1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập Cơ sở ngôn ngữ

31 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ 1: Theo anhchị cuộc sống hiện đại ngày nay, con người (nhất là giới trẻ) có sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện để giải trí không? Hãy giải thích để làm rõ hơn quan điểm của anhchị? A. Đặt vấn đề: Từ xưa ngôn ngữ đã được xem như là một phương tiện để giải trí. Trước hết, trong cuộc sống hằng ngày con người đều sử dụng ngôn ngữ như một phương thức liên lạc hay giao thiệp với nhau. Đó là nhu cầu tất yếu. Và không chỉ thế ngôn ngữ còn được coi như là một phương tiện giải trí, phương tiện mà được sử dụng nhằm đem đến sự thư giãn một cách mới mẻ, khác lạ và sáng tạo. Bởi vì ngôn ngữ là một hiện tượng đặc biệt của xã hội cho nên ngoài chức năng dùng để giao tiếp ra ngôn ngữ còn đóng vai trò là một phương tiện giải trí: Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi? Qua câu ca dao trên, ta có thể thấy rằng đời sống con người Việt Nam ta vô cùng phong phú. Trong hoàn cảnh lao động vất vả con người vẫn lạc quan, vẫn có niềm tin vào cuộc sống tươi đẹp. Hơn nữa, trong đó ta còn có thể nhìn thấy được vẻ đẹp mỹ miều của cảnh sắc đồng quê, của người lao động nông thôn. Câu ca dao này được nhìn nhận và thấu hiểu theo nhiều góc độ khác nhau: Có người cho rằng đó là vẻ đẹp của đồng quê. Một bức tranh lao động nông thôn xưa thanh bình. Lại có ý kiến cho rằng, thực chất đây là lời tỏ tình kín đáo của một chàng trai đối với cô gái. Là một lời tỏ tình tế nhị và đầy lãng mạn. Tuy nhiên, cho dù nó được hiểu theo nghĩa nào đi chăng nữa thì câu ca dao này, xét về góc độ ngôn ngữ thì nó chính là một phương tiện để giải trí. Đây là một câu nói ngụ ý thể hiện vẻ đẹp của lao động, của đồng quê, của con người. Đồng thời, nó cũng được coi là phương tiện để giải trí sau những tháng ngày lao động vất vả, lam lũ của người lao động nông thôn. Ở đây, người lao động thể hiện sự lạc quan, yêu cuộc sống qua câu ca dao này. Nó ví như một phương tiện giải trí nhằm hướng tới, mơ ước một cuộc sống tươi đẹp, an tĩnh, giúp con người xua đi bao khó khăn, mệt nhọc. Như vậy, về bản chất ngôn ngữ là một phương tiện giải trí. Phương tiện giải trí nói chung có thể là cách thức mà con người dùng để tìm kiếm một trải nghiệm mới, những cảm giác mới và có thể giúp chúng ta thoát ly khỏi hiện thực ở một giới hạn nào đó. Cũng như các hình thức giải trí khác như âm nhạc, điện ảnh, hội họa,... chúng đem đến một sự tươi mới trong cảm thức của con người, vì chúng là hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, vậy thì không lý nào ngôn ngữ lại không phải là một phương tiện giải trí. Ngôn ngữ tồn tại khắp nơi trong cuộc sống của chúng ta, chỉ cần có nhu cầu thì sẽ có ngôn ngữ. Như vậy, ngôn ngữ dưới sự sáng tạo của con người trở thành một phương tiện như là một nhu cầu tất yếu khách quan.

Trang 1

ĐỀ 1:

Theo anh/chị cuộc sống hiện đại ngày nay, con người (nhất là giớitrẻ) có sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện để giải trí không? Hãy giảithích để làm rõ hơn quan điểm của anh/chị?

A Đặt vấn đề:

Từ xưa ngôn ngữ đã được xem như là một phương tiện để giải trí.Trước hết, trong cuộc sống hằng ngày con người đều sử dụng ngôn ngữnhư một phương thức liên lạc hay giao thiệp với nhau Đó là nhu cầu tấtyếu Và không chỉ thế ngôn ngữ còn được coi như là một phương tiện giảitrí, phương tiện mà được sử dụng nhằm đem đến sự thư giãn một cách mới

mẻ, khác lạ và sáng tạo

Bởi vì ngôn ngữ là một hiện tượng đặc biệt của xã hội cho nên ngoàichức năng dùng để giao tiếp ra ngôn ngữ còn đóng vai trò là một phươngtiện giải trí:

"Hỡi cô tát nước bên đàng,Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?"

Qua câu ca dao trên, ta có thể thấy rằng đời sống con người ViệtNam ta vô cùng phong phú Trong hoàn cảnh lao động vất vả con ngườivẫn lạc quan, vẫn có niềm tin vào cuộc sống tươi đẹp Hơn nữa, trong đó tacòn có thể nhìn thấy được vẻ đẹp mỹ miều của cảnh sắc đồng quê, củangười lao động nông thôn

Câu ca dao này được nhìn nhận và thấu hiểu theo nhiều góc độ khácnhau:

Trang 2

Có người cho rằng đó là vẻ đẹp của đồng quê Một bức tranh lao động nôngthôn xưa thanh bình

Lại có ý kiến cho rằng, thực chất đây là lời tỏ tình kín đáo của mộtchàng trai đối với cô gái Là một lời tỏ tình tế nhị và đầy lãng mạn

Tuy nhiên, cho dù nó được hiểu theo nghĩa nào đi chăng nữa thì câu

ca dao này, xét về góc độ ngôn ngữ thì nó chính là một phương tiện để giảitrí Đây là một câu nói ngụ ý thể hiện vẻ đẹp của lao động, của đồng quê,của con người Đồng thời, nó cũng được coi là phương tiện để giải trí saunhững tháng ngày lao động vất vả, lam lũ của người lao động nông thôn Ởđây, người lao động thể hiện sự lạc quan, yêu cuộc sống qua câu ca daonày Nó ví như một phương tiện giải trí nhằm hướng tới, mơ ước một cuộcsống tươi đẹp, an tĩnh, giúp con người xua đi bao khó khăn, mệt nhọc Nhưvậy, về bản chất ngôn ngữ là một phương tiện giải trí

Phương tiện giải trí nói chung có thể là cách thức mà con người dùng

để tìm kiếm một trải nghiệm mới, những cảm giác mới và có thể giúpchúng ta thoát ly khỏi hiện thực ở một giới hạn nào đó

Cũng như các hình thức giải trí khác như âm nhạc, điện ảnh, hộihọa, chúng đem đến một sự tươi mới trong cảm thức của con người, vìchúng là hiện tượng xã hội Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt,vậy thì không lý nào ngôn ngữ lại không phải là một phương tiện giải trí

Ngôn ngữ tồn tại khắp nơi trong cuộc sống của chúng ta, chỉ cần cónhu cầu thì sẽ có ngôn ngữ Như vậy, ngôn ngữ dưới sự sáng tạo của conngười trở thành một phương tiện như là một nhu cầu tất yếu khách quan

Trang 3

Chơi chữ tạo nên những liên tưởng bất ngờ, thú vị về nhận thức,đồng thời có tác dụng châm biếm, hài hước, thư giãn bằng chữ nghĩa, v.v…

a) Dùng từ ngữ đồng âm

- Hoa mua ai bán mà mua

Mẹ không ngã giá cho vừa lòng em

- Bạn vàng chơi với bạn vàng

Đừng chơi bạn vện, ra đàng cắn nhau

- Bà già đi chợ Cầu Đông

Bói quẻ lấy chồng xem có lợi chăng,

Thầy bói gieo que nói rằng

Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn.

Lợi là 2 từ đông âm khác nghĩa: một từ là phần thịt bao giữ xungquanh chân răng, một từ là chỉ lợi ích.Trong câu ca dao trên tác giả dângian đã sử dụng hai từ lợi đồng âm để tạo nên tiếng cười hóm hỉnh, phêphán thói xấu

- Không răng đi nữa cũng không răng,Chỉ có thua người một miếng ăn

Miễn đựơc nguyên hàm nhai tóp tép, Không răng đi nữa cũng không răng.

Ý bài thơ nói về chiếc răng của tác giả bị rụng Nhưng đựơc tin Triềuđình cho cho phục nguyên hàm tá lý, nhưng không hưởng lương Khôngrăng " ( Không có răng ) đồng âm với " không răng " ( không sao - từ địa

Trang 4

phương ) " Nguyên hàm " vừa có nghĩa là còn hàm răng nguyênvẹn đểnhai , vừa có ý chỉ cái hàm ( Chức) tá lý đựơc phục hồi sau khi bị tước đi.

- Một hôm, Trạng Quỳnh sai người ra bảo các hàng bán thịt: ngàymai trạng có đãi tiệc, cần mua mỗi hàng một vài cân, những thịt phải tháisắn để người nhà đỡ tốn công Sáng hôm sau các hàng thịt thái sẵn đểchờ.Mãi không thấy người nhà trạng đến mua, họ đến nhà trạng thì thấy cảnhà đi vắng Hỏi trạng thì trạng bảo chắc đứa nào chọc phá bà con đấy Cứgọi thằng nào bảo thái mà chửi Những người bán thịt tức giận cứ chửiđổng: Tiên sư đứa nào bảo thái! “Bảo thái” là bảo người ta xắt ra.Bảo Thái

là niên hiệu vua Lê Dụ Tông Như vậy Trạng Quỳnh đã lợi dụng hiện tượngđồng âm để dân chửi vua!

b) Dùng lối nói trại âm, gần âm

- Dở dang, dang dở vì sôngNgày làm công nhật, đêm trông dạ chàng

Trong câu ca dao trên, “dang” là từ gần âm với “giang”; “giang” làyếu tố Hán Việt đồng nghĩa với từ thuần Việt “sông” “Ngày làm” trongHán Việt là “công nhật”, “đêm” trong Hán Việt là “dạ” Tất cả kết hợp nhautạo nên một câu ca dao chơi chữ thú vị

- Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần

Tài (tài năng) và tai (tai họa) là hai từ gần âm đứng trong câu thơ tạonên ý nghĩa sâu sắc Nhờ nghệ thuật chơi chữ mà tư tưởng “Tài mệnhtương đố” trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du được chuyển tải thật giản

- Năm năm tháng tháng, ngày ngày,Chờ chờ đợi đợi, rày rày, mai mai

- Con kiến mà leo canh đaLeo phải cành cụt leo ra, leo vào

Trang 5

Con kiến mà leo cành đàoLeo phải cảnh cụt leo vào, leo ra.

Với cách chơi chữ lặp đi lặp lại như thế, câu ca dao đã gợi nên cuộcsống quẩn quanh bế tắc không lối thoát như số phận con kiến của ngườinông dân ở xã hội ngày trước

d) Dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa

- Làm người có dại mới nên khôn,Chớ dại ngây si, chớ quá khôn

Khôn được ích mình, đừng rẽ dại ,Dại thì giữ phận chớ tranh khôn

Khôn mà hiểm độc là khôn dại,Dại vốn hiền lành ấy dại khôn

Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại,Gặp thời, dại cũng hóa nên khôn

Hai đơn vị trái nghĩa dại và khôn kết hợp với nhau theo lối bổ nghĩasóng kèm trong cùng một văn bản, tạo hai mặt nghĩa vừa tách bạch ,vừagắn kết, như hai mặt của một tờ giấy

- Lươn ngắn mà chê trạch dàiThờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm

Trạch là loại cá trông giống lươn cỡ nhỏ, thân ngắn Thờn bơn là loại

cá thân dẹt, miệng và mắt lệch lên phía trên đầu Trai là loại động vật thânmềm, vỏ cứng, gồm hai mảnh, thường há ra như cái miệng Với nghệ thuậtchơi chữ để giễu nhại Tác giả dân gian muốn châm biếm những người đemchủ quan của mình gán ghép cho người khác mà không thấy được mìnhcũng có khuyết điểm tương tự như thế, chả ai hơn ai

- Anh mong làm bạn với trời,

Trang 6

Trời cao anh thấp, biết đời nào quen.

- Chuồng gà kê sát chuồng vịt

Từ “kê” là từ Hán – Việt cô nghĩa là gà Nên kê và gà là hai từ đồngnghĩa

- Cha con thầy thuốc về quêHồi hương phụ tử thì chàng đối chăng?

Cái độc đáo ở nghệ thuật chơi chữ trong câu thơ này là vừa có hai từtương đương nghĩa "cha con" (thuần Việt) với "phụ tử" (Hán Việt); "vềquê" (thuần Việt) với "hồi hương" (Hán Việt) Rồi "thầy thuốc" để chỉ nghềnghiệp của hai "cha con" mà "hồi hương", "phụ tử" là những vị thuốc nổitiếng trong đông y

-Tám con tu hú kêu cây bát bát, Mười con chuồng chuồng đỏ đít, lượn thập ác nhà.

- Kỳ sơn, kỳ thủy, kỳ phùng,

Lạ non, lạ nước, lạ lùng gặp nhau

 Từ gần nghĩa

- Con quạ nó ăn tầm bậy tầm bạ nó chết,

Con diều xúc nếp làm chay,

Tu hú đánh trống bảy ngày,Con bịp nó dậy, nó bày mâm ra

Con cuốc nó khóc u oa,

Mẹ nó đi chợ đàng xa chưa về

Bài ca dao tập hợp những con chim sống trọng bụi quạ, diều, tu hú,bìm bịp, cuốc, cho mỗi con đóng vai trò thích hợp với đặc điểm của chúng:diều với quạ cùng loại nên đóng vai trò chính; tu hu đầu mùa hè hay kêu;bìm bịp thường hay ở trong bụi rậm, ít bay đi đêm, như người nội trợ; cuốclủi trong bụi như tìm ai, tiếng kêu của nó sầu não như khóc như than Đây

là cách chơi chữ dùng các từ cùng trường nghĩa để khắc hoạ lên những bứctranh dân gian về một đám ma nghèo nhưng đầy đủ lễ thức Vừa phản ảnh

Trang 7

một phong tục ngày trước với nhiều màu sắc độc đáo nhưng cũng khônggiấu tính châm biếm sắc sảo.

- Giả đò neo chiếc thuyền tình,Bạn bè mối lái, tơ mành gấp ghe

- Bà già mặc áo bông chanh,Ngồi trong đám hẹ, nói hành nàng dâu

- Cha chài, mẹ lưới, con câuChàng rể đi tát, con dâu đi mò

- Rú, rừng, núi, động, đèo, truông ,Ngàn xanh cách trở, mấy luồng cũng theo

- Bể, hồ, khe, hói, lạch, rào,Sông sâu nước lội, ước ao kết nguyền

e) Chơi chữ bằng cách dùng từ ngữ nhiều nghĩa

- Còn trời còn nước còn nonCòn cô bán rượu anh còn say sưa

Bài ca dao là lời tỏ tình của chàng trai với cô hàng rượu, từ say trongcâu ca là một từ nhiều nghĩa: say rượu hoặc say tình, hiểu nghĩa nào cũngđược; nhờ khéo vận dụng tính đa nghĩa của từ mà lời tỏ tình khó nói được

tỏ bày một cách tế nhị, hóm hỉnh, có duyên kèm theo lời thề rằng có trờiđất, nước, non chứng giám là anh say em thật lòng chứ chẳng phải đùachơi

e) Hình thức chơi chữ theo cách nhại âm, phỏng theo âm thanh

- Bà già, bà giả, bà gia,

Bà ra kẻ chợ, con ma bắt bà

- Bác gì, bác xác bác xơ ,Bác chết bao giờ, bác chả bảo tôi

f) Chơi chữ bằngviệc đảo trật tự từ ngữ để tạo ra nghĩa ngược vớithực tế

Bao giờ cho đến tháng baẾch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồngHùm nằm cho lợn liếm lôngMột chục quả hồng nuốt lão tám mươiNắm xôi nuốt bé lên mười,Con gà mâm rượu nuốt người lao đaoLươn nằm cho trúm bò vàoMột đàn cào cào đuổi bắt cá rô

Trang 8

Lúa mạ nhảy lên ăn bò,

ai đó một điều gì bí mật hoặc để tránh những tiếng thô tục Như vậy nói lái

là một hình thức vô cùng độc đáo của ngôn ngữ Việt với khả năng nhạy bén

về tính trào phúng và châm chọc

* Nói Lái trong Câu đố:

Cũng như Ca dao, Tục ngữ, Thành ngữ… Câu đố cũng là một hìnhthái của Văn học dân gian Việt Nam Người ta sử dụng Câu đố trong cácbuổi họp mặt vui chơi hoặc trong lúc lao động chân tay để quên đi mệtnhọc hay thử tài trí giữa hai bên nam nữ Những câu đố Nói lái thường rất

dễ đáp nhưng vì bất ngờ hay bị chồng chéo chữ nghĩa mà đôi khi khôngđáp được

- Trong nhà chạy ra hỏi cái gì bán, là cái gì? (là cái giàn bí)

- Trên trời rơi xuống cái mau co, là cái gì? (là cái mo cau)

- Hít vào, hít ra, hít một là cái gì? (là hột mít)

Ngoài ra, còn có câu đố về các con vật, câu đố đặt ra là từ hai con vậtnầy khi nói lái sẽ thành hai con vật khác, đã được giải đáp như sau:

Trang 9

- Con Cua con Rồng lái là Con Công con RùaCon Cáo con Sóc lái là con Cóc con SáoCon Trai con Rắn lái là con Trăn con Rái (cá)Con Cò con Báo lái là con Cáo con BòCon Sáo con Bò lái là con Sò con BáoCon Sếu con Ngao lái là con Sáo con Nghêu.

* Nói Lái trong câu hò đối đáp:

Hò đối đáp vốn là một loại hình thức dân ca phổ biến khắp ba miềnđất nước Nó thường xảy ra trên cánh đồng hay dòng sông, nam và nữthường hò đối đáp với nhau để xua đi nỗi mệt nhọc trong công việc Điềuđáng ngạc nhiên là họ có thể dễ dàng sáng tạo và hò đối đáp ngay tại chỗ.Những người này rất nhanh nhẹn và thông minh đến mức ngay cả nhữngngười có học đôi khi cũng phải khâm phục họ và đôi khi phải bỏ cuộc

Những câu hò đối đáp thông thường thì rất nhiều nhưng dùng cáchnói lái để hò đối đáp thì rất hiếm quý

Thông thường thì bên con gái cất cao câu hò đối trước :

-“Hò hơ… Con cá đối nằm trên cối đá,Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo

Anh mà đối đặng… ơ ờ

Hò hơ…Anh mà đối đặng, dẫu nghèo em cũng ưng”

Sau khi phân tách và tìm câu trả lời, bên con trai hò đáp :

-“Hò hơ… Chim mỏ kiến(g) đậu trên miếng cỏ,Chim vàng lông đáp dựa vồng lang

Anh đà đối đặng ơ… ờ

Hò hơ…Anh đà đối đặng, hỏi nàng có ưng chưa?”

Bên cạnh đó còn có những câu nói lái mà đôi trai gái khéo léo gởigắm tình cảm cho nhau mà người ngoài vì vô tình không hiểu được Trướchết, người con gái thố lộ :

- Cam sành nhỏ lá thanh ương,Ngọt mật thanh đường nhắm lớ, bớ anh!

Cảm thương vì “thương anh” (thanh ương) mà “nhớ lắm” (nhắm lớ)của nàng nên chàng hứa hẹn :

- Thanh ương là tuổi mong chờMột mai nhái lặn chà quơ, quơ chà

Trang 10

Có nghĩa là: Anh muốn “nhắn lại” (nhái lặn) với nàng là nếu “thươnganh” (thanh ương) mà nàng “chờ qua” thì “qua chờ” nàng.

* Nói Lái trong câu đối:

Câu đối là cách chơi chữ và là một trong những thú tiêu khiển củangười xưa Người ta thường viết câu đối trong dịp Tết hay trong các lễmừng thượng thọ, thăng quan tiến chức, đỗ đạt hay tân hôn, sinh nhật….Người viết câu đối phải là người văn hay, chữ tốt và nhất là ý nghiã của câuđối phải phù hợp với trọng tâm của buỗi lễ Cho nên, viết câu đối rất khó

mà nói lái trong câu đố thì lại càng khó hơn nữa Vậy mà trong dân gianViệt Nam vẫn có nhiều câu đối nói lái

- Thảm thương cho cuộc sống thiếu thốn, đói nghèo của nghề giáo,người ta than thở qua bài “Buồn đời giáo-chức”:

Thảm kịch của thầy giáo, phải tháo giầy,Tháo luôn cả ủng, thủng luôn cả áo

Làm giáo chức, nên phải giứt cháo,Thảo chương rồi, để được thưởng chao,

Lấy giáo án đem dán áo

Cùng với một câu đối bất hủ như sau:

Thầy giáo tháo giầy, tháo cả ủng, thủng cả áo, đem giáo án ra dán áo.Mèo con còn meo, còn léo nhéo, kéo lòn nhòn, ngậm xương cá về caxướng

- Còn đây là câu đối Tết dành tặng cho những tên keo kiệt, coi trọngđồng tiền hơn bất cứ mọi thứ trên đời:

Thiên tường, tác biệt,Hiền tạ, thu sương

(Thương tiền, tiếc bạc

Hà tiện, thương xu.)Các câu khác như:

- Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấỵThầy tu thù Tây, cầu đạo cạo đầu

- Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,Gái Đồng Tranh sáu khắc đành trông

* Nói lái trong các giai thoại:

Trang 11

Giai thoại được hiểu là câu chuyện thú vị làm cho người nghe phảihào hứng, vui thích Từ xưa, có rất nhiều giai thoại, đặc biệt là giai thoạitrong văn chương thì không những được người đời truyền tụng qua nhữngcuộc trao đổi trong giới Văn gia, trí thức mà còn được ghi vào sách vở Tuynhiên, có những giai thoại Nói lái thì ít người quan tâm, thỉnh thoảng họcũng có nghe qua nhưng rồi bỏ, xem đó như là những câu chuyện dân gian.

Vì vậy, những giai thoại nầy trở thành loại văn chương truyền khẩu, mặc aimuốn kể sao thì kể, muốn thêm thắt thế nào cũng được miễn đáp ứng được

sự cảm nhận của người nghe là được

Chuyện Đại phong :

Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, sinh quán Nghệ An dướithời Lê Trung Hưng (1530-1540), là người hay chữ, thông minh xuấtchúng, với bản tính nói ngông hay châm chọc vua chúa quan quyền thờibấy giờ Một hôm Quỳnh dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn khoác lác làmột món ăn tuyệt hảo, ngoài có đề hai chữ Đại Phong Sau khi ăn thử, chúaTrịnh vì bị Trạng lừa bỏ đói, ăn rất ngon miệng nên cật vấn về món ăn lạ,thì Trạng giải thích rằng Đại Phong là gió to, gió to thì đổ chùa, đổ chùa thìtượng lo, tượng lo nói lái là lọ tương

*Nói lái trong ngôn ngữ hàng ngày

- Hạ cờ Tây (cầy tơ), Mống chuồn (muốn chồng), đồng chòi (đòichồng), chin bến đò (chó bến đình), con cháu nhà giò (con chó nhà giàu)

- Nói lái về các loại canh ăn uống trong dân gian: câu lái đùa vềcanh:

Anh Câu Bành đánh lộn với anh Kí Banh, ông Cai Cảnh làm biênbản,giải lên ông Cai Khoanh để thụ lý Các câu trên thật ra là tên của bốnloại canh: canh bầu, canh bí, canh cải và canh khoai

- Nói lái về các địa danh:

Chợ Thủ Đức năm canh thức đủChợ Đồng Tranh năm canh đành trông

Đi chợ Búng coi chừng chúng bợĐến Hạ Long rát cổ họng la

Trang 12

2, Nói lóng

Khái niệm: Tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội khôngchính thức của một ngôn ngữ, thường được sử dụng trong giao tiếp thườngngày, bởi một nhóm người Tiếng lóng ban đầu xuất hiện nhằm mục đíchche giấu ý nghĩa diễn đạt theo quy ước chỉ những người nhất định mớihiểu Tiếng lóng thường không mang ý nghĩa trực tiếp, nghĩa đen của từphát ra mà mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, thấy một trong những đoạn haynhất chính là lời thoại độc địa phát ra từ miệng Tú Bà lúc mụ nổi tam bành

mụ lên trước giai nhân Thúy Kiều:

Này này sự đã quả nhiên,Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi!

Bảo rằng đi dạo lấy người,Đem về rước khách kiếm lời mà ăn

Tuồng vô nghĩa ở bất nhân,Buồn mình trước đã tần mần thử chơi

Màu hồ đã mất đi rồi,Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!

Con kia đã bán cho ta,Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây

Lão kia có giở bài bây,Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe

Cớ sao chịu tốt một bề,Gái tơ mà đã ngứa nghề lắm sao!

Đó là tiếng lóng của giới buôn phấn bán son ở Việt Nam thế kỷ XIX:

đi dạo, rước khách, buồn mình, màu hồ, bài bây, chịu tốt, ngứa nghề, chơi,

II/ Việc sử dụng ngôn ngữ như là một phương tiện giải trí của giới trẻ hiện nay:

1, Các biểu hiện sử dụng ngôn ngữ để giải trí:

* Điển hình có thể nói đến là khẩu ngữ, tiếng lóng Đây một thực tếđầy sinh động mà hầu như bất kỳ ngôn ngữ nào trên trái đất đều có, dùmuốn hay không Tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội không

Trang 13

chính thức của một ngôn ngữ, thường được sử dụng trong giao tiếp thườngngày Với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, tiếng lóng được

sử dụng ngày càng rộng rãi bởi không chỉ giới trẻ mà với mọi thành phầntrong xã hội, và ngày càng đa dạng, phong phú hơn

Ví dụ:

Đây là một cách chơi chữ khá hay khi liên tưởng con gà luộc vớitrạng thái “khỏa thân” vô cùng sinh động Con gà luộc thì thường được đặtlên bàn thờ vào những ngày giỗ, cúng Vì thế, nơi để “ngắm gà khỏa thân”chính là…bàn thờ Khi có ai nói đến câu này, tức là muốn nói đến việc

“chầu Diêm Vương” Tuy nhiên, đừng quá lạm dụng cụm từ này, chỉ nêndừng lại ở mức trêu đùa bạn bè chứ không nên sử dụng trong những trườnghợp mang tính trang nghiêm và cần sự tôn trọng

Trang 14

Bánh bèo là một loại bánh nổi tiếng của miền Trung, đặc biệt là xứHuế Từ ngữ này đang được các bạn trẻ sử dụng khá nhiều, từ trên phươngtiện thông tin đại chúng cho đến trò chuyện ngoài đời thực “Bánh bèo” ởđây còn để chỉ những cô gái nhàm chán, thực dụng, nhõng nhẽo, tiểu thư và

có phần… vô tích sự

Dựa trên câu thành ngữ “Kỳ đà cản mũi”, “kỳ đà” được sử dụng với

ý nghĩa để chỉ những người vô duyên vô cớ xuất hiện, làm phiền hoặc cảntrở người khác và làm tình hình trở nên tệ hơn Những “vị khách không

Trang 15

mời mà đến” này đích thực là những con “kỳ đà cản mũi”, đúng khôngnào?

Ngoài ra, còn rất nhiều tiếng lóng được sử dụng trong giaotiếp khác nữa Ví dụ như:

Cạ cứng: bạn thân

Chém gió: nói phét, nói xạo

Cục gạch: điện thoại di động đời cũ

Cùi bắp, cùi mía: chỉ người/vật cùi, dở, kém chất lượng

Cưa bom: nói xạo

GATO: (viết tắt) ghen ăn tức ở

Não phẳng: chỉ những kẻ ngu ngốc không biết suy nghĩ

Ném đá: chỉ sự tấn công tập thể vào một đối tượng cụ thể, có nhữnghành động làm trái ý, chướng mắt (thông thường là ở trên mạng) bằng cáchnói móc mỉa, miệt thị, chửi bới

Tám: ngồi nói chuyện, nhiều chuyện

Trùm sò: keo kiết, bủn xỉn

Chym lợn: chỉ ai đó hay thọc mũi vào chuyện người khác, bàn ra tánvào, theo kiểu không mang tính chất xây dựng mà chỉ mang tính chất pháhoại

* Bên cạnh tiếng lóng, thành ngữ tục ngữ cũng được giới trẻ sáng tạomột cách thú vị và được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp:

Ngày đăng: 23/09/2018, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w