1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THI PHÁP HỌC

33 706 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 100,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chương trình Ngữ văn 7 các em đã được làm quen với một số tác phẩm thơ Nôm Đường luật như Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, Bạn đến chơi nhà của Nguyễn khuyến. Vì thế dù ít nhiều nhiều các em đã được tiếp cận với thể loại thơ ca này ở các lớp dưới và cũng có những nền tảng nhất định. Bởi vậy lên chương trình THPT các em lại tiếp tục được tìm hiểu thể loại thơ này nên cũng có nhiều những thuận lợi. Đa số các em học sinh đã nắm được tên tác giả, bài thơ, thể thơ và nội dung, nghệ thuật cơ bản của thể thơ này. Các em cũng có những hứng thú nhất định trong việc tìm hiểu, khám phá những bài thơ này so với một số bài thơ trung đại khác. Đội ngũ các thầy cô giáo cũng có kiến thức chuyên môn vững vàng, có những hiểu biết nhất định về thể thơ này khi tìm hiểu nghiên cứu, giảng dạy. Hiện nay nguồn dữ liệu khai thác trên phương tiện công nghệ thông tin cũng tương đối thuận tiện nên cũng cũng việc tìm hiểu, nghiên cứu, trau dồi về thể thơ này cũng có nhiều thuận lợi hơn. 1.2.1.2. Khó khăn.

Trang 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THI PHÁP HỌC 1.1 Cơ sở lí luận

là một bộ môn khoa học nghiên cứu các hình thức nghệ thuật của văn học Còn

theo Từ điển Bách khoa văn học giản yếu Nga ghi lại thì “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của các tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ

mà chúng sử dụng.”[5, tr 936] Trong công trình Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki, tác giả M Bakhtin không nêu ra định nghĩa trực tiếp về thi pháp

học nhưng nội dung nghiên cứu của ông về Đôxtoiepxki như “Cái nhìn nghệthuật độc đáo” hay “ngôn ngữ đa giọng” cũng đã xác nhận nội dung của thi

pháp học Công trình Thi pháp văn học Nga cổ của D X Likhasốp nghiên cứu

về hệ thống thể loại, cách khái quát nghệ thuật, các phương tiện văn học, khônggian, thời gian nghệ thuật cũng đã đề cập nhiều những khái niệm, nhiều nhữngvấn đề của thi pháp

Các nhà nghiên cứu văn học phương Tây cũng có nêu ra một vài định nghĩakhác về thi pháp học nhưng tựu chung lại thì đều xem văn học như một nghệ

thuật Theo nhà lí luận văn học người Nga V Girmunxki thì : “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là một nghệ thuật” [8, tr 5].

Như vậy, tác giả đã định nghĩa về thi pháp học trong sự lồng ghép giữa tínhkhoa học và tính nghệ thuật của văn học Từ định nghĩa này nhà nghiên cứu văn

học Viện sĩ V Vinogradop đã cụ thể hóa vấn đề thi pháp như sau “Thi pháp học

là khoa học về hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm của sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học Nó muốn bao quát không chỉ là các hiện tượng của ngôn từ thơ, mà

Trang 2

còn là cả các khía cạnh khác nhau nhất của tác phẩm văn học và sáng tác dân gian.” [18, tr 8] Ở đây tác giả chủ yếu nhấn mạnh vào đối tượng đặc thù của

thi pháp học là hình thức tổ chức tác phẩm văn học

Khi xem thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học như một nghệ thuật đãbao hàm được một phạm vi rất rộng, từ tác phẩm cụ thể, thể loại đến các kháiquát phổ quát Điểm làm cho thi pháp học có vị trí độc lập phân biệt với các bộmôn khác trong khoa văn học là thi pháp chỉ nghiên cứu cấu trúc và thuộc tínhnghệ thuật của văn học từ góc độ nghệ thuật Thi pháp học còn bao gồm sự miêu

tả, khám phá hệ thống các phương tiện cấu trúc nghệ thuật cụ thể mang sắc tháidân tộc và cá nhân, như thi pháp văn học Nga, thi pháp văn học Trung Quốc,hoặc trong nước thì có thi pháp văn học trung đại, thi pháp văn học hiện đại, thipháp thơ Tản Đà, thi pháp thơ Tố Hữu…

1.1.2 Đặc trưng thi pháp văn học trung đại Việt Nam

1.1.2.1 Hệ thống ưóc lệ trong văn học trung đại

Trong đời sống xã hội, ước lệ là một qui ước có tính cộng đồng Ước lệ

là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sựvật và hiện tượng hiện lên đúng với những qui ước và đúng với cách hiểucủa cả cộng đồng

Văn học nghệ thuật mọi thời, mọi dân tộc bao giờ cũng có tính ước lệ Bởi lẽ,văn học không là phiên bản thu nhỏ của hiện thực đời sống, nhưng bắt nguồn từmảnh đất thực tại, thanh lọc thực tại qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, lăngkính thẩm mỹ của thời đại Có điều, ước lệ trong văn học là ước lệ thẩm mỹ cótính qui ước của các nhà văn trong một thời đại, trong một giai đoạn, một dòngvăn học nhất định

Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam được nhà văn sử dụng triệt để,nghiêm túc và phổ biến Các nhà văn bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giớibằng hệ thống nghệ thuật ước lệ Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp củavăn học Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phongkiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học

Xã hội phong kiến là một xã hội đẳng cấp, lắm nghi thức, công thức Xã

Trang 3

hội bị lễ nghĩa trói buộc, nên văn chương tất phải ước lệ Tấng lớp Nho học xemsách xưa, lời nói cuả thánh hiền, người trước là chuẩn mực thì văn chươngkhông thể không đạt đến những mẫu mực về bút pháp, dùng từ, xây dựng hìnhảnh, hình tượng, sử dụng điển tích, điển cố, Với các nhà văn thời này vănchương phải “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí”; sáng tác văn học là hình thứctrước thư lập ngôn, nên văn chương ước lệ mới đẹp, mới sang trọng Trong tácphẩm, nhà văn càng sử dụng nhiều nghệ thuật ước lệ chừng nào thì càng uyên

áo, càng đẹp; mới thực hiện được chức năng giáo dục đạo lý của nó; mới gópphần hình thành mẫu người phong kiến lý tưởng

Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam bao gồm ba tính chất: Tính uyênbác và cách điệu hóa cao độ Tính sùng cổ Tính phi ngã

* Tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ

Không phải ngẫu nhiên văn học chính thống thời phong kiến được mệnhdanh là văn chương bác học (Văn học dân gian gọi là văn học bình dân) Gọinhư thế, văn chương mang trong mình nó tính bác học Người sáng tác phải báchọc và người tiếp nhận cũng rất bác học Bởi đây là loại văn chương phòngkhách, trà dư tửu hậu

Văn chưong chính thống thời phong kiến mang tính qui phạm từ góc độsáng tác đến thưởng thức Giới văn học hẹp, chỉ quanh quẩn trong tầng lớp tríthức Hán học tài hoa, tao nhân mặc khách Trường hợp Nguyễn Khuyến vàDương Khuê là một thí dụ tiêu biểu Độc giả của Nguyễn Khuyến là DươngKhuê, nên khi bạn văn mất, nhà thơ như muốn gác bút:

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa

?

Sáng tác trong môi trường ấy, tất nhiên tính uyên bác có ý nghĩa thẩm mỹ.Người sáng tác cũng như người tiếp nhận đều phải thông thuộc kính sử, điển cố,điển tích; phải có vốn thi liệu, văn liệu phong phú học tập được từ những ángvăn bất hủ của người xưa Văn chương càng uyên bác càng có sức hấp dẫn lớn,

có tính nghệ thuật cao

Trang 4

Trước sau nào thấy bóng người Hoa đào năm ngóai còn cười gió đông

(Nguyễn Du)

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân gìau đủ khắp đòi

phương.

(Nguyễn Trãi)Văn chương của tao nhân mặc khách, nên có khuynh hướng lý tưởng hóa,

“văn chương hóa”, Các nhà văn thời ấy muốn tạo ra một thế giới nghệ thuậtriêng khác với thế giới đời thường Cho nên, thế giới nghệ thuật của các trangvăn thời này luôn được các nhà văn cách điệu hóa cao độ Hình tượng nghệthuật càng cách điệu hóa càng đẹp

Quan niệm này đã làm nấy sinh thái độ xem thường văn xuôi Trong cáinhìn của các nhà văn và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đờisống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn ngữ giàu tính cáchđiệu Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, màyliễu, mặt hoa, tay tiên, gót sen, vóc hạc, Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đangsống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:

Hài văn lần bước dặm xanh Một vùng như thể cây quỳnh cành dao Chàng Vương quen mặt ra chào

Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa

(Nguyễn Du)Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp nhưmai, cúc, tùng, bách, liễu,

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Trang 5

(Bà huyện Thanh Quan)

Nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực Tả thực nếu có, chỉ dùngcho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh, Tú bà…

Thoắt trông nhờn nhợt màu

da Ăn chi cao lớn đẫy đà lám sao ?

Thời bấy giờ, người ta quan niệm con người không hòan thiện, hòan mỹbằng tạo hóa, không tài hoa bằng hóa công Vì thế, những gì cần lý tưởng hóađều phải được so sánh với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho cáiđẹp của con người Con những tiểu nhân chỉ có thể so sánh với xác củachúng,mới tả thực

* Tính sùng cổ:

Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của dântộc ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ Họ lấy quá khứ làm chuẩnmực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức Với họ thời đại hòang kim không có trongthực tại Thời đại hòang kim chỉ có vào thời Nghiêu, Thuấn; người anh hùngnghĩa sĩ lý tưởng là Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng (Hịch tướng sĩ văn) Chân lýquá khứ là chân lý có sức sáng tỏa muôn đời Vì thế, văn chương thường lấytiền đề là lý lẽ và kinh nghiệm của cổ nhân, của lịch sử xa xưa (lập luận trongQuân trung từ mênh tập của Nguyễn Trãi là một minh chứng)

Vì vậy mà văn học trung đại thường đầy rẫy những điển tích, điển cố Mẫumực của văn chương cũng như vậy Thơ ca không ai có thể vượt qua những thithánh, thi tiên, thi thần như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,

Chính vì vậy, các nhà văn đời sau thường “tập cổ” vay mượn văn liệu, thi

tứ, hình ảnh nghệ thuật của các nhà thơ, nhà văn đời trước mà không bị đanh giá

là “Đạo văn” Ngược lại, họ được đánh giá là một cây bút đạo đức, sang trọng;tác phẩm của họ rất giàu giá trị

* Tính phi ngã:

Thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa có điều kiện phát triển Con ngườichưa bao giờ dám “sống là mình”, “sống với mình” Con người chỉ sống vớikhông gian mà không sống cùng thời gian

Trang 6

Con người được nhìn nhận, đánh giá trên cơ sở của tầng lớp, giai cấp, dòngtộc, địa vị xã hội Vì thế con người được phân thành hai loại: quân tử và tiểunhân Trong cuộc sống cũng như trong văn chương, yêu đương tự do khó có thểchấp nhận và không bao giờ đạt được hạnh phúc Hôn nhân xây dựng trên cơ sởđẳng cấp, môn đăng hộ đối Người có văn hóa giáo dục là người biết khắc kỉ, biếtgiữ mình, biết nhún mình, thu mình lại, hạ thấp cái tôi cá nhân của mình.

Chính điều kiện xã hội ấy đã sinh ra hệ thống ước lệ trong văn chương, mộtước lệ nghệ thuật có tính phi ngã Nhà văn cảm thụ và diễn tả thiên nhiên khôngbằng cái nhìn hữu ngã và bằng ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu do cá nhân mìnhsáng tạo

Tranh vẽ, thơ vịnh đều có sự quy định theo một công thức nhất định: tứquý, tứ linh, tứ thú, Tạo vật thì phải là xuân lan, thu cúc, hoa điểu, tùng hạc,con người thì ngư, tiều, canh, mục Buổi chiều phải có chim bay về tổ, mụcđồng thổi sáo réo rắt ngồi trên mình trâu về thôn xa, người lữ thứ bước vội trênđường, chùa xa chuông ngân tiếng âm trầm giục giã khách giang hồ, Cảnhtrăng khuya thì có thuyền gối bãi, thuyền chở trăng; đêm thì có tiếng dế nỉ non,khoan nhặt, giọt ba tiêu thánh thót rơi buồn,

Truyện luôn có nhân vật giai nhân tài tử, trai anh hùng gặp gái thuyềnquyên Gái đẹp luôn được miêu tả: mặt hoa da phấn, “làn thu thủy nét xuânsơn”, lưng ong, gót sen; anh hùng thì râu hùm hàm én; đấng trượng phu, bậcquân tử được ví như cây tùng, cây bách nơi chốn lâm tuyền, sẽ làm rường cộtcho quốc gia, Cốt truyện thì theo một công thức định sẵn như: gặp gỡ, ly tán,đòan viên,

Thơ phải cách luật Luật phối thanh bằng trắc của thơ phú cũng quy địnhnghiêm ngặt, chặt chẽ, khiến cho người làm thơ phải diễn tả thế giới bằng thínhgiác có tinh “phi ngã” của cộng đồng tao nhân mặc khách Bố cục thơ cũng địnhsẵn, bất di bất dịch Ngay cả tiêu đề thơ cũng quanh quẩn: ngôn hòai, thuật hoài,ngôn chí,

Người viết văn làm thơ có một kho điển cố, điển tích, kho thi liệu, văn liệuchung Tất cả đều là những hình ảnh, những ngôn từ ước lệ phi ngã Nói chuyện

Trang 7

tri âm, tri kỉ thì “mắt xanh chẳng để ai vào”, nói tình yêu lỡ dỡ thì có chuyệnThôi Oanh Oanh, Trương Quân Thụy Nói người phụ nữ tài hoa thì ví như nàngBan, ả Tạ Cha mẹ là huyên đường, vợ chồng là tao khang Nhớ quê hươngthì trông áng mây Tần xa xa Tất cả đều có nguồn gốc ở trong văn chương

cổ Trung Hoa mà người viết văn, làm thơ cũng như người đọc văn, đọc thơ phảithông thạo

Tuy nhiên, nói văn học trung đại có tính phi ngã không có nghĩa trong tácphẩm văn chương không có dấu ấn bản ngã của người nghệ sĩ Bởi lao độngnghệ thuật là một họat động sáng tạo; văn học chân chính không chấp nhận côngthức, phi ngã Trong văn học thời trung đại của dân tộc ta, các cây bút lớn đềukhẳng định tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của họ Tiến trình văn học đãkhẳng định điều đó Chúng ta không thể phủ nhận cá tính sáng tạo của Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần

Tế Xương, Tản Đà, Chỉ có điều, do tính qui phạm nghệ thuật; nên sự khác biệttrong tư tưởng và phong cách nghệ thuật của các cây bút ấy chỉ là những hìnhthức khác nhau của sự vận dụng những chuẩn mực chung của cộng đồng vănhọc bấy giờ mà thôi

1.1.2.2 Thiên nhiên trong văn học trung đại

Đi vào tìm hiểu những tác phẩm thơ ca của cha ông xưa, người đọc nhưđược sống giữa thế giới tạo vật thiên nhiên non nước hữu tình vừa tĩnh lặng vừahòanh tráng Trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn trung đại hình như khôngthể vắng bóng thiên nhiên Thiên nhiên làm nên diện mạo, linh hồn của tácphẩm Thiên nhiên biểu hiện cảm quan vũ trụ, mỹ cảm và tư tưởng triết họcphương Đông của các nghệ sĩ Nho học này

Riêng thơ ca thì thơ tức cảnh cũng là như tranh sơn thủy chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn nghệ thời phong kiến

Hiện tượng này có thể bắt nguồn từ xã hội kinh tế nông nghiệp thô sơ củathời trung đại Thời ấy con người sống giữa thiên nhiên Con người trực tiếpkhai thác thiên nhiên bằng bàn tay lao động của mình Thiên nhiên lànguồn nuôi dưỡng tinh thần và vật chất cho con người Thiên nhiên có mặt

Trang 8

trong cuộc sống gia đình, xã hội của cư dân của nền văn hóa thảo mộc, nềnvăn minh lúa nước Hiện tượng nghệ thuật này cũng có thể nẩy sinh từ hệ triếthọc phương Đông: con người hòa đồng với vạn vật, tạo vật và con ngườitương sinh trong thế giới này Và cũng có thể xuất phát từ đời sống văn hóatín ngưỡng Tô-tem hay tín ngưỡng phồn thực phương Đông.

Hiện tượng này cũng có thể lý giải bằng hệ tư duy tổng hợp Đông phương,bằng tính cách duy cảm của dân tộc ta Con người không nhìn nhận mình là chủthể mà cảm nhận mình là một yếu tố cùng với thiên nhiên tạo nên sự sống củathế giới thực tại này Con người duy cảm nên luôn đắm mình vào những biếnthái mong manh, tinh vi của tạo vật để giao cảm, giao hòa Vì vậy, ta hiểu vănchương trung đại thơ ca chiếm một vị trí quan trọng và trong văn xuôi lại thắmđượm chất thơ, cảm xúc trữ tình

Vì những căn cứ trên, thiên nhiên không tách khỏi con người như một kháchthể trong văn chương con người cảm thụ thiên nhiên như là một chủ thể Conngười đã gán cho thiên nhiên những phẩm chất, thuộc tính của chính mình.Thiên nhiên chưa được khám phá với những giá trị tự thân, chưa thực sự làđối tượng hiện thực của văn học Người ta tìm đến với thiên nhiên và xemthiên nhiên như là một tư liệu để để ngụ tình hay giáo huấn đạo đức một cáchkhông tự giác

Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)Điều này khác với văn chương hiện đại Văn chương hiện đại tôn trọng

sự sống riêng của tạo vật thiên nhiên Thiên nhiên được miêu tả như là mộtkhách thể

Từ tư tưỏng và quan niệm trên, văn chương trung đại đã miêu tả thiên nhiêntheo một bút pháp đặc biệt: không tả hình xác của tạo vật mà gợi tả linh hồn củathiên nhiên Thiên nhiên trở thành ý niệm tượng trưng, dấu hiệu tượng trưng,chứa đựng những cảm giác, cái không thấy của con người Thiên nhiên là nơi

Trang 9

gởi gắm những tư tưởng, tình cảm hay triết lý của con người.

Xuân đến trăm hoa nở Xuân đi trăm hoa rụng

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai

(Mãn Giác Thiền sư)Thiên nhiên có linh hồn nên cũng sang hèn, quân tử tiểu nhân như conngười Các nhà thơ xưa không chấp nhận cái thấp hèn, những sự vật tầm thườngnên thiên nhiên trong thơ họ luôn là những tạo vật cao sang Các nhà thơ bầubạn hay tri âm tri kỷ với thiên tao nhã, sang trọng như: “Sơn thủy yên hoa tuyếtnguyệt phong” (Hồ Chí Minh) Họ tự ví mình như cốt cách phong độ của “Mai,lan, cúc, trúc” hay “Tùng, cúc, trúc, mai”

Quét trúc bước qua lòng suối Thưởng mai về đạp bóng trăng

(Nguyễn Trãi)Hay:

Nghêu ngao vui thú yên hà Mai là bạn cũ hạc là người thân

(Nguyễn Du)

Họ đối lập thiên nhiên tao nhã với thiên nhiên phàm tục, tầm thường cũng là

để đối lập họ với những kẻ tiểu nhân, phàm phu đắc thế:

Phượng những tiếc cao diều hãy liệng Hoa thường hay héo cỏ thường tươi

Hoặc:

Trang 10

Đến trường đào mận ngặt chăng thông Quê cũ ưa làm chủ trúc thông

(Nguyễn Trãi)

Do cảm thụ thiên nhiên như vậy, nên văn thơ có hai đặc tính:

Thiên nhiên được cảm nhận và tái hiện một cách tinh vi như muốn khám phálinh hồn ẩn kín, bí mật của tạo vật

Thụy khởi khải song phi Bất tri xuân dĩ quy Nhất song bạch hồ điệp Phách phách sấn hoa phi

dịch thơ:

Ngủ dậy ngó song mây Xuân về vẫn chửa hay Sog song đôi bướm trắng Phấp phới sấn hoa bay.

(Xuân hiểu-Trần Nhân Tông)

Thiên nhiên trong thơ thường được phối màu thanh đạm, đường nét thanhtao; nhưng mang đậm chất sống ngồn ngộn tươi rói như thiên nhiên trong cuộcsống đời thường

Đồng bằng nhô núi biếc Hình thế tựa diều bay Cầu vắt qua khe nước Chùa nằm tít đỉnh mây

(Đề núi cánh diều-Lê Quý Đôn)

Thiên nhiên luôn được tái hiện bằng cảm xúc dạt dào, tình cảm lắng sâu củangười làm thơ Những vần thơ đã trích là một thí dụ Đọc những vầng thơ củaNguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Lê Quý Đôn,… ta như nghe thấy hơi thở nhịpđiệu tâm hồn của các thi nhân ấy Thơ của các thi nhân ấy là tâm hồn sáng láng,

Trang 11

nhân cách cao cả, phong thái tự tại của chính họ giữa chốn đời bụi bặm này.

1.1.2.3 Quan niệm về không gian, thời gian

* Không gian nghệ thuật

Không gian là nơi con người tồn tại Trong tác phẩm văn học, không giannghệ thuật chính là những nơi chốn, địa điểm được diễn tả trong tác phẩm.Trong tác phẩm văn học không gian nghệ thuật được chia thành các hìnhthức sau:

Không gian vũ trụ: Rộng lớn, kì vĩ

Không gian đời thường: Gần gũi, quen thuộc

Không gian vay mượn: Đó thường là những không gian tượng trưng, được vay mượn ở Trung Quốc:

Mượn núi, sông để diễn tả sự xa cách, sự ngăn cách

“Yêu nhau mấy núi cũng leo, Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”.

Hay: “Núi cao chi lắm núi ơi!

Núi che mặt trời không thấy người thương”.

Mượn núi Thái Sơn để diễn tả núi cao

Mượn Trường An, Lạc Dương để diễn tả kinh đô

Mượn sông Dịch Thuỷ để diễn tả nơi biệt li

Mượn sông Tiêu Tương để diễn tả miền thương nhớ

Khi tìm hiểu cần lí giải được những hình ảnh tượng trưng đó, hiểu đượcnhững địa danh đã đi vào điển cố, điển tích Không gian nghệ thuật trong các tácphẩm văn học cũng được chia thành:

Không gian địa lí

Không gian tâm lí

Con người sống chiếm một khoảng không gian Không gian đó chính làkhông gian địa lí Trong bài ca dao, có hai kiểu không gian Không gian địa lí xathì xa, gần là gần Xa hay gần chính là đơn vị dùng để diễn tả khoảng cách Ngoài không gian địa lí trong bài ca dao còn có khoảng không gian vô hình, đó

là không gian tâm lí Không gian tâm lí không như không gian địa lí, xa hay gần tuỳ

Trang 12

thuộc vào sự cảm nhận của con người Không gian tâm lí được đo bằng sự nhạycảm của trái tim Chính vì vậy nên có rất nhiều nghịch lí Có khi xa mà gần, cókhi gần mà xa Nếu có khoảng cách về không gian địa lí, con người sống có tìnhcảm thì khoảng cách đó có thể thu hẹp được:

"Yêu nhau chẳng ngại đường xa

Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều”

Còn sống mà có khoảng cách về tâm lí thì gần cũng trở nên xa

* Thời gian nghệ thuật

Con người thời cổ đại và trung đại chưa xem thời gian và không gian nhưnhững phạm trù trừu tượng Thời ấy, người ta cảm nhận thời gian bằng sự trựccảm, bằng những tín hiệu không gian, bằng sự vận động của thiên nhiên và sựsống của con người Bước đi của thời gian được theo dõi bằng thời tiết bốn mùa,bằng thời vụ nông tang, bằng sen tàn, cúc nở, bằng oanh vàng liễu biếc haytiếng Đỗ quyên kêu

Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông

(Nguyễn Du)

Hay:

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca Nay quyên đã giục oanh già

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

(Chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn)

Từ kinh nghiệm trực cảm, người xưa có hai nhận thức về thời gian:

Quan sát cận cảnh hằng ngày, nhận thức thời gian tuyến tính một đi không trởlại Thời gian tuyến tính vận động mau lẹ, đầy hình ảnh, đầy màu sắc cụ thể vàgiàu chất sống Thời gian tuyến tính là thời gian của thế giới phàm tục

Quan sát thế giới từ xa, nhận thức thời gian tuần hòan qua sự tuần hòan của

vũ trụ Đây là quan niệm thời gian theo chu kỳ, thời gian quay tròn không đimất, động mà tĩnh, ngưng đọng, phi thời gian Thời gian chu kỳ là thời gian của

Trang 13

cõi trời, cõi tiên, của thế giới thanh cao bất tử.

Trong hai quan niệm thời gian này, người xưa chủ yếu hướng về thời gianchu kỳ, họ cho rằng thời gian tuyến tính phục tùng thời gian chu kỳ Vì vậy,cảnh trong thơ xưa nhìn chung là cảnh ngưng đọng, phi thời gian, màu sắc đạmbạc giàu ý nghĩa biểu tượng triết lý hơn là hiện thực

Trong truyện cổ, do cảm giác thời gian tuyến tính và chu kỷ song hành, nêncốt truyện thường có mô-típ: con người từ cõi trần lên cõi tiên, rồi từ cõi tiên trởlại cõi trần, từ thời gian tuyến tính đi lên thời gian chu kỳ rồi quay về thời giantuyến tính Truyện Từ Thức lên tiên sống với thế giới phi thời gian, sau đó trở

về lại cõi trần và thấy trăm năm đã trôi qua

Trong thơ ca cổ điển, các nhà thơ cũng cấu tứ theo hai ý niệm thời gian như

thế Bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu khẳng định điều đó:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

Mà nay Hòang hạc riêng lầu còn trơ Hạc vàng bay mất từ xưa Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay

(Tản Đà dịch)Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian chu kỳ ngưng đọng biểu đạt lốisống nhàn tản, bất hòa với cõi nhân gian thế thái:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Hoặc: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Trang 14

Trong thơ Nguyễn Khuyến, thời gian hầu như tĩnh tại đồng hiện, con người nhưđóng khung trong thời gian lắm sắc màu lòe lọet, nhịp điệu trì trệ ấy mà cảmnghe sự bất lực của một kẻ sĩ :

Năm gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

Chính quan niệm này đã chi phối quan niệm nghệ thuật về con người trongvăn chương: con người vũ trụ Con người vũ trụ thể hiện qua một thi đề phổbiến của thơ trữ tình: con người giao cảm, đối diện đàm tâm với tạo vật vũ trụ,

có kích thước vũ trụ

Đó là khi con người khi gặp oan khuất, chỉ có trời đất thấu hiểu

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này

(Chinh phụ ngâm- Đặng Trần Côn)

Khi thề nguyền keo sơn gắn bó thì núi sông chứng giám lòng thànhthủy chung Khi xử thế lánh đục tìm trong, vong bần lạc đạo, con người tìm

về chốn lâm tuyền, cùng bầu bạn với gió trăng, cây cỏ Khi nhập thế thìrồng mây gặp hội

Tầm vóc con người được đo theo chiều kích sông núi:

Hoành sóc giang sơn cáp kỉ

14

Trang 15

thu Tam quân tỳ hổ khí thôn

Ngưu

(Thuật Hòai-Phạm Ngũ Lão)

15

Trang 16

Vòng trời đất dọc ngang ngang

dọc Nợ tang bồng vay trả trả vay

Chí làm trai nam bắc đông tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể

(Nguyễn Cổng Trứ)Người đẹp là người sánh ngang với sự hoàn mỹ của

vũ trụ và khiến trời đất cũng ghét ghen:

Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

(Kiều-

Nguyễn Du)Con người vũ trụ luôn ứng xử theo quy luật tuầnhòan của vũ trụ, âm dương tiêu trưởng Tư tưỏng đó làthiên mệnh Thấm nhuần tư tưởng trên, nên người quân

tử “xuất xư”, “hành tàng” một cách ung dung thanhthản: gặp tai biến không lo sợ sầu não, gặp vận maykhông vui mừng đắc chí Họ luôn sống theo khái niệm

“Thời”, theo qui luật: bĩ tắc thái, cùng tắc thông Trongvăn chương xưa, ta thường thấy hình ảnh con ngườisống theo đạo trời, bước đi cùng tạo hóa Họ khoanthai, ung dung, hòa mình vào thiên nhiên; thậm chímuốn nhập hẳn vào vũ trụ:

Ngày đăng: 29/04/2016, 16:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1.  Các bài thơ Nôm Đường luật ở  THPT - CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THI PHÁP HỌC
Bảng 1.1. Các bài thơ Nôm Đường luật ở THPT (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w