CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CÔNG CỤ CỦA THƯƠNG MẠI TÍN DỤNG (2).
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
KHOA TÍN DỤNG
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
THUỘC BỘ MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : ĐẶNG VĂN DÂN NHÓM 1 NGUYỄN ANH VINH
NGÔ THỊ MỸ LỆ TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
LÊ THỊ DIỆU HIỀN NGÔ QUỐC THẮNG HUỲNH ĐỨC HIỂN
TPHCM, tháng 11 năm 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
KHOA TÍN DỤNG
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
THUỘC BỘ MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ĐẶNG VĂN DÂN
NGÔ THỊ MỸ LỆ TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
LÊ THỊ DIỆU HIỀN NGÔ QUỐC THẮNG HUỲNH ĐỨC HIỂN
Trang 3TPHCM, tháng 11 năm 2011
Trang 4Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CÔNG CỤ CỦA THƯƠNG MẠI TÍN DỤNG 6
I KHÁI NIỆM: 6
II ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 6
III CÔNG CỤ LƯU THÔNG CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 7
1 Đặc điểm của thương phiếu: 8
2 Một số điểm khác nhau giữa hối phiếu và lệnh phiếu: 10
3 Tính chất của thương phiếu: 11
4 Pháp luật về thương phiếu: 11
5 Ích lợi của thương phiếu: 12
6 Nhược điểm của thương phiếu 13
IV VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 15
1 Tăng nguồn vốn kinh doanh 15
2 Tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ 16
3 Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, rút ngắn chu kỳ kinh doanh 16 4 Khuyến khích sản xuất kinh doanh 17
V ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 17
VI HẠN CHẾ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 20
CHƯƠNG 2 21
THỰC TRẠNG TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 21
I THỰC TRẠNG: 21
1 Khó khăn 21
2 Thuận lợi 22
3 Các giải pháp khắc phục khó khăn 22
4 Hướng phát triển tín dụng thương mại ở Việt Nam 23
II TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC 24
1 Tình hình 24
2 Những vấn đề của TDTM trong nước 25
3 Cách khắc phục 28
III TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 30
1 Tình hình 30
2 TDTM quốc tế với những vấn đề cần tháo gỡ 32
3 Cách khắc phục 34
CHƯƠNG 3 36
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG CÁC LUẬT ĐỊNH Ở VIỆT NAM 36
I Sự cần thiết ban hành luật các công cụ chuyển nhượng 36
II Nội dung cơ bản của luật các công cụ chuyển nhượng 39
1 Bố cục 39
2 Những nội dung cơ bản về hối phiếu 40
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại nền kinh tế thị trường trở thành một nền kinh tế của toàncầu thì doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, là nơi quyếtđịnh về các quá trình sản xuất được đưa ra Trong quá trình hoạt động doanhnghiệp phải sử dụng các đầu vào để sản xuất ra đầu ra (sản phẩm, dịch vụ) Tạisao các doanh nghiệp lại cần vay vốn trong quá trình kinh doanh? Thứ nhất, quátrình kinh doanh đòi hỏi phải có khoảng cách thời gian từ khi mua nguyên liệu đểđưa vào sản xuất cho đến khi bán được sản phẩm và thu tiền bán hàng Trongtrường hợp này doanh nghiệp cần vốn ngắn hạn để mua nguyên vật liệu và đápứng các chi dùng thường ngày khác Thứ hai, doanh nghiệp cần đầu tư mua sắmmáy móc để mở rộng qui mô sản xuất Trong trường hợp này doanh nghiệp cầncác nguồn vốn dài hạn hơn để có thời gian thu hồi vốn Trong trường hợp cácnguồn vốn nội tại của doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu (ngắn và dàihạn) thì doanh nghiệp cần vay vốn từ bên ngoài Nhưng trong tình hình nền kinh
tế thế giới và trong nước vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính, vấn đề tiếp cậnnguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp bị hạn chế Mặc dùNhà nước chủ trương kiềm chế lãi suất, nhưng lãi suất hiện nay vẫn ở mức caonên tình hình vay vốn ngân hàng của doanh nghiệp từ đầu năm 2010 tới nay rấtkhó khăn Doanh nghiệp hiện tại vẫn phải vay vốn với lãi suất từ 14%/năm trởlên Đây là một gánh nặng, vì các chính sách mà Chính phủ đã ban hành trongnăm 2009 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, như hỗ trợ 4% lãi suất, miễn thuế thu nhậpdoanh nghiệp, giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng…đã hết hạn từ cuối năm
2009 Theo tổng kết sơ bộ 6 tháng đầu năm 2010 cho thấy, số doanh nghiệp tiếpcận vốn vay chưa tới 50% số hồ sơ mà các doanh nghiệp có nhu cầu vay Do đó,việc tiếp cận nguồn tín dụng thương mại được các nhà kinh doanh quan tâmnhiều hơn quan hệ tín dụng thương mại được hình thành trong điều kiện thànhphẩm của doanh nghiệp thừa vốn là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệpthiếu vốn, nếu quan hệ mua bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhất địnhthì cả hai đều có lợi Vì có sự khác biệt về chu kỳ sản xuất kinh doanh giữa cácdoanh nghiệp, nên việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanhnghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu
Trang 6II. ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
- Vốn cho vay theo tín dụng thương mại là hàng hóa hay một bộ phận củavốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa phải là tiền nhàn rỗi
- Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những doanhnghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khốilượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu
Trang 7- Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi hàng hóadịch vụ,thông thường không có khâu trung gian đứng giữa người sử dụng vốn vàngười có vốn.
- Tín dụng thương mại phát triển và vận động theo chu kỳ sản xuất kinhdoanh và góp phần làm phát triển sản xuất kinh doanh do nó rút ngắn chu kỳ sảnxuất kinh doanh, giảm chi phí sản xuất kinh doanh => quy mô bịhạn chế và thôngthường là tín dụng ngắn hạn
- Tín dụng thương mại thông thường không mất chi phí sử dụng vốn (costof
capital) do hoạt động cấp tín dụng không có lãi trong một khoảng thời gian nhấtđịnh, một số trường hợp bên nợ còn được hưởng lãi chiết khấu trả sớm
Hình thức thể hiện thông thường của tín dụng thương mại là hợp đồng trảchậm, thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu) Trong đó, hối phiếu là giấy đòitiền vô điều kiện do người bán phát hành, lệnh phiếu là giấy cam kết trả tiền vôđiều kiện do người mua phát hành
Một điều khoản tín dụng thương mại mà các doanh nghiệp thường thỏathuận khi sử dụng hình thức tín dụng này là: “2/10 Net 30” có nghĩa là nếu trảtiền mặt trong vòng 10 ngày kể từ khi mua hàng, người mua sẽ được chiết khấu2% trên giá cả hàng bán, người mua sẽ phải trả toàn bộ giá bán sau 10 ngày vàđược trả chậm trong vòng 30 ngày
III. CÔNG CỤ LƯU THÔNG CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
Để đảm bảo người mua chịu trả nợ đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, ngườibán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy chứngnhận quan hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợlập để đòi tiền, hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “kỳ phiếuthương mại” hay “thương phiếu” Vì vậy, thương phiếu ra đời trên cơ sở quan hệmua bán chịu giữa các chủ thể trong nền kinh tế Trong quá trình phát triển,thương phiếu dần dần biến đổi tính chất, từ một giấy chứng nhận nợ thôngthường trở thành một công cụ lưu thông tín dụng có thể thực hiện được chức
Trang 8năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán thay thế cho tiền mặttrong nền kinh tế
1 Đặc điểm của thương phiếu:
1.1 Dựa trên cơ sở người lập: thương phiếu tồn tại dưới 2 hình
thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
1.1.1 Hối phiếu: là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu
cầu người mua chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian
và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng
Nội dung hối phiếu:
-Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
-Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất định
-Thời hạn trả tiền
-Địa điểm trả tiền
-Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện việc thanhtoán
-Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
-Chữ ký người ký phát lệnh phiếu
Trang 9Hình: Hối phiếu
1.1.2 Lệnh phiếu: là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam
kết trả một số tiền xác định trong một thời gian và ở một địađiểm nhất định cho người thụ hưởng
Trên lệnh phiếu kì hạn được quy định rõ
Một lệnh phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát cam kết thanhtoán cho một hay nhiều người hưởng lợi
Lệnh phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty tài chính đểđảm bảo khả năng thanh toán của lệnh phiếu
Nội dung lệnh phiếu:
-Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
-Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất định
-Thời hạn trả tiền
-Địa điểm trả tiền
-Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện việc thanhtoán
-Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
-Chữ ký người ký phát lệnh phiếu
Lệnh phiếu trả ngay:
Trang 10người này được quyền chuyển nhượng cho người khác.
Thương phiếu định danh: cũng là thương phiếu có ghi tên của người
hưởng thụ nhưng khác với thương phiếu ký danh là không được chuyểnnhượng cho người khác
2 Một số điểm khác nhau giữa hối phiếu và lệnh phiếu:
+ Hối phiếu do chủ nợ lập, còn lệnh phiếu do người thiếu nợ lập
+ Hối phiếu thông thường có 3 người quan hệ với nhau: Người pháthành hối phiếu (người phát lệnh), người trả tiền theo hối phiếu (người thu lệnh)
Three months after date I promise to pay David Henry or order the sum of
five thousand US Dollars
David Cantona
Trang 11
+Hối phiếu thường gồm hai bản, lệnh phiếu chỉ có một bản chính do con
nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi lệnh phiếu đó
3 Tính chất của thương phiếu:
- Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phátsinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả, thời hạn trả tiền vàngười trả tiền
- Tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán cho người thụhưởng đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền
- Tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởngsang người khác bằng phương pháp ký hậu, nó có thể chuyển hoá ra tiền khimang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố tính chất này khiến thươngphiếu trở thành một loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệulực và mệnh giá thương phiếu
4 Pháp luật về thương phiếu:
Pháp luật về thương phiếu thương mại xuất hiện từ lâu (khoảng cuốithế kỷ XI đầu thế kỷ XII) ở các nước Phương Tây, đáp ứng các yêu cầu tất yếu,khách quan từ hoạt thương mại và ngày nay, thương phiếu được xem là mộtcông cụ tín dụng, một phương tiện thanh toán hữu hiệu trong hoạt động thươngmại
Xuất phát từ vai trò kinh tế của thương phiếu, các nước đã chú trọngxây dựng một cách có hệ thống và tương đối cụ thể các quy phạm pháp luậtnhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của thương phiếu khôngchỉ dừng lại ở hệ thống pháp luật trong nước, trên phương diện quốc tế, pháp luậtthương mại quốc tế cũng đòi hỏi phải có sự thống nhất về luật pháp liên quan đếnthương phiếu, trong chừng mực có thể đạt được, để bảo vệ lợi ích của Nhà nước,của thương nhân cũng như để bảo đảm một cách hữu hiệu sự tồn tại và hoạt độngcủa thương phiếu Điển hình là Công ước Geneve ngày 7 tháng 6 năm 1930 vềhối phiếu và lệnh phiếu đã được ký kết
Từ đó đến nay, pháp luật thương mại quốc tế đã có rất nhiều các vănbản điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương phiếu Hơnnữa, điều này nhằm đáp ứng với tình hình phát triển kinh tế thế giới nói chung
Trang 12ở Việt Nam, trong thời kỳ áp dụng cơ chế tập trung, bao cấp Nhà nước can thiệprất sâu trong hoạt động kinh tế Các tổ chức kinh tế, công dân chưa được tự dokinh doanh: pháp luật kinh doanh nói chung cũng như pháp luật thương mại chưađược chú trọng Điều này chỉ thật sự được đổi mới và phát triển từ khi Đảng vàNhà nước chuyển hướng phát triển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong hoàn cảnh đó, thương phiếu và pháp luật thương phiếu chỉ được
đề cập trong những năm gần đây: Luật Thương Mại 1997 Pháp lệnh Thươngphiếu được UBTVQH thông qua ngày 24/12/1999, có hiệu lực từ ngày01/07/2000, và Nghị định số 32/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/07/2001 (gọi tắt
là NĐ 32) hướng dẫn chi tiết thi hành pháp lệnh thương phiếu Tuy nhiên, nhữngvăn bản pháp luật vừa nêu vẫn được coi là chưa đủ để có một mội trường pháp lýthuận tiện cho thương phiếu hoạt động
5 Ích lợi của thương phiếu:
Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở thành mộtcông cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiết kiệm tiền mặt và góp phần ổnđịnh tiền tệ
Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo
vệ quyền lợi của các chủ thể trong tín dụng thương mại, loại bỏ được tình trạng
nợ nần dây dưa giữa các doanh nghiệp
Thứ ba, thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi ngân hàngnhận chiết khấu hay nhận cho vay cầm cố Hơn thế nữa, tài sản đảm bảo này lại
có tính thanh khoản cao vì ngân hàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm
cố tại NHNN để khôi phục nguồn vốn của mình
Thứ tư, thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạo điềukiện cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều hoà khối tiền tronglưu thông
Thứ năm, trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằnglệnh phiếu, khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạnbằng cách chuyển nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác Đây là một giải phápchứng khoán hoá các khoản cho vay của ngân hàng
Trang 13Và cuối cùng, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu,
sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro trong hoạt động kinhdoanh của mình
6 Nhược điểm của thương phiếu
Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đếntình trạng hai doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thươngphiếu không phát sinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xinchiết khấu hoặc cầm cố Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thươngphiếu là tín dụng hàng hoá không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàngphát ra không có cơ sở đảm bảo
Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tín dụngthương mại, khó có thể mở rộng qui mô (khối lượng) và thời gian mua bán chịuhàng hoá trong trường hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu
Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát sinhgiữa những doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thường xuyên với nhau
Tuy vậy, do tín dụng thương mại tồn tại song song với tín dụng ngânhàng nên những khiếm khuyết nêu trên của tín dụng thương mại và của sự vậndụng thương phiếu sẽ giảm đến mức xem như không đáng kể
7 Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức cấp tín dụng Thương phiếu
là một công cụ tài chính xuất hiện trong mua bán chịu giữa các doanh nghiệp,nếu mọi chuyện xảy ra bình thường, tức là đến ngày đáo hạn thì người thụ hưởngmang thương phiếu đến đòi con nợ (người có trách nhiệm thanh toán cho tờthương phiếu đó) để nhận tiền, thì ngân hàng sẽ chẳng có việc gì ở đây Nhưngnếu người thụ hưởng cần tiền và muốn nhận tiền trước thời hạn thì ngân hàng sẽtham gia vào và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu bằng cách mua lại
tờ thương phiếu đó với giá thấp hơn giá trị có thể nhận được từ tờ thương phiếu(phần chênh lệch chính là tiền lãi ngân hàng thu được) Khi ngân hàng thực hiệnnghiệp vụ này mang lại một số lợi ích cơ bản như sau:
* Đối với ngân hàng:
Trang 14+ Đây là một nghiệp vụ cấp tín dụng khá an toàn do:
- Tính thanh khoản của thương phiếu cao (ngắn hạn, dễ chuyển đổi),nên ngân hàng có thể chủ động sử dụng khi nắm giữ thương phiếu, không bị ứđọng vốn lâu
- Theo luật thì ngân hàng có quyền truy đòi tất cả các đối tượng có mặttrên tấm thương phiếu (kể cả người đã chuyển nhượng thương phiếu đó)chứkhông riêng gì người có trách nhiệm chi trả ghi trong thương phiếu (chiết khấu
có truy đòi) Do đó rủi ro tín dụng sẽ thấp đi do có nhiếu người phải chịu tráchnhiệm trả nợ hơn
+ Về mặt quản trị ngân hàng thì đây là một dạng dự trữ thứ cấp khá tốtvừa đảm bảo thanh khoản lại vừa sinh lãi ở mức chấp nhận được
* Đối với doanh nghiệp:
+ Đảm bảo nguồn vốn kết hợp kinh doanh bình thường: Thương phiếukhông phải là tiền vì cần phải chờ tới ngày đáo hạn người thụ hưởng mới nhậnđược tiền, trong khi đó tiền bán chịu chính là doanh thu của doanh nghiệp chonên nó cần phải quay vòng nhanh để doanh nghiệp trang trải chi phí và hoạt độngbình thường Khi doanh nghiệp cần vốn mà tờ thương phiếu lại chưa đến hạnthanh toán thì doanh nghiệp có thể nhờ ngân hàng chiết khấu tờ thương phiếu đó
để có tiền sử dụng vào sản xuất
+ Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng quan hệ tín dụng thương mại giữacác doanh nghiệp: Vì giờ đây với nghiệp vụ CKTP của ngân hàng doanh nghiệpsẵn lòng bán chịu hơn do có thể chiết khấu nhận được tiền trước ngày đáo hạn tờthương phiếu khi cần tiền, chứ không cần giữ mãi tờ thương phiếu đó
+ Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngânhàng cho các doanh nghiệp nhỏ:
Có điều này là do khi ngân hàng chiết khấu thương phiếu thì người thanhtoán thương phiếu mới chính là đối tượng chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khicấp tín dụng, mặc dù chính chủ nợ, hay người thụ hưởng mới là người mangthương phiếu đi chiết khấu Cho nên nếu người thanh toán là công ty lớn, hoạtđộng hiệu quả thì sẽ dễ dàng được ngân hàng chấp nhận chiết khấu Ví dụ như:Nếu một công ty ABC (rất nhỏ, chưa danh tiếng) bán chịu một lô hàng cho công
Trang 15ty lớn như công ty sữa Vinamilk và lập một hối phiếu, sau đó Vinamilk ký bảođảm lên hối phiếu đó Thì khi công ty ABC mang hối phiếu đó đến ngân hàng đểchiết khấu, có thể dựa vào danh tiếng, năng lực hoạt động tốt của Vinamilk thìngân hàng dễ chấp nhận tờ hối phiếu đó hơn Và nhờ đó ABC dễ dàng tiếp cậnđược nguồn vốn lý tưởng bậc nhất trong nền kinh tế là từ ngân hàng mà khôngtốn quá nhiều chi phí và thời gian ( còn tại sao nói nguồn vốn ngân hàng lànguồn vốn lý tưởng trong nền kinh tế thì chắc là các bạn biết rồi).
* Đối với nền kinh tế:
+ Cấp tín dụng bằng CKTP là một hình thức cấp tín dụng an toàn chonền kinh tế vì khi cấp tín dụng bằng chiết khấu thương phiếu sẽ đảm bảo nguyêntắc hàng - tiền do khi tiền tung ra từ ngân hàng thì trong nền kinh tế cũng đã cósẵn một lượng hàng hoá tương ứng đang luân chuyển, do đó giảm thiểu áp lựclạm phát Cũng cần chú ý rằng hàng hoá mua chịu của doanh nghiệp chủ yếu lànguyên vật liệu phục vụ sản xuất cho nên, cấp tín dụng bằng hình thức CKTP tạođiều kiện tốt cho sản xuất phát triển gia tăng hàng hoá cho nền kinh tế
IV VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các doanhnghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặtđáp ứng được nhu cầu vốn của các doanh nghiệp tạm thời thiếu đồng thời giúpcho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình Mặt khác sự tồn tại củahình thức tín dụng này giúp cho các doanh nghiệp khai thác được vốn nhằm đápứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh
1 Tăng nguồn vốn kinh doanh
Nền kinh tế nước ta còn nghèo, vốn cho kinh doanh hạn chế, đòi hỏi phải cónhững hình thức tạo vốn Vấn đề này càng bức thiết hơn với các đơn vị buôn bánnhỏ Nhờ có TDTM, sản xuất kinh doanh ổn định và mở rộng Tuy nhiên khôngnên lạm dụng TDTM vì thời hạn tín dụng thương mại và dễ dẫn đễn vỡ nợ hàngloạt
Trang 16Trong tín dụng thương mại, các nhà sản xuất có thể tận dụng được nguồnvốn nhàn rỗi để sản xuất, làm tăng nguồn vốn kinh doanh trong thời gian ngắn,với chi phí thấp hoặc chi phí có thể bằng không, tùy theo mối quan hệ giữa ngườicấp tín dụng và người sử dụng nguồn vốn đó.
2 Tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ
TDTM với công cụ là thương phiếu được coi là hình thức lưu thông khôngdùng tiền mặt Nó tiết kiệm chi phí lưu thông và giảm bất trắc trong việc chuyểntiền
Sử dụng vốn tín dụng thương mại giúp cho các nhà sản xuất giảm chi phí sửdụng vốn Để đáp ứng nhu cầu vốn, thay vì đi vay tại các các ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng khác với mức lãi suất cao, thủ tục phức tạp, phát sinh nhiều chiphí trung gian từ việc vay vốn, thì nhà sản xuất có thể mua chịu nguyên vật liệu,hay nhập hàng từ nhà cung ứng với chi phí trả sau và có mức chiết khấu hợp lýthỏa thuận được Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng không chỉ có lợi cho nhà sảnxuất mà còn có lợi cho kinh tế về mặt vĩ mô, khi không phải cung ứng thêmlượng tiền ra lưu thông Giúp cho ngân hàng trung ương thực hiện chính sáchtiền tệ dễ dàng hơn
3 Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, rút ngắn chu kỳ kinh doanh
Nhờ có TDTM, quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, không ngắt quãng.Nhờ đó hiệu quả của sản xuất kinh doanh tăng lên đáng kể
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các doanh nghiệpthường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứngđược nhu cầu vốn của các doanh nghiệp tạm thời thiếu đồng thời giúp cho cácdoanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình.Nguồn vốn tín dụng thương mạigiúp đáp ứng nhu cầu vốn trong thời vụ sản xuất cao điểm, đáp ứng nhu cầu thịtrường Đồng thời dưới cơ chế hoạt động của tín dụng thương mại, nhà sản xuất
có thể bán được hàng hóa của mình, giải quyết tình trạng tồn kho, và các chi phí
có liên quan đến tồn trữ hàng hóa Người sản xuất được cấp tín dụng thương mại
Trang 17sẽ bắt đầu chu kì sản xuất mới mà không cần chờ đợi đến khi có vốn mới Nhưvậy, tín dụng thương mại đã huy động được nguồn vốn nhàn rỗi vào vòng quaysản xuất, làm sản xuất hiệu quả hơn, dòng tiền có khả năng sinh lời nhiều hơn.Trong sản xuất kinh doanh, tín dụng thương mại là một phần không thể thiếunhằm cung ứng vốn Qua đó, còn liên kết các nhà sản xuất với nhau, bởi mốiquan hệ của nhà sản xuất được hiểu là đầu ra của người này là đầu vào của ngườikia.
4 Khuyến khích sản xuất kinh doanh
Trong thực tế, TDTM chiếm hơn 40% vốn lưu động của các doanh nghiệp.Với khối lượng tín dụng đó, các doanh nghiệp có thể mở rộng kinh doanh, cónhiều cơ hội kiếm lời Mặt khác nó còn khuyến khích sản xuất kinh doanh vì hoạtđộng đó được bí mật tương đối, không phản ánh trên thương phiếu nên rất được
ưa chuộng
Tín dụng thương mại dưa trên sự tín nhiệm giữa các nhà sản xuất với nhau,
hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất Thực tế, các nhà sản xuất sử dụng vốn tíndụng vốn thương mại trong hầu hết các trường hợp mua nguyên vật liệu, nhậphàng, tiêu thụ sản phẩm… thay vì đi vay tại ngân hàng với thủ tục phức tạp, lãisuất cao Trong những giai đoạn lạm phát, chính sách thắt chặt tiền tệ làm chonguồn vốn đến tay các doanh nghiệp khó khăn hơn thì tín dụng thương mại vớicam kết đơn giản giữa các doanh nghiệp, cùng chi phí sử dụng vốn cực thấp lại làbiện pháp vốn tối ưu cho các doanh nghiệp, giúp duy trì sản xuất kinh doanh Tíndụng thương mại được xem là hình thức tài trợ rẻ tiền, rất linh hoạt trong kinhdoanh Bên cạnh đó, nó còn tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ với đối tác lâubền giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Như vậy, TDTM đặt chúng ta trước sự lựa chọn khó khăn Nên chẳng hợppháp hóa TDTM ở Việt Nam
1 Trong nước
Trang 18-Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưuthông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội.
-Tạo điều kiện mở rộng hoạt động của tín dụng ngân hàng thông quanghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngân hàng tăngthu nhập nhưng ít rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình
-Trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu,khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng cáchchuyển nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác Đây là một giải pháp chứngkhoán hoá các khoản cho vay của ngân hàng
-Tín dụng thương mại tạo ra thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thịtrường mở, tạo điều kiện cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt công tác điềuhoà khối tiền trong lưu thông
-Tạo thuận lợi với doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với nhà cung cấp
b Nhược điểm
Về quy mô: lượng giá trị cho vay bị hạn chế do tín dụng thương mại được
cấp bằng hàng hoá nên doanh nghiệp cho vay chỉ có thể cung cấp được cho một
số doanh nghiệp nhất định - những doanh nghiệp cần đúng thứ hàng hoá đó đểphục vụ
Sản xuất hoặc bán ra Hơn nữa, Tín dụng thương mại là do các nhà doanh nghiệpcung cấp và họ chỉ cung cấp với khả năng giới hạn của họ Nếu người đi vay cónhu cầu cao hơn thì người cho vay không thể đáp ứng được
Trang 19Về phạm vi: Phạm vi hẹp, chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp, hơn nữa là
chỉ thực hiện được giữa các doanh nghiệp quen biết, tín nhiệm lẫn nhau và chỉđầu tư một chiều, không có quan hệ cho vay ngược lại
Về thời gian: thời hạn tín dụng ngắn thường là dưới 1 năm, điều kiện
kinh doanh và chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp có thể không phù hợp nhau,
do vậy khi thời gian mà doanh nghiệp cho vay muốn cung cấp không phù hợpvới nhu cầu của doanh nghiệp cần đi vay thì tín dụng thương mại không thể xảyra
-Là loại tín dụng không có đảm bảo nên rủi ro dễ phát sinh
-Do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến tình trạng hai doanhnghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thương phiếu không phátsinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm
cố Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hànghoá không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sởđảm bảo
-Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ thương phiếu (Người bán chịu hànghoá, người được chuyển nhượng thương phiếu, ngân hàng bảo lãnh…) chưa thật
sự có lòng tin đối với thương phiếu và khả năng chuyển hoá ra
-Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thivẫn còn kém
2 Quốc tế:
a Ưu điểm:
-Đáp ứng được nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội khi mà cácnguồn vốn trong nước còn hạn chế
-Thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế một cách nhanh chóng
-Mở rộng quan hệ quốc tế với các nước trên thế giới
b Nhược điểm:
Tín dụng quốc tế có rủi ro do bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của tỷ giá hốiđoái quốc tế
Trang 20VI HẠN CHẾ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
-Hạn chế về quy mô tín dụng: Tín dụng thương mại là do các nhàdoanh nghiệp cung cấp và họ chỉ cung cấp với khả năng giới hạn của họ Nếungười đi vay có nhu cầu cao hơn thì người cho vay không thể đáp ứng được
- Hạn chế về thời hạn cho vay: Điều kiện kinh doanh và chu kỳ sảnxuất của một doanh nghiệp có thể không phù hợp với nhau, vì vậy mà khi thờihạn mà người cho vay muốn cung cấp và người đi vay có nhu cầu không phù hợpnhau thì tín dụng này không thể xảy ra Nhưng nhờ phương pháp cấp tín dụngcủa ngân hàng dưới hình thức chiết khấu đã giải quyết được một phần hạn chếnày
- Hạn chế về phương hướng: Tín dụng thương mại được cung cấp dướihình thức hàng hoá, vì vậy mà doanh nghiệp chỉ cung cấp được tín dụng cho một
số doanh nghiệp nhất định - những doanh nghiệp cần hàng hoá đó để sử dụng chosản xuất hoặc dự trữ để bán ra
Ngoài ra việc cấp tín dụng thương mại chỉ được thực hiện trên cơ sởtín nhiệm lẫn nhau
Trang 21CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
- Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thi vẫn còn kém Chính vì những khó khăn trên mà trong thời gian qua, thương
Trang 22phiếu và các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu vẫn chưa đi vào đời sống kinh tế ở Việt Nam.
- Việc ban hành luật mới vế công cụ chuyển nhượng ở Việt Nam tạo cơ sởpháp lí cho hoạt động TDTM Thúc đẩy giao lưu thương mại thông qua công cụ thanh toán,tín dụng mới cho nền kinh tế tăng khả năng lưu thông của các công cụchuyển nhượng
3 Các giải pháp khắc phục khó khăn
- Nhanh chóng tạo dựng một hành lang pháp lý cho sự tồn tại và cho việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu được an toàn và thuận lợi Mặc dù Quốc hội đãthông qua Pháp lệnh thương phiếu có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2000 và Chính Phủ đã ban hành nghị định 32/2001/NĐ -CP ngày
5.7.2001 hướng dẫn thi hành pháp lệnh trên nhưng vẫn còn nhiều bất cập như chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế…
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, thảo luận về thương phiếu và ích lợi của thương phiếu đến các doanh nghiệp, là những chủ thể chủ yếu trong quan hệ thương phiếu
Trang 23- Nâng cao hiệu lực hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) dể
có thể cung cấp chính xác và kịp thời năng lực chi trả, uy tín của các doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu, đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng
- Trong thời gian đầu Nhà nước cần có những ưu đãi hợp lý cho các doanhnghiệp cũng như các Tổ chức tín dụng có tham gia vào quan hệ thương phiếu
Và cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước phải gấp rút ban hành các thông tư hướng dẫn để các ngân hàng có thể mạnh dạn thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu như bảo lãnh, chiết khấu và cầm cố thương phiếu ngân hàng Nhà nước cũng phải nhanh chóng ban hành mẫu biểu cho thương phiếu, ban hành Luật về các công cụ chuyển
nhượng…
4 Hướng phát triển tín dụng thương mại ở Việt Nam
Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tín dụng thương mại vì vậycũng phát triền rất mạnh mẽ Như vậy, cần có một sự định hướng cho sự phát triển của tín dụng thương mại trong nền kinh tế thị trường
1) Cải cách triệt để và phát triển hệ thống các TCTD theo hướng đa năng, hiện đại, đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, có quy mô lớn và hoạt động theo nguyên tắc thị trường với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận, áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế vào hoạt động kinh doanh ngân hàng
Cơ cấu lại hệ thống NHTM, tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng thương mại, bảo đảm quyền kinh doanh của các tổ chức tài chính nước ngoài theo các cam kết song phương và đa phương đã ký kết với các nước và các tổ chức quốc
tế, gắn cải cách ngân hàng với cải cách doanh nghiệp
2) Tăng cường năng lực tài chính, đảm bảo các doanh nghiệp có đủ nguồn vốn, tài sản đi đôi với nâng cao chất lượng và khả năng sinh lời, xử lý dứt điểm nợ tồnđọng