I. CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CÁC LOẠI CỔ PHIẾUA)CÔNG TY CỔ PHẦN1.khái niệmCông ty cổ phần (Joint stock company) là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần (shares) và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.2. Đặc điểm công ty Cổ phần :Công ty Cổ phần có những đặc điểm – đặc trưng pháp lý như sau :– Phải có số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không hạn chế số lượng ( có thể là cá nhân hoặc tổ chức là cổ đông) ;– Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần.Mua cổ phần là hình thức chính để góp vốn vào công ty cổ phần ;– Cổ đông là người nắm giữ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ công ty trong phạm vi số vốn đã góp;– Cổ đông có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho cổ đông hoặc các nhân, tổ chức khác một cách tự do ;– Doanh nghiệp cổ phần có thể phát hành chứng khoán theo quy định pháp luật 3. Cơ cấu thể chế của công ty cổ phần :4. Ưu và nhược điểm công ty Cổ phần : Ưu điểm : Chịu trách nhiệm hữu hạn: Vì công ty cổ phần được góp vốn từ các cổ đông nên trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty thuộc phạm vi vốn đã góp và mức độ rủi ro sẽ thấp hơn Tiềm năng tài trợ lớn: Khả năng huy động vốn cao từ ngành nghề , lĩnh vực khác nhau thông qua hình thức phát hành cổ phiếu ra thị trường Tiềm năng sản xuất lớn Chuyển nhượng vốn tương đối dễ dàng: Được chuyển nhượng quyền sở hữu: Các cổ phần hay quyền sở hữu công ty có thể được chuyển nhượng dễ dàng, chúng được ghi vào danh mục chuyển nhượng tại Sở giao dịch chứng khoán và có thể mua hay bán trong các phiên mở cửa một cách nhanh chóng. Vì vậy, các cổ đông có thể duy trì tính thanh khoản của cổ phiếu và có thể chuyển nhượng các cổ phiếu một cách thuận tiện khi họ cần tiền mặt. Nhược điểm : Số lượng thành viên cổ đông lớn dẫn đến việc quản lý và điều hành công ty phức tạp, có sự phân tách thành các nhóm cổ đông tranh giành về lợi ích, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích Theo quy định thì vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp cổ phần không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc doanh nghiệp khác. Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế mà công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo qui định của luật pháp; Công ty cổ phần bị đánh thuế hai lần. Lần thứ nhất thuế đánh vào công ty. Sau đó, khi lợi nhuận được chia, nó lại phải chịu thuế đánh vào thu nhập cá nhân của từng cổ đông. Tính bí mật: Vì lợi nhuận của các cổ đông và để thu hút các nhà đầu tư tiềm tàng, công ty thường phải tiết lộ những tin tức tài chính quan trọng, những thông tin này có thể bị đối thủ cạnh tranh khai thác nên tính giữ bí mật thường không cao. Phía các cổ đông thường thiếu quan tâm đúng mức, rất nhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đến lãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đến công việc của công ty. Sự quan tâm đến lãi cổ phần này đã làm cho một số ban lãnh đạo chỉ nghĩ đến mục tiêu trước mắt chứ không phải thành đạt lâu dài. Với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo có thể chỉ muốn bảo toàn hay tăng lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân mình
Trang 1THỊ TRƯỜNG VỐN CỔ
PHẦNNhóm 8
Trang 2I CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CÁC LOẠI CỔ PHIẾU
A)CÔNG TY CỔ PHẦN
1.khái niệm
Công ty cổ phần (Joint stock company) là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn,được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó Vốn của công ty được chianhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần (shares) và được phát hành huy động vốn thamgia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế
2 Đặc điểm công ty Cổ phần :
Công ty Cổ phần có những đặc điểm – đặc trưng pháp lý như sau :
– Phải có số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không hạn chế số lượng ( có thể là cánhân hoặc tổ chức là cổ đông) ;
– Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị cổ phần gọi là mệnh giá
cổ phần.Mua cổ phần là hình thức chính để góp vốn vào công ty cổ phần ;
– Cổ đông là người nắm giữ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ công ty trongphạm vi số vốn đã góp;
– Cổ đông có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho cổ đông hoặc các nhân, tổ chứckhác một cách tự do ;
– Doanh nghiệp cổ phần có thể phát hành chứng khoán theo quy định pháp luật
3 Cơ cấu thể chế của công ty cổ phần :
Trang 34 Ưu và nhược điểm công ty Cổ phần :
* Ưu điểm :
- Chịu trách nhiệm hữu hạn: Vì công ty cổ phần được góp vốn từ các cổ đông nên trách nhiệm về
nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty thuộc phạm vi vốn đã góp và mức độ rủi ro sẽ thấp hơn
- Tiềm năng tài trợ lớn: Khả năng huy động vốn cao từ ngành nghề , lĩnh vực khác nhau thôngqua hình thức phát hành cổ phiếu ra thị trường
- Tiềm năng sản xuất lớn
- Chuyển nhượng vốn tương đối dễ dàng: Được chuyển nhượng quyền sở hữu: Các cổ phần hayquyền sở hữu công ty có thể được chuyển nhượng dễ dàng, chúng được ghi vào danh mụcchuyển nhượng tại Sở giao dịch chứng khoán và có thể mua hay bán trong các phiên mở cửa mộtcách nhanh chóng Vì vậy, các cổ đông có thể duy trì tính thanh khoản của cổ phiếu và có thểchuyển nhượng các cổ phiếu một cách thuận tiện khi họ cần tiền mặt
* Nhược điểm :
- Số lượng thành viên cổ đông lớn dẫn đến việc quản lý và điều hành công ty phức tạp, có sự
phân tách thành các nhóm cổ đông tranh giành về lợi ích, có nhiều người không hề quen biếtnhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích
- Theo quy định thì vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp cổ phần không đượcđồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc doanh nghiệp khác
- Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế mà công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhànước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo quiđịnh của luật pháp; Công ty cổ phần bị đánh thuế hai lần Lần thứ nhất thuế đánh vào công ty.Sau đó, khi lợi nhuận được chia, nó lại phải chịu thuế đánh vào thu nhập cá nhân của từng cổđông
- Tính bí mật: Vì lợi nhuận của các cổ đông và để thu hút các nhà đầu tư tiềm tàng, công tythường phải tiết lộ những tin tức tài chính quan trọng, những thông tin này có thể bị đối thủ cạnhtranh khai thác nên tính giữ bí mật thường không cao Phía các cổ đông thường thiếu quan tâmđúng mức, rất nhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đến lãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đếncông việc của công ty Sự quan tâm đến lãi cổ phần này đã làm cho một số ban lãnh đạo chỉ nghĩđến mục tiêu trước mắt chứ không phải thành đạt lâu dài Với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo cóthể chỉ muốn bảo toàn hay tăng lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân mình
Trang 4- Người sở hữu cổ phiếu gọi là cổ đông (Shareholder), là người chủ doanh nghiệp, có quyềntham gia quản lý doanh nghiệp qua việc bầu cử ở đại hội cổ đông.
- Cổ phiếu có giá trị trong suốt thời gian tồn tại ghi trong điều lệ công ty Hầu hết các công tyđều xin gia hạn hoạt động khi hết thời hạn kinh doanh Do đó tuổi thọ của cổ phiếu được xemnhư vô hạn cổ phiếu nói chung được phép mua bán, chuyển nhượng trên TTCK
- Mỗi cổ phiếu có một giá trị ấn định ban đầu gọi là mệnh giá Mệnh giá lớn hay nhỏ là do luậtchứng khoán hoặc điều lệ của doạnh nghiệp qui định Ví dụ: Mệnh giá cổ phiếu ở Mỹ là 1 USD-
12 USD, Việt Nam 10.000 VNĐ Mệnh giá có thể thay đổi trong trường hợp phải chia nhỏ(split) cổ phiếu Ngoài ra, khi phát hành cổ phiếu có giá phát hành Giá mua bán cổ phiếu vào bất
kỳ lúc nào đó trên thị trường gọi là thị giá cổ phiếu
- Cổ động có cùng lợi ích với doanh nghiệp, được chia lãi (cổ tức) và cùng chịu lỗ tương xứngvới tỷ lệ vốn góp Lợi ích của cổ đông là không ổn định
2 Phân loại cổ phiếu:
Cổ phiếu là một loại chứng khoán rất cơ bản và có nhiều loại khác nhau, dưới đây chỉ lànhững cách phân loại thông dụng nhất:
2.1 Phân loại theo quyền lợi cổ đông:
• Cổ phiếu thường
• Cổ phiếu ưu đãi
a) Cổ phiếu thường (Common stock): là loại cổ phiếu thông dụng nhất và thể hiện rõ nhất các
đặc điểm của cổ phiếu đã nêu trên
b) Cổ phiếu ưu đãi (Preferred stock): thường chiếm tỉ trọng nhỏ hơn cổ phiếu thường, có
những đặc điểm sau:
- Được ưu tiên chia lợi tức so với cổ phiếu thường và lợi tức là cố định (số tiền cố định hoặc tỷsuất cổ tức)
- Được ưu tiên hoàn vốn so với cổ phiếu thường khi chủ trương hoàn vốn
Do các qui định ưu tiên khác nhau, ta có nhiều loại cổ phiếu ưu đã khác nhau:
b.1) Cổ phiếu ưu đãi tích lũy (Cumulative Preferred stock) là loại cổ phiếu mà phần nợ cổ tức
năm trước được công ty cộng dồn (tích lũy) và hoàn trả vào năm sau
b.2) Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy (Non-cumulative Preferred stock) là loại cổ phiếu mà
công ty có lãi đến đâu trả đến đó, phần nợ cổ tức không được tích lũy vào năm sau
b.3) Cổ phiếu ưu đãi hoàn vốn (Redeemable Preferred Stock) là loại cổ phiếu mà công ty
dành cho các cổ đông ưu đãi quyền được hoàn vố trước cổ đông thường khi công ty có chủtrương hoàn vôn
Trang 5b.4) Cổ phiếu ưu đãi thu hồi (Callable Preferred Stock) là loại cổ phiếu mà công ty có quyền
thu hồi (call back) cổ phiếu bằng cách trả lại vốn cho cổ đông hoặc là đổi loại cổ phiếu ưu đãikhác có mức tỉ suất phù hợp với lãi suất chiết khấu trên thị trường
b.5) Cổ phiếu ưu đãi đảm bảo (Guaranteed Preferred Stock) là loại cổ phiếu đucợ một người
khác đứng ra cam kết bảo lãnh thanh toán nếu như một người khác đứng ra cam kết bảo lãnhthanh toán nếu như công ty phát hành mà không thanh toán đươc Người bão lãnh này thường làcông ty bảo lãnh, Ngân hàng, công ty chứng khoán hoặc Công ty bảo hiểm tín dụng
b.6) Cổ phiếu hưởng thụ (Redeemable Stock) là cổ phiếu không vốn do doanh nghiệp phát
hành cho các cổ đông được hoàn vốn của cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu hưởngthụ thường là cổ phiếu ghi danh Cổ đông cũng được quyền phân chia lợi nhuận của doanhnghiệp nếu như doanh nghiệp vẫn còn lợi nhuận giữ lại chưa chia Mặc dù đã được doanh nghiệphoàn vốn, nhưng cổ đông cổ phiếu hưởng thụ vẫn được hưởng các quyền nhất định, đặc biệt làquyền bỏ phiếu biểu quyết
2.2 Phân loại theo quyền tham gia bỏ phiếu biểu quyết trong Đại hội đồng cổ đông:
a) Cổ phiếu đơn phiếu là loại cổ phiếu được phân bố cổ phiếu là một phiếu bầu (Voting) Loại
cổ phiếu này dùng cho các công ty cổ đông, bởi vì tất cả các cổ đông đều có thể và có điều kiệntham dự Đại hội cổ đông đầy đủ
b) Cổ phiếu đa phiếu là loại cổ phiếu dùng cho công ty nhiều cổ đông Tất cả cổ đông không
thể về tham dự đại hội để bỏ phiếu biểu quyết các vấn đề quan trọng của đại hội đại hội cổ đôngđược thực hiện hai cấp: cấp cơ sở và cấp trung ương
Doạnh nghiệp quy định 1 phiếu bầu phải bao gồm nhiều nhiều cổ phiếu Ví dụ một phiếubầu tại Đại hội cổ đông công ty A phải bao gồm 100.000 cổ phiếu A thuộc mệnh giá 1 triệuVNĐ Cổ đông nào đủ 1 triệu VNĐ cổ phiếu sẽ được phân bổ một phiếu bầu, nếu không đủ thìphải gộp nhiều cổ đông lại cổ phiếu như thế được gọi là cổ phiếu đa phiếu
c) Cổ phiếu lưỡng phiếu là cổ phiếu mà cổ đông của cổ phiếu này được phân bổ hai phiếu bầu.
Doanh nghiệp phát hành loại cổ phiếu này thường có ít cổ đông Quyền lưỡng phiếu này thườngdành cho các cổ đông có uy tín, có danh phận trong xã hội hoặc trong ngành chuyên môn màdoanh nghiệp đó đang kinh doanh
Quyền lưỡng phiếu sẽ mất đi nếu như cổ đông chết đi hoặc bị truy cứu trách nhiệm dân
sự , hình sự
2.3 Phân loại theo mục đích huy động vốn:
a) Cổ phiếu sơ cấp (Primary Stock): là cổ phiếu được phát hành lúc thành lập công ty hoặc cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nước Cổ phiếu sơ cấp thường là cổ phiếu ghi danh cổ đông, do đóviệc mua bán phải gắn liền với việc đăng ký lại tên cổ đông tại công ty phát hành và tuân theoluật lệ mua bán, trao đổi và chuyển nhượng chứng khoán Cổ đông của cổ phiếu được hưởngnhiều quyền do điều lệ công ty qui định, trong đó quyền cơ bản là tham gia quản lý công tythông qua bỏ phiếu biểu quyết trong Đại hội cổ đông
Trang 6b) Cổ phiếu thứ cấp ( Secondary Stock): là cổ phiếu được công ty phát hành nhằm bổ sung vốn
điều lệ của công ty Chính vì thế, cổ phiếu này còn được gọi là cổ phiếu bổ sung vốn điều lệ Đặcđiểm của cổ phiếu thứ cấp là mệnh giá rất nhỏ, vô danh, cổ đông không tham gia quản lý công ty(gọi là cổ đông im lặng- Silent Shareholder) Việc mua bán, chuyển nhượng được thực hiện dễdàng, không cần thủ tục phải chuyển nhượng sang tên tại công ty phát hành
-Hàng hóa được giao dịch mua bán trên thị trường chứng khoán đó gọi là cổ phiếu
-Có hai loại nhà đầu tư chính trên thị trường cổ phiếu là nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổchức
2.Nguyên tắc hoạt động: có 3 nguyên tắc cơ bản nhất
-Nguyên tắc trung gian: nguyên tắc này qui định mọi hoạt động giao dịch,mua bán cổ phiếu trênthị trường cổ phiếu đều được thực hiện thông qua các trung gian hay các nhà môi giới
-Nguyên tắc công khai: mọi hoạt động trên thị trường cổ phiếu đều được công bố cho mọi thànhviên của thị trường và công chứng trên các phương tiện thông tin đại chúng
-Nguyên tắc đấu giá: giá cổ phiếu giao dịch trên thị trường được xác định thông qua việc đấu giágiữa các lệnh mua và lệnh bán (bao gồm 3 loại là đấu giá trực tiếp,đấu giá gián tiếp và đấu giá
tự động)
A)
Phân loại thị trường cổ phiếu
1 Căn cứ vào cấp độ giao dịch:
Có 2 loại là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
-Thị trường sơ cấp: là thị trường thực hiện các mua bán cổ phiếu mới
_Thị trường thứ cấp: là thj trường thực hiện giao dịch,mua bán các cổ phiếu đã phát hành.Thịtrường thứ cấp cung cấp khả năng thanh khoản cho các cổ phiếu được phát hành trên thị trường
sơ cấp
2.Căn cứ vào phương thức tổ chức:
Phân loại: có 3 loại chính là thị trường tập trung,thị trường bán tập trung và thị trường phi tập
trung
Trang 7-Thị trường tập trung: là thị trường mà các giao dịch mua bán cổ phiếu diễn ra tại Sở giao dịchchứng khoán Bao gồm các cổ phiếu đáp ứng một số điều kiện cụ thể như: số lượng được pháthành,số lượng cổ phiếu nằm trong tay công chúng,quy mô lợi nhuận của công ty,
-Thị trường bán tập trung(OTC): là thị trường bậc cao,các giao dịch được thực hiện tự độngthông qua hệ thống máy tính nối mạng giữa các thành viên của thị trường trên cả nước.Các loại
cổ phiếu được giao dịch trên thị trường này là tát cả các loại cổ phiếu chưa được phép giao dịch
ở thị trường tập trung
-Thị trường phi tập trung: là thị trường mà qui trình mua bán cổ phiếu diễn ra tại bất cứ nơi đâu
và bất cứ lúc nào.Ở đây bao gồm tất cả các loại cổ phiếu của hai thị trường trên và không có bất
cứ một điều kiện nào
B)
Tầm quan trọng của thị trường cổ phiếu:
-Thị trường cổ phiếu có vai trò thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và nó còn làcông cụ để đánh giá hoạt động kinh doanh
-Phát triển thị trường cổ phiếu giúp các công ty đa dạng hóa nguồn vốn và hạn chế sự phụ thuộcvào nguồn vốn vay ngân hàng
-Góp phần tận dụng và huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng,đưa nguồn vốn nàyvào để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế
-Thu hút vốn đầu tư nước ngoài,góp phần gia tăng dòng vốn đầu tư tư nhân và cả thiện tình hìnhcán cân thanh toán quốc tế
-Kích thích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lành mạnh và hiệu quả hơn
III.Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
1.Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường nàyvốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc đầu tư mua các chứngkhoán mới phát hành
a.Vai trò của thị trường sơ cấp
+Chứng khoán hóa nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động qua việc phát hànhchứng khoán
+Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trongdân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn
b.Đặc điểm của thị trường sơ cấp
Trang 8+Thị trường sơ cấp là thị trường không liên tục và là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lạivốn cho người phát hành.
+Những người bán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho bạc Ngân hàng Nhànước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành
+Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định và thường được inngay trên chứng khoán
c.Những điểm thuận lợi và bất lợi khi phát hành chứng khoán ra công chúng.
c.1)Những điểm thuận lợi
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp và sự nổi tiếng của công ty, nhờvậy công ty sẽ dễ dàng hơn và tốn ít chi phí hơn trong việc huy động vốn qua phát hành tráiphiếu, cổ phiếu ở những lần sau Thêm vào đó, khách hàng và nhà cung ứng của công ty thườngcũng sẽ trở thành cổ đông của công ty và do vậy công ty sẽ rất có lợi trong việc mua nguyên liệu
ty nước ngoài với tư cách làm đối tác liên doanh
- Phát hành chứng khoán ra công chúng giúp công ty có thể thu hút và duy trì đội ngũ nhân viêngiỏi bởi vì khi chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty bao giờ cũng dành một tỷ lệ chứngkhoán nhất định để bán cho nhân viên của mình Với quyền mua cổ phiếu, nhân viên của công ty
sẽ trở thành cổ đông, và được hưởng lãi trên vốn thay vì thu nhập thông thường Điều này đã làmcho nhân viên của công ty làm việc có hiệu quả hơn và coi sự thành bại của công ty thực sự làthành bại của mình
- Phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty có cơ hội tốt để xây dựng một hệ thống quản lýchuyên nghiệp cũng như xây dựng được một chiến lược phát triển rõ ràng Công ty cũng dễ dànghơn trong việc tìm người thay thế, nhờ đó mà tạo ra được tính liên tục trong quản lý Bên cạnh
đó, sự hiện diện của các uỷ viên quản trị không trực tiếp tham gia điều hành công ty cũng giúptăng cường kiểm tra và cân đối trong quản lý và điều hành công ty
- Phát hành chứng khoán ra công chúng làm tăng chất lượng và độ chính xác của các báo cáo củacông ty bởi vì các báo cáo của công ty phải được lập theo các tiêu chuẩn chung do cơ quan quản
lý qui định Chính điều này làm cho việc đánh giá và so sánh kết quả hoạt động của công ty đượcthực hiện dễ dàng và chính xác hơn
c.2) Những điểm bất lợi
- Phát hành cổ phiếu ra công chúng làm phân tán quyền sở hữu và có thể làm mất quyền kiểmsoát công ty của các cổ đông sáng lập do hoạt động thôn tín công ty Bên cạnh đó, cơ cấu về
Trang 9quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động do chịu ảnh hưởng của các giao dịch cổ phiếuhàng ngày.
- Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8-10% khoản vốn huyđộng, bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán,chi phí niêm yết… Ngoài ra, hàng năm công ty cũng phảI chịu thêm các khoản chi phí phụ nhưchi phí kiểm toán các báo cáo tài chính , chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản
lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ
- Công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải tuân thủ một chế độ công bố thông tin rộngrãi, nghiêm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác Hơn nữa, việc công
bố các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp đồngnguyên liệu, cũng như nguy cơ bị rò rỉ thông tin mật ra ngoài có thể đưa công ty vào vị trí cạnhtranh bất lợi
- Đội ngũ cán bộ quản lý công ty phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước công chúng Ngoài ra, doqui định của pháp luật, việc chuyển nhượng vốn cổ phần của họ thường bị hạn chế
d.Việc phát hành
Được hỗ trợ bởi:
-các đại lý đầu tư
-các chuyên gia tư vấn
-các trung gian giữa bên phát hành và nhà đầu tư
Có 2 hình thức phát hành cổ phiếu:
-phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO)
-Phát hành cổ phiếu theo thời vụ (SEASONED)
d.1)Phát hành lần đầu ra công chúng:
-cổ phiếu công chúng lần đầu tiên
-cần có sự chấp thuận của Uỷ ban chứng khoán (SEC)
Có 3 sự lựa chọn ở thị trường sơ cấp:
- Phát hành ra công chúng: là việc chào bán chứng khoán công ty ra các nhà đầu tư đạichúng ở một mức giá xác định
- Phát hành đặc quyền mua trước: là việc chào bán chứng khoán mới cho cổ đông hiệnhữu, những người mua cổ phiếu theo tỷ lệ sở hữu hiện tại của họ
- Phát hành riêng lẻ: là việc chào bán chứng khoán của công ty, không được đăng ký vớiSEC và không được bán ra công chúng
2.Thị trường thứ cấp
Trang 10Thị trưởng thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
a.Vai trò của thị trường thứ cấp
+Cung cấp thị trường, tạo ra những điều kiện dễ dàng để bán những công cụ tài chính trên thịtrường sơ cấp
+Thị trường thứ cấp xác định giá của mỗi chứng khoán mà công ty phát hành bán ở thị trường sơcấp
b.Đặc điểm thị trường thứ cấp
+Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu
tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành Nói cách khác, cácluồng vốn không chảy vào những người phát hành chứng khoán, mà chuyển vận giữa nhữngngười đầu tư chứng khoán trên thị trường Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thịtrường tài chính, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp
+Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá chứng khoán trênthị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định
+Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua và bán các chứngkhoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp
+HOA KỲ có 3 sàn giao dịch chứng khoán chính:
- Sở giao dịch chứng khoán New York
- Sàn giao dịch NASDAQ
- Sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ
Như vậy, sự khác nhau cơ bản giữa thị trường thứ cấp và thị trường sơ cấp thể hiện ở chỗ:hoạt động của thị trường sơ cấp làm tăng thêm vốn cho toàn bộ nền kinh tế, còn hoạtđộng của thị trường thứ cấp chỉ thực hiện việc chuyển đổi quyền sở hữu chứng khoán đãphát hành, mà không làm tăng thêm vốn cho nền kinh tế
Hai thị trường này có mối quan hệ mật thiết với nhau được ví như hai bánh xe của mộtchiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề; còn thị trường thứ cấp là độnglực Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ không có chứng khoán để lưu thông trên thịtrường thứ cấp, và ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển cácchứng khoán thành tiền sẽ rất khó khăn, và khiến cho người đầu tư sẽ dè dặt khi muachứng khoán, làm thu hẹp thị trường sơ cấp, hạn chế việc huy động vốn của các chủ thểcần vốn trong nền kinh tế
Các cột mốc chính đánh dấu sự phát triển của thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Ngày Sự kiện
1990 Luật Doanh nghiệp được thông qua và có hiệu lực
Trang 116/11/1993 Quyết định số 207/QĐ-TCCB của Thống đốc Ngân hàng nhà nước với nhiệm vụ
nghiên cứu, xây dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập thị trườngchứng khoán
29/6/1995 Quyết định số 361/QĐ-TTg thành lập Ban Chuẩn bị tổ chức TTCK giúp Thủ
tướng Chính phủ chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựngTTCK ở Việt Nam
28/11/1996 Nghị định số 75/CP của Chính phủ thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước20/7/2000 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khai trương hoạt
động28/7/2000 Phiên giao dịch đầu tiên của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh với 2 cổ phiếu có mã giao dịch là REE và SAM8/3/2005 Giao dịch thứ cấp tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội bắt đầu được thực
hiện23/6/2006 Quốc hội khoá XI thông qua Luật chứng khoán là văn bản xác định hành lang
pháp lý cao nhất trong lĩnh vực chứng khoán8/8/2007 Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chính Minh chính thức được khai trương2/6/2008 Thị trường trái phiếu chuyên biệt hình thành theo Quyết định số 352/QĐ-UBCK
ngày 16/5/2008
24/6/2009 Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội được khai trương
24/6/2009 Khai trương Thị trường giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết
(UPCoM) với 10 công ty đại chúng đăng ký giao dịch Quá trình hình thành thịtrường chứng khoán Việt Nam
A)Sở giao dịch chứng khoán
1.Khái niệm
+Sở giao dịch chứng khoán là thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện tại 1 đại điểm
tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor) hoặc thông qua hệ thống máy tính.Các chứng khoánđược niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thông thường là chứng khoán của các công ty lớn,códanh tiếng và đã trải qua thử thách trên thị trường và đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết.Cácloại chứng khoán này được giáo dịch theo những quy định nhất định về phương thức giaodịch,thời gian và địa điểm cụ thể
2.Đặc điểm
+SGDCK là nơi gặp gỡ của các nhà môi giới chứngkhoán để thương lượng đấu giá mua bánchứng khoán,là cơ quan phục vụ cho hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán.Như vậy,sở giaodịch chứng khoánkhông tham gia mua bán chứng khoán,mà chỉ cho thuê địa điểm để người muabán thực hiện giao dịch và đưa ra các loại chứng khoán được mua bán trên thịtrường
Trang 12+Sở giao dịch chứng khoán không có hàng hóa và không có người mua bán cuối cùng,chỉ cónhững nhà mội giới,vì ở các nước thông thường chứng khoán đều được kí gửi tại ngânhàng.Ngân hàng sẽ cho khách hàng một tài khoản gọi là tài khoản lưu kí chứng khoán,nên khimua bán chỉ cần qua người môi giới.
+Là một địa điểm lý tưởng cho những cuộc giao lưu vốn của xã hội,Sở GDCK có thể giúp sốvốn luân chuyển một cách dễ dàng và nhanh chóng từ người này sang tay người khác.Nhà đầu tư
có thể dễ dàng đa dạng hóa đầu tư,thay đổi lĩnh vực đầu tư một cách dễ dàng và nhanhchóng.Chính đặc điểm này đã hấp dẫn các nhà đầu tư đến với Sở GDCK
3.Chức năng
+Làm tăng tính thanh khoản của các chứng khoán đã phát hành.Thông qua SGDCK,chứng khoánphát hành được giao dịch liên tục,các tổ chức phát hành có thể phát hành tăng vốn thông qua thịtrường chứng khoán,các nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán niêm yết một cách dễ dàng vànhanh chóng
+Chức năng xác định giá cả công bằng.Đây là 1 chức năng cực kì quan trọng trong việc tạo ramột thị trường liên tục.Giá cả được xác định trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán chứngkhoán,được chốt bởi cung-cầu trên thị trường.Qua đó SGDCK mới có thể tạo ra được một thịtrường tự do,công khai và công bằng.Hơn nữa,SGDCK mới có thể đưa ra được các báo cáo mộtcách chính xác và liên tục về chứng khoán,tình hình hoạt động của các tổ chức niêm yết,các công
ty chứng khoán,đem đến cho nhà đầu tư một cái nhìn toàn diện,minh bạch về thị trường
B)Các sở giao dịch chứng khoán
1.Sàn chứng khoán HOSE
HOSE là viết tắt của Ho Chi Minh Stock Exchange, là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố HồChí Minh (GDCK TP.HCM)
a Lịch sử hình thành và phát triển của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 28//11/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/1998/NĐ-CP về việc thành lập Ủyban Chứng khoán Nhà nước và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc ra đời thị trường chứngkhoán
Ngày 20/7/2000 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khai trương hoạtđộng
Ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên đã chính thức được tổ chức tại Trung tâm Giao dịchChứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của thị trường chứngkhoán Việt Nam
Đến tháng 08/2007, từ chỗ chỉ có hai, ba doanh nghiệp niêm yết và bốn công ty chứng khoánthành viên đến nay đã có 111 doanh nghiệp niêm yết và 55 công ty chứng khoán thành viên, 18công ty quản lý quỹ, 61 tổ chức lưu ký