MỤC TIÊU BÀI HỌC: - Nắm được đặc điểm văn điều trần văn bản mà cấp dưới trình bày một vấn đề quan trọng nào đó đề đạt lên cấp trên, thuộc văn nghị luận chính trị – xã hội, biết phân tích
Trang 1Ngày soạn : 29/9/2013
Tiết 27
Bài dạy: Đọc thêm XIN LẬP KHOA LUẬT
Trích Tế cấp bát điều – NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
I MỤC TIÊU BÀI HỌC:
- Nắm được đặc điểm văn điều trần (văn bản mà cấp dưới trình bày một vấn đề quan trọng nào đó đề đạt lên cấp trên, thuộc văn nghị luận chính trị – xã hội), biết phân tích hệ thống luận điểm và cách lập luận của bài điều trần
- Hiểu được tầm quan trọng của luật đối với sự nghiệp canh tân đất nước và tấm lòng nhiệt thành của Nguyễn Trường Tộ
- Thấy được lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trường Tộ nói riêng, tình cảm yêu nước thương dân nói chung của người Việt
II CHUẨN BỊ:
1/ Chuẩn bị của GV :
- SGK, SGV Thiết kế bài học Tư liệu tham khảo
- Kết hợp các phương pháp dạy học: Đàm thoại, nêu vấn đề, phát vấn, thảo luận Sử dụng
SGK
2/ Chuẩn bị của HS:
Đọc kĩ bài học Soạn bài theo hướng dẫn
III.HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1.Ổn định tổ chức :
2.Kiểm tra bài cũ : Nêu đường lối cầu hiền của vua Quang Trung? 5’
3 Giảng bài mới:
TIẾN TRÌNH TIẾT DẠY T
G Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung
10
’ HĐ1: Tìm hiểu tiểu dẫn.
GV cho HS đọc phần
tiểu dẫn trong SGK
GV tóm tắt vài nét
chính về tác giả
GV diễn giảng về tác
phẩm
Bổ sung kiến thức
Hiện nay, giới nghiên
cứu đã sưu tầm được 58
bản di thảo của Nguyễn
Trường Tộ
- Trước đây ở Việt Nam
không phải không có
các bộ luật Từ đời Lí,
đời Trần, cha ông ta đã
tiến hành biên soạn các
bộ hình luật Ngày nay
HĐ1: HS đọc SGK
phần tiểu dẫn
HS đọc SGK phần tác giả
Nghe GV diễn giảng ghi vào vở phần tác phẩm
I.Tìm - hiểu khái quát:
1/ Tác giả:(1830 – 1871) ( SGK) 2/ Tác phẩm “Tế cấp bát điều”
(Tám việc cần làm gấp):
- Là bản Điều trần số 27 của
Nguyễn Trường Tộ, viết ngày 20 tháng 10 năm Tự Đức thứ hai mươi (1867)
cấp dưới đệ trình lên cấp trên, lên nhà vua nhằm mục đích trình bày chính sự, dâng lên những điều khẩn cấp cần làm… Văn bản loại này có tên gọi
chung là tấu hoặc tấu thư.
- Về tính chất, điều trần thuộc loại văn nghị luận chính trị–xã hội Do đặc trưng là văn bản dâng lên vua, lời lẽ trong điều trần vừa phải uyển chuyển
tế nhị, vừa phải thẳng thắn không
Trang 2’
còn lại các bộ luật thời
Hồng Đức, thời Gia
Long,… Nhưng luật trở
thành môn khoa học,
một khoa giảng dạy
riêng thì mãi đến giữa
thế kỉ XX mới co
- Tế cấp bát điều đề
xuất tám việc cần làm
gấp, gồm :
1) Xin gấp rút sửa đổi
việc võ bị ;
2) Xin hợp tỉnh, huyện
để giảm bớt số quan lại
và khóa sinh ;
3) Xin gây tài chính
bằng cách đánh thuế xa
xỉ ;
4) Xin sửa đổi học
thuật, chú trọng thực
dụng ;
5) Xin điều chỉnh thuế
ruộng đất ;
6) Xin sửa sang lại biên
giới ;
7) Xin nắm rõ nhân số ;
8) Xin lập viện Dục anh
và trại Tế bần
Cho HS đọc văn bản
Chia bố cục đoạn trích.
HĐ2: Đọc, hiểu nội
dung.
GV hướng dẫn tìm hiểu
theo bố cục đã chia
Cho HS đọc đoạn 1
GV nêu vắn đề
Tác giả nêu tầm quan
trọng của luật trong đời
sống ở khía cạnh nội
dung nào? Lập luận
thuyết phục như thế
nào?
GV định hướng, bổ
sung.
Đất nước muốn tồn tại
phải có kỉ cương ; nhà
HS đọc văn bản, chú thích
Tìm bố cục đoạn trích
Chia làm ba đoạn
HĐ2:
HS đọc đoạn 1
HS suy nghĩ trả lời
câu hỏi.
Luật bao gồm kỉ cương, uy quyền và chính lệnh của quốc gia “Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nước”
HS suy nghĩ trả lời
Nguyễn Trường Tộ khái quát luật pháp bằng những khái niệm của Nho giáo
vòng vo hoặc dùng các lối ước lệ, tượng trưng
- Văn bản “Xin lập khoa luật” trích
trong điều (4) Xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng.
- Trong điều (4) tác giả đề nghị mở bốn khoa sau đây để dạy cho người Việt
+ Khoa nông chính + Khoa thiên văn và địa lí + Khoa kĩ nghệ
+ Khoa luật học
II Đọc - hiểu nội dung:
1/ Nêu lên tầm quan trọng của luật trong đời sống xã hội.
a/ Luật bao gồm kỉ cương , uy quyền và chính lệnh của quốc gia:
- Đất nước muốn tồn tại phải có kỉ cương ; nhà nước muốn cai trị được dân phải có uy quyền, cũng phải có chính lệnh (chính sách và pháp luật)
Đó là mối quan hệ cua luật đối với mọi người
- Vì vậy Nguyễn Trường Tộ nói : “Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nước”
Như vậy, luật bao trùm lên tất cả b/ Nguyễn Trường Tộ đặt vấn đề một cách trực tiếp, thẳng thắn:
Vấn đề ông đặt ra là : “Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nước” ; và dĩ nhiên, để thuyết phục
vua Tự Đức bấy giờ, ông nêu thêm
phải học “những luật mới bổ sung thêm từ thời Gia Long đến nay”
Tác dụng: vừa ngắn gọn, vừa làm người nghe hiểu ngay vấn đề mà người viết đặt ra
c/ Để thuyết phục nhà vua, Nguyễn Trường Tộ khái quát luật pháp bằng những khái niệm của Nho giáo
- Trong luật, từ “tam cương ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”.
- Tam cương ngũ thường là đạo lớn
nhất bao trùm tất cả mọi mối quan hệ
Trang 3nước muốn cai trị được
dân phải có uy quyền,
phải có chính lệnh
(chính sách và pháp
luật) Đó là mối quan hệ
của luật đối với mọi
người
Để thuyết phục nhà
vua, Nguyễn Trường Tộ
đã đưa ra luận điểm gì?
GV hướng dẫn tìm hiểu
đoạn 2
Nguyễn Trường Tộ phê
phán Nho giáo điều gì?
Luận điểm đưa ra là gì?
Để thuyết phục điều
phê phán của mình Tác
giả dẫn chứng điều gì?
Tác giả phê phán các
loại sách thời phong
kiến là gì? Chứng minh
điều mình nói, tác giả
đưa ra luận điểm gì?
HS đọc đoạn 2
HS suy nghĩ trả lời
Nguyễn Trường Tộ khái quát luật pháp bằng những khái niệm của Nho giáo
Nguyễn Trường Tộ
khẳng định trung hiếu và lễ nghĩa là
cần thiết vì đó là đạo lớn làm người
Nhưng muốn đạo lớn làm người kia trở thành hiện thực thì
phải có luật, vì Nho
giáo chỉ nói suông trên giấy tác giả lấy ngay lời Khổng Tử
làm luận cứ : “Ta chưa hề thấy ai nhận được lỗi mình mà biết tự trách phạt”.
Các loại sách khác ở thời phong kiến, tác giả cũng cho là vô ích
Ông chỉ rõ những sách vở của Nho gia chỉ nói chuyện người xưa, việc xưa mà không đến việc ngày nay, người ngày nay
xã hội và gia đình, mọi cách ứng xử giữa con người với con người, là xương sống của chế độ phong kiến
- Lục bộ(sáu bộ) là cơ quan quyền lực
đầu não của nhà nước phong kiến
Lí lẽ đó khiến vua Tự Đức – một ông vua tiêu biểu cho chế đô phong kiến không thể chối từ
2/ Đoạn hai : Nêu lên hiện thực của
luật pháp Nho giáo.
a/ Nguyễn Trường Tộ phê phán Nho giáo ở tính chất vô tích sự, nói suông không có tác dụng bằng pháp luật + Để phê phán Nho giáo, trước hết
Nguyễn Trường Tộ khẳng định trung hiếu và lễ nghĩa là cần thiết vì đó là
đạo lớn làm người Nhưng muốn đạo lớn làm người kia trở thành hiện thực
thì phải có luật, vì Nho giáo chỉ nói
suông trên giấy
- Để thuyết phục, tác giả lấy ngay lời
Khổng Tử làm luận cứ : “Ta chưa hề thấy ai nhận được lỗi mình mà biết
tự trách phạt” Cho nên phải có luật.
+ Các loại sách khác ở thời phong
kiến, tác giả cũng cho là vô ích “vì dù
có vạn quyển sách cũng không thể trị được dân” nếu trong nước không có
luật, hoặc bản thân người cầm quyền không hiểu luật Ông chỉ rõ những sách vở của Nho gia chỉ nói chuyện người xưa, việc xưa mà không đến việc ngày nay, người ngày nay Đọc
các sách đó càng nhiều thì càng “làm rối trí thêm chẳng được tích sự gì”
- Để chứng minh là đúng, tác giả lại
dẫn lời Khổng Tử : “Chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc”, mà muốn làm được việc thì phải có luật.
b/ Dùng Khổng Tử để phe phán Nho giáo là phương pháp “gậy ông đập lưng ông” trong văn nghị luận
+ Kết thúc cho phần phê phán Nho giáo của mình, Nguyễn Trường Tộ đưa ra một hiện thực đáng buồn về
Trang 4GV hướng dẫn tìm hiểu
đoạn 3.Nêu câu hỏi gợi
ý
Tác giả quan niệm như
thế nào về mối quan hệ
giữa đạo đức và luật
pháp?
Nêu thành công về
nghệ thuât?
HS đọc đoạn 3
HS suy nghĩ trả lời
Luật có vai trò quan trọng đối với con người và xã hội : Luật không chỉ có tác dụng cai trị xã hội,
mà còn là đạo đức
tinh vi, đạo làm người
HS trả lời
Bài điều trần lập luận chặt chẽ, lời lẽ xác đáng, có sức thuyết phục người nghe
Cách lập luận có sức thuyết phục mạnh mẽ
tình hình nho sĩ hiện nay do Nho giáo
đào tạo nên : “suốt đời đọc sách […]
mà tại sao có nhiều người, cuộc đời của họ và sự ứng xử của họ còn tệ hơn những người quê mùa chất phác ?”.
Vì sao có tình trạng đó ? Vì họ không được học luật
Cách lập luận của Nguyễn Trường
Tộ vừa sắc sảo, vừa chặt chẽ Văn ngắn gọn, kiệm lời, tính chiến đấu mạnh mẽ, hùng hồn.
3/ Đoạn ba : Nâng cao hơn nữa vai
trò của luật đối với con người và xã hội.
+ Luật có vai trò quan trọng đối với con người và xã hội : Luật không chỉ
có tác dụng cai trị xã hội, mà còn là
đạo đức tinh vi, đạo làm người…
+ Phần kết thúc cho bài điều trần Xin lập khoa luật Nguyễn Trường Tộ nói
đến vai trò và vị trí của luật đối với đời sống xã hội Ông e người nghe (nhà vua) sẽ hiểu lệch, cho rằng luật chỉ tốt cho việc cai trị, nên tự đặt ra sự
phản bác và giải đáp : luật là đức, là cái đức lớn nhất chí công vô tư, đấy là đức trời, mà đức trời là đạo làm người, bất tất phải đi tìm cái gì khác, cũng có nghĩa là cần phải học luật 4/ Đặc sắc về nghệ thuật điều trần của Nguyễn Trường Tộ
- Bài điều trần lập luận chặt chẽ, lời lẽ xác đáng, có sức thuyết phục người nghe Mở đầu làlời khẳng định như
một chân lí “Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nước” và
kết thúc bằng lời gói lại vấn đề được
đặt ra ban đầu : “Trong luật cái gì cũng công bằng, hợp với đức trời… Nếu tận dụng cũng đủ trọn vẹn đạo làm người rồi, bất tất phải tìm cái gì khác”.
- Hơn nữa, tác giả lại luôn lấy lời Khổng Tử để làm minh chứng cho điều mình đưa ra là đúng Cách lập luận như vậy có sức thuyết phục
Trang 55’ HĐ3: Củng cố.Giá trị của bản điều
trần
Tác dụng thực tế hiện
nay
GV tổng kết, tóm tắt
nội dung
HĐ3:
HS ghi nhớ nội dung
cơ bản
mạnh mẽ, nhất là đối với vua Tự Đức thời bấy giờ
Củng cố:
- Bài Xin lập khoa luật được viết năm
1876, khi đó khoa học về luật pháp chưa phát triển Luật mà Nguyễn Trường Tộ đề cập đến ở đây là luật tư sản : tam quyền phân lập (có cơ quan lập pháp, hành pháp và giám sát hành
pháp) Bài Xin lập khoa luật có tác
dụng đưa xã hội vào luật pháp, sống trong luật pháp
- Ngày nay điều đó vẫn còn nguyên giá trị của nó Nguyễn Trường Tộ muốn khẳng định vai trò của luật pháp nên đã thiên về sự khẳng định, thiên
về những mặt tốt của nó mà chưa thấy mặt trái
Dặn dò: 3’Học bài.
Soạn bài: Ôn Tập văn học trung đại học phần 11 Trả lời nội dung theo câu hỏi
RÚT KINH NGHIỆM :
………
………
………
………
………
………
………
………