợp làm việc theo nhóm và làm việc cá nhân

+ Các dự án thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự phân công và cộng tác làm việc giữa các thành viên

+ Làm việc theo nhóm giúp cho sản phẩm chất lượng hơn, tốn ít thời gian hơn vì nó kết hợp và phát huy được sở trường của mỗi cá nhân

+ Các dự án đòi hỏi kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên, giữa học viên và giáo viên cũng như với các lực lượng xã hội khác cùng tham gia trong dự án Nhờ đó, hoạt động trong dạy học dự án có tính xã hội cao [1]

2.3.1.3 Mục tiêu của dạy học dự án

- DHDA hướng tới phát triển các kĩ năng tư duy, nhận thức bậc cao như phân tích,

tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực, tinh thần học tập suốt đời.

- DHDA hướng tới việc nâng cao kĩ năng chuyên môn và kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm

Trang 9

- DHDA hướng tới các vấn đề của thực tiễn nhằm gắn kết nội dung học với cuộc sống thực

- DHDA hướng tới phát triển kĩ năng làm việc và kĩ năng sống như kĩ năng lắng nghe và giao tiếp, trao đổi, tranh luận, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng làm việc tập thể, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin, đưa ra và bảo vệ ý kiến

2.3.2 Phân loại dự án

DHDA có thể phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại:

- Phân loại theo chuyên môn

 Dự án trong môn học: Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học

 Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau

 Dự án ngoài chuyên môn: Các loại dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học

- Phân loại theo sự tham gia của người học

 Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức

DH chủ yếu

 Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học

- Phân loại theo sự tham gia của GV

 Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

- Phân loại theo quĩ thời gian

 Dự án nhỏ: Thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 – 6 giờ học

 Dự án trung bình: Dự án trong một hoặc một số ngày (ngày dự án) nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

 Dự án lớn: Thực hiện với quĩ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (40 giờ học),

có thể kéo dài nhiều tuần (tuần dự án)

- Phân loại theo nhiệm vụ

Trang 10

 Dự án tìm hiểu: Là dự án khảo sát thực trạng đối tượng.

 Dự án nghiên cứu: Nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, các quá trình

 Dự án kiến tạo: Trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Dự án có tính tổng hợp là

dự án kết hợp nhiều hoạt động khác nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng

2.3.3 Mối quan hệ giữa DHDA và GQVĐ

2.3.4 Vai trò của GV và HS trong dạy học dự án

Vai trò của GV

Khác với PPDH truyền thống, GV đóng vai trò chủ đạo, nắm giữ tất cả kiến thức và truyền tải đến HS Trong môi trường dạy học theo dự án, GV chỉ là người hướng dẫn, hỗ trợ và tạo động lực thúc đẩy vai trò tự chủ của HS, gắn sự chủ động của HS trong việc giải quyết nội dung bài học GV chịu trách nhiệm tư vấn và giúp đỡ HS giải quyết các vướng mắc chứ không phải giải quyết hộ HS

GV cần biết và chủ động tạo ra sự hỗ trợ cần thiết trước những lần HS rẽ sai trên con đường hoàn thành dự án, có thể bằng các chỉ dẫn hoặc bằng các sản phẩm mẫu, các tài liệu, các nguồn thông tin, các chuyển giao công việc, các phiếu đánh giá

GV phải tập trung hơn vào việc tạo cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu hướng dẫn HS đồng thời cũng phải tạo ra môi trường học tập thúc đẩy phương pháp học tập theo kiểu hợp tác giữa các thành viên trong nhóm

Vai trò của HS

Theo các nghiên cứu, DHDA mang lại hiệu quả cao trong giáo dục và HS là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất Để có được những lợi ích mà DHDA mang lại, HS không thể làm việc theo thói quen và đóng vai trò thụ động như trong các lớp học truyền

Ngày đăng: 03/10/2018, 18:32

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w