1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm tạp văn Trần Nhã Thụy

113 398 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 824 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Nhã Thụy không là một hiện tượng "hót" trên văn đàn cho đến thờitúc, những tác phẩm của anh vẫn để lại những ấn tượng khó phai trong lòng bạnđọc, nhất là bạn đọc trẻ, để anh trở thà

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngày nay, do sức ép của khối lượng công việc bận rộn hơn, nên độc giả

ít có thời gian cho những cuốn tiểu thuyết dài hơi Người đọc hôm nay thường tìmđến những thể loại có khả năng đáp ứng những nhu cầu đọc nhanh, đọc gọn nhưtruyện ngắn, truyện cực ngắn (truyện mini), tạp văn, bút ký… Những thể loại này

có dung lượng ngắn, dễ đọc, thường hướng tới phản ánh những vấn đề mang tínhthời sự “nóng hổi” của cuộc sống hàng ngày bằng thứ ngôn ngữ đời thường, quen

người viết lẫn người đọc Bàn về văn học Việt Nam đương đại, từng có ý kiến chorằng, thời đại này là "thời của tản văn, tạp bút" Dù ý kiến này vẫn còn cần phảiluận giải kĩ lưỡng thêm trên tinh thần khoa học, nhưng không thể phủ nhận phần

trên văn đàn trong những năm gần đây, nhất là với những cây bút trẻ Nghiên cứutạp văn, vì vậy, là góp phần nghiên cứu diện mạo văn học nước nhà trong thờiđiểm hiện tại

phổ biến trong văn học Việt Nam đương đại Cùng với sự phát triển mạnh mẽ củathời đại thông tin và nhịp sống hiện đại, tạp văn trở thành loại văn bản có thế mạnhhơn các thể văn khác bởi tính chất ngắn gọn, có thể chớp được một suy nghĩ, mộtkhoảnh khắc suy tư, một thoáng liên tưởng mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả.Nhờ vậy, nó dễ dàng tiếp cận người đọc trên phương diện cảm xúc cũng như nhucầu thông tin Đặc biệt, các tờ báo thường dành riêng một mục để đăng tạp văn

thường kỳ như: Người Lao Động, Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, Tuổi trẻ,

Thanh niên, Văn nghệ, Sài Gòn tiếp thị,… Nhiều bài báo không chuyên về văn

chương cũng in tạp văn Đây thật sự là mảnh đất màu mỡ cho nhiều nhà văn ra sức

Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Tạ Duy Anh, Mạc Can, Đỗ Trung Quân,

chỉ xuất hiện dày đặc trên các báo và các trang mạng cá nhân, những năm gần đâytạp văn được xuất bản khá ồ ạt, có chất lượng và được người đọc đón nhận nồngnhiệt Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng những ý kiến nhận xét, đánh giá, nghiêncứu về thể loại này còn rất ít

Trang 2

1.3 Trần Nhã Thụy không là một hiện tượng "hót" trên văn đàn cho đến thời

túc, những tác phẩm của anh vẫn để lại những ấn tượng khó phai trong lòng bạnđọc, nhất là bạn đọc trẻ, để anh trở thành một trong số các tác giả trẻ tiêu biểu củavăn học miền Nam những năm đầu thế kỉ XXI, với tư cách là một cây bút đa năng,

những nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn, tiểu phẩm… và ở mảngsáng tác nào anh cũng có những thành công đáng ghi nhận bằng những giải thưởngvăn học có giá trị như giải thưởng Truyện ngắn trẻ (báo Văn Nghệ Trẻ - Hội Nhàvăn Việt Nam 1998); giải thưởng Truyện ngắn Văn học cho tuổi trẻ (NXB ThanhNiên – báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam 2003); tặng thưởng Hội Nhà văn

TP.HCM cho tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước (năm 2009) Với thể loại tạp văn,

ấn tượng Trần Nhã Thụy để lại trong lòng độc giả là kí ức về khung cảnh làng quê

êm đềm, về nhịp sống đô thị Sài Gòn náo nhiệt, cùng những suy ngẫm về vấn đềnhân sinh với các góc nhìn thú vị nhiều mặt của đời sống Bằng giọng điệu trầmlắng nhẹ nhàng lẫn khôi hài, hóm hỉnh kết hợp sự tinh nhạy nắm bắt kịp hơi thởcuộc sống, tạp văn của anh đã thực sự thuyết phục được người đọc

Có thể nói, Trần Nhã Thụy (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) là một nhà văntài năng, có đóng góp trên nhiều thể loại, trong đó tạp văn của anh rất nên đượcchú ý bởi những đóng góp trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật.Tìm hiểu tạp văn Trần Nhã Thụy là góp phần nhận định về những đóng góp củaanh cho thể loại này nói riêng và văn xuôi Việt Nam nói chung Nghiên cứu TrầnNhã Thụy là góp phần nhận diện bộ mặt văn học Miền Nam nói riêng, văn họcViệt Nam nói chung, nhất là của thế hệ những người viết trẻ

Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài Đặc

điểm tạp văn Trần Nhã Thụy Qua đó, thấy được nét riêng đặc sắc của tạp văn Trần

Nhã Thụy và vị trí của tạp văn Trần Nhã Thụy trong bức tranh chung toàn cảnhcủa tạp văn Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Trần Nhã Thụy

Trần Nhã Thụy là một trong những cây bút trẻ đáng chú ý hiện nay Anhsáng tác trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn, tiểu phẩm… vàmảng sáng tác nào cũng có những thành công nhất định Như một mảnh ghépnhiều màu sắc, những tác phẩm của anh góp phần tạo nên sự phong phú, hoàn

Trang 3

thiện hơn cho bức tranh văn học đương đại nước nhà Khẳng định tài năng vớinhững giải thưởng văn học có giá trị, Trần Nhã Thụy đã dần định hình tên tuổi quacác thể loại với công chúng yêu thích văn học Có thể điểm qua một vài giảithưởng trong sáng tác của anh: năm 1998 đoạt giải thưởng Truyện ngắn trẻ với

chùm truyện Lặng lẽ rừng mai, Bồng, Lũng voi (báo Văn Nghệ Trẻ - Hội Nhà văn Việt Nam 1998); năm 2003 với tập truyện Những bước chậm của thời gian (NXB

Thanh Niên – báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam 2003); năm 2009 với tiểu

thành) đã đạt giải Ba, giải tiểu thuyết lần 4 của Hội Nhà văn Việt Nam 2015) Các tác phẩm của Trần Nhã Thụy được đăng trên các bài báo, website, blog,được bạn đọc trẻ đón nhận tích cực và đã được tuyển in trong 11 tập từ truyệnngắn, truyện dài, tiểu thuyết, đến tạp văn, tiểu phẩm

(2011-Vài năm trở lại đây, trên các báo, tạp chí, các trang mạng xuất hiện các bàigiới thiệu, nhận xét về Trần Nhã Thụy và các sáng tác của anh Dù các nhận địnhnày chưa được đầy đủ và hệ thống, nhưng điều đó cho thấy tên tuổi của anh cũng ítnhiều được dư luận chú ý

Thuyên trong bài “Nhà văn Trần Nhã Thụy chống cách tân” có viết: “Trần NhãThụy đã tìm ra một thứ bí mật của riêng mình khi viết truyện ngắn Anh kể cứ nhưkhông những chuyện thường tình có, bất thường có, sắp đặt có, vu vơ có Nhữngcâu chuyện tự nó như trăng chảy trên đồng cỏ, lênh láng mà vẫn nguyên vẹn, tanloãng mà không tan biến mất… Trần Nhã Thụy đã đủ điềm tĩnh để học và đónnhận nhiều kiểu văn chương khác nhau và khác mình, mà cũng không cần nóngnảy, luống cuống tìm bằng được những cách thức làm mới Văn chương anh đángđược mến yêu và thưởng thức”.[38] Thất Sơn trong bài phỏng vấn “Trần NhãThụy: Sống và viết là quá trình cần luyện tập” đã có nhận định: “Năm qua cây bút

Quảng Ngãi này đã cặm cụi viết với tinh thần sục vào cuộc sống những góc rất

đời” [29] Huệ Thanh cũng có những đánh giá rất xác đáng về nhà văn: “Trần NhãThụy là một nhà văn trẻ đáng chú ý hiện nay Trầm tĩnh Sắc sảo Sống nghĩa tình

Óc quan sát nhanh nhạy, tinh tế Bút lực lại mạnh mẽ” [32] Nhà báo Trần Hoàng

Nhân trong bài: “Trần Nhã Thụy xả xì-trét với Váy ơi là váy” có nhận định: “Trần

tiểu thuyết, kịch bản phim và hàng ngàn bài báo và tiểu phẩm Như một đầu bếp

Trang 4

giỏi, Trần Nhã Thụy chế biến được nhiều món ngon từ “nguồn nguyên liệu chữ” ởvườn văn của mình”

Nhà thơ Nguyễn Danh Lam trong lời bạt cho tập truyện ngắn và tạp văn Mùi

có những nhận xét về Trần Nhã Thụy: “Hai mươi năm trước, chẳng mấy cây búttrẻ thoát ra được thời kỳ lãng mạn của tâm thế họ và của văn chương họ Đa sốđang lết bết ca bài sến, Trần Nhã Thụy ở một góc khác, cũng ngồi đàn bângkhuâng Không sến, nhưng còn nao nao buồn buồn… Trần Nhã Thụy vẫn đó.Thoát nao nao buồn buồn Để chạm đến cái buồn thật sự Và tiếp nữa, cao tay hơn,nhìn được cái buồn thật sự ấy dưới nhãn quan… vui quá – cuộc đời vui quá không

buồn được vì đã vỡ ra được cái “sự thật biết cười”! [38;1] Cùng lời bạt về Mùi,

Nguyễn Ngọc Thuần có viết: “Ở anh cái nền nã của một người vừa đủ vui, buồn vàchừng mực Không phải tất cả những gì anh viết tôi cũng đều thích cả, tất nhiên rồi(nhất là cái vẻ chừng mực đáng ghét của anh, thay vì trong âm thầm tôi vẫn monganh quá khích chẳng hạn) nhưng tôi luôn luôn tin chắc mình có thể tìm thấy trong

đó những trăn trở đau đáu và tìm kiếm không ngừng sự chân thật cho một lối viết”.[38;2] Tác phẩm của Trần Nhã Thụy trở thành đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc

sĩ “Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Trần Nhã Thụy” của Đoàn Ngọc Trí Ở côngtrình nghiên cứu này, tác giả khẳng định: với thể loại truyện ngắn Trần Nhã Thụy

đã thực sự tạo nên một cá tính sáng tạo rất riêng, trầm tĩnh, sắc sảo Mặt khác, nhàvăn cũng phát hiện và giải quyết những sự kiện nóng hổi của đời sống thế sự thờihiện đại, khám phá thế giới nội tâm con người trong chiều sâu các mối quan hệcuộc sống Bức chân dung nhà văn hiện lên là một con người nhạy cảm, sâu sắc,thiết tha yêu cái đẹp, biết trân trọng và nâng niu cái đẹp giữa bao nhiêu hỗn tạp củacuộc đời

2.2 Lịch sử nghiên cứu tạp văn của Trần Nhã Thụy:

Tạp văn là thể loại được Trần Nhã Thụy dày công sáng tácđầu tư khá nhiều

giới nghiên cứu Những nhận định, đánh giá chủ yếu dành cho truyện ngắn và đặc

biệt cho cuốn tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước (đạt giải thưởng Hội Nhà văn

Nhà văn, 2014) cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu và côngchúng

Gối đầu trên mây là tập tạp văn đầu tiên của Trần Nhã Thụy ra mắt độc giả

do Nhà xuất bản Văn nghệ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh in năm 2006, đã đánh

Trang 5

dấu bước khởi đầu cho sự trải nghiệm thể loại tạp văn tưởng như đơn giản nhưng

không dễ viết Nhà thơ Lê Minh Quốc có lời tựa cho tập tạp văn này: “Gối đầu

trên mây là nỗi lòng của một gã nhà quê Từng trang tạp bút này lôi cuốn người

đọc không bằng câu chữ Câu chữ ư? Chả khó khăn gì đối với một gã viết vănchuyên nghiệp như Thụy, như bao người viết lách khác Nhưng ở đây Thụy vẫn tạocho mình một tâm thế riêng là cái hồn quê còn ẩn giấu trong tâm hồn người ởphố… Nếu ngày nào, Thụy vẫn còn giữ được cái hồn quê lãng đãng như thế, thì tôitin anh vẫn còn có những trang tạp bút hấp dẫn người đọc.”

Cuối năm 2009, NXB Phụ Nữ ấn hành tập tản văn Cuộc đời vui quá không

buồn được của nhà văn Trần Nhã Thụy Đến đầu năm 2011, cuốn sách trên lạiđược tái bản với 2.000 cuốn Đây là tập tản văn đánh dấu bước ngoặc quan trọngtrong quá trình sáng tác của anh, được đông đảo bạn đọc yêu mến và đón nhận

nhận xét khá "trúng": “Cuộc đời vui quá không buồn được là một câu thơ của nhà

thơ Tuân Nguyễn mà nhà văn Trần Nhã Thụy tâm đắc lấy đặt tên cho cuốn sáchcủa mình Theo nhận định của nhiều đồng nghiệp, cuốn sách không đơn thuần làtản văn mà còn “mô tả” được văn hóa đọc, văn hóa viết và văn hóa sống hiện naynhư những tiểu luận Sách của Trần Nhã Thụy không thuộc “hàng nóng” để trởthành sự kiện ầm ĩ, tái bản liên tục, nhưng giá trị bền lâu từ những trang viết củaanh như “mưa dầm” có thể tái bản đều đặn khi “mùa mưa trước” vừa “thấm hếtvào đất”

Một cách trân trọng, Cũng ttrong lời bạt cho tập truyện ngắn và tạp văn Mùi,

văn Trần Nhã Thụy tiếp tục giọng điệu riêng: khôi hài nhẹ nhàng, nhưng vẫn trêncái tông buồn buồn, đặc biệt là đưa ra các góc nhìn thú vị về nhiều mặt đời sốngtưởng chừng không còn mới nữa Có lẽ những ai yêu mến thể loại tản văn đều thừanhận rằng theo thời gian, Trần Nhã Thụy đã vượt qua cái bẫy ẩn náu trong thể loạinày một cách nhẹ nhàng và thuyết phục”

Cuốn tạp văn gần đây nhất là Triều cường, chân ngắn, và rau sạch được

Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2014 cũng đã tạo được tiếng vang với báo giới và

gần 50 bài tản văn, với người thích đọc Trần Nhã Thụy, hẳn đã đọc những bài viếtnhư thế trên các báo Vì “gã” viết tản văn hay viết báo cũng là để in báo nuôi…

Trang 6

văn Gần như, rất ít bài báo nào của Trần Nhã Thụy chỉ thuần văn thông tấn làmnhiệm vụ thông tin là xong Các bài viết của “gã” sống lâu hơn một bản tin thời sựnhờ… suy ngẫm của người viết và nghĩ suy của người đọc”.

Nhìn khách quan, có thể nhận thấy những bài viết trên có bàn về tạp vănTrần Nhã Thụy, các nhận định đều thể hiện sự đề cao đánh giá thể loại thuộc sở

loại này Các bài viết còn khá sơ lược, chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc

văn Trần Nhã Thụy chưa đến được với đông đảo lực lượng bạn đọc ở Việt Nam

Chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn góp phần làm sáng rõ thêm giá trị củatạp văn Trần Nhã Thụy ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật thểhiện thông qua những trang viết đầy tâm huyết của nhà văn

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Đặc điểm tạp văn Trần Nhã Thụy trên

hai phương diện: nội dung và hình thức nghệ thuật

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Để triển khai đề tài này, chúng tôi khảo sát các tác phẩm tạp văn sau đây củaTrần Nhã Thụy:

- Gối đầu trên mây (Nxb Trẻ, 2006)

- Cuộc đời vui quá không buồn được (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2009)

- Mùi (Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2011)

- Triều cường, chân ngắn và rau sạch (Nxb Trẻ,TP Hồ Chí Minh, 2014)

Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo những tác phẩm tạp văn của nhiều tácgiả khác trong Văn học Việt Nam đương đại để phục vụ cho việc so sánh đốichiếu: Lý Lan, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, NguyễnQuang Lập, Dạ Ngân…

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

điểm cơ bản trong đặc điểm tạp văn của Trần Nhã Thụy trên cả hai phương diện

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 7

Thực hiện đề tài này, chúng tôi xác định ba nhiệm vụ chính:

4.2.1 Đưa ra một cái nhìn khái quát về tạp văn trong sự nghiệp sáng tác củaTrần Nhã Thụy

4.2.2 Tìm hiểu, chỉ ra đặc điểm của tạp văn Trần Nhã Thụy trên phươngdiện nội dung

4.2.3 Tìm hiểu, chỉ ra đặc điểm của tạp văn Trần Nhã Thụy trên phương

diện hình thức

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp linh hoạt các phương phápsau:

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp thống kê - phân loại

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình khảo sát một cách tập trung về đặc điểm tạp văn Trần

sung thêm tư liệu để đánh giá toàn diện hơn về toàn bộ sáng tác của nhà văn Luậnvăn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về

bổ sung thêm tư liệu để đánh giá toàn diện hơn về toàn bộ sáng tác của nhà văn

7 Cấu trúc của luận văn

văn được triển khai trong ba chương:

- Chương 1: Khái quát về tạp văn và tạp văn của Trần Nhã Thụy.

- Chương 2: Bức tranh đời sống trong tạp văn Trần Nhã Thụy.

- Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật thể hiện trong tạp văn Trần Nhã Thụy.

Trang 8

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TẠP VĂN VÀ TẠP VĂN CỦA TRẦN NHÃ THỤY

1.1 Sự khẳng định của thể loại tạp văn trong văn học Việt Nam đương đại

1.1.1 Khái niệm tạp văn

Tạp văn là một thể loại mà ngày nay không còn xa lạ với người sáng tác vàngười đọc Chúng ta có thể tìm đọc tạp văn ở trên bất kỳ tờ báo nào, của nhiều tácgiả, và đã có không ít những tuyển tập tác phẩm xác định hẳn tên thể loại là “tạpvăn” Tuy nhiên, với tư cách là một thuật ngữ khoa học, cho đến nay đây vẫn làkhái niệm chưa được minh định rõ ràng

Chính tên gọi của thể loại khiến cho việc minh định không rõ ràng Trongtiếng Hán chữ “tạp” có nghĩa là “vặt vãnh”, “lẫn lộn” nên “tạp văn” thường khiếncho người tiếp nhận liên tưởng đến một thể loại “hỗn hợp”, bao gồm nhiều thể vănnhỏ khác nhau, không đồng nhất Vì vậy, đã có một số nhà nghiên cứu và cả ngườisáng tác xác định nội hàm khái niệm theo nghĩa này

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Tạp văn là những áng văn tiểu phẩm

có nội dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn có tínhchính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thờicác hiện tượng xã hội” [10; 247]

Trang 9

Từ điển tiếng Việt của Bùi Quang Tịnh (Nxb Văn hóa Thông tin) định nghĩa

đơn giản như sau: “Tạp văn: nhiều loại văn lẫn lộn” [48; 842]

Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hóa Thông tin) giải thích:

[54;1945]

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (Nxb Đà Nẵng) có viết: “Tạp văn là loại

văn có nội dung rộng, hình thức không gò bó, bao gồm những bài bình luận ngắn,tiểu phẩm, tùy bút…” [32;982]

Bên cạnh một số định nghĩa nêu trên, còn có một số tác giả xếp tạp văn

thành một dạng nhỏ của tản văn như Đỗ Hải Ninh (trong bài viết Ký trên hành

trình đổi mới) hay Trương Chính trong lời giới thiệu về tạp văn của Lỗ Tấn trong

Lỗ Tấn tuyển tập, Nxb văn học năm 1963: “Xét về nguồn gốc và phong cách của

nó thì tạp văn chính là kế thừa và phát triển hình thức tản văn trong văn học cổđiển Trung Quốc” [4;6] Với tác giả Hoàng Ngọc Hiến thì xem tạp văn là một tiểu

loại của thể loại ký, trong cuốn Năm bài giảng về thể loại, ông viết: “Trong nghiên

cứu văn học Việt Nam đương đại, ký là một thuật ngữ được dùng để gọi tên mộtthể loại văn học bao gồm nhiều “thể” hoặc “tiểu loại”: bút ký, hồi ký, du ký, kýchính luận, phóng sự, tùy bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm (et-xe) [12;5] Theo cáchhiểu thông thường của đa số bạn đọc hiện nay thì bất cứ tác phẩm gì không phải làtruyện ngắn, tiểu thuyết, kịch đều có thể được xem là tạp văn Bởi vì, người đọcthường xác định tạp văn trong mối tương quan với các thể loại tự sự phổ biến, quenthuộc nên các tác phẩm không viết theo các thể loại trên đều được xem là tạp văn

Song với Tuy nhiên, cách hiểu ấy, còn mang tính truyền miệng“truyền miệng”,

“nôm na” hơn là cách hiểu mang tính chất khoa học và thực tế nên chưa đủ căn cứ

để xác định thể loại một cách thuyết phục

Có rất nhiều định nghĩa được đưa ra để xác định cho tên gọi thể loại tạp văn

hìnhthể “khoanh vùng” hoặc “định hình” chính xác cho thể loại này Nguyên nhân

có lẽ bắt nguồn từ phạm vi khá rộng và sự phong phú, đa dạng trong nội dung vàhình thức phản ánh của thể loại này Dù rằng khởi nguồn, tạp văn chỉ là một thể

nhu cầu phản ánh đời sống, nhu cầu bộc lộ của người sáng tác và nhu cầu đọc củađộc giả, tạp văn trở thành một thể loại thịnh hành, phổ biến với rất nhiều hình thức

Trang 10

biểu hiện khác nhau Và cùng với quá trình mở rộng phạm vi một cách rất “tựnhiên” ấy, nội hàm khái niệm ngày càng khó xác định thống nhất

Ngày nay, nhìn vào đời sống văn chương Việt Nam theo góc độ thể loại, cóthể nhận thấy loại sách “tạp văn” xuất hiện ngày một dày đặc, phổ biến Nó đangcuốn hút, hấp dẫn cả người sáng tác lẫn người tiếp nhận Tâm thế người sáng tác

và người tiếp nhận trước tạp văn hoàn toàn khác với truyện ngắn, tiểu thuyết, thơhoặc kịch Đến với tạp văn như đến với một nhu cầu tự nhiên ở cả người viết lẫnngười đọc Nhận định của một số nhà nghiên cứu cho rằng tạp văn là thể loại hỗnhợp, không gò bó về nội dung và hình thức, bao gồm bất kể thể văn gì, nên nó dễdàng thâm nhập vào đời sống văn học Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa làtạp văn là thể loại “tạp nham”, không thể xác định Xét về đặc trưng thể loại, tạpvăn cũng có những đặc điểm dễ nhận diện so với các thể loại khác Như vậy, tạpvăn là một thể loại từ lâu bị lãng quên, nay đã có những đóng góp tích cực cho đờisống văn học nước nhà với nhiều cây bút tên tuổi, làm thay đổi diện mạo của nềnvăn học đương đại Việt Nam

1.1.2 Nhận diện đặc trưng cơ bản của tạp văn

Mỗi thể loại văn học đều có những đặc trưng riêng biệt Đặc trưng cơ bảncủa tạp văn trước hết được xác định trong mối liên hệ so sánh giữa nó với các thểloại tự sự gần gũi như: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký… Ở điểm này, ta thấy tạp văn

có một số đặc trưng cơ bản như:

Về hình thức, tạp văn có dung lượng ngắn gọn, hàm súc Đến nay, ngắn gọnvẫn là đặc điểm cơ bản và là ưu thế của tạp văn, đưa tạp văn “lên ngôi” do nhu cầucần đọc nhanh, đọc nhiều thông tin của người đọc hiện nay Hình thức tạp văn tự

do, phóng khoáng, không câu nệ các quy tắc về câu chữ, kết cấu

xúc đời thường rất giản dị, gần gũi Những vấn đề phản ánh trong tạp văn thườngđược thể hiện dưới dạng một suy nghĩ, khoảnh khắc riêng tư, một thoáng liêntưởng bất ngờ, độc đáo mang đậm dấu ấn cá nhân tác giả

Tạp văn có mối quan hệ gần gũi với một số thể loại khác như: ký, phóng sự,tùy bút, tiểu phẩm Tạp văn có sự thâu nạp nhiều thủ pháp biểu hiện của nhiều thểloại văn học khác nhau Có nhiều trường hợp, sự giao thoa thể loại khiến cho cảngười sáng tác lẫn người tiếp nhận không xác định được thể loại chính xác của tácphẩm

Trang 11

Bên cạnh những dấu hiệu ban đầu rất dễ nhận diện như vậy, tạp văn còn một

số những đặc trưng nội dung như sau:

phản ánh hiện thực cuộc sống, tạp văn thường là những bài viết mang tính vấn đề.

Vì vậy, nhà văn thường sử dụng giọng điệu nghị luận khi đề cập đến những đốitượng này Tuy nhiên, tác phẩm văn học nói chung và tạp văn nói riêng, khi nêu vàbiện luận về vấn đề đã được đặt ra trong tác phẩm, nếu sử dụng giọng nghị luận

nhận thấy rằng, đặc trưng thứ hai của tạp văn là có sự kết hợp giữa tính vấn đề và

tính cảm xúc Nếu như tính vấn đề được thể hiện thành công qua chất giọng nghị

luận, triết lí sắc sảo thì tính cảm xúc lại được thể hiện qua giọng điệu trữ tình đằmthắm, nhẹ nhàng, thấm sâu vào lòng người, lan tỏa những cảm xúc bâng khuâng,xao xuyến Mặc dù tính trữ tình không phải là đặc tính nổi trội nhất của tạp vănnhưng trên một ý nghĩa nào đó, cùng với việc đánh giá, nghị luận về một vấn đềnào đó của cuộc sống, nhà văn luôn bộc lộ xúc cảm và giãi bày mình Điều nàylàm cho tạp văn tất yếu sẽ phải dựa vào tình cảm chân thành, thể nghiệm độc đáo,yêu cầu một sự lịch duyệt trong cuộc sống và kinh nghiệm nghệ thuật tương

Đặc trưng thứ ba có thể kể đến của tạp văn là tính đa dạng về dạng thức và

đề tài Đề tài của tạp văn đặc biệt rộng lớn, cơ hồ như không gì nó không nói đến,như: lịch sử, hiện tại, tương lai, tự nhiên, xã hội, nhân sinh, sự kiện, cảnh vật, tìnhcảm, tinh thần, ngôn luận, thiên văn, địa lí, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, triết học;rộng như biển, nhỏ như cây cỏ, không có gì là không thể đưa vào ngòi bút củangười viết tạp văn Dạng thức của tạp văn rất phồn tạp, hình thức phong phú,không bó buộc vào một khuôn phép Đặc biệt có những điểm giao thoa không thểphân định với tùy bút, văn tiểu phẩm, tốc kí, đặc tả, du kí, phóng sự (thường được

Đặc trưng thứ tư của tạp văn là kết cấu rất tự do, linh hoạt Kết cấu của tạp

văn không chú ý vào “khai, thừa, chuyển, hợp” như thơ ca, không phân cảnh phânhồi như kịch, mà có lúc gần lúc xa, lúc trước lúc sau, hiện thực và lịch sử, tự nhiên

và xã hội có sự giao thoa; triết lí sâu sắc có thể biểu hiện ngay trong cuộc sống hằngngày; tình cảm nồng nàn được thể hiện thông qua tưởng tượng của cá nhân Đặcđiểm tự do, linh hoạt trong kết cấu này của tạp văn khiến người đọc có cảm giác tản

Trang 12

mạn, đôi khi là lộn xộn không có trật tự Xét ở phương diện bề mặt, những điều màtạp văn viết dường như vô cùng “hỗn tạp” nhưng lại rất thống nhất về chủ đề, tìnhcảm, tư tưởng (mặc dù hỗn tạp về tài liệu, hình thức, thủ pháp…) Đó mới là cái căn

Kết hợp chặt chẽ giữa tư duy logic với tư duy hình tượng Tạp văn phongphú tính văn học, sắc thái chính luận của nó được biểu hiện ra thông qua tính hìnhtượng của văn học Tạp văn thường lấy hình tượng đặc thù và phản ánh, bình luậnkịp thời những điển hình, các sự kiện xã hội Ngôn ngữ của tạp văn trong sáng,hàm súc, hài hước, sâu sắc, phong phú tính văn học

Nhà văn Để hiểu rõ hơn về khái niệm tạp văn, cần thiết phải đặt thể loại nàytrong sự phát triển của văn học đương đại Nguyễn Việt Hà trên trang dep.com.vn

đã có bài viết tổng kết về đặc trưng của tạp văn hiện nay: “Hiện nay hầu hết cácbáo, dù lá cải hay không, thường dành một mục nuôi văn ngắn tản mạn Hoặc bình

dị “dọc đường”, hoặc lãng mạn “một thoáng”, hoặc gồ ghề “góc nhìn” Rồi “cà phêsáng” rồi “chén trà chiều”, tạp văn được đất tha hồ cuồn cuộn chảy Tạp văn hiệnnay thường được viết với dung lượng chừng 800 chữ hoặc dài hơn khoảng 1.200chữ Mỗi bài tạp văn vừa vặn một trang hoặc một cột báo nhưng lại trình bày cáinhìn của mỗi cá nhân về tất cả các khía cạnh xã hội Có thể thời sự hoặc không,nhưng mỗi tạp văn đều ít nhiều dung chứa, trình bày tâm trạng sống của người

đương thời” Quả đúng vậy, đọc Trên tay có đá của Nguyễn Ngọc Tư, Thầy cũ bán

quán của Nguyễn Việt Hà đều thấy “cái sự đời” ẩn hiện qua lăng kính của từng

người Chỉ với những tạp văn riêng lẻ, cách thể hiện của người viết đã thể hiện khá

rõ, có khi tạo dấu ấn mạnh mẽ còn hơn một tác phẩm văn chương Cho nên có thểcoi tạp văn là “ngôn hữu tận nhi ý vô cùng” (lời hết nhưng ý chưa dứt) “Bên cạnhnhững hoài niệm kiểu “chăn trâu, đốt lửa”, xu thế của tạp văn hôm nay là chuyểntải những vấn đề xã hội đương thời, trong đó lồng chứa cái nhìn, thái độ sống của

1.1.3 Nhìn chung về tạp văn trong văn học Việt Nam hiện đại

chỉ chính thức ra đời vào khoảng thời Cách mạng Ngũ Tứ (1917- 1924), là nhữngbài luận văn ngắn, giàu tính luận chiến, thường xoay quanh một số vấn đề về xãhội, lịch sử, văn hóa, chính trị… Đặc điểm chung của tạp văn là ngắn gọn, linhhoạt, đa dạng; phản ứng một cách nhanh nhạy, kịp thời trước những vấn đề bức

Trang 13

xúc của xã hội với những ý kiến đánh giá rõ ràng và sắc sảo” [13; 1601] Như vậy,

và Việt Nam thời trung đại) Ở giai đoạn ấy của lịch sử văn học Trung Quốc, nhà

biến Công chúng chỉ biết đến một số tạp văn của các nhà vănvới các cây bút tiểu

Tưởng, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc…

Từ sau năm 1986, do sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trong văn học và saucông cuộc đổi mới, tạp văn mới có cơ hội trở lại, được xuất hiện khá phổ biến Đếnthời điểm hiện nay, tạp văn đã được “lên ngôi” và trở thành một trong những thểloại chủ đạo trong đời sống văn học Tuy chưa được đề cao như truyện ngắn, tiểuthuyết, thơ nhưng vì là thể loại “luôn sẵn sàng “bén rễ” những hạt giống ưu tư củabất kỳ ai” nên tạp văn đã thu hút đông đảo đội ngũ sáng tác và công chúng yêu văn

của nhà văn Đỗ Chu nhận giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam, văn họcViệt Nam bắt đầu mở ra thời kỳ tạp văn xuất bản ồ ạt Những tác phẩm như:

Nghiêng tai dưới gió của nữ sĩ Lê Giang; Tạp bút của Mạc Can, Mùi của ngày xưa

(nhiều tác giả), Đỗ Chu với Tản mạn trước đèn, Thảo Hảo với Nhân trường hợp

chị thỏ bông, Tạ Duy Anh với Ngẫu hứng sáng trưa chiều tối, Nguyễn Ngọc Tư

với Ngày mai của những ngày mai, Dạ Ngân với Phố của làng, Gánh đàn bà, Nguyên Ngọc có Bằng đôi chân trần Ngoài ra còn có tạp văn Dương Ngọc

Dũng, Hoàng Thoại Châu, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Linh, Lê Thiết Cương,

Nguyễn Việt Hà Nguyễn Việt Hà với tuyển tập: Đàn bà uống rượu, Nhà văn thì

chơi với ai, Mặt của đàn ông, Con giai phố cổ với số lượng bài viết khá lớn cung

cấp cho người đọc cái nhìn mới đa thanh, đa diện trong cuộc sống Đáng nói là các

tác giả “ngoại đạo” cũng bị thu hút bởi thể loại này Chúng ta có Ngôi nhà và con

người của nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương; t.a.p.b.u.t.đỗ của nhà thơ Đỗ Trung

Trang 14

Quân Có thể thấy rằng, so với các thể loại khác, tạp văn là thể loại khá “dễ tính”,thu hút đội ngũ sáng tác tương đối phong phú, đa dạng

Trong số ấy, cũng có không ít những gương mặt tác giả đã để lại dấu ấn củariêng mình với thể loại này

Trong lời tựa Nghiêng tai dưới gió (Lê Giang), nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

nhận xét: “Tôi đọc, lại nghĩ mình đang đọc tự truyện” Người đọc sẽ cùng chungnhận xét với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh khi bắt gặp nhiều mẩu chuyện như là hồi

ký, nhật ký về những sinh hoạt đời thường của mái ấm nhà thơ Lê Giang Tản văncủa Lê Giang mang tính chất tự truyện, bà cho phép người đọc đi vào không gianriêng tư, không gian sinh hoạt và không gian tâm tưởng của mình một cách không

e dè, ngần ngại Lê Giang viết về những chuyện đời thường, quanh mình nhưngđọc vẫn thấy đầy mới lạ, nhờ nhà văn biết nghệ thuật hóa những cái đời thườngnhỏ nhoi và lẩn khuất, phả vào đó một giọng văn riêng, hoàn toàn khỏe khoắn, trẻtrung và tự tin

Tạp văn Nguyễn Khải đề cập nhiều đến các vấn đề đạo đức, lối sống, những

tự truyện, những mẩu chuyện liên quan đến nhiều khía cạnh của đời sống hiệnthực, song nhìn chung là xoay quanh những suy nghĩ về cuộc đời và nghề văn Ôngkhai thác những đề tài có phần hẹp nhưng tác phẩm của ông vẫn đạt đến mức độkhái quát cao, đó là những câu chuyện nhỏ nhặt hàng ngày nhưng lại có sứcchuyển tải những câu chuyện lớn hơn Dù đã nhiều tuổi nhưng bút lực của ông vẫncòn cuồn cuộn, vẫn tung hoành trên các báo với lối viết sắc sảo, khỏe khoắn

những bàilà những tạp văn mang đậm không khí Tây Nguyên Qua sáng tác củaông, Tây Nguyên hiện lên đầy đặn ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau.Ngoài ra, tạp văn của Nguyên Ngọc còn cho ta thấy bức tranh toàn cảnh của nềngiáo dục và văn học Việt Nam Tác giả đã thẳng thắn chỉ ra những sai lầm cũngnhư những yếu kém của nền giáo dục, văn học nước nhà và phương hướng khắcphục hiện trạng đó Một trong những điều làm nên nét riêng cho tạp văn NguyênNgọc là việc ông dám dấn thân vào những đề tài mà nhiều người kiêng dè, ít dám

dám đối mặt với cuộc sống Vì vậy, tạp văn của ông là cái nhìn thẳng thắn vàocuộc sống

Còn tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư thì lại mang những nét rất riêng của mộtngười con Nam Bộ: “Thủng thẳng, nhỏ nhẹ như người con gái quê đang vừa hái

Trang 15

rau muống vừa kể chuyện, những câu chuyện lúc thì da diết lúc lại hóm hỉnh, tưngtửng, vui vui, tạp văn Nguyễn Ngọc Tư có sự kết hợp rõ nét giữa văn và báo Nếunhư ở truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư chưa chạm nhiều đến "kinh tế, chính trị" thìtrong tạp văn, đâu đó ta thấy chị bộc lộ nỗi chao chát với cái nhìn của mình vềchuyện lúa chết non, tôm chết lãng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn khôngphù hợp, chuyện giữ đất hay bán đất, chuyện quan lại nhũng nhiễu, hạch sáchngười dân” [6, 17] Qua những trang tạp văn, người đọc bắt gặp một Nguyễn Ngọc

Tư hồn hậu, đằm thắm, với những câu chuyện da diết, chất chứa nhiều ưu tư củamột con người luôn “tựa vào quê nhà” để sống, để lấy cảm hứng và viết

Cũng như Nguyễn Ngọc Tư, tạp văn cũng là thể loại “rẽ ngang” của Phan

Thị Vàng Anh Sau gần 3 năm liên tục xuất hiện trên mục Tôi xem nghe đọc thấy Báo Thể thao và Văn hóa, Phan Thị Vàng Anh tập hợp lại thành một tập sách nhỏ

-Nhân trường hợp chị thỏ bông Bạn đọc như vừa gặp lại một Vàng Anh quen thuộc

của truyện ngắn, lại vừa ngạc nhiên phát hiện ra một Vàng Anh khác, nhiều sắcmàu hơn Trong 34 tản văn in trong tập này, có những cái thể hiện một Vàng Anhđầy tinh thần công dân, xây dựng, thẳng thắn và dân chủ Duyên dáng nhất, hóm

hỉnh nhất, đàn bà nhất phải nhắc tới Nhân trường hợp chị thỏ bông, lấy làm tiêu đề

cho cả tập Tạp văn của Phan Thị Vàng Anh thiên về tính thời sự, tính tranh biệnmạnh mẽ, thẳng thắn với những dẫn chứng, số liệu cụ thể, khoa học Qua nhữngtrang viết, chị luôn thể hiện một cái nhìn sắc sảo, mới lạ, với giọng văn ngắn gọn,súc tích mà mạnh mẽ, thâm thúy khiến người đọc ngỡ ngàng và thích thú

Trong tạp văn Tạ Duy Anh, có những trang viết ngọt ngào về ký ức tuổi thơ,những suy ngẫm trầm tư trước thế sự, và những lo lắng băn khoăn trăn trở về nghềviết Khác với một Tạ Duy Anh đầy hiện thực, gai góc trong các tiểu thuyết vàtruyện ngắn Đọc tạp văn Tạ Duy Anh để đến với những gam màu trầm lắng trongtâm hồn nhà văn Qua đó, cũng có thể thấy được những đóng góp quan trọng của

Tạ Duy Anh cho thể loại tạp văn, và khẳng định vị trí của tạp văn trong sự nghiệpsáng tác của nhà văn

Nguyễn Nhật Ánh viết tạp văn Người Quảng đi ăn mì Quảng, Sương khói

quê nhà như người đi bộ, gặp gì viết nấy, nhớ gì kể nấy nhưng cái duyên chữ thì

khó phai Tạp văn của Nguyễn Nhật Ánh viết về những chiêm nghiệm trong đờisống, về quê hương, về tình người, nhân tình thế thái, những tự sự thấm đẫm tính

“người” khiến người đọc xúc động, khó quên Cùng với tiểu thuyết, tạp vănNguyễn Việt Hà đã thực sự có những dấu ấn, những đóng góp quan trọng cho nền

Trang 16

văn học Việt Nam đương đại Tạp văn Nguyễn Việt Hà cung cấp cho ta cái nhìn đathanh, đa diện của cuộc sống, với giọng văn hóm hỉnh, gần gũi, và cách viết gần

ngổn ngang của hiện thực đời sống, con người phải đối diện bao khó khăn, được đivào văn học như những thước phim quay chậm, tỉ mỉ

Tuy nhiên, một sự thực là tuy rất nhiều người viết tạp văn nhưng không phải

ai cũng có thể ghi dấu ấn cá nhân trên thể loại bởi viết những chuyện nhỏ bé kiểu

“trà dư tửu hậu” – tưởng như dễ nhưng thực chất lại rất khó Cái khó chính là phảilàm sao để tạo một dư vị đằm sâu trong lòng độc giả Nói chuyện nhỏ mà vấn đềthực chất lại lớn, nói chuyện thời thế mà chạm đến đáy những tấm lòng trong thiên

đội ngũ sáng tác đặc thù của mình như ở các thể loại thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn.Hầu như những tác giả tạp văn tiêu biểu đều là những nhà văn, nhà thơ có tên tuổinhư: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quang Lập, Đỗ Trung Quân, Dạ Ngân, LýLan, Trần Tiến Dũng, Nam Đan, Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Nhật Ánh, LêGiang

Như vậy, có thể thấy, trong bức tranh chung của văn học Việt Nam đươngđại, tạp văn đã dần khẳng định vị trí của mình so với các thể loại khác Tuy nhiên,tạp văn hiện nay chưa phát triển tương ứng với nhu cầu đọc của công chúng Đểtạp văn có thể là một trong những thể loại chủ đạo của văn học, vẫn cần hơn nữa sự

nỗ lực sáng tạo cũng như bản lĩnh dám cách tân, làm mới thể loại của các nhà văn.Tạp văn hiện nay đang là một nhu cầu ở cả người đọc lẫn người viết Các cây búttạp văn “có chất” hiện nay có thể kể đến các tên tuổi: Nguyễn Quang Thiều,Nguyễn Quang Lập, Đỗ Trung Quân, Dạ Ngân, Lý Lan, Trần Tiến Dũng, NamĐan, Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Nhật Ánh, Lê Giang Trong bản hợp xướngnhiều giọng điệu đó, có thể thấy sức hút ở tạp văn của Trần Nhã Thụy là vẻ đẹpcủa cái hồn quê thuần phác, là hơi thở cuộc sống đầy thi vị giữa chốn Sài thànhphồn hoa, là tình cảm chân thành với những phận người cùng khổ Tạp văn của

1.1.4 Tạp văn, một thể loại hấp dẫn nhà văn trẻ

Những năm gần đây, nhìn vào đời sống văn học Việt Nam, có thể thấy sựbùng nổ về số lượng người viết, đầu sách được xuất bản và người đọc sách tạp văn

So với tiểu thuyết và truyện ngắn, loại sách này bán chạy hơn rất nhiều đặc biệt là

Trang 17

những tác giả đã có tên tuổi hoặc những người viết tạo được giọng điệu khác lạ,hoặc đó là những nhà báo, từ những trải nghiệm đời sống, họ dấn thân vào vănchương thông qua thể loại tản văn, tạp văn Trong những nhộn nhịp của đời sốnghiện nay, con người ta luôn hối hả với chuyện miếng cơm manh áo, những trangtạp văn là những lúc lắng lòng lại để suy nghĩ về từng giây phút con người bỏ quênhạnh phúc của mình, của những người xung quanh, hay ít ra nghĩ về cuộc đời ởmột trạng thái thoải mái nhất

Ngày nay, lực lượng sáng tác tạp văn không chỉ là những nhà văn gạo cội,

có tên tuổi, mà bên cạnh đó đã có hàng loạt những cây bút trẻ thử nghiệm và thànhcông với thể loại này Ở những người trẻ, khi sáng tác tạp văn, họ có những thếmạnh riêng mà thời đại bùng nổ công nghệ thông tin đã mang lại Vì trẻ nên họ rấtnăng động, tiếp xúc với nhiều phương diện của cuộc sống hiện đại, nhanh nhạynắm bắt thông tin qua nhiều kênh, nhiều nguồn, khéo léo xử lý thông tin một cáchchính xác Chính bởi thế, các tác giả trẻ hiện nay đa phần vừa viết văn vừa làm báonhanh chóng cập nhật những thông tin thời sự nóng hổi về đời sống đang điễn ratừng ngày, bên cạnh những xúc cảm và góc nhìn riêng biệt giúp họ có những trangtạp bút mang đậm dấu ấn với độc giả Tuy nhiên, cũng có khi thông tin nhiều,thông tin rác nhiễu loạn, một chút lắng lòng, một sự chia sẻ của một số cây bút trẻ,khiến độc giả tìm đọc nhiều hơn Các nhà văn thường viết tạp văn in trên các báo

Vì đặc điểm ngắn gọn, nên rất tiện cho các báo xếp trang, đồng thời chính sựkhông câu nệ hình thức, đề tài, cũng như ranh giới thể loại khá phóng khoáng,chính là chất xúc tác để các tác giả bén duyên với thể loại tưởng chừng đã bị quênlãng này

Khi đọc tạp văn của những cây bút có tên tuổi, người đọc thường bị chinhphục bởi tài năng, cách xử lý vấn đề, câu chữ của những nhà văn lớn tuổi Vẫnnhững câu chuyện xô bồ trong cuộc sống, từ chuyện nọ xọ chuyện kia, các nhà văn

đã tạt ngang tạt ngửa một cách linh hoạt trong việc cài cắm thông tin văn hóa xãhội vào những xúc cảm đặc biệt, đồng thời chăm chút từng câu văn, nhả từng chữ

để người đọc, đọc chậm mà không buồn, rồi ngẫm nghĩ, cười thấm thía vì sự tinhquái của nhà văn Ngược lại, những nhà văn trẻ cũng có sự hấp dẫn, quyến rũ độcgiả theo cách riêng của mình Họ được xem là những con người thích sự tự do,không muốn trói buộc mình vào một khuôn định nào Cho nên, những người viếttrẻ đến với tạp văn như sự ngẫu hứng, thích tung tẩy cảm xúc với nhu cầu muốnchia sẻ cảm nghĩ, trải nghiệm cuộc sống hàng ngày, hoặc cũng có khi là những cảm

Trang 18

xúc hoài niệm về thời thơ ấu Những trang viết của họ, ngoài việc cung cấp thôngtin, ta còn thấy sự sắc sảo, trí tuệ nhắm vào những vấn đề nhạy cảm của cuộc sống

và giúp người đọc ngẫm ra nhiều điều thú vị

Trong một vài năm gần đây, người đọc đã đón nhận nhiều tập tản văn, tạpvăn của thế hệ nhà văn trẻ đã định hình tên tuổi Đó là Nguyễn Ngọc Tư đậm chất

Nam Bộ trong Gáy người thì lạnh, hay Đỗ Bích Thúy trong Trên căn gác áp mái

với nỗi khắc khoải nhớ từ một vùng ký ức, vẫn trở đi trở lại khi con người ta rời bỏ

quê hương ra thành phố lập nghiệp Nhà văn trẻ Phong Điệp có Bay trên mái nhà

thành phố đã nói lên quá trình đô thị hóa nhanh chóng, rồi Nguyễn Quang Lập nói

những Chuyện đời vớ vẩn nhưng thật sâu sắc, đặc biệt có tạp văn của Phan Thị

Vàng Anh đầy tính tư duy và hàm chứa nhiều ý nghĩa cuộc sống về con người, đấtnước Việt Nam, từ những tiểu tiết nhỏ nhất trong cuộc sống hằng ngày của conngười đến những chuyện quốc gia đại sự Vậy mới thấy rằng, mảnh đất của tạp vănchẳng dừng lại ở một giới hạn nhất định nào Sự dự phần của các tác giả trẻ chính

là sự hồi sinh cho một thể loại đã qua, và đồng thời cũng thổi vào đó một khôngkhí mới và tư duy mới của một lớp những cây bút mới

Như đã nói, hiện nay tạp văn là thể loại được nhiều nhà văn và độc giả chú

ý, bởi nó thỏa mãn nhu cầu phản ánh cũng như tìm về sự thực Số lượng câu chữ ít,chỉ một vài trang, tạp văn được coi là “đồ ăn nhanh” của người đọc, độc giả khôngtốn quá nhiều thời gian để thưởng thức Thể loại này thường gắn với báo chí, nộidung đi vào những vấn đề nóng bỏng của xã hội như Nguyễn Ngọc Tư khai thác kỹlưỡng, sáng tỏ, thông hiểu đời sống văn hóa vùng Tây Nam Bộ với chất giọngriêng, giúp người đọc hiểu hơn về vùng sông nước; hay sự sắc sảo, trí tuệ của PhanThị Vàng Anh khía vào những vấn đề nhạy cảm của đời sống, nhiều vấn đề bàn tánsôi nổi không thể giải quyết được, thì chỉ một bài viết có thể giúp độc giả nghĩ ranhiều thứ hay Bên cạnh đó, tạp văn Nguyễn Việt Hà chinh phục độc giả bởi sự đadạng trong đề tài, giọng văn hóm hỉnh, cùng những phát hiện tinh tế về cuộc sống

Có những tên tác giả đáng phải kể ra ở đây: Phan Thị Vàng Anh với Nhân

trường hợp chị thỏ bông (NXB Hội Nhà văn, 2004); Trần Nhã Thụy với Cuộc đời vui quá không buồn được (NXB Phụ Nữ, 2009) và Triều cường, chân ngắn và rau sạch (NXB Trẻ, 2014); Nguyễn Vĩnh Nguyên với Tivi, xe máy, nhạc chế, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ khác (Alpha và NXB Lao Động, 2012) và Những đồ vật trò chuyện cùng ta (NXB Trẻ, 2014); Nguyễn Ngọc Tư với Yêu người ngóng núi (NXB Trẻ, 2009).

Trang 19

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Trần Nhã Thụy

1.2.1 Con người Trần Nhã Thụy

Nhà văn Trần Nhã Thụy tên thật là Trần Trung Việt, sinh năm 1973, quêquán ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Anh được sinh ra trong mộtgia đình đông anh em, không ai theo nghiệp văn chương, duy chỉ có một người emtrai theo nghiệp báo chí của anh hiện là phóng viên của báo Pháp luật Tốt nghiệpTHPT tại tỉnh nhà, năm 1991 anh vào thành phố Hồ Chí Minh học đại học tạitrường Đại học Tổng Hợp nay là Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Từ nhỏ,anh đã có niềm đam mê đọc sách cộng với chút năng khiếu về văn chương, anh đãgóp nhặt những vốn sống khi còn ở quê nhà rồi bước đầu tạo nên những trang viếttản mạn về làng quê Và sau này trở thành những trang tạp bút thương nhớ làngquê làm say lòng người xa xứ miền Trung

Thời gian học đại học, anh sinh viên Khoa Ngữ văn – báo chí Trường đạihọc Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, vừa viết văn vừa viếtbáo để trang trải cho việc học của mình, đồng thời cũng để thỏa mãn cho niềm đam

mê được cầm bút của một nhà văn - nhà báo năng động trong tương lai Sau khi tốtnghiệp, anh ở lại sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay

Trải qua thời gian dài sinh sống và lập nghiệp tại Sài Gòn, từng nếm trảinhiều đắng cay, thăng trầm trong cuộc mưu sinh tại đất khách, cuộc sống đô thị cólúc khiến anh mệt mỏi chán chường, muốn quay trở về sinh sống tại quê hương củamình nhưng vì nhiều lý do nên anh chưa thực hiện được ý định của mình Sốngbằng ngòi bút cả nghĩa đen và nghĩa bóng, quả là không dễ dàng gì với người tỉnh

lẻ lập nghiệp ở thành phố như anh Nhưng làm người cầm bút anh luôn ý thứcrằng, cuộc sống dù cay đắng hay hạnh phúc thì vẫn phải sống, có khi còn phải sốngtốt hơn Bởi thế, anh chọn cách mỉm cười với tất cả mọi thứ với văn chương vớicuộc đời để luôn thấy rằng “cuộc đời vui quá, không buồn được” Con người TrầnNhã Thụy là như thế

Vừa là nhà báo vừa là nhà văn, Trần Nhã Thụy quan niệm việc viết văntrước hết phải bắt đầu từ “nhu cầu” của chính bản thân mình, thỏa mãn niềm đam

mê cầm bút trước những thực tại, những ý tưởng nung nấu mà mình tâm đắc.Không ồn ào, không phô trương để tạo nên tiếng vang cho mình, Trần Nhã Thụyđến với văn chương bằng sự bền lòng, lặng lẽ viết trong sự yên lặng, trong nhữngkhoảnh khắc cô đơn của chính mình, để từ đó anh trình làng những tác phẩm có giátrị được giới nghiên cứu đánh giá cao Tuy nhiên, anh không cho phép mình dễ dãi

Trang 20

với nghiệp cầm bút mà luôn tâm niệm “viết văn phải có chất văn và phải biết sángtạo câu chữ”, phải tự tạo ra lối đi của riêng mình, nhà văn phải dồi dào vốn sống.Theo nhà văn, “lao động chữ” là thứ lao động “khổ ải” nhất Và Trần Nhã Thụy đã

đưa ra quan niệm về Văn học cho chính mình: “Viết, là tự lưu đày bản thân như Linda Lê nói, hay tự sát thương mình, theo tôi cũng là theo nghĩa đó Quả là buồn

khi người đọc chỉ chăm chú theo dõi truyện kể gì, mà không hề để ý tới việc tác giảứng xử với câu chữ như thế nào” Thế mới hiểu cái khó khăn của nghề viết văn lắmnhọc nhằn công phu, cần có quá trình tập luyện, và trên hết người đọc nhận thấy ýthức trách nhiệm về nghề nghiệp của một người nghệ sĩ chân chính trước côngchúng

Để có chất liệu văn chương, nhà văn rất thích quan sát, lắng nghe, tiếp xúcvới người lao động bình thường và luôn học hỏi ở họ những điều hay, lạ, thú vị.Cảm hứng viết lách của anh được khơi dậy từ cuộc sống nội tại, từ những gì quenthuộc gần gũi, vì thế trong anh luôn có tâm thế hàm ơn tất cả mọi thứ xung quanhmình Anh viết nhiều nhưng lại ít kỳ vọng và chẳng ham nổi tiếng Có lẽ ngườinhư Trần Nhã Thụy ít bị cuốn vào vòng “phù hoa ảo vọng” nên lúc nào cũng thongthả, thảnh thơi dạo chơi trong cuộc đời này và viết một cách điềm tĩnh, lặng lẽ nhưchính bản tính con người của anh vậy

Với công việc hiện tại là phóng viên nhà báo, nhà báo Trần Nhã Thụy đượcđồng nghiệp trong giới đánh giá là một nhà báo trẻ năng động, nhiệt huyết, có tâmvới nghề Anh từng là phóng viên báo An ninh Thế giới, báo Tuổi

Trẻ, làm việc tại Ban Văn hóa – văn nghệ báo Tuổi Trẻ Hiện là Trưởng đại diện

báo Tuổi Trẻ & Đời Sống tại TP.HCM Là Ủy viên Ban Chấp hành, Trưởng ban

Kiểm tra kiêm Trưởng ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn TP.HCM khóa VII nhiệm kỳ

2015 – 2020 Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2011 Với những chức danh ấy,phần nào đã khẳng định được tài năng và uy tín của anh trước bạn bè đồng nghiệp,bạn đọc

1.2.2 Hành trình sáng tác của Trần Nhã Thụy

bắt đầu tập viết từ thời học phổ thông Lúc ấy mỗi tháng anh cặm cụi viết khoảng

10 cuốn tập học trò, nhờ có chút năng khiếu nên anh viết rất nhanh và trôi chảy.Sau này khi đã là sinh viên Khoa Ngữ văn – báo chí Trường đại học Khoa học xãhội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, anh đã có thể vừa học vừa viết văn, viết

Trang 21

Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Để sSau khi hoàn thành chương trình Đại học,anh đã đủ bản lĩnh và tự tin lập nghiệp bằng nghề viết tại Sài Gòn – nơi khơi dậytrong anh nhiều nguồn cảm hứng để anh thành công trong sáng tác.

Lập nghiệp xa quê với nghề viết văn và làm báo, đến nay nhà văn trẻ quêQuảng Ngãi đã sáng tác trên nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết,tạp văn, tiểu phẩm… thể loại nào cũng có những tác phẩm đáng chú ý Với anh,

Văn Nghệ Trẻ - Hội Nhà Văn Việt Nam) với truyện chùm truyện Lặng lẽ rừng mai, Bồng, Lũng voi Tiếp nối sự thành công đó, Trần Nhã Thụy tiếp tục khẳng

định mình bằng giải thưởng Truyện ngắn Văn học cho tuổi trẻ với tập truyện

Những bước chậm của thời gian (Nxb Thanh niên – Báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn

Việt Nam) năm 2003 Tiểu thuyết là thể loại tâm huyết ấp ủ thai nghén trong

nhiều năm Với Sự trở lại của vết xước (năm 2009), anh cũng đạt giải thưởng của

thai nghén trong nhiều năm, khi trình làng đã gây được sự chú ý của công chúng vàgiới nghiên cứu Còn tạp văn là thế mạnh bởi đây là thể loại gắn liền với báo chíthích hợp với xu thế hiện nay, ngoài ra anh còn có tiểu phẩm viết cho các báo ởchuyên mục giải trí cũng không kém phần thú vị, hài hước Qua quá trình viết láchkiên trì, đến nay anh đã có 11 tập sách được xuất bản:

- Tập truyện ngắn: Lặng lẽ rừng mai (2000), Những bước chậm của thời gian (2004), Chàng trẻ măng ở phố treo đầu (2008).

- Truyện dài: Thị trấn có tháp đồng hồ (2001)

- Tiểu thuyết: Sự trở lại của vết xước (2009), hát (2014)

- Tạp văn: Gối đầu trên mây (2006), Cuộc đời vui quá không buồn được

Với sSố lượng đầu sách xuất bản có phần khiêm tốn nhưng mỗi một cuốnsách là sự đầu tư nghiêm túc, có chất lượng của nhà văn Các tác phẩm của TrầnNhã Thụy không phải là những cuốn sách ra đời ồ ạt, nhanh chóng xuất hiện rồicũng nhanh chóng lãng quên theo thời gian Tác phẩm của anh có phần kén ngườiđọc, vì anh không tìm kiếm sự nổi tiếng bằng việc chiều theo thị hiếu của một bộphận công chúng a dua theo số đông Động cơ cầm bút của Trần Nhã Thụy là xuấtphát từ chính “nhu cầu” của mình, trước những thực tại cuộc sống nhà văn cần cótiếng nói cùng những góc nhìn của riêng mình Tất nhiên nói như thế không có

Trang 22

nghĩa là nhà văn khi sáng tác không cần chú ý đến nhu cầu của độc giả, mà ngượclại phải biết độc giả của mình đang cần gì Trả lời cuộc phỏng vấn cùng nhà văn

Phong Điệp trong Mạn đàm văn chương thời @, Trần Nhã Thụy có nói: “Nếu ví

nhà văn như một đầu bếp thì tôi tạm đặt ra hai loại người đầu bếp như thế này: Đầubếp 1: “Anh đến với tôi là để ăn những món của tôi Tôi nấu cà dưa mắm muối thếnào kệ tôi Nếu anh thích, xin mời anh ghé vào Anh sẽ được tiếp đón một cáchtrọng thị” Đầu bếp 2: “Anh cứ đến đây đi, anh thích ăn món gì tôi nấu món đó.Sơn hào hải vị đủ cả Nhiệt liệt hoan nghênh.” Đầu bếp nào cũng tài cả Vấn đề ởchỗ là “con người” của đầu bếp đó Người đầu bếp chuyên “cà dưa mắm muối”không phải không biết nấu sơn hào hải vị Nhưng anh ta không thích Vậy thôi.Anh ta sống trong những “sở đắc” của mình và anh ta có cách quyến rũ riêng Tấtnhiên, cũng có những thực khách chán dưa cà mắm muối Chán ngấy Họ đi ăn sơnhào hải vị Nhưng sơn hào hải vị riết rồi cũng phát bịnh Họ quay lại Và, họ gặp

“ông cà dưa” còn tuyệt hơn xưa O.Paz gọi “văn chương chính là sự bền lòng”chính là ở chỗ này chăng?!” [8;105] Như vậy, Trần Nhã Thụy đã xác lập cho mìnhmột kiểu sáng tác riêng mang dáng dấp chân quê, mộc mạc nhưng lại có một sứchấp dẫn riêng không thể trộn lẫn với bất kỳ ai

Văn chương là những góc nhìn riêng biệt Nhiều người cho rằng, sâu sắc làphải copy tư tưởng ông này ông kia đặt vào Cái gọi là tư tưởng hay bút pháp hiệnđại, theo nhà văn, nó nằm ngay cách chúng ta lao động với chữ, ứng xử với nhữngchi tiết Một nhà văn có trăn trở, có ý thức viết mới, thường tránh lặp lại những câuchữ tầm thường Với Trần Nhã Thụy thì: “Tôi đang nỗ lực viết, chứ chưa dám nghĩmình có được thành tựu gì Ý nghĩa lớn nhất đối với tôi lúc này là vẫn còn đầynhững dự định viết”.[34] Chính vì vậy mà Trần Nhã Thụy có khoảng thời gianviết có lẽ không giống ai Đó là thời gian buổi chiều Mỗi ngày, nhà văn thườngdậy sớm, sau đó cà phê, rồi đi làm, cố gắng giải quyết công việc trong buổi sáng.Đến trưa thì về nhà, ngủ một giấc, rồi ngồi dậy viết Nếu bị cuốn hút vào trang viếtthì thường viết cho đến bữa cơm tối Đó là nói thường vậy, nhưng cũng có khiTrần Nhã Thụy viết vào buổi sáng hay buổi tối Nói chung là anh viết vào nhữnglúc có thể Đặc biệt, Trần Nhã Thụy không viết đề cương, thường việc viết của anhkhởi đầu bằng một ý nghĩ hay hình ảnh gì đó, rồi viết Trần Nhã Thụy viết chậm,không phải vì cầu toàn, mà kỳ thực chỉ có thể viết được khi có “tâm trạng viết”.Chú trọng việc viết nháp, làm tư liệu, ghi chú, ít khi anh viết được liền một mạch

Trang 23

Nhưng anh hay nghĩ đến trang viết một cách liên tục, những ý nghĩ này có khi kéodài rất lâu sau khi tác phẩm đã hoàn thành

G.G.Marquez có nói đại ý rằng, đời mỗi nhà văn chỉ nên viết một cuốn sách

để đời, nhưng vì không viết được một cuốn như thế, nên nhà văn phải… viết nhiềucuốn Ý kiến đó cũng đáng lưu ý, thà viết được một cuốn hay còn hơn viết mộtđống cuốn dở Trên thế giới có những nhà văn âm thầm làm việc hàng chục năm,rồi mới xuất hiện Đó là tư chất của những nhà văn lớn Như thế việc làm việc liêntục (trên văn bản) và “dồn nén” cảm xúc vào một tác phẩm “để đời” về cơ bản làgiống nhau Nhưng, có lẽ nói như G.G.Marquez, viết nhiều tác phẩm thì… dễ hơn

là viết một tác phẩm Tất nhiên, nói như thế là loại trừ những nhà văn phải viếtvì… nhuận bút Hoặc là phải viết ít nhất hai tác phẩm để đủ tiêu chuẩn vào Hội nhàvăn.[45]

Lấy cảm hứng từ cuộc sống nội tại, những trang viết của Trần Nhã Thụy lànhững gì gần gũi trong đời sống thường ngày nhưng lại chứa đựng sức nặng củacảm xúc, của tình người Chính điều đó đã tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm

người tầng đáy, những người chịu đựng lịch sử” và “văn chương không có chứcnăng lên án có chăng chỉ nói lên thân phận con người” Một khi con người đã từngsống trong gian khổ, trải qua biết bao thăng trầm của cuộc sống thì càng vững vànghơn trong thử thách cuộc sống

1.2.3 Sự chi phối của hành trình cuộc sống đến tạp văn của Trần Nhã Thụy

Thụy còn làm thêm nhiều nghề để trang trải cho cuộc sống của mình Trần NhãThụy là người thích xê dịch, đi nhiều, tiếp xúc với nhiều tầng lớp trong xã hội nên

có vốn sống phong phú Anh lang thang nhiều nơi nhìn, nghe, nghĩ và viết Cuộcsống ngột ngạt nơi phố thị khiến anh nhiều lần thay đổi chỗ ở, nơi làm việc khikhông cảm thấy phù hợp với mình anh sẽ ra đi Những lúc như thế khiến anh mệtmỏi và tìm nơi thư giãn, có lúc anh đã lang thang chốn ngoại thành những nơi cókhông gian vắng lặng để tìm lại sự thanh thản, bình yên trong tâm hồn Chính lúc

ấy những trang tạp bút ra đời, anh viết để chiêm nghiệm về cuộc sống của chínhmình, những người xung quanh mình Để rồi anh nhận ra rằng dù cuộc sống khôngnhư ý mình thì mình vẫn phải sống, thậm chí là sống tốt hơn Ấn tượng để lại chobất kỳ ai gặp gỡ anh là người đàn ông điềm đạm, khiêm tốn, ít nói về mình

Trang 24

Hình ảnh một Trần Nhã Thụy hay loanh quanh trên những con đường, vỉahè… đầy nắng, mưa, gió, bụi của đường phố Sài Gòn nhiều tất bật để góp nhặtnhững thông tin, để nhìn, để nghe, để cảm nhận cuộc sống từ những góc nhìn mới

lạ độc đáo, để mang đến cho người đọc những trang tạp bút ấn tượng về sài Gòn.Trong những khoảnh khắc lang thang đó, ta thấy có những lúc nhà văn đã “ngồixuống” bên cạnh những mảnh đời cơ cực vì cuộc sống mưu sinh mà phải thahương, lang thang rày đây mai đó kiếm sống Để rồi anh lắng nghe họ, cảm thôngthương xót cho số phận của họ, rồi ngẫm nghĩ về số phận con người trong cuộc đờinày Phải chăng, đó là tình người trong cuộc sống vốn dĩ ngày càng thiếu vắng tìnhyêu thương thật sự hay là “cái tôi dân dã, chân tình là cái tôi rất dễ bị lạc lõng giữaphố thị phồn hoa” Qua những trang tạp bút, người đọc cảm nhận được tấm lòng

Trần Nhã Thụy vừa là nhà báo vừa là nhà văn, nghề chính của anh là làmbáo để nuôi sống gia đình và cũng để nuôi giấc mơ văn chương của mình Là nhàbáo theo dõi thông tin thời sự trong lĩnh vực văn nghệ, nhưng anh lại là một nhàvăn nên luôn đau đáu về những chuyện không vui trong giới Anh từng tâm sự vớiđồng nghiệp: “Nhiều khi ước chi mình không phải là người kiếm sống bằng cáinghề viết báo, để không phải theo dõi cái gọi là “dòng thời sự” chướng mắt hại nãomỗi ngày.” Anh thoáng buồn cho cái nghề cầm bút cao quý, cùng là nghề viếtnhưng nhiều người còn hằn học, ganh đua quyết liệt với nhau Sống với đồng loạinhư thế, cầm bút thì có ích gì?

Quá trình mưu sinh vất vả nhọc nhằn giữa chốn Sài Gòn nhiều ồn ào hỗn tạp

đã lưu dấu trên những bài tạp văn bằng những cảm xúc chân thật, sâu sắc Bêncạnh đó, những hồi ức về tuổi thơ đời mình gắn bó với tình yêu quê hương đấtQuảng Ngãi, luôn tuôn chảy như dòng nước ngọt mát lành thấm vào tâm hồn ngườiđọc qua những trang viết tản mạn về làng quê thật thấm thía và cảm động Hiện tạianh đã có một ngôi nhà và cuộc sống khá ổn định giữa Sài Gòn nhưng trong anhvẫn luôn khắc khoải nỗi nhớ quê, vùng đất Quảng Ngãi đầy nắng gió, đã nuôidưỡng anh suốt một thời tuổi thơ khốn khó Do yêu cầu của công việc viết lách,anh luôn tìm hiểu cặn kẽ, tỉ mỉ tất cả những gì mình đặt bút viết, dù là một cái tảnvăn nho nhỏ đăng báo hay một cuốn tiểu thuyết dài hàng trăm trang giấy Ví nhưkhi viết về người chơi đàn, anh kỳ công quan sát, học hỏi cách chơi đàn Cũng cókhi anh tới tận xưởng đàn, tìm hiểu và chơi thử Rồi viết về người đi hát, anh cũng

kỳ công vào quán karaoke nghe hát, cảm nhận bằng tất cả cơ học của giọng hát chứ

Trang 25

không đơn thuần là âm điệu Hoặc viết về công việc của người thợ cắt tóc hayngười đi câu, anh đều đến tận nơi quan sát thật kỹ lưỡng Đó không chỉ đơn giản làniềm đam mê, mà còn là tinh thần trách nhiệm của mình đối với con chữ, với độcgiả mỗi khi đặt bút viết vào trang giấy.

1.3 Trần Nhã Thụy và việc thử sức trên nhiều thể loại

Đến với văn chương là đến với con đường công phu khổ luyện, nhà văn lạimang trên vai sứ mệnh cao cả mà cuộc sống đã ban cho Đối với anh, nghề văngiống như một cái nghiệp không dễ gì chối bỏ Một lần, trong cuộc trò chuyệncùng nhà văn Phong Điệp, Trần Nhã Thụy từng thổ lộ “Khi biết tôi chọn conđường viết lách (lập thân) ba tôi có nói với tôi rằng: “Viết văn khó lắm Đừngđùa” Ba tôi còn nói thêm: Con người ta sống, phải trong 5 -10 năm mới có một ýtưởng (chưa phải là tư tưởng) trọn vẹn là của mình mà mình có thể mang ra “xài”được Càng ngày tôi thấy điều ba tôi nói là đúng Và, tôi cũng chia sẻ điều mà nhàbác học Lê Quý Đôn từng nói: Trong bụng không có ba vạn cuốn sách và trongmắt không có núi sông kỳ lạ thì đừng tính chuyện làm văn” Vậy nên, trong sángtác Trần Nhã Thụy không chọn cách viết nhanh, viết nhiều chạy theo số lượng màluôn đầu tư cho chất lượng tác phẩm bằng cách lặng lẽ suy nghĩ và lặng lẽ viếttrong sự trải nghiệm của chính mình Miệt mài, nghiêm túc, kiên trì với nhữngtrang viết nên những tác phẩm của anh đã để lại những ấn tượng lâu bền trong lòngngười đọc

Quan niệm về Văn học: “Viết, là tự lưu đày bản thân như Linda Lê nói, hay

tự sát thương mình, theo tôi cũng là theo nghĩa đó Quả là buồn khi người đọc chỉ

chăm chú theo dõi truyện kể gì, mà không hề để ý tới việc tác giả ứng xử với câuchữ như thế nào” Điều này có thể hiểu rằng: nghề viết văn là nghề vất vả, đòi hỏinhà văn phải luôn có sự đầu tư gia công cho tác phẩm của mình từng câu chữ, phải

có ý thức trách nhiệm với công việc viết lách của mình, để làm sao mang đến chongười đọc những tác phẩm có chất lượng, khơi dậy những rung cảm thẩm mỹ nơingười đọc

1.3.1 Trần Nhã Thụy với thể loại truyện ngắn

Dõi theo những trang văn của Trần Nhã Thụy với những tập truyện ngắn đầu

tay Lặng lẽ rừng mai, rồi Những bước chậm của thời gian, đến truyện dài Thị trấn

có tháp đồng hồ, tiếp theo là Mùi gồm tập truyện ngắn và tạp văn, ta thấy nhà văn

bước đầu đã khẳng định được một phong cách riêng, một giọng văn riêng: Đó làgiọng kể trầm buồn, chậm và phảng phất bóng dáng của những câu triết lý Giọng

Trang 26

văn của Trần Nhã Thụy không chao chát, đay nghiến như một số giọng văn thờithượng Không ồn ào, không tô vẽ, giọng văn anh đi vào lòng độc giả rất khẽ, rấtnhẹ, nhưng lưu lại thật lâu Truyện ngắn là thể loại mang nhiều điểm mạnh cũngnhư đem lại nhiều vinh quang cho Trần Nhã Thụy Với truyện ngắn, anh thườnglấy đề tài từ chính cuộc sống thường ngày, những điều diễn ra thân thuộc xungquanh anh Đâu đó trong truyện ngắn của Trần Nhã Thụy, người đọc vẫn bắt gặpcái vẻ buồn buồn đầy suy ngẫm, trải nghiệm trên những trang viết.

Tập truyện ngắn Lặng lẽ rừng mai (2000) , gồm 156 trang, là tập truyện

ngắn đầu tay của Trần Nhã Thụy, là tập hợp của 14 truyện ngắn đã gây được tiếng

vang với người đọc Với 14 truyện ngắn: Sông Phố, Chợ Chiều, Câu chuyện tình

yêu, Huyền thoại phố, Người mẹ, Con chim bìm bịp, Quán trà, Quận mới, Ngửa cổ lên trời, Bồng, Lặng lẽ rừng mai, Lũng Voi, Con ngựa, Thời tiết Đặc biệt, chùm ba

truyện ngắn: Lặng lẽ rừng mai, Lũng Voi, Con ngựa đã được trao giải “Giải thưởng Truyện ngắn trẻ (báo Văn Nghệ Trẻ - Hội Nhà văn Việt Nam 1998)” Lặng lẽ rừng

mai chính là tiếng phát nổ đầu tiên của Trần Nhã Thụy trên văn đàn Việt Nam Đọc Lặng lẽ rừng mai, ta thấy được tâm tình của một người con xa quê vào Nam lập

nghiệp, rồi cái làng quê nơi anh sinh ra và lớn lên trước khi vào Sài Gòn học đạihọc vào năm 1991, hình ảnh người mẹ tần tảo, hình ảnh của những mối tình đầu,nhẹ nhàng, sâu lắng, cùng với cuộc sống đời thường của những con người, củanhững số phận mà Trần Nhã Thụy đã được chứng kiến [49;40]

Tập truyện ngắn thứ hai của Trần Nhã Thụy mang tên Những bước chậm

của thời gian (2004) Tác phẩm này đánh dấu sự chuyển biến trong chính cách viết

của Trần Nhã Thụy Với 12 truyện ngắn, Phong cảnh Tây Liêu, Con Quỷ vả Thằng

Nhỏ, Thằng Mèo, Lũng Voi, Miền Đông, Câu chuyện nước đá, Con ngựa, Đường chim bay, Những bước chậm của thời gian, Dưới cơn mưa tầm tã, Người đàn ông

và con chó nhỏ, Cửa sau thành phố, dường như chính Trần Nhã Thụy cũng viết

“chậm lại”, suy ngẫm nhiều hơn trong cách viết văn của mình Trong Những bước

chậm của thời gian, tác giả tập trung miêu tả cách mà con người đến từ quá khứ

thích nghi với cuộc sống hiện đại, khả năng ứng biến của con người trước tốc độphát triển của hiện thực cuộc sống, trong đó những mảnh vụn của hiện thực, tiềmthức và mộng tưởng được nhào trộn và kết nối bằng một giọng văn giàu hình ảnh,những câu chuyện thú vị không kết thúc ở dấu chấm cuối cùng [49;41]

Tập truyện ngắn Chàng trẻ măng ở phố treo đầu xuất bản năm 2008 với độ

Trang 27

cảm thông mà chúng ta thường lãng quên trong cuộc sống thường nhật xô bồ Tập

chiu, gạn lọc như đãi cát tìm vàng từ cuộc sống thường ngày, mà nhiều khi chúng

ta thờ ơ với chúng Qua lăng kính của anh, những con người không biết tên ấy nhưchú bé trên cầu, chàng thanh niên ở phố treo đầu, chàng bán mía, người pê-đê già thực sự sống động và chất chứa tâm trạng 15 truyện ngắn, mỗi truyện ngắn là một

câu chuyện khác nhau gồm: Cửa sau thành phố, Cô gái trên tàu, Ghi chú về những

tấm gương, Linh tinh chuyện linh chi, Chú bé trên cầu, Những bông lúa chín phạt tôi, Người pê-đê già, Xảy ra ở thị trấn thứ ba, Chàng trẻ măng ở phố treo đầu, Thèm hôn, Sự cố hàng không, Thời gian xao động, Đệ tử haiku, Chàng bán mía, N mất tích [49;41] So với các tác phẩm trước, tập truyện này của anh hóm hỉnh hơn,

giọng văn vui hơn Một chút trầm mặc, nhẹ nhàng trong Xảy ra ở thị trấn thứ ba, một chút tếu táo và đùa nghịch trong Chàng bán mía, một chút phi lý trong N mất

tích… nhiều “một chút” trong tập sách đủ cho thấy nỗ lực của một cây bút không

chỉ muốn làm mới mình trong văn chương mà còn muốn nhìn lại cảm xúc củamình với văn chương

Tuyển tập truyện ngắn, tản văn có tựa đề Mùi lại ở một cách thức khác.

Đến với Mùi lần này, Trần Nhã Thụytác giả đem đến cho người đọc những trải

nghiệm thú vị Đọc Mùi, ta sẽ có cảm giác thích thú, như tự nhiên đi lạc vào vùng

gió trời, tự nhiên được thưởng thức một thứ hương vị lạ Những truyện ngắn trong

Mùi mang đến cho người đọc nhiều khoảng vắng, những khoảng vắng đưa ta đến

gần hơn với văn chương Trần Nhã Thụy đã tìm ra một thứ bí mật của riêng mình

khi viết Mùi Anh kể cứ như không những chuyện thường tình có, bất thường có,

sắp đặt có, vu vơ có Những câu chuyện tự nó như trăng chảy trên đồng cỏ, lênhláng mà vẫn nguyên vẹn, tan loãng mà không tan biến mất Đó là cảm giác khi đọc

những truyện: Băng đầu trọc, Những kẻ câu đêm, Dưới cơn mưa tầm tã Cũng

chính ở đây, cái thực, rất thực, rất đời thường lại trở nên phi thực, ảo ảnh, dù ngônngữ và câu chuyện của Trần Nhã Thụy không đi sâu vào thế giới ẩn ức, cũngkhông chủ ý tạo dựng cái phi thực, cái siêu nhiên Cái không khí hư thực đó không

dễ cảm, dễ phân tích ra, chỉ có lúc nào đó tự nhiên ta chuồi vào, bồng bềnh khôngngờ Như khi lạc vào một bài Đường thi đầy sương, khói, lửa đèn, tiếng chuông màvắng người, dù người vẫn đâu đó, nhưng là bài Đường thi “hiện đại”, thường mangtheo nỗi hoảng hốt bất an về kiếp người và những cú chém ngẫu nhiên của định

Trang 28

mệnh dưới “những cơn mưa tầm tã” Do đó, nhân vật của Trần Nhã Thụy khôngphải là những “mẫu hình”, cũng không phải những biểu tượng mà giống như cácphát hiện hư thực về đời sống thường nhật: chàng bán mía thành người nghệ sĩthực thụ, anh chàng trẻ măng nằm dài trên xe máy sở hữu cả một góc trời riêng, gãđàn ông dành hàng giờ để đèo con đạp xe lòng vòng và vui với mấy thứ rau càngcua mọc dại nơi sắp mọc lên những biệt thự khang trang, một tay nhà văn phảilòng và chung sống với một cô nàng vì “cái rổ quýt vàng ươm rất đẹp”, mất nàng

vì cái tật đặt sách lên bụng hàng đêm và lại có lại được nàng khi quấn quít da thịtnhau trên cỏ thơm trong tiếng cá quẫy vào mặt nước đen thẫm đâu đó khi những kẻcâu đêm như biến mất hoàn toàn.[46]

Trong những tác phẩm của mình, Trần Nhã Thụy đề cao phong cách viết

thật, nói thật, chẳng thế mà anh nhà văn quèn trong truyện ngắn Nhà văn quèn và

đạo diễn lừng danh trong tập truyện Mùi (2011) lại từ chối hợp tác với vị đạo diễn

lừng danh, chỉ vì lý do: “Tôi không thể viết một cái mà phải ăn cắp hay dựa dẫm

trên rất nhiều cái của người khác Vấn đề không phải tôi đạo đức hay ngạo mạn,

mà đó là do những thói quen từ khi còn rất bé” Tiếp đó, anh nhà văn suy nghĩ về

không được ăn cắp, chẳng hay ho gì mà phải đứng trên vai của người khác”.

[43;105] Cái anh nhà văn ấy không quên thực tế hoàn cảnh của mình Một tên nhàvăn quèn đang sống trong mâu thuẫn và bế tắc Cuộc sống khó khăn mâu thuẫn và

bế tắc ấy bỗng nhiên đem đến cho anh ta cơ hội hợp tác với đạo diễn lừng danh.Nhưng không biết phải làm thế nào Anh đã từ chối hợp tác với đạo diễn lừng

danh, mặc dù theo lời đạo diễn nói “chúng tôi xem ra là một cặp phản ứng nhanh

rất hiệu quả” [43;105] Sự từ chối đã đánh mất chính cơ hội đổi đời của tên nhà

văn nhưng đã làm sáng lên nhân cách của anh ta Điểm sáng đó là cách sống tựthân không dựa dẫm vào người khác, như một tuyên ngôn trong nghề văn Phảichăng anh nhà văn quèn trong truyện ngắn ấy phảng phất bóng dáng của Trần NhãThụy, là nguyên mẫu từ chính con người tác giả Có lẽ điều đó đã tạo nên một nétriêng biệt trong phong cách sáng tác Trần Nhã Thụy, vì theo anh văn chương hayvới nhiều thói quen khác được hình thành qua giáo dục từ thuở bé

Tóm lại, trong làng văn nghệ trẻ, Trần Nhã Thụy là một nhà văn tuy quen

mà lạ, tuy lạ nhưng vẫn thân quen Thế giới truyện ngắn của Trần Nhã Thụy,dường như cuộc sống như đang tự khôi phục từ trong những nguyên liệu ban sơ,chính vì vậy nó khá nhẹ nhàng, đượm chút buồn, đặc biệt là khi đưa ra một cách

Trang 29

tiếp cận, một góc nhìn thú vị về nhiều mặt của đời sống tưởng chừng không cònmới Đó chính là khám phá sáng tạo, cái làm nên nét độc đáo của truyện ngắn TrầnNhã Thụy, vốn được nhiều người trong giới công nhận tài hoa.

1.3.2 Trần Nhã Thụy với thể loại tiểu thuyết

Bên cạnh truyện ngắn, tiểu thuyết là một mảng rất thành công của Trần Nhã

Thụy Hai cuốn tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước và Hát khi xuất bản đều được độc giả đón nhận nồng nhiệt, đặc biệt là tiểu thuyết đầu tay Sự trở lại của vết xước.

Cuốn tiểu thuyết đã gây xôn xao dư luận vì đoạt nhiều sự vinh danh, được tái bảnnhiều lần Không phải nhà văn nào có tiểu thuyết đầu tay cũng được bạn đọc đónnhận như Trần Nhã Thụy, mới in đã tái bản Dù đây không phải cuốn sách dễ đọc

dễ cảm khi anh thể hiện bằng thi pháp khá hiện đại Và không chỉ bạn đọc, màngay cả trong giới văn chương cũng trân trọng, ít nhất thể hiện qua tặng thưởngcủa Hội Nhà văn TPHCM và vào chung kết giải thưởng Hội Nhà văn Việt Namnăm 2008 Một lần nữa, qua ngòi bút của nhà văn, một thế giới u uẩn của nỗi đau

cá nhân lại tái hiện

Toàn bộ các nhân vật trong tiểu thuyết này của Trần Nhã Thụy đều không cótên riêng, họ chỉ có những cái tên được miêu tả qua công việc của mình như nhàvăn trẻ, người bảo vệ, người đi câu, lão giữ xe, cô nàng bóng rổ, hay bác sĩ thú y…Nội dung chính của truyện khá quen thuộc, một anh nhà văn trẻ từ vùng quê lênthành phố kiếm sống, anh có gia đình và một công việc tương đối ổn định Câuchuyện mở đầu nhẹ nhàng với những tâm sự về cuộc sống giữa một thành phố sôiđộng cùng đủ những mặt hỉ nộ ái ố của nó Xuyên suốt truyện có một câu nói “Cơthể của chúng ta đang bị nhiễm độc từ từ” [51] Nếu đoạn đầu, câu nói đó thuần túymang nghĩa đen miêu tả việc ăn uống giữa thành phố đầy những món ăn bị nhiễmđộc do hoạt động công nghiệp và nhu cầu lợi nhuận của người bán thì với việc biếnmất của người vợ, câu nói trên lại biến thành một nghĩa khác Ở đây, Trần NhãThụy có lẽ đã phần nào chịu ảnh hưởng một chút từ nhà văn Nhật HarukiMurakami hay nhà văn Thuận, những người cũng có nhân vật người vợ biến mất

một cách bí hiểm Sự giống nhau còn ở chỗ việc biến mất của người vợ trong Sự

trở lại của vết xước trở thành một tâm điểm cho quá trình biến đổi của nhân vật

chính Từ những đau đáu trong cuộc sống hiện thực đến những dằn vặt của tinhthần trước một bi kịch cá nhân, sự thay đổi trong suy nghĩ đã kéo theo những biếnđổi trong cái nhìn của anh về cuộc sống của những người bạn xung quanh

Trang 30

Tiểu thuyết này của Trần Nhã Thụy là một câu chuyện buồn mang chất bikịch với những suy nghĩ nội tâm đầy triết lý Tuy nhiên, khác với cái bi kịch tăm

tối trong Biên niên ký chim vặn dây cót của nhà văn Haruki Murakami hay cái giày

vò giằng xé của T mất tích của nhà văn Thuận, Sự trở lại của vết xước buồn nhưng

không bi thảm, u uẩn nhưng tránh được tuyệt vọng Hình ảnh đứa bé con trai củanhà văn - nhân vật chính vừa góp một chút vào cái nỗi buồn chung của tác phẩmlại vừa là đốm sáng của hy vọng ngay trong những đoạn u ám nhất khi cái chết củangười bạn đẩy nhà văn đến chỗ mất hết hy vọng vào cuộc sống [51]

Với Sự trở lại của vết xước, Trần Nhã Thụy đã khẳng định được tài năng của

mình trong việc miêu tả nỗi đau, miêu tả sự dằn vặt Từ nhân vật chính đến cácnhân vật nhỏ nhoi chỉ xuất hiện thoáng qua đều có một khoảng lặng để bạn đọccảm nhận được cuộc đời sướng khổ của họ Thế nhưng, đồng thời ở đây đã xuấthiện cái khuyết của tác giả Các nỗi đau cá nhân rất thật nhưng lại tách rời khỏihiện thực xã hội Cái xã hội mà nhà văn - nhân vật chính sống được miêu tả rất mờnhạt và chỉ như một chút gia vị cho thêm vào các nỗi đau cá nhân Mà một tácphẩm muốn tạo sự rung động cho độc giả lại đòi hỏi hơn thế Cái bi kịch cá nhânmuốn nhận được sự rung cảm của người đọc phải điển hình cho bi kịch của sốđông, trong một hiện thực xã hội ngồn ngộn mà nhân vật đang bơi lặn trong đó Ở

góc độ một tiểu thuyết tâm lý xã hội, Sự trở lại của vết xước có thể xem là một sự

lên tay đầy thành công của Trần Nhã Thụy

Còn Hát là tiểu thuyết mới nhất, được Trần Nhã Thụy ấp ủ sáu năm và cuối

cùng cũng ra mắt độc giả năm 2014 Hát đi sâu vào đời sống tâm lý hiện đại Ở đó,

lạc lõng, muốn chạy trốn, bị tan rã, bị lột trần, bị dồn vào chân tường vô cảm, làtâm trạng phổ quát Với Trần Nhã Thụy, một khi tất cả các giác quan của conngười bị bịt kín, trong một cuộc sống như bị đổ bê tông, thì có thể nói, thính giácgần như vẫn còn khả năng nhanh nhạy nhất - gắn kết con người với sự sống đếnphút cuối cùng Như hai nhân vật Kỷ và Lý đối thoại, “giác quan cuối cùng mất đikhi người ta chết chính là thính giác Có nghĩa khi không còn thấy bằng mắt,không còn ngửi bằng mũi, tê liệt hết vị giác, thì con người ta vẫn có thể nghe” Vànhư chính chủ đề của tiểu thuyết trích dẫn từ câu thơ của nhà thơ Hoàng Hưng:

“Có bao nhiêu nát tan/ Đội lên đầu mà hát”, đó là cách tồn tại đẹp nhất trong cuộcđời này.[47]

đơn giữa Sài Gòn, có một số tiền gửi ngân hàng, thỉnh thoảng lại đi làm thêm nọ

Trang 31

kia Đó là những công việc làm thêm đầy danh giá dưới mắt người đời: làm dự ánbất động sản, dịch thuật Kỷ sống thờ ơ, không mục đích, không niềm vui, mộtkiểu “sống mòn” của tri thức Việt Nam thời đương đại Bên cạnh Kỷ là những conngười mà chúng ta có thể gặp đâu đấy ngay trong cuộc sống này, là nhà kinh doanhbất động sản lắm bồ bịch Hoàng, là giám đốc sáng tạo ra những dự án văn hóaSinh, là cô nàng tỉnh lẻ Viễn Trinh nhờ sắc đẹp mà trở thành hot girl nổi tiếng; là

Lý, người phụ nữ tuổi không còn trẻ lao mình vào những cuộc tình vụng trộm với

Kỷ, là cô gái nhỏ Xuân Nương, một đào nương trẻ non xứ Bắc, là ông Cờ Lê vốn

là thợ sửa xe bỗng nhảy ra tham gia điều khiển giao thông….[50] Thành phố lúcnào cũng kẹt xe khiến con người không biết đi về đâu Niềm đam mê của Kỷhướng về những giai điệu ca trù xứ Kinh Bắc, và mẹ con ca nương Xuân Nương làbến đỗ bình yên của tâm hồn anh Song giữa phố xá Sài Gòn, ca trù bị lạc tông và

ca nương mong manh như Xuân Nương có thể biến mất vì một âm mưu của đại gianào đó mà không ai tìm thấy Kỷ day dứt khôn nguôi trong cuộc kiếm tìm canương, kiếm tìm cái đẹp còn sót lại, cái nửa tốt đẹp nhất của mình, đến vô vọng,kiếm tìm ngay cả khi nằm mê man bất tỉnh giữa ranh giới sự sống và cái chết Từcuộc đời Kỷ, một cuộc đời tẻ nhạt, không đích đến, đi bên rìa trần thế, bị loại thải,

bị chai sạn trong những cuộc tình, bị lạc lối, bất an, có thể nhìn ra vì sao anh ghê sợnhững thứ dung tục, tầm thường, những kẻ mua bán chân lý, tình yêu, những chúađảo khuynh loát nhiều quan hệ, mà anh vẫn dần lún sâu vào cái điều anh ghê sợ đó

Bi kịch của Kỷ là bi kịch của giới trí thức, bất lực trước thời cuộc, chỉ biết chémgió, nghĩ đến cái tôi Nhưng Kỷ có may mắn là nhận ra điều đó, còn hơn nhữngthương gia như Hoàng, luôn mắc kẹt trong sự ngắn ngủi của đời người, của thamvọng, báo thù, làm giàu, và không thấy ý nghĩa cuộc đời ở đâu cả.[47]

Ngòi bút của Trần Nhã Thụy đặc biệt tinh nhạy, am hiểu khi viết về nhữngnhân vật trong giới văn hóa, giới kinh doanh Có lẽ những kinh nghiệm từ cuộcsống làm văn, làm báo đã cho anh nhiều chất liệu để xây dựng nên những nhân vậtsống động, những nhân vật quay cuồng trong bầu không khí của công việc và hưdanh Nhưng cuối cùng cũng như nhân vật Kỷ, họ chua xót nhận ra rằng: “Chỉ biếtnhắm mắt lại, nằm dài trên giường cho qua hết từng ngày thôi đã là quá khó.Huống hồ còn phải lăn lộn mưu sinh, phải kiếm tiền, phải lo nuôi con, phải hầulãnh đạo, phải chiều chuộng bồ bịch, rồi phải kiếm danh, phải học làm người tử tế,phải sống để không ai khinh mình, phải để lại tiếng thơm với đời”.[50] “Hát” đãđánh dấu một bước chuyển mới trong bút pháp Trần Nhã Thụy Không kể miên

Trang 32

man như trong tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước, Hát chồng chất sự kiện, sự kiện

này nối tiếp sự kiện kia, và xen vào đó là cái nhìn giễu nhại, châm biếm của nhàvăn đối với những hiện tượng của cuộc sống

Trần Nhã Thụy là một cây bút mạnh về miêu tả thời gian, không gian, tâm

trạng và tiểu thuyết Hát lại cho thấy ưu thế của anh Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hát gấp gáp như cuộc sống cuống vội ở Sài Gòn Tuy nhiên, cũng có

lúc thời gian đi chậm lại, đặc biệt là ở những đoạn miêu tả cảnh nhân vật chính là

Kỷ ở một mình Có lẽ Trần Nhã Thụy muốn khắc họa tâm trạng trì trệ, không lốithoát của nhân vật chính bằng thủ pháp kéo dài thời gian Không gian nghệ thuậttrong tác phẩm là những mảnh không gian đời thường của cuộc sống đương đại, cónhững không gian rất quen thuộc với người đọc như khu phố cổ Hà Nội, chung cưnơi Kỷ sống, quán nhậu bờ kè, không gian của những quán cà phê, không gian conđường luôn đầy ứ người và luôn tắc nghẽn… Nhưng cũng có những không giancao cấp hơn, sang trọng hơn, không gian ít người được biết đến như là không giancủa những biệt thự giàu sang, của những hòn đảo quý tộc dành riêng cho lớp ngườithượng lưu Trong cái nền ồn ào, nhộn nhạo ấy, mở ra một không gian tâm hồn củanhân vật Kỷ: không gian cô đơn Kỷ, xét đến cùng là một nhân vật cô đơn Cô đơntrong cuộc đời và trong tâm tưởng Sao lại không cô đơn được khi người ta chánchường với mọi thứ, mệt mỏi với mọi thứ và không hiểu nổi mình sống trên cõi đờinày để làm gì?

Cảm thức thường trực trong tiểu thuyết Hát là một cảm thức bế tắc và trầm

luân Bế tắc ở mục đích cuộc sống, Kỷ trầm luân vào thú vui học hát ca trù, trầmluân vào cuộc tình thoáng qua với Hồng Có lẽ chỉ với Lý, người yêu một thuở, Kỷmới thực sự có tình cảm, nhưng tình cảm ấy cũng ơ hờ, như một thói quen xác thịtthường ngày của cuộc sống Nhưng trong sự bế tắc trầm luân ấy, có những bài hátnhư là nơi gửi gắm vào đó những gì cao đẹp còn sót lại của cõi đời ô trọc này

những sợi dây giúp người ta đu ra khỏi những chán nản, trì trệ, u ám của đờithường Nhưng mà cũng chỉ là đu ra khỏi thôi, rồi theo quán tính, những sợi dây-bài hát lại khiến con người ta trở về chỗ cũ Nhưng hát dù chỉ một lần hay nhiềulần vẫn là hát, vẫn là sự vẫy vùng đáng quý của con người khi muốn thoát ra khỏi

những ô trọc đời thường Vậy nên hãy hát, dù chỉ là hát lên một lần như những câu

cuối trong tiểu thuyết của Trần Nhã Thụy, bởi lẽ “Giác quan cuối cùng mất đi khi

Trang 33

người ta chết chính là thính giác Có nghĩa là khi không còn thấy bằng mắt, khôngcòn ngửi bằng mũi, tê liệt hết vị giác, thì con người ta vẫn còn có thể nghe” Nhưvậy người ta có thể nghe nhiều thứ, chứ không phải chỉ nghe hát Hát chỉ là mộttrong vô vàn phương cách để người ta níu kéo lại cuộc đời này Điều quan trọng

của Hát không chỉ là hát Điều quan trọng của Hát là thúc giục chúng ta hãy mở

lòng ra nghe [50] Ở cuốn tiểu thuyết thứ hai này, Trần Nhã Thụy đã mang đến chongười đọc một giọng điệu mới mẻ cho văn phong của mình, đó những trang viết

hài hước, giễu nhại Trần Nhã Thụy chỉ dùng một từ hát không viết hoa, để gọi tên

cho những thanh âm của cuộc sống dội về trong tác phẩm Hát nuôi dưỡng tâm hồncon người ta lúc sinh ra, hát như tiếng kinh cầu đưa ta về lòng đất, hát lên niềmvui, hát cho những tủi cực, nhọc nhằn, hát như một cách giải thoát…

Tóm lại, việc thử sức với thể loại tiểu thuyết đã giúp nhà văn có sự trưởngthành hơn trong tư tưởng cũng như văn phong và cách thể hiện nội dung tác phẩm.Trần Nhã Thụy đã có những bước tiến chắc chắn ở thể loại tiểu thuyết và đã tạođược tiếng vang ngòi bút mình với giới nghiên cứu và công chúng yêu văn học

1.3.3 Trần Nhã Thụy với thể loại tạp văn

viết tự truyện nhưng thường viết tạp văn Ở thể loại này suy nghĩ, tình cảm, tìnhhuống có thể nói là rất gần với con người thật hàng ngày của nhà văn Còn khi anhviết truyện ngắn thì thiết kế, cài đặt nhiều hơn Viết tiểu thuyết thì quả là khó khăn

Tức là nnhà văn khi viết tiểu thuyết, theo Trần Nhã Thụy, là thường trực ra vào cái

“ngõ nội tâm đó”, như là “tự sát thương” mình, viết như là tự lưu đày bản thân

xúc bất chợt có thật Nếu thiếu một trong hai thì coi như thất bại Với nhà văn, tảnvăn hầu như thật đến 99%, không cấu trúc như truyện ngắn và tưởng tượng nhưtiểu thuyết Phần tái bút cũng như một kiểu ghi chú, tại sao lúc đó mình viết bàinày, cái bài này sau khi đăng báo thì có chuyện gì xảy ra ? Tái bút là phần “nóithêm”, cũng là phần “sống thêm” của tác giả trong một bài tản văn vốn rất ngắnngủi

Tập tạp văn Gối đầu trên mây là một tác phẩm viết về “nỗi lòng của một gã

nhà quê” của Trần Nhã Thụy, tập sách là những tâm sự về quê hương, về cái vùngquê mà nhà văn sinh ra và lớn lên Từng trang tạp bút là nỗi lòng của một kẻ luônnhớ quê, nỗi lòng của kẻ ngụ cư sống giữa phố thị Sài Gòn và không hòa cùng nhịp

Trang 34

đập của phố thị Có khi đang đi giữa Sài Gòn gió bụi, nắng nóng “thỉnh thoảngnghe tiếng rao của một người hàng rong, đồng hương Quảng Ngãi …” cũng làmcho tác giả xao xuyến, bồi hồi và cảm giác như “Tiếng rao đó nghe lạc lõng giữabao âm thanh” Hoặc cũng có khi ăn củ khoai nướng thành thị, lại nhớ quay quắt

về hình ảnh tuổi ấu thơ ngày xưa “Chúng tôi vừa ăn vừa thở ra những làn khói

trắng thơm hương khoai” trong bài Củ khoai nướng Rồi khi lập gia đình, vợ chuẩn

bị có em bé, kẻ mang hồn quê ấy lại muốn con mình phải được ngủ trên một chiếcgối nhẹ mát, làm từ bông gòn thiên nhiên ở miền quê Thời tuổi thơ bé bỏng, tácgiả cũng được mẹ làm cho những chiếc gối bông gòn được thu hoạch sau vườn nhànhư thế Để rồi “Bao nhiêu giấc ngủ tuổi thơ tôi đã gối đầu trên những đám mâybông gòn ấy” Cũng vì quá yêu những chiếc gối từ thiên nhiên ấy, mà khiến tác giảcảm nhận được điều tuyệt vời: “Gối đầu trên một chiếc gối bông gòn là gối đầutrên những đám mây tinh khôi, mầu nhiệm! Một giấc ngủ ngon cũng là một thứ

quà tặng mà cuộc sống mang lại cho con người” Đọc Gối đầu trên mây người đọc

có cảm giác như được phiêu bồng cùng những đám mây trở về thời quá khứ yênbình của một vùng quê đất nước Những câu chuyện đầy cảm xúc lãng mạn nhưngcũng thật thực tế, gần gũi trong cuộc sống của mỗi con người Cũng chính cái hồnquê ấy, suy tưởng ấy còn giúp anh có được cái nhìn tươi rói, ngơ ngác đầy thi vịkhi nhìn vào đời sống của Sài Gòn, tưởng chừng đã quen thuộc, nhưng với anh lại

khác hẳn qua Một thoáng nhà thờ Sài Gòn, Người đánh bóng trên hè phố Sài

Gòn… cũng như thứ tình cảm giữ được trong sâu thẳm tâm hồn một nỗi lòng, một

tình cảm “nhớ nhà quá”

Tập tạp văn Cuộc đời vui quá, không buồn được (2009) cũng, là tập tạp vănđáng chú ý của Trần Nhã Thụy Cuộc sống như những mảnh ghép nhiều màu sắc,

được nhà văn cảm nhận và đưa lên trang viết với nhiều điều bất ngờ, thú vị Cuộc

đời vui quá không buồn được là một câu do Trần Nhã Thụy mượn từ nhà thơ Tuân

Nguyễn để đặt tên cho tập tạp văn của mình Cái tên ấy cũng gói ghém trong cácbài viết ngắn nhiều nỗi niềm riêng, chung của tác giả trong dòng chảy cuộc sống

đô thị ồn ào, cùng những hoài niệm về ký ức làng quê một thời Trên bước đườngrong ruổi của cuộc đời, như người nghệ sĩ nhiếp ảnh tài tình, Trần Nhã Thụy đãnhanh tay ghi lại những khoảnh khắc chợt đến chợt đi trong dòng cảm xúc, nhưnhững bức ảnh nhiều màu sắc và góc độ sinh động của cuộc sống Có khi cảm xúcđược ghi lại là sự quan sát từ xa, cũng có khi cận cảnh sắc nét, có lúc chỉ là sựthoáng qua trong những góc nhìn đầy xúc cảm của nhà văn Nhà phê bình Huỳnh

Trang 35

Như Phương đã viết lời giới thiệu cho tập tạp văn như sau: “Và tôi hình dung TrầnNhã Thụy viết tạp văn cũng như anh trồng những khóm rau, bụi ớt, giàn mướptrong khoảnh vườn nhỏ bên nhà Anh trồng cho anh mà cũng là trồng cho chúng ta,những người đã có một thời xanh và vẫn muốn sống mãi một thời xanh, dù choLàng Mai ngày nay bị lấn đất đang phải thu hẹp dần với bao luyến tiếc” [41;8]

Trần Nhã Thụy chia sẻ với độc giả niềm vui khi phát hiện thảm hoa mườigiờ đỏ tươi mọc ở một khu gần một đại lộ ầm ĩ xe cộ ngày đêm “Một đám hoamười giờ đỏ thắm xuất hiện, như muôn vàn dấu son bất ngờ in xuống”, những câuchữ tươi tắn hiện trên trang viết như như bày tỏ cùng người đọc giây phút lãng mạnhiếm hoi còn sót lại trong tâm hồn con người giữa bao bộn bề cuộc sống Cái gốcgác gắn bó nửa quê, nửa thành thị in đậm trong các sáng tác tạp văn của tác giảngười Quảng Ngãi Có những trang viết, anh dẫn người đọc về miền thơ ấu, thờituổi trẻ của mình, với tiếng đập con heo đất no ú mỗi khi xuân về, với món bột mỳnhứt chấm mắm nêm ăn xúm xít bên bạn bè thời nghèo khó Không gian làng quêtrong ký ức sao mà thân thương với hình ảnh con trâu, cánh đồng, dòng sông, bụi

cỏ hoa đượm mùi thơm rơm rạ Trên trang viết khác, không gian thành thị xô bồ,hối hả được phơi bày qua con chữ tạo cảm giác ngột ngạt, dồn nén nhiều trăn trởsuy tư của người viết Đến bao giờ niềm mơ ước Sài Gòn trở thành nơi đáng sốngcủa người dân mới trở thành hiện thực! Đến khi nào thành phố không còn cảnhngập lụt vì mưa, vì triều cường, đường xá hư hỏng, lô cốt mọc chằng chịt, kẹt xe…thì khi ấy hàng triệu người đang sinh sống ở Sài Gòn cảm thấy an tâm và hạnhphúc, tận hưởng những giá trị sống tốt đẹp của một thành phố hiện đại, văn minhcùng niềm tự hào của các thế hệ con cháu mai sau

Đến với tạp vănVới Mùi, một lần nữa nhà văn Trần Nhã Thụy lại dẫn dắt

những câu chuyện tình đẹp như thơ, như huyền thoại, tình người giữa cõi nhângian, tình thương nhớ quê hương… thật đằm thắm, dịu êm giữa bao nhiêu hỗn tạpcủa cuộc sống hiện đại Xây dựng những câu chuyện trên nền móng “chữ tình”,

Mùi của Trần Nhã Thụy là viết về những vấn đề khiến người đọc dễ tìm được sựđồng cảm và tin vào những tình cảm tốt đẹp con người dành cho nhau Vẫn vớigiọng điệu khôi hài nhẹ nhàng, vẫn trên cái tông buồn buồn nhưng tinh nhạy, nhàvăn đưa ra các góc nhìn thú vị về nhiều mặt của đời sống tưởng chừng không cònmới nữa, nhưng vẫn đủ sức hấp dẫn người đọc Có trang viết, tác giả thường liêntưởng chiếc xe gắn máy mình đi hằng ngày với “con ngựa” và nhiều khi nghĩ nó

Trang 36

cũng giống như con ngựa, nhưng là ngựa sắt Mỗi ngày phi ngựa… giữa phố

phường, thấy mọi người cũng đang… phi ngựa, đủ loại ngựa trên đường phố Nào

ngựa trẻ, ngựa già (xe đời mới, xe nghĩa địa), ngựa béo ngựa gầy (phân khối lớn, phân khối nhỏ), nào ngựa vằn ngựa trắng, ngựa đỏ ngựa xanh (đủ các sắc màu)… Đường phố nào cũng tràn ngập người ngựa [43;180] Rồi nhà văn quan sát bộ mặt

đô thị nơi vỉa hè, có biết bao sự thay đổi đang diễn ra Đó là những hàng ăn sángtrên vỉa hè ngày càng phong phú những món ăn phục vụ theo “phong cách fast-food”, thành phần thực khách cũng đa dạng từ dân lao động bình thường đếnnhững cô gái làm việc trong những cao ốc văn phòng, những người đàn ông mặcvest sang trọng… Những hình ảnh đó là hệ quả của sự suy thoái kinh tế, buộc conngười phải thích nghi với sự đổi thay của hoàn cảnh, với nhịp sống hối hả của đôthị

Viết tạp văn đối với Trần Nhã Thụy như là một kiểu giải trí, ghi lại những

chợt nhớ, chợt nghĩ đời mình Tập tạp văn Triều cường, chân ngắn và rau sạch

những bài viết như thế trên các báo mà Trần Nhã Thụy đã đăng, Tạp văn này viết

về những hiện tượng cuộc sống đang bày ra quanh ta với ít nhiều những suy nghĩ,trăn trở của một người luôn theo dòng thời sự Các tác phẩm được viết bằng mộtgiọng chất phác, giản dị nhưng giàu chất tự sự và suy tư Trần nhã Thụy viết nhữngchuyện rất đời, chuyện hàng ngày, về xã hội, về gia đình mà ai cũng có thể bắtgặp quanh mình, trong những lúc trà dư tửu hậu, trong những lúc ngồi ngẫm nghĩ

sự đời Triều cường, chân ngắn, và rau sạch gần như chân thật với bản tính “nhà

quê” của anh “Nhà quê”, tức là Trần Nhã Thụy viết thật với những gì anh biết,

Gòn anh có một ngôi nhà trong khu triều cường ngập nước, hàng ngày phải dậysớm đưa con đi học; có một vườn rau sạch tận dụng miếng đất bỏ hoang cạnh nhà

và một cô vợ “chân ngắn” không thể chạy xe máy khi triều cường để đưa con đihọc Do triều cường nên anh thấy: “Khi nghèo khó con người ta trở nên siêng năngchăm chỉ hơn, đó là lẽ thường tình” Để mỗi khi đến mùa triều cường, anh chợtthấy thương “chân ngắn” tảo tần và biết ơn vườn rau sạch bên nhà

đề mắt thấy tai nghe thường ngày Ăn sâu trong mỗi câu chữ là những suy nghĩ,trăn trở khôn nguôi của một nhà văn giàu lòng trắc ẩn về những đổi thay của thờicuộc, về những vấn đề nhức nhối của cuộc sống đang hàng ngày bủa vây con

Trang 37

người Tuy nhiên, đọc về những mặt trái của xã hội nhưng người đọc không cảmthấy bi lụy Cuộc sống với những mặt đẹp và những góc cạnh của nó luôn tiềm ẩnnhững thông điệp mà một người có lương tâm luôn suy nghĩ, sẻ chia cùng bạn đọchầu làm cho cuộc sống ngày càng đáng sống hơn, những vụn vặt, cực đoan ngàycàng ít đi để mỗi người đều cảm thấy mỗi ngày là một niềm vui, một hứng thú thậtđáng sống, đáng để tận hưởng trong cuộc đời này.

Tiểu kết chương 1:

chừng như bị quên lãng khá lâu trong nền văn học dân tộc Tạp văn có lịch sử vàitrăm năm, nhưng đang nổi lên như một thể loại chính của văn học Việt Nam đương

sách được xuất bản và người đọc Về phía người viết, tạp văn hấp dẫn bởi nhiều lý

phía độc giả, trong cuộc sống gấp gáp hiện nay, tạp văn được coi như một loại

tốn quá nhiều thời gian để thưởng thức

Với một người làm nghề cầm bút như Trần Nhã Thụy, việc chuyển đổi từmột thể loại này sang một thể loại khác, như từ viết truyện ngắn sang tiểu thuyết,hay từ tiểu thuyết sang tạp văn, là cách vừa làm mới bản thân, vừa thử thách ngòi

bút của chính mình Ở thể loại truyện ngắn, từ những tập truyện ngắn đầu tay Lặng

lẽ rừng mai cho đến những tập truyện ngắn sau này như Những bước chậm của thời gian, Chàng trẻ măng ở phố treo đầu, Mùi, ngòi bút của Trần Nhã Thụy đã có

sự lên tay đáng kể với những giải thưởng về truyện ngắn đã được đề cập ở phầntrên Tự khẳng định mình “sống bằng nghề viết”, nên anh viết rất thận trọng và kỹtính Với thể loại tiểu thuyết, anh đã có những bước tiến đáng khâm phục, mỗicuốn tiểu thuyết đều được nhà văn “ấp ủ thai nghén” dày công trong nhiều năm,khi nhà văn thôi trăn trở về những trang viết, cảm thấy thật sự hài lòng về “đứa continh thần” của mình thì mới công bố với người đọc Chính điều đó, đã mang đếnniềm vui và sự thành công cho anh trong sự nghiệp sáng tác, đó là sách được táibản nhiều lần, là những giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam đối với hai cuốntiểu thuyết của mình Còn khi đọc tạp văn của Trần Nhã Thụy, ta như vừa hiểuthêm tâm tư của một người cầm bút, vừa thấy yêu thêm cuộc đời, như lời tác giảtâm sự “viết để nhớ lại một thời áo trắng đơn sơ, hồn nhiên mà biết bao nỗi niềm”,

Trang 38

và cũng để “cảm nhận niềm vui và nỗi buồn cùng len nhẹ vào hồn mình” trướcnhững thay đổi không ngừng của cuộc sống.

(Thưa thầy, thầy có thể điều chỉnh giúp em ở đoạn tiểu kết chương này được khôngạ! Em có thể phân tích ở những phần nhỏ, còn phần khái quát tổng hợp em tệ lắmthưa thầy! Xin thầy giúp dùm em Em biết ơn thầy rất nhiều ạ!)

Chương 2

Trang 39

BỨC TRANH ĐỜI SỐNG TRONG TẠP VĂN TRẦN NHÃ THỤY

2.1 Bức tranh hiện thực xã hội trong tạp văn Trần Nhã Thụy

2.1.1 Đời sống đô thị ( Sài Gòn )

những từ ngữ, hình ảnh, những bút pháp nghệ thuật mà tác giả đã tài tình vận dụng

để phản ánh Chính cCuộc sống bao la, diệu kỳ với bao trăn trở, suy tư này lạimang tới chất liệu vô giá, phong phú và trở thành nơi xuất phát cho văn học Mỗinhà văn đều có sở trường riêng trong việc phản ánh đời sống Người thì viết về đờisống nông thôn, người thì viết về đời sống thành thị, hay có người viết về miền núirất ấn tượng Tất cả đều phụ thuộc vào khả năng khám phá, tình cảm gắn bó củatác giả với vùng đất mà mình đã sống, đang sống và viết với sự trải nghiệm củachính mình

Nhà văn Trần Nhã Thụy sinh ra và lớn lên ở tỉnh Quảng Ngãi, vùng đất miềnTrung nhiều nắng gió Học hết chương trình phổ thông, năm 1991 anh vào Sài Gònhọc đại học Sau đó ở lại sinh sống và lập nghiệp với nghề làm báo, viết văn đếnnay đã hơn 20 năm Gắn bó với mảnh đất đô thị Sài Gòn với ngần ấy thời gian đủ

để anh am hiểu, tường tận về cuộc sống và con người nơi đây 20 năm sống và làm

Viễn Đông”, cũng đã hình thành trong anh tình cảm yêu mến và tự hào về sự hiện

sống nơi phố thị cũng có nhiều thay đổi do tốc độ phát triển không ngừng nền kinh

tế thị trường, quá trình đô thị hóa, lạm phát, bùng nổ thông tin xã hội đô thị xuấthiện những mặt trái và con người cũng bị cuốn theo cái guồng sống tất bật ấy Cólúc nhịp sống nhanh cuống vội lấp chìm những cảm xúc tốt đẹp, những tình cảmchân thành nơi con người, khiến họ quay lưng với nhau trong cuộc đời này Để rồitrong những khoảnh khắc trống trải còn lại của tâm hồn là sự mệt mỏi, chánchường, thất vọng, hoài nghi, thậm chí có khi muốn trốn chạy khỏi nó Cuộc sống

đô thị với muôn màu, sắc vẻ cuốn con người trôi mãi theo thời gian Một chút lắnglòng, sống chậm lại, ngồi xuống bên những mảnh đời lam lũ, khó nhọc để chia sẻ

và thấu hiểu họ là những gì mà Trần Nhã Thụy trải lòng cùng độc giả trên nhữngtrang tạp văn của mình Viết về đời sống đô thị Sài Gòn là Trần Nhã Thụy viết vềnhững gì gần gũi, thân quen, bình dị trong cuộc sống hằng ngày xung quanh mình.Bằng ngòi bút kể chuyện linh hoạt, miêu tả sinh động cùng cái nhìn khám phá tinh

Trang 40

tế nhiều góc cạnh cuộc sống, nhà văn đưa người đọc đến với thế giới đô thị nhiềumàu sắc, như một bức tranh có đủ gam màu sáng tối, vừa đậm tính hiện thựcnhưng cũng không kém phần xinh đẹp, lãng mạn.

Bức tranh đô thị Sài Gòn hiện lên qua những trang tạp văn của Trần NhãThụy không phải là sự sang trọng của những khách sạn năm sao, sự uy nghi củanhững tòa nhà cao tầng, hay là những tụ điểm vui chơi giải trí, mua sắm nổi tiếng.Sài Gòn trong những trang viết của anh hiện lên thật đẹp và cũng rất gần gũi, thân

thưởng thức hương vị đậm đà của những ly cà phê buổi sáng, trước khi bắt đầu mộtngày mới Không cầu kỳ, sang trọng nhưng “Cà phê hẻm Trịnh” đã trở thành nơighé lại của muôn người, mà còn là một địa chỉ văn hóa độc đáo nổi tiếng của Sài

Phạm Ngọc Thạch, hay cà phê cây xoài… đó là những tên gọi khác nhau về quán

cà phê cóc nằm trong con hẻm cụt này Nhưng tên gọi cà phê hẻm Trịnh vẫn là thông dụng nhất Gọi cà phê hẻm Trịnh là bởi cuối hẻm có nhà của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở đó Thực ra, đó là một biệt thự nhỏ, khá đẹp, đến bây giờ trước cổng vẫn còn gắn tấm bảng 47C Duy Tân Đây là nơi Trịnh Công Sơn sống phần lớn quãng đời mình, cho đến khi rời cõi tạm, cho nên nơi đây được chọn làm nhà tưởng niệm người nhạc sĩ tài hoa.”[44;30]

Một nét văn hóa tín ngưỡng không thể không nhắc đến ở Sài Gòn là nhữngngôi nhà thờ của người dân theo đạo Thiên Chúa Giáo Sài Gòn có rất nhiều nhàthờ, không thể đếm hết được, dường như trên mỗi con đường đều có ít nhất mộtnhà thờ Khám phá nét văn hóa này, nhà văn thổ lộ cảm xúc cùng người đọc những

cho tôi, một kẻ ngoại đạo nhưng đã “trót yêu” những giáo đường, nơi gặp gỡ những con người, sống với những đức tin cao cả, nơi chan hòa những không gian bao la, nơi hội tụ của những đường nét kiến trúc gợi những nhịp thở”… [41;101]

Điều gì đã khiến nhà văn yêu mến những thánh đường đến thế, phải chăng là lýtưởng sống tốt đẹp của những đức tin cao cả và lòng ngưỡng mộ cái đẹp của kẻ

“ngoại đạo” như anh Bài viết không chỉ cung cấp thông tin về lịch sử của mỗi ngôinhà thờ ở Sài Gòn, mà còn mang đến cho người đọc những hiểu biết thú vị về têngọi của một nhà thờ Huyện Sỹ nhỏ bé, xinh đẹp nằm trên đường Tôn Thất Tùng,

Ngày đăng: 19/09/2018, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, Nxb Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1996
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 1999
2. Nguyễn Ngọc Lan Chi (2012), “Có một nhà văn nhớ nhà”, http://www.thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có một nhà văn nhớ nhà
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lan Chi
Năm: 2012
3. Trương Chính (1963), Lỗ Tấn tuyển tập (tập 1,2,3), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn tuyển tập
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1963
4. Nguyễn Văn Dân (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2012
5. Đậu Tiến Dũng (2014) Đặc điểm tạp văn Lý Lan, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Thư viện Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tạp văn Lý Lan
7. Phong Điệp (2007), Mạn đàm văn chương thời @, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạn đàm văn chương thời @
Tác giả: Phong Điệp
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2007
8. Hoàng Thị Hương Giang (2011), Cảm hứng hướng về tuổi thơ trong truyện Nguyễn Nhật Ánh, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng hướng về tuổi thơ trongtruyện Nguyễn Nhật Ánh
Tác giả: Hoàng Thị Hương Giang
Năm: 2011
9. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2005), Từ điển Thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ Văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1998), Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học vấnđề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Nguyễn Thị Liễu Hoàn (2011), Đặc sắc của tản văn Việt Nam đương đại, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc của tản văn Việt Nam đươngđại
Tác giả: Nguyễn Thị Liễu Hoàn
Năm: 2011
14. Nguyễn Bùi Khiêm (2012), “Tản văn là tản văn”, http://solitary2009.blogspot.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản văn là tản văn
Tác giả: Nguyễn Bùi Khiêm
Năm: 2012
15. Nguyễn Quang Lập (2011), Bạn văn, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạn văn
Tác giả: Nguyễn Quang Lập
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2011
16. Nguyễn Quang Lập (2010), “Một tuổi thơ lộng lẫy và đau đớn”, http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/van-hoc-sach/20101208/mot-tuoi-tho-long-lay-va-dau-don/414795.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một tuổi thơ lộng lẫy và đau đớn
Tác giả: Nguyễn Quang Lập
Năm: 2010
17. Phong Lê, Văn học và công cuộc đổi mới, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và công cuộc đổi mới
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
18. Phong Lê (1997), Văn học Việt Nam trên hành trình của thế kỉ XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trên hành trình của thế kỉ XX
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
6. Đặng Anh Đào (1991), Một hiện tượng mới trong hình thức kể chuyện hôm nay, Tạp chí Văn học (6) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w