Trần Thùy Mai đã viết về họ, thế giới của họ, cuộc đời của họ, tâm tình của họ qua góc nhìn đồng cảm của một người phụ nữ - một nhà văn nữ Điều đó đem l i giá tr đặc biệt cho những sáng
Trang 1N N ƢỜN Ƣ P M
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN C
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP I H C
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2018
Trang 2N N ƯỜN Ư P M
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN C
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP I H C
Người hướng dẫn ThS Phạm Thị hu ương
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2018
Trang 3LỜ AM OAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
dưới sự hướng dẫn của giảng viên – Th S Ph m Th Thu ư ng Tôi
xin ch u trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong
Trang 4LỜ ÁM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian làm khoá luận, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô Với lòng biết n sâu sắc nhất, tôi xin gửi tình cảm chân quý và sâu sắc nhất đến thầy cô Khoa Ngữ Văn, Trường Đ i học Sư ph m – Đ i học Đà Nẵng, những con người thanh cao và tận tuỵ đã hết lòng truyền d y kiến thức cũng như chỉ dẫn cho tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành quá trình thực tập này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết n sâu sắc tới TS Ph m Th Thu ư ng, giáo viên hướng dẫn khoa học, đã tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm n gia đình và b n bè đã luôn ở bên c nh cổ vũ, động viên chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn song không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và b n bè
Đà Nẵng, ngày 17 tháng 4 năm 2018
inh Lê Thuý Hằng
Trang 5MỤ LỤ
MỞ ẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.L ch sử vấn đề 1
3 Đối tượng và ph m vi nghiên cứu 6
3 1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Ph m vi nghiên cứu 6
4 Phư ng pháp nghiên cứu 6
5 Bố cục của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
ƢƠN 1: N VĂN ẦN THUỲ MAI TRONG BỐI CẢNH
TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM SAU 1975 8
1.1 Bối cảnh truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 8
1.1.1.Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 – bước chuyển mình m nh mẽ 8
1 1 2 Nhà văn nữ thế hệ sau năm 1975 – sự khởi t o của dòng văn học nữ quyền 9
1.2 Hành trình sáng tác của nhà văn Trần Thuỳ Mai 12
1.2.1 Từ người phụ nữ truyền thống của đất kinh kì… 12
1 2 2 …đến nữ nhà văn dấn thân hết mình vào nghiệp viết 13
1.2.3 Truyện ngắn Trần Thuỳ Mai – sự thể hiện trọn vẹn cái tôi phụ nữ 16
ƢƠN 2: Ế GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THUỲ MAI QUA HAI TẬP TRUYỆN “ONKEL YÊU DẤU” V “MỘT MÌNH Ở OKYO” 19
2.1 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai 20
2.1.1 Nhân vật bi k ch 20
2.1.2 Nhân vật kiếm tìm h nh phúc 25
2.1.3 Nhân vật tha hoá 29
2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 34
2.2.1 T o dựng tình huống truyện 34
2.2.2 Miêu tả ngo i hình 36
Trang 62.2.3 Khắc ho tính cách thông qua hành động 37
2.2.4 Ngôn ngữ 39
2 2 4 1 Đối tho i 39
2 2 4 2 Độc tho i nội tâm 41
2.2.4.3 Lớp từ đ a phư ng 44
2.2.5 Giọng điệu 45
2.2.5.1 Giọng ngậm ngùi, xót xa, thư ng cảm 46
2.2.5.2 Giọng chiêm nghiệm, suy ngẫm, triết lí 47
2.2.5.3 Giọng trữ tình, nhẹ nhàng, sâu lắng 48
ƢƠN 3: N Ệ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN 50
TRẦN THUỲ MAI QUA HAI TẬP TRUYỆN “ONKEL YÊU DẤU” VÀ “MỘT MÌNH Ở OKYO” 50
3 1 Điểm nhìn trần thuật 50
3 1 1 Điểm nhìn gắn với ngôi kể 50
3 1 1 1 Điểm nhìn gắn với ngôi kể thứ nhất 50
3.1.1 2 Điểm nhìn gắn với ngôi kể thứ ba 56
3.1.2 Sự d ch chuyển điểm nhìn 60
3.2 Không gian nghệ thuật 63
3 2 1 Không gian gia đình 66
3 2 2 Không gian căn phòng 68
3.2.3 Không gian thành phố 69
3.2.4 Không gian tâm linh 71
3.3 Thời gian nghệ thuật 72
3.3.1 Thời gian hồi tưởng 73
3.3.2 Thời gian phi tuyến tính 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học sau năm 1975 đến nay có nhiều thành tựu đáng khẳng đ nh Văn học Việt Nam nói chung và nền văn xuôi Việt Nam nói riêng có nhiều khởi sắc, đặc biệt là ở lĩnh vực truyện ngắn Thế kỷ XX, cùng với quá trình hiện đ i hoá, tiếp thu những giá tr truyền thống từ những giai đo n trước thì truyện ngắn Việt Nam đã có nhiều thành tựu tiêu biểu cùng với các nhà văn xuất sắc Trong thời gian này, có
đặc biệt là sau 1986, bên c nh những tác phẩm của nam giới, vẫn tồn t i một mảng văn học nữ mang một diện m o khác, có sức sống khác; với những cảm xúc thật, tâm lý thật của người phụ nữ Nhờ sự mẫn cảm nữ giới, các nhà văn nữ dễ xoáy sâu
h n vào những tâm tr ng, những uẩn khúc, góc khuất cuộc sống của người phụ nữ
Số lượng các nhà văn nữ xuất hiện ngày càng nhiều, tiếng nói của các nhà văn nữ
có khi còn trấn áp cả tiếng nói của nam giới Có thể nói, tiếng nói của nữ giới đã
góp thêm diện m o mới mẻ h n cho nền văn học Việt Nam
Trong số rất nhiều cây bút truyện ngắn nữ của giai đo n văn học Việt Nam sau đổi mới, Trần Thuỳ Mai đã t o được cho mình một dấu ấn riêng bằng cái tôi phụ nữ đậm chất Huế, vừa nhẹ nhàng vừa quyết liệt Có thể thấy nhân vật xuyên suốt trong tác phẩm của ch đều là nhân vật phụ nữ Trần Thùy Mai đã viết về họ, thế giới của họ, cuộc đời của họ, tâm tình của họ qua góc nhìn đồng cảm của một người phụ nữ - một nhà văn nữ Điều đó đem l i giá tr đặc biệt cho những sáng tác
truyện ngắn của ch Chính vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài Đặc điểm
truyện ngắn Trần Thuỳ Mai (khảo sát qua hai tập truyện ngắn “Onkel yêu dấu” và
“Một mình ở Tokyo”) với mong muốn góp phần khẳng đ nh, tôn vinh v trí của cây
Trang 8nên bản sắc nữ, ghi dấu ấn đậm nét trên văn đàn và t o nên diện m o mới cho văn xuôi như Trần Thuỳ Mai, Ph m Th Hoài, Phan Th Vàng Anh, Nguyễn Th Thu Huệ, Võ Th Hảo, Y Ban, Lý Lan…và gần đây là Nguyễn Ngọc tư, Nguyễn Quỳnh Trang, Đỗ Bích Thuý…Sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ không chỉ đem l i cho văn chư ng cái mới lẫn cái l mà còn là sự khẳng đ nh ý thức nữ quyền khi người đàn bà không còn chỉ quẩn quanh n i xó bếp mà đã hướng đến những khung trời rộng lớn Hành trình viết văn của họ là hành trình thể hiện bản lĩnh của người cầm bút khi dám chấp nhận sự sáng t o đ n độc và trả giá cho những niềm tin riêng của mình về cái đẹp
Là một trong những thế hệ cây bút dò đường đi tìm những đề tài hậu chiến, Trần Thuỳ Mai có thể xem là một nhà văn nữ viết khoẻ và khá đều tay Tính từ truyện ngắn đầu tay “Một chút màu xanh” in trên T p chí Sông ư ng đến nay, nữ nhà văn người Huế này đã có hàng trăm tác phẩm truyện ngắn được nhiều thế hệ
b n đọc yêu mến, quan tâm, đón đợi Với h n 40 năm cầm bút, đến nay nhà văn đã
có 14 tập truyện ngắn, với 3 công trình nghiên cứu, 1 công trình d ch thuật, và một
số tác phẩm truyện ngắn của nhà văn đã được chuyển thể sang k ch bản sân khấu, hoặc dựng thành phim Ch cũng đ t nhiều giải thưởng cao của Hội nhà văn và của Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam
Vậy nên, tìm hiểu và nghiên cứu về tác giả Trần Thuỳ Mai đã có nhiều bài phê bình, luận văn tốt nghiệp, luận văn th c sĩ tập trung vào các vấn đề như: nhân vật nữ, thế giới nghệ thuật, đề tài gia đình, truyện ngắn Trần Thuỳ Mai từ góc nhìn văn hoá…
Chẳng h n, luận văn Th c sĩ “Nhân vật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai”, của tác giả Nguyễn Th Hồng Sinh (Đ i học sư ph m Hà Nội 2, 2017) đã nghiên cứu, khám phá thế giới nhân vật và tìm ra các kiểu nhân vật đặc sắc trong truyện ngắn Trần Thùy Mai như kiểu nhân vật bi k ch, nhân vật nữ chủ động kiếm tìm tình yêu, h nh phúc gia đình, kiểu nhân vật tự ý thức, kiểu nhân vật nam thụ động, biến chất, đớn hèn, tha hoá bởi hoàn cảnh, kiểu nhân vật nam tẻ nh t, hờ hững, không dám đối mặt tình yêu, kiểu nhân vật nam có nhân cách cao đẹp… Đồng thời tác giả
Trang 9đánh giá cao nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai, từ đó khẳng đ nh tài năng và những đóng góp của nhà văn trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam đư ng đ i
Hay trong luận văn Th c sĩ “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai” của Đỗ Phư ng Liên (Đ i học sư ph m Hà Nội 2, 2013), người viết đã vận dụng lý thuyết tự sự để khám phá cách thức trần thuật của Trần Thuỳ Mai trong truyện ngắn Tác giả đi sâu vào tìm hiểu, phân tích các vấn đề như điểm nhìn nhìn trần thuật, người trần thuật, lời văn trần thuật và giọng điệu trần thuật… Trong luận văn này, tác giả cũng dẫn ra nhận đ nh của một số nhà nghiên cứu phê bình để chứng minh giá tr của văn chư ng Trần Thuỳ Mai Chẳng h n nhận đ nh của PGS.TS Hồ Thế Hà: “Những nhân vật của Trần Thuỳ Mai thường không bình lặng
Họ cô đ n, hụt hẫng, tiếc nuối nhưng không bao giờ từ bỏ khát vọng sống của mình bằng cách b i ngược dòng sông ký ức để làm sống l i những điều tốt đẹp…Đọc Trần Thuỳ Mai, tôi b cuốn hút bởi chất nhân ái và triết lý này Con người dù giận hờn, hằn học nhưng trong tận cùng sâu thẳm của ý thức cộng đồng, họ âm thầm sẻ chia và nhận ra nỗi đau về mình dể được kéo dài ra trong niềm vui của người khác,
để được yêu trong trắc ẩn dù có khi không tránh khỏi sự đối xử thờ , nguội l nh của tha nhân…” [4] Hay nhà báo oàng Nguyên Vũ cho rằng: “Càng về sau văn
ch viết càng đời, càng đầy đủ mặn ngọt đắng cay của những phận đời trong đó…Dù những cái kết được báo trước nhưng người đọc vẫn muốm nếm hết những
v đắng cay, điêu man mác cho đến những dòng cuối cùng” [4]
Mỗi một dân tộc, một đất nước, một vùng đất trên thế giới đều có cho riêng mình những bản sắc văn hoá không thể pha lẫn Văn hoá chính là c sở để nhận ra một dân tộc, một đất nước Và văn học nằm trong văn hoá, là một trong những yếu
tố quan trọng nhất góp phần hình thành nên bản sắc văn hoá dân tộc Vậy nên, luận văn Th c sĩ “Truyện ngắn Trần Thuỳ Mai từ góc nhìn văn hoá” của Ph m Th Thu
ư ng (Đ i học Khoa học xã hội và nhân văn, 2015) được triển khai nhằm những mục đích chính như khẳng đ nh mối quan hệ văn hoá – văn học, những phư ng thức biểu đ t của văn hoá trong văn học; làm rõ căn nguyên tồn t i của chất văn hoá
Trang 10trong sáng tác của nhà văn; khẳng đ nh nét độc đáo về tư tưởng, nội dung, nghệ thuật của sáng tác Trần Thuỳ Mai soi chiếu từ góc độ văn hoá
Còn trong luận án tiến sĩ “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đư ng đ i qua sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu” của Nguyễn Th Thanh Xuân (Học viện Khoa học xã hội, 2013), tác giả đã tập trung nghiên cứu ý thức phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi nữ những năm gần đây Ph m vi nghiên cứu chính của luận án là truyện ngắn của những nhà văn
nữ nổi bật như Trần Thuỳ Mai, Lý Lan, Y Ban, Nguyễn Th Thu Huệ… Thông qua
đó, tác giả xác đ nh cho mình nhiệm vụ nghiên cứu chính là soi sáng những c sở lý luận, triết học của việc phân tích nữ quyền luận và tường giải tác phẩm Đồng thời tác giả cũng xác đ nh lo i hình văn xuôi nữ trên c sở bản sắc giới và đặc điểm cá tính sáng t o của một số nhà văn nữ tiêu biểu; lý giải cốt truyện và xung đột tâm lý
xã hội trong tác phẩm của họ như là sự phản ánh bằng nghệ thuật cấu trúc giới của
xã hội hiện đ i; khám phá đặc trưng thế giới nội tâm của các nhân vật, những mô típ ứng xử thể hiện đặc điểm về phư ng diện giới của văn xuôi nữ hiện đ i; khám phá đặc trưng về ngôn ngữ, giọng điệu cuả văn xuôi nữ và vai trò của nó trong việc t o dựng bức tranh thế giới dưới cái nhìn về giới
Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy các luận văn th c sĩ khác với đề tài “Ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thuỳ Mai” (Nguyễn Thanh Bình, Đ i học Vinh, năm 2008);
“Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Trần Thuỳ Mai” (Phùng Thu Phư ng, Đ i học Khoa học xã hội và nhân văn, 2010)… Điều này chứng tỏ tác phẩm của nữ nhà văn Trần Thuỳ Mai có giá tr nghệ thuật cao và đang được giới nghiên cứu khoa học quan tâm khai thác
Bên c nh đó, nhà văn Trần Thuỳ Mai cũng không ít lần bộc lộ quan niệm văn chư ng nghệ thuật của mình trong những bài phỏng vấn trên các trang báo điện
tử như: tuoitre, anninhthudo, thanhnien, maivanhoan.vnweblogs, baovinhphuc…Đó cũng là c sở để chúng tôi đưa ra những kết luận về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn
Trang 11Trên báo Thanh Niên, tác giả oàng Nguyên Vũ có bài viết “Trần Thuỳ Mai: Xin làm người kể những yêu thư ng” (2016) Khi được hỏi về vấn đề tỉ lệ hư cấu trong sáng tác, Trần Thuỳ Mai trả lời rằng nguyên mẫu ngoài đời và nhân vật trong truyện tuy có dây m rễ má với nhau nhưng không phải là một Bất cứ một người cầm bút nào cũng không khỏi xây dựng nhân vật của mình từ hoàn cảnh, tính cách của những con người có thực Người viết văn bẻ từng miếng nhỏ từ cuộc đời mình hay cuộc đời những người xung quanh, chắp gắn, hoà trộn chúng với nhau để làm thành nhân vật trong tác phẩm Vào tới truyện thì sự thực cuộc sống đã được nhào nặn với rất nhiều tưởng tượng rồi, không còn là nguyên xi ngoài đời nữa Đối với Trần Thuỳ Mai, điều quan trọng là thông điệp cuộc sống đằng sau câu chuyện
Tác giả Mai Hoàng với bài viết “Nhà văn Trần Thuỳ Mai: lánh cuộc đua
“hàng hot” (baomoi.com, 2014), đã hỏi Trần Thùy Mai khá nhiều điều về quan niệm văn chư ng Nữ nhà văn khẳng đ nh, văn học khác với thể thao, nó không phải một cuộc c nh tranh hướng ngo i mà là sự soi chiếu vào nội tâm Thời đ i này cuộc sống đã hoá ra một cuộc đua dữ dội quá nên ngay trong văn chư ng người ta cũng nói đến “hàng hot” Trong những làn sóng tung lên rồi h xuống, tôn vinh rồi lãng quên, người cầm bút cũng có thể b cuốn vào vòng xoáy Nhưng Trần Thuỳ Mai thì âm thầm “dọn khu vườn nhỏ của riêng mình, để chờ những người tri âm đến, không muốn vội vã ch y theo dòng ” [11]
Trên blog maivanhoan của tác giả Mai Văn oan, bài viết “Truyện ngắn Trần Thuỳ Mai” (2009) có nói rằng Trần Thuỳ Mai không ch y theo th hiếu tầm thường Ch không d ứng với cái mới Ch chỉ d ứng với những cái mới mà không nhân văn
Nhìn chung, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng, vấn đề “Đặc điểm
truyện ngắn Trần Thuỳ Mai (khảo sát qua hai tập truyện Một mình ở Tokyo và
Onkel yêu dấu)” chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, bởi đây
là hai tập truyện mới nhất của ch , ra đời trong khoảng chưa đến mười năm trở l i đây Vậy nên đây sẽ là mảnh đất còn nhiều mới mẻ để chúng tôi khai phá Trong quá trình thực hiện đề tài, tất cả các công trình đi trước kể trên sẽ góp phần đ nh
Trang 12hướng và gợi mở cho chúng tôi rất nhiều tri thức để có thể hoàn thành tốt hướng nghiên cứu của mình
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là đặc điểm truyện ngắn Trần Thuỳ Mai thể hiện qua hai tập truyện ngắn “Onkel yêu dấu” và “Một mình ở Tokyo” Ở đây, người viết tập trung khảo sát nét đặc sắc của truyện ngắn Trần Thùy Mai trên hai phư ng diện: nhân vật và nghệ thuật kể chuyện
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ph m vi nghiên cứu của đề tài này là hai tập truyện ngắn “Onkel yêu dấu” (Nxb Văn nghệ, 2010) và “Một mình ở Tokyo” (Nxb Văn nghệ, 2008) của nhà văn Trần Thuỳ Mai
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phư ng pháp nghiên cứu chủ yếu là: phư ng pháp thống kê, phân lo i, phư ng pháp phân tích, tổng hợp, phư ng pháp so sánh đối chiếu, phư ng pháp hệ thống
+ Phư ng pháp phân tích, tổng hợp: Phư ng pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản Trên c sở tổng hợp l i những gì đã tiếp cận, khảo sát ấy phục vụ một cách hiệu quả nhất cho luận điểm chính của luận văn Đồng thời phư ng pháp này cũng giúp làm rõ những nét mới, đặc sắc để rồi tổng hợp đưa ra những đánh giá, nhận xét trong văn chư ng Trần Thuỳ Mai
+ Phư ng pháp so sánh đối chiếu: So sánh hai tập truyện ngắn “Onkel yêu dấu” và „Một mình ở Tokyo” với nhau và với các tập truyện ngắn trước đây của Trần Thuỳ Mai để thấy được sự khác biệt về nội dung và nghệ thuật
+ Phư ng pháp hệ thống: Đề tài này được đặt trong hệ thống tác phẩm của Trần Thuỳ Mai để xem xét, đánh giá và phát hiện cách nhìn nhận, thể hiện con người trong quá trình sáng tác của nhà văn
Trang 135 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, Nội dung khoá luận gồm 3 chư ng:
Chư ng 1: Nhà văn Trần Thuỳ Mai trong bối cảnh truyện ngắn nữ Việt Nam
sau năm 1975
Chư ng 2: : Thế giới nhân vật truyện ngắn Trần Thuỳ Mai qua hai tập truyện
“Onkel yêu dấu” và “Một mình ở Tokyo”
Chư ng 3: Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai qua hai
tập truyện “Onkel yêu dấu” và “Một mình ở Tokyo”
Trang 14NỘI DUNG
ƢƠN 1: N VĂN TRẦN THUỲ MAI TRONG BỐI CẢNH
TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM SAU 1975 1.1 Bối cảnh truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975
1.1.1 Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 – bước chuyển mình mạnh
mẽ
Sau năm 1975, đất nước trở l i hoàn cảnh sống bình thường ở cả miền Bắc lẫn miền Nam, nhưng đối với một dân tộc có gần ba mư i năm chiến tranh thì tất nhiên cuộc chiến vẫn sẽ làm ảnh hưởng tới tâm thức của con người Việt Nam Chiến tranh kết thúc, cả nước r i vào tình tr ng khủng hoảng kinh tế, không có
lư ng thực Hậu quả chiến tranh làm cho nông nghiệp không phát triển, tất cả các
ho t động kinh tế khác đều trì trệ Do hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính tr , tư tưởng nên khoảng năm 1980, người dân ở Miền Nam ồ t đi vượt biên, t o nên sự xáo động, ảnh hưởng đến tinh thần ở cả miền Nam lẫn miền Bắc Trong hoàn cảnh đất nước như vậy, đời sống vật chất khiến con người ta phải suy ngẫm
Văn học bao giờ cũng là tấm gư ng phản chiếu thời đ i và tất nhiên trong bối cảnh thời đ i sau 1975 có nhiều sự thay đổi, xáo động như thế, các thể lo i văn học cũng phải thay đổi theo cho phù hợp Nói đến truyện ngắn đư ng đ i là nói đến truyện ngắn giai đo n từ 1975 – nay Đây được xem là mốc đánh dấu sự phát triển của truyện ngắn, thể hiện sức trẻ của ngòi bút, sự cách tân táo b o và bất ngờ cả về phư ng diện nội dung và nghệ thuật Chiến thắng năm 1975, thống nhất đất nước cũng là một mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển mình của thể lo i truyện ngắn
Trước năm 1975, văn học có nhiệm vụ là phục vụ kháng chiến, phản ánh cuộc đấu tranh vĩ đ i của dân tộc Chiến tranh đòi hỏi con người cần có ý chí, sức
m nh để thực hiện cách m ng, vì thế văn học giai đo n này tập trung cổ vũ động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của con người Các sáng tác văn học thời chiến đa phần có khuynh hướng sử thi, mang âm hưởng hào hùng, ngợi ca Đề tài xuyên suốt trong các sáng tác thời kì này là vận mệnh dân tộc, cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và niềm tin tất thắng Nhân vật xuyên suốt trong văn học kháng chiến là người
Trang 15anh hùng đấu tranh bảo vệ tổ quốc Cảm hứng sáng tác là cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng của dân tộc Vì nhiệm vụ phục vụ kháng chiến của văn học nên đề tài viết về số phận cá nhân con người, về những mảnh đời tư, những tâm sự riêng, những khát khao h nh phúc cá nhân…không được khai thác
Sau năm 1975, hoà bình lập l i, cả dân tộc bước sang thời kì đổi mới và văn học cũng từng bước chuyển mình để bắt k p sự đổi mới của thời đ i Văn học giai
đo n này ngày càng gần gũi với hiện thực đời sống h n và đi sâu phản ánh cuộc sống con người Chủ đề thế sự đời tư trở thành chủ đề xuyên suốt trong sáng tác của các nhà văn Số phận cá nhân, con người cá nhân được các nhà văn đặt lên hàng đầu Cuộc sống muôn màu muôn vẻ với các tr ng thái khác nhau: cao cả, thấp hèn, ánh sáng, bóng tối… đều được ph i bày một cách chân thực, rõ nét Giai đo n này,
do có những chuyển biến, đổi mới về quan niệm nghệ thuật và nội dung nên cảm hứng nghệ thuật thay đổi Cảm hứng nghệ thuật bây giờ không còn ngợi ca mà nó chuyển sang cảm hứng đời tư, cảm hứng thế sự, chú ý tới cái nhìn giải thiêng, nó quan tâm tới đời sống của con người cá thể, quan tâm tới cái sự vận động của con người Nhân vật trong văn xuôi hành động trở nên đa chiều, với nhiều suy nghĩ, ngẫm ngợi, trăn trở Bên c nh đó hình tượng cuộc sống cũng có những sự thay đổi
m nh mẽ Đó là hình tượng cuộc sống thật, cuộc sống với nhiều phức t p, với nhiều mâu thuẫn, cần được giải quyết không chỉ trên bề mặt mà cả ở chiều sâu Truyện ngắn Việt Nam sau 1975, hoà vào dòng chảy chung của thời cuộc, cũng mang trong mình tất cả những đặc điểm của văn xuôi Việt Nam hiện đ i
1.1.2 Nhà văn nữ thế hệ sau năm 1975 – sự khởi tạo của dòng văn học
Trang 16chất lượng Dẫu còn nhiều chỗ cực đoan, sai lệch, nhưng văn học miền Nam Việt Nam đư ng thời ghi nhận sự đóng góp của nữ giới trong thành tựu chung không thể chối cãi Sau 1975, và nhất là sau 1986, số lượng các nhà văn nữ ngày càng nhiều, thực sự nở rộ Một lo t cây bút nữ xuất hiện và dần khẳng đ nh v trí, tài năng của mình như: Y Ban, Nguyễn Th Thu Huệ, Trần Thuỳ Mai, Ph m Th Ngọc Liên, Võ
Th Hảo, D Ngân, Lý Lan, D Ngân, Đoàn Minh Phượng, Võ Th Xuân à… Các tác phẩm của họ đo t giải thưởng trong các cuộc thi truyện ngắn là minh chứng cho
điều đó Tiêu biểu là các cây bút nữ như: Phan Th minh Thư (Có một đêm như thế)
– đo t giải nhất năm 1981 cuộc thi truyện ngắn của t p chí Văn nghệ Quân đội; Lê
Th Thanh Minh (Cha con) – đo t giải năm 1984; Y Ban (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ,
Chuyện một người đàn bà) – đo t giải nhất năm 1990; Nguyễn Th Thu Huệ (Hậu thiên đường, Mùa đông ấm áp) – đ t giải cuộc thi năm 1992 – 1994 của Văn nghệ
Quân đội Và liên tiếp các năm 1996, 1999, 2001 , 2002, các tác giả nữ đã nhận được danh hiệu cao nhất như: Trần Thanh à, Đỗ Bích Thuý, Thuỳ Linh, Nguyễn Ngọc Tư…
Bên c nh những tác phẩm của nam giới, vẫn tồn t i một mảng văn học nữ, mang đến một sức sống mới, với những cảm xúc mới mẻ bằng sự mẫn cảm riêng của nữ giới Sự lên tiếng của những người viết văn nữ đã làm nên một diện m o khác, riêng so với nam giới Tiếng nói nữ giới trong văn chư ng có khi còn trấn áp
cả tiếng nói của nam giới (tiếng nói của nhà văn nam, của nhân vật nam) Ban đầu, cũng có không ít ý kiến cho rằng văn chư ng phụ nữ, chuyện của phụ nữ chẳng bao giờ có tầm Song, cuộc sống không chỉ được dệt nên bởi những điều lớn lao mà h i thở cuộc sống l i thường nằm ở những chi tiết, những câu chuyện nhỏ nhất mà chỉ trái tim nh y cảm của phụ nữ mới có thể phát hiện, trân quý và níu giữ Tiếng nói của giới nữ trong văn học khiến độc giả phải nghĩ khác về bộ phận văn học nữ Không còn đi bên lề, văn xuôi nữ dần sóng đôi với văn xuôi của các nhà văn nam giới Trong sáng tác của mình, các cây bút nữ đã thể hiện những thế m nh riêng, đó
là sáng t o dựa trên những linh cảm nh y bén của mình để khám phá nhân vật Đồng thời việc sử dụng những tình huống tâm lý, miêu tả chiều sâu nội tâm nhân
Trang 17vật cộng với bút pháp trữ tình đã trở thành một nét thi pháp trong cấu trúc truyện ngắn nữ giới hiện nay Bên c nh đó cũng có những cây bút thể hiện cách viết tự do, khoáng đ t, hiện đ i, tinh tế mà cũng không kém phần nữ tính Bởi thế mà họ đã khẳng đ nh v trí của mình và t o nên diện m o mới cho văn học Việt Nam đư ng
đ i
Sự xuất hiện các cây bút nữ đã trở thành một trào lưu và đồng thời cũng t o nên một nguồn m ch mới làm tiền đề cho sự ra đời của dòng văn học nữ quyền Văn học nữ quyền là dòng văn học mà nội dung của các sáng tác đó liên quan đến việc bảo vệ, bênh vực quyền sống của người phụ nữ, giải phóng phụ nữ Văn học luôn phản chiếu thời đ i và tâm hồn con người, vì thế các nhà văn nữ đã tìm đến văn chư ng như là n i để chia sẻ tâm sự, thể hiện những khát khao trong tình yêu,
h nh phúc và đó cũng là một trong những tiếng nói m nh mẽ đòi quyền bình đẳng giới trong xã hội hiện đ i Sự phát triển về số lượng lẫn chất lượng sáng tác của đội ngũ các nhà văn nữ đã k p thời phản ánh những vấn đề bức xúc của xã hội Các nhà văn nữ dường như không bỏ sót một mảng hiện thực nào trong cuộc sống Tuy nhiên đề tài được các nhà văn nữ quan tâm thể hiện nhiều nhất là những đề tài gần gũi với cuộc sống thường nhật như: vấn đề đ o đức thế sự, đời tư, vấn đề về tình yêu hôn nhân gia đình Khi viết về các đề tài này, họ thường bày tỏ thái độ chủ động, đấu tranh tìm kiếm, khao khát được yêu, tìm h nh phúc cho bản thân Những cây bút này đến với văn học thật tự nhiên và họ càng viết ngày càng say mê Các tác giả nữ với trái tim nhân hậu, đa cảm và nh y bén đã bắt nh p được sự thay đổi của cuộc sống trong từng chi tiết nhỏ nhất Họ đã chia sẻ cho nhân vật của mình một phần kinh nghiệm sống từ những thử thách trải nghiệm trong đời Họ thường hướng ngòi bút vào những hiện tượng đang diễn ra trước mắt Đề tài chiến tranh ít xuất hiện trong sáng tác của họ Phần lớn các tác giả nữ thường tập trung vào những đề tài thường nhật, những đề tài gần gũi diễn ra trong cuộc sống hàng ngày gắn bó với những con người hiện đ i Điều đáng nói là khi viết về những đề tài này, các tác giả
nữ đã thể hiện được cá tính phụ nữ độc đáo của mình, vừa táo b o quyết liệt l i vừa mềm m i trong sáng Có thể nói, con người hiện lên trong tác phẩm của các nhà văn
Trang 18nữ thật đa d ng Họ dường như bao quát hết những sự kiện xảy ra trong cuộc sống thường nhật Đặc biệt họ quan tâm đến số phận, bi k ch của những người phụ nữ Viết về người phụ nữ, họ viết rất say mê và luôn hướng vào đó một tấm lòng đồng cảm xót xa Đặc biệt một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giai đo n này là đề tài tình dục Trước đây, nó là vấn đề cấm k trong văn học, còn giờ đây, các nhà văn nữ bắt đầu đi sâu tìm hiểu khám phá và thể hiện Thông qua đó, các nhà văn có thể biểu
đ t những vấn đề nhân sinh một cách có nghệ thuật Quả thật sự xuất hiện của các nhà văn nữ đã góp phần thay đổi diện m o nền văn học sau 1975
1.2 Hành trình sáng tác của nhà văn rần Thuỳ Mai
1.2.1 Từ người phụ nữ truyền thống của đất kinh kì…
Trần Thuỳ Mai sinh ngày 08/09/1952, trong một bệnh viện t i đất Hội An, Quảng Nam; nhưng quê gốc của ch l i ở làng An Ninh Thượng, xã ư ng Long, huyện ư ng Trà (nay là phường ư ng Long, Thành phố Huế), tỉnh Thừa Thiên Huế
Trần Thuỳ Mai bắt đầu được các b n trẻ yêu thích văn chư ng ở Huế biết đến khi đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng Tốt nghiệp
Tú tài 2 từ 1972, ch thi đậu thủ khoa môn văn Đ i học Sư ph m Huế Sau năm
1975, ch học tiếp Đ i học Sư Ph m Năm 1977, sau khi tốt nghiệp, Trần Thuỳ Mai được giữ l i trường, làm công tác giảng d y và nghiên cứu môn Văn học dân gian Năm 1987, ch quyết đ nh chuyển sang làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Thuận Hoá Với lối rẽ này, Trần Thuỳ Mai đã chọn nghiệp viết làm con đường đi cho riêng mình Thời điểm ấy gia tài chữ nghĩa của Trần Thuỳ Mai chỉ mới vỏn vẹn có tập truyện đầu tay “Cỏ hát”, in chung cùng Lý Lan và “Bài th về biển kh i”, tập truyện đầu tiên Quyết đ nh từ giã bục giảng, thời ấy được xem là thánh đường, n i sôi động và tràn đầy năng lượng với các thế hệ sinh viên để về c quan xuất bản
ho t động thầm lặng h n, thu mình h n, quả là táo b o Nhất là với một phụ nữ Huế, thường dễ bằng lòng, thậm chí mang đậm màu sắc nhẫn nh n, có phần cam
ch u trong cuộc sống Phải chăng, cá tính văn chư ng của Trần Thuỳ Mai phần nào
đã được thể hiện ở chính quyết đ nh xê d ch này? Bên c nh đó Trần Thuỳ Mai còn
Trang 19là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế, hội viên Hội nhà văn Việt Nam và hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam
Trần Thuỳ Mai đã có h n ba mư i năm trong nghề cầm bút Với ch , văn chư ng là một công việc nghiêm túc, vất vả thậm chí cực nhọc nhưng không mệt mỏi, vì đó là niềm yêu thích của ch Văn chư ng đã cho ch được là chính mình, được có thêm nhiều b n bè, nhất là những b n gái, họ đến và kể cho ch nghe những tâm tình của mình
Ảnh hưởng của hai thành phố cổ th mộng, hiền hoà với tất cả cảnh vật, con người, văn hoá vật chất, tinh thần…sau này, qua sự quan sát, cảm nhận, chiêm nghiệm thấm thía của nhà văn đã đi vào sáng tác của ch rất tự nhiên, dung d , nhẹ nhàng, khó quên Trần Thuỳ Mai là một phụ nữ không trọn vẹn trong tình yêu, l i gặp không ít khó khăn trong cuộc sống đời thường, nhưng văn chư ng với ch vẫn
là niềm đam mê, vì thế ch đã thoả sức dành cho nghệ thuật viết văn của mình, ch xem nghề viết là máu th t, nó cũng là con người và cũng là cuộc sống của ch Bằng một hành trình cuộc sống nhiều đa đoan và một tình yêu thư ng lớn lao cho con người, ch đã khiến bao thế hệ người đọc say mê trước những trang văn giàu ngh lực mà đầy nhân văn của mình
1.2.2 …đến nữ nhà văn dấn thân hết mình vào nghiệp viết
Hành trình sáng tác của nhà văn Trần Thuỳ Mai bắt đầu từ những bước đi từ thuở còn là một cô nữ sinh trường Đồng Khánh Năm 1975, khi ch 22 tuổi, Trần Thuỳ Mai đã có truyện ngắn đầu tiên đăng báo Văn nghệ và sự nghiệp văn chư ng của ch bắt đầu từ đó
Dần dần, Trần Thuỳ Mai trưởng thành cùng thế hệ với Lý Lan, Nguyễn Th Minh Ngọc ở Sài Gòn, những người cầm bút đầu tiên sau chiến tranh Có thể nói, đây chính là thế hệ dò đường đi tìm những đề tài hậu chiến Tính từ truyện ngắn đầu tay “Một chút màu xanh” in trên T p chí Sông ư ng đến nay, nữ nhà văn người Huế này đã có trên 30 năm cầm bút với hàng trăm tác phẩm truyện ngắn được nhiều thế hệ b n đọc yêu mến Trong đó, một số truyện ngắn nổi tiếng như: “Gió thiên
Trang 20đường”, “Thập tự hoa”, “Quỷ trong trăng”, “Th trấn hoa quỳ vàng”…của ch đã được d ch sang tiếng Anh, tiếnh Pháp và tiếng Nhật…
Trần Thuỳ Mai là một trong những nhà văn nữ viết khoẻ, khá đều tay Những truyện ngắn của ch rất đa d ng, phảng phất không khí đất trời xứ Huế, quan tâm đến mọi mặt của cuộc sống, nhất là lớp trẻ và nhìn họ với một con mắt đầy yêu thư ng và hy vọng Trong khoảng 10 năm trở l i đây, Trần Thuỳ Mai viết nhiều về những đề tài về nhân vật l ch sử, đặc biệt là những nhân vật nữ in bóng l ch sử triều Nguyễn, gắn liền với Kinh thành Huế
Không ồn ào vội vã ch y theo những th hiếu tầm thường, Trần Thuỳ Mai lặng lẽ, kiên trì t o được những bước đi vững chắc trong làng truyện ngắn Ch viết chắc và khá đều đặn và cho ra đời tập truyện ngắn đầu tay, tập “Bài th về biển
kh i” (1983) Sau đó một năm, “Cỏ hát”, tập truyện thứ hai của ch (in chung với
Lý Lan) ra đời Với ngọn lửa của lòng đam mê được yêu, được viết, được cùng sống với mỗi số phận nhân vật mà mình sáng t o, Trần Thuỳ Mai liên tiếp cho ra đời các tập truyện ngán để l i dấu ấn sâu đậm, có sức sống lâu bền trong lòng người đọc Năm 1994, tập truyện ngắn “Th trấn hoa quỳ vàng” ra mắt b n đọc và sau đó, gần như đều đặn hàng năm ch đều có tác phẩm xuất bản: “Trò ch i cấm” (1998) – Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh; “Người khổng lồ núi B c” (2002) – Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh; “Đêm tái sinh” (2003) - Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế; “Thập tự hoa” (2003) - Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế; “Biển đời người” (2003) - Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; “Thư ng nhớ Hoàng Lan” (2003) - Nhà xuất bản Văn Mới; “Mưa đời sau” (2005) - Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh; “Mưa ở Trasbourg” (2007) - Nhà xuất bản Phụ Nữ,
Hà Nội; “Lửa hoàng cung” (2008) - Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội (2010); “Một mình ở Tokyo” (2008) - Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh; “Onkel yêu dấu” (2010) - Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh; “Trăng n i đáy giếng” (2010) - Nhà xuất bản Thanh Niên
Trang 21Bên c nh sự nghiệp sáng tác văn chư ng, Trần Thuỳ Mai còn tham gia nghiên cứu “Truyện kể dân gian Bình Tr thiên” (1986) – sưu tầm, biên khảo, so n chung với Trần Hoàng, Ph m Bá Th nh – Sở Văn hoá Thông tin Bình Tr Thiên;
“Ca dao, dân ca Bình Tr Thiên” (1989) - sưu tầm, biên khảo, so n chung với Ph m
Bá Th nh, Đinh Th Hựu - Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế; “Dân ca Thừa Thiên Huế” (2004) - sưu tầm, biên khảo - Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế Trần Thuỳ Mai tham gia d ch thuật “Bên trong” (2010), tập truyện ngắn của tác giả nữ Nhật Bản,
d ch từ tiếng Anh – Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế Nhiều truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai đã được chuyển thể k ch bản sân khấu hoặc được dựng thành phim như:
“ ãy khóc đi em” (2005), “Gió thiên đường”, “Thập tự hoa” (2005), “Trăng n i đáy giếng” (2009)
Các tác phẩm của Trần Thuỳ Mai đã giúp nữ nhà văn đ t được nhiều giải thưởng lớn như: Giải B, giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ hai, (1998) cho Tập truyện ngắn “Th trấn hoa quỳ vàng” Giải C, Giải thưởng Văn học thiếu nhi “Vì tư ng lai đất nước” của Nhà xuất bản Trẻ (2002) cho truyện dài thiếu nhi
“Người khổng lồ núi B c” Giải B, Hội Nhà văn Việt Nam (2002, không có giải A)
và Giải A, giải thưởng Văn học Cố đô lần thứ ba (2005), cho tập truyện ngắn “Quỷ trong trăng” Giải thưởng Uỷ ban Toàn quốc Liên Hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (2003) và Giải A, giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ tư (2008) cho tập truyện ngắn “Thập tự hoa” Giải thưởng của Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (2008), cho tập truyện ngắn “Một mình ở Tokyo” Giải cống hiến vì cộng đồng năm 2011 do Uỷ ban kết nghĩa thành phố San Francisco –
TP Hồ Chí Minh trao tặng Sáng tác của Trần Thuỳ Mai còn có duyên “đi bước nữa”, có đời sống mới với nhiều màu sắc h n Nhiều tác phẩm là được chuyển ngữ qua tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật Ngoài ra những truyện ngắn như “Trăng n i đáy giếng” đã được chuyển thể thành phim điện ảnh cùng tên, đo t giải Cánh diều
B c của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 2008
Nhà văn Trần Thuỳ Mai đã thực sự tìm được chỗ đứng trong lòng độc giả Người ta biết đến, tìm đến truyện ngắn của ch bởi sự nhẹ nhàng, lặng lẽ, tinh tế,
Trang 22sâu sắc trong con người và trong sáng tác của một nhà văn “giàu tính nữ bậc nhất
torng làng truyện ngắn hiện nay” Bằng trái tim nhiệt huyết yêu nghề, yêu cuộc
sống tha thiết, hành trình sáng t o nghệ thuật của Trần Thuỳ Mai có lẽ vẫn còn rất dài rộng phía trước và ch sẽ tiếp tục cống hiến, khẳng đ nh phong cách của mình trên tiến trình phát triển của văn xuôi đư ng đ i
1.2.3 Truyện ngắn Trần Thuỳ Mai – sự thể hiện trọn vẹn cái tôi phụ nữ
Trần Thuỳ Mai b ảnh hưởng của hai thành phố cổ th mộng, hiền hoà, với tất cả cảnh vật, con người, văn hoá vật chất, tinh thần,…chính vì thế mà giọng văn của ch rất tự nhiên, dung d và nhẹ nhàng Hầu hết trong những sáng tác của ch , cảm thức Huế được chiếu phóng vào trong tác phẩm rất nhiều, từ sắc thái câu văn cho đến không gian, tinh thần nhân vật Kể cả khi Trần Thuỳ Mai làm mới trang văn của mình để độc giả đỡ chán với đất trời xứ Huế, hoặc không đ nh danh không gian hoặc không gian để vư n ra ngoài biên giới như truyện trong các tập “Mưa ở Trasbourg”, “Một mình ở Tokyo”, “Onkel yêu dấu”, thì người đọc vẫn dễ dàng nhận ra chất Huế thanh d u ẩn sau lớp ngôn từ
Hoà chung với không khí của thời đ i hậu chiến, Trần Thuỳ Mai cũng hướng ngòi bút của mình đến sự khám phá và phản ánh hiện thực ở góc nhìn đời tư, thế sự với những số phận riêng lẻ, những khát vọng, những bi k ch nhân sinh từ gia đình, tình yêu và những quan hệ đời thường Tất cả đều phảng phất những trăn trở, bàng hoàng trước sự sa sút của nhân tính, sự băng ho i đ o đức ở một lớp người, hay những cảnh bức bối, ngột ng t, những r n nứt, những c n sốc, khủng hoảng trong các mối quan hệ gia đình, tình yêu, xã hội
Có thể nói thế giới văn chư ng của Trần Thuỳ Mai là thế giới của những giấc m yêu Dẫu có là đắng cay và chua xót thì vẫn đẹp, vẫn chở đầy khát khao, vẫn hướng thiện Những giấc m yêu bảng lảng sắc kinh kỳ Trần Thuỳ Mai từng
thổ lộ: “Tình yêu là đôi cánh giúp con người vượt qua biên giới của chính mình dẫu
có thấm vị xót xa đi chăng nữa Bởi thực tế có những giấc mộng không thể đứng vững trước cuộc đời.” [14] Trần Thuỳ Mai là một phụ nữ không trọn vẹn trong tình
yêu, l i gặp không ít khó khăn trong cuộc sống đời thường, nhưng văn chư ng với
ch là một đam mê, vì thế ch đã thoả sức dành cho nghệ thuật Bằng một hành trình
Trang 23cuộc sống nhiều đa đoan và một tình yêu thư ng lớn lao cho con người, ch đã khiến bao thế hệ người đọc say mê trước những trang văn giàu ngh lực mà đầy nhân văn của mình
Truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai đa d ng Nhưng sau 1975 Trần Thuỳ Mai viết nhiều về tình yêu, ch dành trọn nghiệp văn của mình cho đề tài vĩnh hằng này
n ở đâu hết, mảng đề tài này đã dựng lên chân dung một nhà văn nữ giữa bộn bề những cá tính sáng t o của truyện ngắn đư ng đ i Những truyện ngắn viết về tình yêu của Trần Thuỳ Mai thường mang l i cho người đọc cảm nhận thú v về văn hoá tình yêu và đều có v đắng D i khờ, nông nổi, đam mê, cuồng nhiệt, những cung bậc tình yêu muôn thuở được nhà văn thể hiện đầy nữ tính Cái đẹp và h nh phúc trong hàng lo t truyện ngắn của ch như “Thư ng nhớ hoàng lan”, “Gió thiên đường”, “Đêm tái sinh”, “Trăng n i đáy giếng”, “Cánh cửa thứ chín”, “Thập tự hoa”… đều rất mong manh Mỗi câu chuyện là một tình khúc buồn, nhẹ nhàng mà sâu lắng Những tình khúc buồn ấy nhắc nhở mọi người phải biết tận hưởng, phải biết bảo vệ, phải biết nâng niu, trân trọng cái đẹp và h nh phúc trong cuộc sống Cốt truyện trong các tác phẩm của Trần Thuỳ Mai thường đ n gỉan, chỉ tập trung khai thác thế giới nội tâm của nhân vật
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai không đa d ng nhưng khá sinh động Dẫu Trần Thuỳ Mai có dàn dựng nhiều kiểu nhân vật ( phư ng Đông – Phư ng Tây, huyền tho i – l ch sử - hiện đ i), thì rốt cục thế giới nghệ thuật của tác giả cũng hiện đậm một cái tôi phụ nữ buồn, nhiều khát vọng Đi vào thế giới nhân vật nữ của ch , ta có cảm giác về sự hoá thân đậm nét Sự hoá thân ấy có lúc thể hiện ở ngôi thứ nhất Tôi kể chuyện mình, chuyện người, chuyện nhân thế bằng nhiều giọng điệu Tôi nhìn đời, nhìn người qua cặp mắt rất phụ nữ (Trăng n i đáy giếng) Tôi hoá đồng cảm (Hoa sứ trắng) Tôi phân thân trải lòng (Gió thiên đường) Tôi chênh chao giữa những bến bờ h nh phúc (D u dàng như cỏ)… Nhưng đa phần cái tôi ấy ẩn sau những khuôn mặt phụ nữ khác là Phượng (Huyền tho i về chim phượng), Ng (Th trấn hoa quỳ vàng), Naoko (Chiếc phong linh), Kyoko (Một mình
ở Tokyo)…
Trần Thuỳ Mai tập trung khắc ho một số lo i nhân vật tiêu biểu như: nhân vật bi k ch, nhân vật cô đ n trong tình yêu, gia đình, nhân vật tha hoá, nhân vật tự ý
Trang 24thức… Nhân vật trung tâm của Trần Thuỳ Mai chủ yếu là nữ Mỗi lo i nhân vật đều
có những nét độc đáo riêng mang những cảm quan riêng của nhà văn Tuy nhiên nhân vật bi k ch, nhân vật cô đ n là kiểu nhân vật đặc trưng trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai Với ch , kiếp đàn bà là khổ đau H nh phúc đối với họ như chiếc cầu vồng mờ ảo cuối chân trời, như cánh cửa thứ chín của mỗi đời người, đầy hứa hẹn nhưng không thể mở ra H nh phúc là cái gì vừa như sờ mó được, l i vừa xa xôi, hư
ảo, cứ chấp chới ở phía trước Tuy nhiên cho dù khổ đau, bất h nh nhưng những người phụ nữ trong sáng tác của bà vẫn luôn mong muốn khao khát tình yêu và
h nh phúc Mỗi truyện là một tâm hồn, một ao ước, một khát khao của mỗi người phụ nữ trong hoàn cảnh đó Dễ thấy một điều lặp l i trong truyện Trần Thuỳ Mai đó
là sự cô đ n thăm thẳm của những cái tôi phụ nữ quá thông minh và nhiều khao khát Phải chăng vì thế mà đa phần nhân vật nữ của Trần Thuỳ Mai đều bất h nh hoặc một nửa h nh phúc Để níu giữ h nh phúc mỏng manh, trớ trêu thay những người nữ trong truyện Trần Thuỳ Mai thường tìm đến cái chết – cái chết về tâm hồn
Về những thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong truyện, Trần Thuỳ Mai thường kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật, trong đó tập trung ở độc tho i nội tâm, ngôn ngữ thông tục, đời thường…Với việc sử dụng đầy sáng t o các thủ pháp nghệ thuật đã cho thấy cách nhìn con người, phản ánh, nói lên tiếng lòng của số đông người phụ nữ thời bấy giờ Dù viết về những mảnh vỡ đời người cay cực, những khuất lấp trong tâm hồn, hay oan nghiệt xảo trá, Trần Thuỳ Mai đều hướng đến cái đẹp Nhân vật nữ của ch , dẫu mỗi người một phúc phận, đau khổ dập vùi, thành đ t h nh phúc, cái cuối cùng vẫn là khát vọng hoàn thiện Truyện ngắn Trần Thuỳ Mai ít có những mảng tối của xã hội, hay những nhân vật suy thoái đ o đức trầm trọng Những vấn đề xã hội nhức nhối được nữ nhà văn lọc qua sự mẫn cảm của trái tim phụ nữ trở nên nhân tình, nhân bản h n Càng ngày người đọc sẽ thấy được Trần Thuỳ Mai chín và sâu, thống nhất và biến hoá trong phong cách riêng của mình
Trang 25ƢƠN 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
TRẦN THUỲ MAI QUA HAI TẬP TRUYỆN “ONKEL YÊU DẤU”
“mình”, “ta”… Nhưng trong nhiều trường hợp nhân vật l i không phải là con người
mà có khi chỉ là một đồ vật, con vật nào đó biết nói Những sự vật, những đồ vật này trở thành nhân vật khi được “người hoá”, nghĩa là cũng mang tâm hồn tính cách con người Thậm chí có cả ma, quỉ, thần tiên nữa
Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó chính là phư ng tiện c bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhà văn sáng t o nhân vật để thể hiện nhận thức Vì thế, nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì l ch sử nhất đ nh Nhân vật trong tác phẩm văn học
là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện của con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách
Ý nghĩa của nhân vật thể hiện ở khả năng biểu đ t của nó trong tác phẩm Mỗi nhân vật xuất hiện sẽ là một “tiếng nói” của nhà văn về con người, về cuộc đời Đọc một nhân vật ta không chỉ hiểu một số phận, một cuộc đời mà còn hiểu ý nghĩa cuộc đời đằng sau mỗi số phận đó Cho nên, không thể phán xét nhân vật như những con người thật ngoài đời, mà phải đánh giá ở những khái quát nghệ thuật mà
nó thể hiện Có như vậy mới xem xét nhân vật như là một hiện tượng thẩm mĩ chứ không phải như một hiện tượng xã hội học
Sức sống của nhân vật ngoài tính sinh động của sự miêu tả còn chính là ý nghĩa điển hình mà nó khái quát Những nhân vật xây dựng thành công và có sức sống lâu bền đều là những nhân vật có giá tr điển hình sâu sắc Đó là những nhân
Trang 26vật không ch u nằm yên trên trang sách mà đã bước từ trang sách ra giữa cuộc đời
Đó là những nhân vật đã làm cho tên tuổi các nhà văn trở thành bất tử
2.1 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai
Xuyên suốt hai tập truyện ngắn “Một mình ở Tokyo” và “Onkel yêu dấu” là hình tượng của những người phụ nữ dám sống vì tình yêu, một tình yêu trong sáng
và lãng m n…Tình yêu trong hai tập truyện không phải là triết lý mà là chân lý, một chân lý được chính những nhân vật gọi là cứu rỗi cuộc sống Vì duyên phận mà
đã gắn bó với một người chồng khô khan, gia trưởng, trong khi nỗi niềm của họ luôn khao khát hướng tới sắc màu d u dàng âu yếm của tình yêu Nhưng rồi, những cái phút giây ngoài chồng, ngoài vợ ấy cũng chẳng đem l i h nh phúc đích thực Những mẩu chuyện trong hai tập truyện của Trần Thuỳ Mai sẽ đưa người đọc đến những lắng sâu đồng cảm, sẻ chia với những thân phận tình yêu, những tâm sự sâu kín nhất, những góc khuất dù không lý giải được nhưng vẫn vô cùng huyền nhiệm của tình yêu
2.1.1 Nhân vật bi kịch
Nói đến bi k ch trong tác phẩm văn học hiện đ i là nói đến một tr ng huống tâm lí, một đặc điểm số phận con người của thời đ i Đó chính là tr ng huống mâu thuẫn đến cùng cực, là sự đau đớn, mất mát, là cảm giác bất mãn của con ngừời trong cuộc đời đầy biến động và phức t p
“Nhân vật bi k ch” được hiểu là tổng thể, phức hợp của những mâu thuẫn, xung đột, những nỗi đau không thể giải quyết, điều hoà trước tác động của hiện thực Nó là một tr ng huống tâm lí đầy mâu thuẫn của một con người cụ thể, số phận đau đớn, bất h nh của một con người cụ thể giữa cuộc sống đời thường
Bi k ch hầu như không xuất hiện trong văn học chính thống Việt nam
1945-1975 Luồng gió đổi mới đã đưa văn học về quỹ đ o phổ quát của nó: nghiền ngẫm nỗi đau thân phận con người Cùng với sự đổi mới m nh mẽ quan niệm nghệ thuật
về con người và hiện thực, các nhà văn không ngần ng i đi sâu vào những sắc thái muôn vẻ của nỗi buồn nhân thế, thể hiện cảm nhận sâu sắc về những mất mát của
Trang 27con người Trần Thuỳ Mai nói riêng và các nhà văn sau 1975 nói chung cũng không ngo i lệ
Nhân vật bi k ch là kiểu nhân vật phổ biến và chủ chốt trong hai tác phẩm truyện ngắn “Một mình ở Tokyo” và “Onkel yêu dấu” của Trần Thuỳ Mai Nữ nhà văn đặc biệt quan tâm đến bi k ch trong tình yêu, hôn nhân gia đình Đề tài về tình yêu, h nh phúc trong gia đình là mảng hiện thực khá sinh động Trần Thuỳ Mai đã nhìn nhận và lý giải nó theo những sắc thái khác nhau Nhân vật trong các tác phẩm đều được nếm trải hầu như tất cả những dư v khác nhau của tình yêu Ngọt ngào
có, cay đắng có, xót xa có Họ hiện lên trong tình yêu với nhiều cung bậc khác nhau
từ nhẹ d đến m nh mẽ, chủ động, già dặn, từng trải
Yêu là sự pha lẫn của dư v ngọt bùi và đắng cay Tình yêu như một liều thuốc xoa d u tâm hồn mỗi con người và giúp nuôi dưỡng những niềm tin, những động lực Để từ đó chúng ta biết yêu và biết hi sinh vì người mình yêu Nhưng không phải sự hi sinh nào cũng nhận được cái kết viên mãn Có những sự hi sinh, đánh đổi cho tình yêu nhưng cuối cùng cũng chỉ nhận l i bi k ch là sự phản bội sau ngần ấy thời gian vì nhau Nhân vật Tý trong truyện ngắn “Lên phố” thuộc tập truyện “Onkel yêu dấu” là một trong những điển hình cho bi k ch nói trên Tý - một
cô gái đáng thư ng cũng giống như bao nhiêu người khác, dành cả thời tuổi trẻ, hết lòng hy sinh vì người yêu, để rồi chỉ trong tích tắc mối tình nhiều năm gắn bó được thay thế nhanh chóng bằng người thứ ba Tình yêu bắt nguồn từ những chiếc bánh tiêu, từ sự giúp đỡ chân thành của Tý trong những ngày khó khăn Dũng học đ i học
và những hứa hẹn của Dũng trong những ngày đầu hai con người đồng hư ng gặp
l i nhau n i phố th bắt đầu những cảm xúc tình yêu với nhau Cứ tưởng những điều tốt đẹp ấy sẽ mang đến cái kết h nh phúc cho Tý, nhưng đâu ai biết trước được Dũng l i là con người bội b c đến thế Tý một nhân vật r i vào bi k ch tình yêu của chính mình, sau từng ấy năm bán bánh tiêu lấy tiền phụ giúp Dũng học đ i học đến
nỗi b người ta d ngh : “Ở ngoài làng họ xầm xì, nói mi vô đây buôn bán không
phải để nuôi em mà là nuôi thằng Dũng ăn học.” [6, tr.151] Sự hi sinh qua từng
năm tháng của Tý giành cho Dũng không sao kể hết Tý đã rất buồn khi nhìn Dũng
Trang 28gầy đi: “Dạo này Tý rất buồn Buồn vì Dũng càng ngày càng gầy rộc đi, râu mọc
lấm chấm đầy cằm không cạo Càng ngày càng thầm lặng Tý có gặng hỏi cũng chỉ lắc đầu, không hỏi Tý cố gặng hỏi cũng chỉ lắc đầu, không nói…” [6, tr.152] Tý
cũng đã từng h nh phúc phát hờn lên khi được Dũng hứa hẹn sẽ tiến tới hôn nhân:
“Thương thầm nhiều năm rồi, vậy mà giờ đây nghe Dũng nói Tý cứ thấy kiến bò râm ran khắp người.” [6, tr.151] Nhưng cô gái đáng thư ng ấy l i r i vào nỗi thất
vọng khi có người thứ ba xuất hiện là Kiều Nga - một cô gái có xuất thân khá giả
Khoảnh khắc cô nhận ra sự có mặt của người thứ ba tim cô như thắt l i: “Tý lặng
nghe, bất giác như có luồng hơi chạy khắp người, có hòn đá đè lên tim không sao nhấc lên nổi” [6, tr.152] Sau bao nhiêu quan tâm, lo lắng, cố gắng bư n chải vì
người mình yêu, Tý vẫn không giữ chân được chàng trai ấy Thứ mà cô gái đáng thư ng đó nhận l i chỉ là sự bội b c của người mình hết lòng yêu thư ng Đáp trả
l i sự thầm lặng hi sinh bao năm tháng của Tý với Dũng chỉ là n nghĩa: “Anh nhớ
ơn Tý cả đời, sẽ tìm cách trả ơn Tý cả đời.” [6, tr.153] Tý đã dùng thanh xuân của
mình để đánh đổi cho tình yêu, cô luôn hi sinh và tin tưởng rằng sẽ có kết thúc tốt đẹp cho câu chuyện tình ấy Nhưng sự chờ đợi không phải bao giờ cũng có kết quả
như ý muốn: “Ừ thì Tý chờ, nhưng anh đã không chờ nổi” [6, tr.153]
Tình yêu vốn dĩ là một thứ tình cảm đẹp thuần khiết, là sự gắn chặt giữa hai trái tim, hai tâm hồn đồng điệu, là sự ch u đựng, là cùng nhau đi qua những ngày giông bão cuộc đời, ấy thế mà, nhiều người vẫn không biết trân trọng từng khoảnh khắc quý giá ấy Để rồi dẫn tới những mâu thuẫn khó hàn gắn, sự phản bội lừa dối ngày một đánh mất đi người mình yêu thư ng B phản bội chính là một trong những bi k ch đáng thư ng nhất cho một chuyện tình
Là phụ nữ, ai chẳng mong muốn có một cuộc sống gia đình h nh phúc và bình an bên những người thân yêu, nhưng trong một xã hội, chẳng có gì là hoàn hảo vuông tròn Phụ nữ đ n thân sinh con và nuôi con không phải vì ai mà vì chính họ
và chắc chắn khi quyết đ nh sinh con, họ cũng xác đ nh trách nhiệm làm mẹ dù phải
đư ng đầu với vô vàn khó khăn vất vả Chấp nhận làm mẹ đ n thân, người phụ nữ
Trang 29phải ch u đựng đau đớn, khó khăn, áp lực dư luận xã hội gấp nhiều lần so với người khác
Nhân vật Thắm trong truyện ngắn “Oan gia ngõ hẹp” của tập truyện “Onkel yêu dấu” là một trong những điển hình cho bi k ch nói trên Mở đầu câu chuyện, tác giả đã cho người đọc thấy được sự nghèo khó, khổ cực, nỗi cam ch u của Thắm và cha mẹ Thắm khi có đứa con chửa hoang mà không chồng Năm ngoái, xã mới xây cho cái nhà tình thư ng, năm nay c n bão đi qua, nhà sập tan chỉ còn l i cái nền xi măng nứt nẻ Cha mẹ Thắm thì được người anh ruột cho trú dưới cái bếp Riêng Thắm thì không được vô nhà, thành thử Thắm không còn chỗ trú thân Bụng thì đã gần ngày đẻ Cũng may, c n lụt đã tấp về ngay trong sân một cái mui đò và nó trở thành chỗ nằm sau này của Thắm cùng với con Ngày chuyển bụng, Thắm lên tr m
xá sinh rồi về nằm trong “nhà đò” ai đầu mui, bác Mèn gái chất củi để chắn bớt gió Những hôm mưa nhiều, nước thì lênh láng dưới chân chõng, không gian thì
l nh ngắt, ướt nhẹt, nằng nặc mùi nước tiểu trẻ s sinh Thắm phải cố gắng ch u đựng, vì không ở nhà đò thì Thắm ở đâu? Trong xã hội bấy giờ, mọi người luôn kì
th , xa lánh, chửi mắng những người phụ nữ không có chồng mà có con: “Có điều
riêng con Thắm thì không được vô nhà, mụ vợ tôi nhất định không chịu…” [6,
tr.119], “Ở trong mui đò là đứa con gái chửa hoang, không ai cho vô nhà Mình
đem tiền tới hoá ra khuyến khích người ta chửa hoang à?” [6, tr.125] Chấp nhận
làm mẹ đ n thân, Thắm mặc nhiên chấp nhận mọi thứ Lý do vì sao Thắm l i có bầu? Thắm là một cô gái miền quê nông thôn, hiền lành, chất phát, khi lên thành phố, b gã đàn ông tên o dụ dỗ Tốt bụng tin tưởng về những lời hứa sẽ quay l i giúp đỡ nên giờ Thắm phải hứng ch u nỗi nhục cả về thể xác lẫn tinh thần Phải khẳng đ nh một điều rằng trong truyện ngắn này, nhân vật Thắm là điển hình cho số phận bi k ch, đau đớn, bất h nh của một kiếp phụ nữ bé mọn giữa đời thường Tác giả Trần Thuỳ Mai đã xây dựng tình huống truyện éo le giống như tên truyện là
“Oan gia ngõ hẹp” Tình huống này giúp Thắm gặp l i o Thế nhưng khi gặp l i
ch chỉ biết gào thét lên với biết bao uất ức tủi nhục mà mình phải ch u đựng chứ
không làm gì cả: “Chú nói cháu cứ về quê rồi chú thu xếp ra liền, sao bây giờ chứ
Trang 30mới ra?”, “Em đẻ, cực quá, nhục quá, cũng may là đẻ được thằng cu.” [6, tr.126]
Tưởng chừng Thắm sẽ bắt gã ta phải có trách nhiệm với mẹ con mình, thế nhưng
một lần nữa Thắm l i để hắn ra đi dễ dàng chỉ với lời một lời nói “Ông ấy hứa sẽ
quay lại, sẽ giúp đỡ…” [6, tr.127] Cả cuộc đời ch vẫn tin, vẫn hy vọng người đàn
ông đó sẽ quay l i giúp đỡ mẹ con ch , rồi ch khóc mãi, khóc no Qua truyện ngắn,
ta thấy bi k ch cuộc đời Thắm là do d i dột mà ra nhưng bi k ch càng trở nên thê thảm h n khi chính ch l i là người t o nên bi k ch cho mình
Bi k ch trong hôn nhân gia đình, tuy vậy, không phải lúc nào cũng do người đàn ông, người chồng gây ra, mà ở một khía c nh khác, chính nhân vật nữ, người
vợ là người t o ra bi k ch cho chính bản thân mình
Chẳng h n, truyện ngắn “Bức tranh cuối cùng” đã phản ánh bi k ch hôn nhân của rất nhiều gia đình trong xã hội hiện nay Nhân vật tôi là một người vợ suốt đời sống nhẫn nh n, vâng lời chồng, cưng con, chiều lòng được cả họ Vậy mà trong
cuộc sống hôn nhân gia đình ch l i không có được h nh phúc trọn vẹn: “Anh tẩy
chay tôi đến thế chỉ vì cái tội dạy con” [6, tr.51] Cuộc hôn nhân của ch trở nên
l nh nh t h n, hai vợ chồng ít nói với nhau, rồi hai vợ chồng ở riêng hai phòng suốt
6 năm Cuộc hôn nhân nào cũng đến vì tình yêu, nhưng muốn duy trì h nh phúc thì yếu tố tình dục có vai trò quyết đ nh nhất Là một người yêu chồng, tận tụy vì chồng, thế nhưng mỗi lúc chồng gần ch , chẳng hiểu sao một nỗi ghê sợ tự thâm
tâm làm ch chùn l i, như con ốc thu mình vào vỏ cứng: “Hồi mới cưới, mỗi lần ôm
tôi vào lòng anh thường trêu tôi, bảo tôi trên giường trông thật giống cô bé không thuộc bài bị gọi lên bục giảng Sau nhiều năm, mỗi lần cố thức đợi tôi, anh không còn nụ cười âu yếm chế giễu ấy nữa…” [6, tr.52] Biết rõ điều đó, nhưng ch không
thể nào thay đổi được bản thân mình Nguyên do đó đã làm nên bi k ch gia đình ch Chồng ch vì khát khao quan hệ vợ chồng nên đã tìm đến người phụ nữ khác và có con Người phụ nữ đó chính là nguồn cảm hứng sáng tác trong các tác phẩm của anh mà anh cất giữ trong căn phòng riêng đến tận khi anh ra đi Ch biết rõ chồng mình như thế nào nhưng bản thân ch vẫn luôn cố gắng dối lòng, lừa dối chính bản thân mình chỉ để giữ anh ở l i bên c nh mình Cuối cùng ch đau khổ hối hận khi
Trang 31người chồng ch ra đi và không bao giờ quay trở l i nữa: “Vậy là cuối cùng anh đã
quay về với tôi, không phải để sống mà để chết.” [6, tr.53]
Hằng trong “Chờ nhau ở cuối đường” cũng như Lan trong “Tàu ngầm xuyên
đ i dư ng” đều là những người thiếu phụ đẹp và quá mẫn cảm Họ có thể như người đời vẫn nói là vì duyên phận mà đã gắn bó với một người chồng khô khan, gia trưởng, trong khi nỗi niềm của họ là luôn khao khát hướng tới sắc màu của sự
d u dàng âu yếm của tình yêu Nhưng rồi những phút giây ngoài vợ, ngoài chồng ấy cũng chẳng thể đem l i h nh phúc đích thực cho một cái tôi đang tuyệt đối hoá và thần thánh hoá tình yêu Miên trong “Lời hứa” cũng đang h nh phúc chờ đón người yêu trở về làm đám cưới, đã như đột ngột r i xuống vực thẳm khi hay tin người tình
âm thầm chuẩn b cưới cô gái khác trẻ đẹp h n ay trong “Vẽ chân trời”, cô gái ngây th Nhuỵ tưởng chừng như tìm được h nh phúc bất ngờ với chàng trai tây hào hoa, giàu có để rồi ngậm ngùi nhìn chồng mình quan hệ công khai với một cô gái bản xứ khác Quả thật muôn dặm đường đời cứ như cuốn họ đi trong cõi mê, cuốn
họ vào dòng chảy dường như bất tận, để đến khi nhìn l i bến bờ đã qua; cái h nh phúc mong manh bỗng chốc cũng r i vào hư không
Có thể nói, bằng việc t o ra những nhân vật phụ nữ đắm chìm trong bi k ch, mười hai truyện ngắn trong “Một mình ở Tokyo”, cũng giống như “Onkel yêu dấu”,đều nói được rất nhiều và rất hay về những mất mát, hụt hẫng của con người giữa cuộc sống hiện đ i xô bồ, vội vã
2.1.2 Nhân vật kiếm tìm hạnh phúc
“Nhân vật kiếm tìm h nh phúc” có thể hiểu là một kiểu nhân vật đang trên
con đường tìm kiếm tình yêu, h nh phúc riêng cho bản thân Trên con đường tìm kiếm ấy, nhân vật có thể cô đ n, l c lõng, b v một mình, nhưng với một quyết tâm, ý chí, một khát khao m nh mẽ về h nh phúc thì họ có thể chấp nhận mọi khó khăn, thử thách của số mệnh, để đ t được h nh phúc viên mãn
Trong văn học, không ít lần chúng ta bắt gặp những nhân vật kiếm tìm Đó
có thể là một quá trình kiếm tìm chân lí, kiếm tìm h nh phúc cho bản thân H nh phúc là điều mà bất cứ ai trong chúng ta đều theo đuổi, bằng cách này hay cách
Trang 32khác Có người coi thành công là h nh phúc, có người chọn sự giàu có để h nh phúc hay có người đ n giản chỉ tìm kiếm sự bình yên là h nh phúc.Tất cả những cuộc hành trình ấy đều mưu cầu những giá tr chân lý tự thân Bước sang văn học hậu hiện đ i, những kiểu kiếm tìm của nhân vật l i mang những sắc diện mới, đa
d ng, phong phú, phức t p và nhiều chiều h n Đó là những nhân vật kiếm tìm tình
khiến con người ta buồn vì nó và h nh phúc cũng vì nó Tất cả kiểu nhân vật kiếm tìm tình yêu, h nh phúc, đều có thể bắt gặp trong những tác phẩm của nữ nhà văn Trần Thuỳ Mai
Đến với truyện ngắn “Một mình ở Tokyo”, ta có thể thấy hình ảnh nhân vật khát khao tìm kiếm h nh phúc được tác giả Trần Thùy Mai khắc họa một cách rõ nét và đặc sắc Từ đó làm cho chúng ta phải suy ngẫm, chiêm nghiệm về những gì
mà ta đang có, về những h nh phúc tuy giản đ n trong cuộc sống hằng ngày nhưng
ai ai cũng đều muốn có được “Một mình ở Tokyo” là câu chuyện kể về một chàng bác sĩ trẻ lặn lội đi tìm người con gái Nhật Bản trong mộng của mình để rồi nhận ra
cô gái là người phụ nữ đã có gia đình, nhưng l i sống cô đ n giữa thành phố công nghiệp rộng lớn, trong ngôi nhà đẹp đẽ tiện nghi Cô gái trong truyện ngắn này có tên là Kyoko – một nhân viên làm ở văn phòng Japan Airline Kyoko mắc căn bệnh
“ ystérie”, “một căn bệnh chỉ có ở phụ nữ, nó là bệnh mà không phải là bệnh, bởi
không có một nguyên nhân sinh học nào cả Nó là sự bộc phát của những hụt hẫng nội tâm Nó làm cho thể xác bỗng nhiên phải chịu rất oan uổng cái gánh nặng quá sức của tinh thần” [5, tr.23] Tuy đã có chồng và một đứa con nhưng Kyoko luôn
cảm thấy “lúc nào em cũng chỉ có một mình” [5, tr.32] Mặc dù sống trong ngôi nhà
ấm cúng, tiện nghi, hai vợ chồng đều xinh đẹp, con cái m nh khỏe, công việc tốt, tất
cả điều kiện đầy đủ, vậy mà họ không thể nào h nh phúc Với nỗi mệt mỏi nhiều ngày tích tụ, ngày nào cũng vậy, sáng đi, chiều về, đón con, đi chợ, nấu ăn, đêm đến ngồi ủi từng chiếc áo, từng cái cà v t cho chồng, đêm khuya chờ chồng về trong c n buồn ngủ trĩu nặng trên mi mắt, nỗi mệt mỏi làm nàng ngủ không yên giấc, nhưng sáng mai nhất đ nh sẽ phải cười rất tư i ở văn phòng Japan Airline…Bao nhiêu áp
Trang 33lực dồn lên vai một nhân viên công sở, cộng với gánh bổn phận của một người vợ Nhật kèm theo chuyện vợ chồng cũng không mấy mặn mà, hầu như cả năm thì cũng chỉ chung đụng có vài lần, bởi vì sau mỗi ngày đi làm về ai cũng đều mệt và chỉ muốn ngủ mà thôi, đã khiến cho người phụ nữ tội nghiệp ấy luôn khát khao kiếm tìm niềm h nh phúc của riêng mình Với một người phụ nữ, họ luôn khao khát một tình yêu, một gia đình ấm êm, h nh phúc và nhân vật Kyoko trong truyện ngắn
“Một mình ở Tokyo” cũng không phải là ngo i lệ, cô muốn có một người quan tâm,
sẻ chia, chăm sóc và đặc biệt cô cần có một cuộc sống gia đình h nh phúc nhưng lúc nào cô cũng cảm thấy chỉ có một mình Chính vì vậy, Kyoko đã qua l i với chàng bác sĩ trẻ bởi vì anh ta luôn quan tâm, ân cần, chăm sóc cô và giúp cho cô cảm thấy thoải mái, dễ ch u; nhất là mỗi khi chàng bác sĩ trẻ xoa trán, cằm và mũi – day ấn các huyệt minh đường, thái dư ng, nhân trung cho cô để chữa căn bệnh Hystérie mà Kyoko mắc phải Mặc dù không có hành động nào đi quá giới h n giữa Kyoko và chàng bác sĩ trẻ nhưng Kyoko đã ngo i tình trong tư tưởng, cô cảm thấy chàng bác sĩ quan trọng đối với mình, cảm thấy dễ ch u mỗi khi được chàng xoa trán và năm nào cô cũng đến Việt Nam để gặp anh ta Qua đó cho thấy, nhân vật người phụ nữ Kyoko trong truyện ngắn này suy cho cùng cũng chỉ vì muốn kiếm tìm h nh phúc cho bản thân mình mà đã phản bội chồng mình trong tư tưởng và tiềm thức Điều đó làm cho ta cảm thấy nhân vật này vừa đáng thư ng l i vừa đáng trách
Ngoài “Một mình ở Tokyo” ra thì “Chiếc phao cứu sinh” cũng là một trong những truyện ngắn thể hiện được khát khao tìm kiếm h nh phúc của các nhân vật Đến với “Chiếc phao cứu sinh” ta có thể thấy được sự giả t o trong cuộc sống thượng lưu của một đôi vợ chồng khá đặc biệt và chênh lệch khoảng cách về tuổi
tác Người chồng là một người tài giỏi, giàu có nhưng l i hom hem: “Mái tóc điểm
bạc, lưng đã hơi còng, xem chừng ông phải lớn hơn vợ đến hai mươi tuổi” [5,
tr.84] Bởi vì cũng đã nhiều tuổi và mắc phải căn bệnh khớp nên dáng đi của ông
ân h i khập khiễng Còn người vợ thì xinh đẹp: “Ở tuổi bốn mươi da mặt nàng
vẫn trắng hồng, chưa thoáng một nếp nhăn Ai nhìn kỹ lắm mới thấy những vết hằn
Trang 34bắt đầu hiện ra quanh cổ, thường được che rất khéo bởi những chuỗi hạt trang nhã” [5, tr.84] Và mặc dù không có tài năng theo như nhân vật Diêu – một họa sĩ
giỏi nhận xét, nhưng Trúc Ty l i luôn m được trở thành họa sĩ nổi tiếng Đặc biệt, trong truyện đầy rẫy những điều giả dối: tài năng giả, danh tiếng giả, một cuộc sống giả t o với những mối quan hệ giữa con người đều giả Thế nhưng, tình yêu của đôi
vợ chồng l i là thực - tình yêu đó đã giúp người chồng bao dung cho sự hám danh của vợ và người vợ đã biết tỉnh ngộ đúng lúc để không sa vào chiếc bẫy danh vọng
do một tay họa sĩ láu lỉnh bày ra Tình yêu là một cái gì đó mà chúng ta không thể lí giải được nhưng vì nó mà chúng ta - hay nói một cách chính xác là những người đang yêu, luôn luôn muốn làm tất cả cho người mình yêu, muốn đem l i những gì tốt đẹp nhất cho người đó Các nhân vật trong truyện ngắn “Chiếc phao cứu sinh” cũng không ngo i lệ, họ sẵn sàng hy sinh, dành những điều tốt đẹp cho người mình yêu bằng nhiều cách khác nhau mặc dù đôi khi họ biết điều đó là sai trái Không một ai có thể để người phụ nữ của mình qua l i với một người đàn ông khác, nhất là khi người đó còn trẻ, đẹp trai và phong độ h n mình Nhưng người chồng trong
“Chiếc phao cứu sinh” đã chấp nhận để tên họa sĩ trẻ d y vợ mình học vẽ Không những thế ông Hân còn ch u bỏ ra một số tiền lớn để cho vợ ông đi đến Hồng Kông cùng gã, chỉ vì Trúc Ty muốn được tới đó Mặc dù ông ân đã biết, biết rõ là đằng
khác: “Vợ tôi có ảo tưởng về tài năng của mình – Thật ra cô ấy cũng có tài năng,
nhưng người ta đã thổi phồng, làm cho cô ấy cuối cùng không nhận ra mình là ai nữa” [5, tr.96] Tất cả cũng chỉ xuất phát từ tình yêu mà ông dành cho vợ và ông
sẵn sàng làm tất cả những gì để đem l i niềm vui và h nh phúc cho cô ấy Không chỉ một mình người chồng biết hi sinh tất cả để đem l i h nh phúc cho người mình yêu, mà người vợ ở trong “Chiếc phao cứu sinh” cũng đã thể hiện tình yêu của mình dành cho chồng bằng cách cố gắng kiếm tìm danh tiếng để được xứng đáng
với ông: “chuyện vẽ vời sáng tác, chẳng qua là em tự đánh bóng mình một chút để
tỏ ra xứng đáng với ông ấy mà thôi” [5, tr.99], để họ khỏi b xã hội chê cười Sau
khi nhận được tin bệnh khớp của chồng trở nặng thì Trúc Ty cũng đã hiểu ra hội họa với cô giờ đây không quan trọng, cô cũng không cần phải đánh bóng tên tuổi
Trang 35của mình nữa mà sẽ dành thời gian để chăm sóc chồng của mình, vì ông chính là
chiếc phao cứu sinh của cuộc đời cô: “Mười bảy năm nay sống với em, suốt ngày
ông ấy lăn lộn ngoài thương trường, bao nhiêu lo nghĩ hằn lên mặt, vậy mà về nhà thấy vợ là lập tức tươi cười, sợ vợ thấy mặt mình mà lo lắng Ông mà nghĩ em cần
gì thì dù hy sinh mấy ông cũng tìm kiếm cho em bằng được Khi nhỏ em không có tình thương của cha, lớn lên đi hát ở vũ trường, lấy chồng rủi ro gặp người chồng
vũ phu cờ bạc Ông đã vớt em lên từ cảnh khốn cùng, rồi đem tới cho em đủ thứ, em sống hết kiếp này, sống thêm vài kiếp nữa cũng không thể gặp ai thương em như ông Ông chính là chiếc phao cứu sinh của em ” [5, tr.101] Trong truyện ngắn
này, mặc dù cả người vợ và người chồng đều biết rõ những gì mà mình làm đôi khi đều là giả dối, giả t o nhưng tất cả đều xuất phát từ tình yêu mà họ dành cho nhau,
từ khao khát tìm kiếm h nh phúc của mỗi người
Từ chân dung của những nhân vật nói trên, Trần Thùy Mai khiến cho người đọc vỡ lẽ rằng, trong mỗi người chúng ta ai cũng đều có niềm m ước, khát khao riêng nhưng mãnh liệt nhất vẫn là khát khao tìm kiếm h nh phúc
2.1.3 Nhân vật tha hoá
“Nhân vật tha hoá” là khái niệm chỉ hiện tượng “con người biến chất xấu
đi”, đánh mất đi cái tôi bản nguyên tốt đẹp vốn có của mình, dưới tác động của môi trường Con người là một thực thể sinh học – xã hội, vì vậy trong con người bao gồm hai mặt thống nhất hài hoà nhau: mặt tự nhiên và mặt xã hội Để phát triển hoàn thiện con người phải chú ý hai mặt đó Nếu quá thiên lệch về một trong hai mặt này tức là phá vỡ sự cân bằng trong quan hệ giữa chúng, dẫn đến nguy c tha hoá con người Khi phần tự nhiên lấn át phần xã hội thì con người sẽ sống theo bản năng thấp hèn, mộng m , thú tính Ngược l i, quá coi trọng phần xã hội, coi nhẹ phần tự nhiên, con người sẽ biến thành cỗ máy vô hồn, duy lý Thực tế l ch sử phát triển của nhân lo i cho thấy xã hội càng có nhiều biến động phức t p thì nguy c con người biến thành cái khác, thành sinh vật khác càng lớn Con người sẽ không còn là mình, sẽ gây nên bi k ch cho xã hội, cho người khác và cho chính bản thân mình
Trang 36Trong nền văn học thế giới, nhân vật tha hoá đã xuất hiện từ rất lâu, có nhiều nhân vật sống mãi, gắn liền với tên tuổi nhà văn như Juylieng Xoren trong “Đỏ và Đen” của Xtangdan, Rebecca trong “Hội chợ phù hoa” của M Thacore, Raxtinac trong “Tấn trò đời” của Banzac… Ở Việt Nam, nhân vật tha hoá xuất hiện cùng với trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đo n 1930 – 1945, với các tên tuổi như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… Từ năm 1945 đến 1975, các nhà văn không có điều kiện để xây dựng lo i nhân vật này Sau 1975, nhất là giai đo n đổi mới, nhân vật tha hoá xuất hiện trở l i ở sáng tác của nhiều cây bút văn xuôi, trong đó có Trần Thuỳ Mai
Khảo sát tác phẩm của các nhà văn viết truyện ngắn sau 1975, ta thấy số lượng lo i nhân vật này khá nhiều Đây cũng là dụng ý của nhà văn Nhân vật tha hoá trong các truyện ngắn xuất hiện ở nhiều thành phần xã hội, nhiều tầng lớp, giai cấp khác nhau với nhiều tầng bậc cấp độ tha hoá Nhà văn liên tục đặt nhân vật trong những tình huống đầy cám dỗ, sa ngã trong ranh giới mong manh, để từ đó phát hiện ra bản chất của nhân vật Có lo i tha hoá do chính nhân vật , có lo i tha hoá do tình thế đưa l i, có lo i do hoàn cảnh bắt buộc, tất cả được gọi chung là nhân vật tự tha hoá và nhân vật b tha hoá
Nhân vật tha hóa trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai cũng không nằm ngoài khuynh hướng nói trên Cái nhìn hiện thực đa chiều giúp nhà văn khám phá đời sống con người, bao gồm cả quy luật tất yếu của đời sống cùng với những sự ngẫu nhiên xảy ra, mà người ta hay gọi là may rủi Không phải ai chọn chồng cũng đúng, không phải ai kết hôn đều có một cuộc sống đáng m ước Những khám phá của nhà văn Trần Thuỳ Mai trong truyện ngắn “Tàu ngầm xuyên đ i dư ng” đã phản ánh thực tr ng cuộc sống hôn nhân của đa số các cặp vợ chồng trong xã hội, qua đó nói lên hiện tượng con người buông xuôi, mặc nhiên chấp nhận nghững ngh ch lí của đời sống trong khi đáng lẽ phải từ chối nó, chống l i nó, vùng lên thoát ra khỏi nó
H t nhân của truyện ngắn “Tàu ngầm xuyên đ i dư ng” là câu chuyện về người chồng khô khan, gia trưởng, không yêu thư ng, chăm sóc, quan tâm tới
Trang 37người vợ của mình là Lan Đối với anh ta, Lan chỉ là người vợ hợp pháp trên giấy tờ
và là cỗ máy làm tình để thoả mãn dục vọng, khoái cảm trong những lúc say Lan
đã từng kể “như anh vẫn thường nói, tôi là tấm nệm mousse êm ái và đảm bảo
nhất” [6, tr.6] Lan thường xuyên b kéo chân gọi dậy vào mỗi lần chồng nhậu say
về khuya Sau khi đã thoả mãn dục vọng, anh chồng đã ngủ, h i rượu đã toát ra hết qua mồ hôi và h i thở, ánh đèn lờ mờ cho Lan thấy khuôn mặt anh ta giãn ra, miệng cười thoả mãn, trông như “đứa bé bú no” Cuộc sống vợ chồng Lan chỉ có nhiêu đó,
h nh phúc duy trì chỉ vì bản năng tính dục, không một chút yêu thư ng, không một
sự quan tâm chăm sóc dù là nhỏ nhất Người chồng dần biến Lan thành một cỗ máy làm tình chứ không phải là con người Anh ta luôn đối xử, tỏ thái độ l nh nh t với Lan, không bao giờ có những hành động ngọt ngào, quan tâm chăm sóc vợ mình khi
ốm, khi đau Gã nhà văn trong tác phẩm, là người Lan hằng đêm mong nhớ là một
gã với mái tóc đã muối tiêu ở độ tuổi 60, khác với những hình ảnh mà Lan đã tưởng tượng Gã ta chuyên tìm tới những người phụ nữ với mục đích thoả mãn khát khao tình dục Với người phụ nữ nào, ông ta cũng cố hết sức nhưng không làm được công đo n cuối cùng của cuộc yêu đư ng Cứ với một người tình mới, ông ta l i có một hứng khởi mới, ông ta hy vọng phép l sẽ đến nhưng rồi phút cuối đành phải chấp nhận sự thật Ban đầu thì hào hoa, d u dàng, ngon ngọt, nhưng khi không đ t được mục đích gã ta thường lầm lì, không d u dàng nữa, không âu yếm nữa
Cùng một môtip như “Tàu ngầm xuyên đ i dư ng”, trong truyện “Một mình
ở Tokyo”, h t nhân gây nên bi k ch gia đình của người phụ nữ chính là người chồng
l nh nh t, thờ , không biết quan tâm chăm sóc, yêu thư ng vợ Giống như Lan, Kyoko cũng r i vào bi k ch tư ng tự Kyoko vì phải sống chung với một người chồng gia trưởng, phải ch u nhiều áp lực, nên khiến cô cảm thấy rất áp lực giữa bộn
bề mọi thứ, và mắc bệnh do hậu quả của những chấn thư ng tâm lý nặng nề “Suchi
bắt tay tôi rất lịch sự, cười vô tư Anh ta vào sau một góc cởi áo khoác, cởi áo vét
Dù đứng bên cái móc áo nhưng anh vẫn ném các thứ vừa thay ra xuống đất trước khi vào phòng tắm” [5, tr.30] Kyoko đến bên, cúi xuống nhặt các thứ và treo ngay
ngắn lên móc Nhìn dáng nàng cúi xuống nhặt áo cho chồng cảm giác giống như
Trang 38nàng đang máng vác cái gì đó rất nặng, rất nặng, mỗi ngày trong cuộc đời Qua câu chuyện ta thấy đa phần những bi k ch trong gia đình chủ yếu do những người đàn ông mà ra Xã hội khiến họ tha hoá đi về nhân tính
Khác với những người phụ nữ khác trong tập truyện “Onkel yêu dấu”, Diễm
- người phụ nữ thành đ t trong “Cố nhân” tưởng chừng như luôn có những người đàn ông đứng sau lưng che chở, nâng đỡ Nhưng tình yêu và h nh phúc l i thực sự không đến với cô trên con đường mà không biết cô đang đi hay đang ch y Một con đường quá dài và đ n côi trong ánh sáng của tiền b c và danh vọng Diễm là một cô trưởng phòng giao d ch của một công ty đang trên đà phá sản Diễm xinh đẹp, tuổi
tr c ba mư i, chân dài đẹp cỡ hoa hậu, có dáng ngoan hiền và th d i của một nhà
th , ánh mắt cứ l c loài như con nai vàng ng ngác Nhờ người trợ lý mà Diễm và ông gặp nhau Ông là người đã có vợ, hết mực yêu thư ng vợ mình và là một quan chức cấp cao, tuyệt đối không bao giờ có ý đ nh sa vào bẫy tình của những bóng hồng khác Nhưng mọi chuyện chỉ khác đi khi ông gặp Diễm Nàng xuất hiện trong cuộc đời ông, vào những năm đầu 90, khi cuộc sống của ông đang bung ra, quan niệm về cách sống cũng khác đi Đấy cũng là thời điểm khó khăn trong cuộc sống
vợ chồng Vợ ông ta đang qua khỏi tuổi 50 và l i đang vào thời kỳ mãn kinh với bao trục trặc về c thể Hai vợ chồng bắt đầu ngủ riêng, chuyện gần gũi nhau ngày càng thưa Dù sao đi nữa, ông vẫn có bản năng của một người đàn ông, nên vấn đề sinh lý, ham muốn thoả mãn tình dục luôn cháy bỏng trong ông Diễm may mắn bước vào cuộc đời ông, được ông giúp đỡ về mọi mặt trong cuộc sống, giúp công ty Diễm đang trên đà phá sản hoat động bình thường Diễm chấp nhận qua l i, làm người tình bé nhỏ, đáp ứng mọi điều kiện ông yêu cầu trong suốt một khoảng thời gian dài Cái Diễm muốn chính là cái danh phận hiện t i của vợ ông, lâu nay lúc
nào nàng cũng thỏ thẻ với ông về việc ly d vợ: “Anh định biến tôi thành vợ bé hay
sao? Hay tệ hơn nữa là gái bao cấp của anh? Anh nói thẳng một lần đi, anh có ly dị được không, có cưới tôi làm vợ được không?” [6, tr.90] Qua câu chuyện này, ta
thấy Diễm vừa là một cô gái vừa thông minh, xinh đẹp, l i vừa ghê gớm Là người thành đ t nên cô luôn đặt lợi ích của bản thân lên trước tình yêu Sau h n ba tháng
Trang 39chia tay với ông, ông gặp l i Diễm trong một buổi tiếp tân ở Sài Gòn, nàng đang ngồi với ông Bộ trưởng Đi qua cuộc đời ông Bộ trưởng không lâu nàng l i đến với người đàn ông khác Cứ một người ra khỏi đời Diễm thì Diễm l i bước lên một cấp quan hệ cao h n, thế lực h n Gần như trên con đường sự nghiệp công danh, tiền tài
và danh vọng, Diễm đã xếp những xác đàn ông theo hình chóp nón kim tự tháp để làm bậc thang đi lên Suốt cuộc đời Diễm cứ vậy, cứ làm gái bao cao cấp, phục vụ cho hết ông này đến ông khác để đ t được danh vọng và thỏa mãn niềm khát khao quyền lực Mặc dù có tiền, có danh vọng, có tiền b c nhưng rốt cuộc nàng vẫn không thể bao giờ tìm thấy cho mình một tình yêu chính đáng Không thực lòng với tình yêu và lẽ đời thì suốt cả một đời Diễm sẽ chẳng bao giờ tìm được tình yêu Câu chuyện khiến người đọc cảm thấy xót xa cho số phận của nhân vật Diễm Hoá ra có những lúc con người có tất cả mọi thứ, mua được tất cả mọi thứ, thế nhưng l i không thể có được h nh phúc Tiền b c cho ta nhiều thứ nhưng l i lấy đi của ta một
số thứ để khiến cuộc đời ta không trọn vẹn
Trong “Oan gia ngõ hẹp”, o xuất hiện là một người tốt, công việc của ông
là trao quà từ thiện cho những hộ dân nghèo C n lụt đi qua, dấu vết của thiên tai hiện rõ, một xã có hai nhà tình thư ng mà cả hai đều đổ sập Thấy thư ng cho hoàn cảnh cũng như cảm động trước vẻ ngỡ ngàng buồn bã của cặp vợ chồng thằng Rù, ông thò tay vào túi, có sẵn ít tiền cồm cộm trong ấy, ông rút ra, bước đến bên cô vợ:
“Tiền của công ty trao tặng phải giao cho xã để xây nhà lại, còn đây tôi có chút tiền riêng, chị cất mà mua đồ ăn cho cháu.” [6, tr.123] ành động ấy thật tốt, thật
đáng ngưỡng mộ nhưng nhìn vậy mà không phải vậy, tất cả việc làm của H o chỉ là
để ông diễn trước ống kính máy quay: “Máy quay phim rè rè, đèn chiếu loá lên,
ông Hạo nhanh chóng thực hiện động tác” [6, tr.122] Mọi chuyện chỉ vỡ lỡ ra khi
ông H o vô tình gặp l i Thắm, người con gái đã b ông dụ dỗ để rồi phải ôm bụng mang d chửa về quê Đúng là “Oan gia ngõ hẹp”, tưởng đã tránh được trách nhiệm với Thắm nhưng ông l i phải gặp cô t i đây Với sự khôn lanh, ông ta l i lợi dụng
sự tốt bụng của cô gái để trốn lần nữa, thoái bỏ trách nhiệm và cũng không có ý
đ nh quay l i giúp đỡ mẹ con Thắm Hay hai gã đàn ông trong “Lên phố” và “Chờ
Trang 40nhau ở cuối đường” cũng là hai người đ i diện cho kiểu nhân vật b xã hội tha hoá khi bỏ r i những giá tr hiện t i, bỏ r i những người yêu thư ng mình chỉ để ch y theo ánh sáng của tiền tài và danh vọng
Qua các câu chuyện, với các nhân vật b tha hóa và tự tha hóa, Trần Thuỳ Mai đã lật mặt một bộ phận con người trong xã hội sống giả dối, đ o đức giả, mất nhân tính, thiếu tình người Họ xuất hiện nhiều trong truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai, làm thành hệ thống, với những cấp độ sắc thái đậm nh t khác nhau Những suy nghĩ, hành động, những toan tính của họ nhiều lúc khiến người đọc không khỏi kinh hãi, bàng hoàng, xót xa Thật vậy, bi k ch tha hoá đã, đang và sẽ trở thành bi k ch nhức nhối nhất của con người thời hiện đ i
2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
2.2.1 Tạo dựng tình huống truyện
Vấn đề tình huống đã được giới nghiên cứu quan tâm từ rất sớm Thế kỷ thứ XIX nhà triết học, mỹ học lỗi l c người Đức Hêghen (1770 – 1831), trong công trình Triết học về Mỹ học đã dành nhiều trang bàn về tình huống trong nghệ thuật
Tình huống chính là t o hành động cho nhân vật của mình Các nhà văn coi trọng việc lựa chọn tình huống đặc thù cho các nhân vật Các tình huống truyện không mở ra cái thế, thúc đẩy hành động thông thường cho nhân vật phát triển mà nhằm thúc đẩy một hành động khác – hành động tâm lý Tóm l i, tình huống là cái
“khoảnh khắc cốt yếu”, khi nhân vật đặt trong hoàn cảnh đó, nhất đ nh phải bộc lộ tính cách chủ yếu của mình, tính cách ấy chi phối cách sống, cách nghĩ, cách ứng
xử, đường đi nước bước và cả số phận của cuộc đời mình
Trong các truyện ngắn, Trần Thuỳ Mai đã xây dựng một thế giới nhân vật có tính cách, số phận riêng khá độc đáo Quả thật, nhân vật của Trần Thuỳ Mai luôn gây cho chúng ta day dứt, ám ảnh khi đọc xong tác phẩm Phần lớn những nhân vật trong tác phẩm của ch đều là những kiếp người bình thường nhỏ bé Trần Thuỳ Mai đặt họ trong các tình huống “có vấn đề” để các nhân vật tự bộc lộ bản chất, tính cách của mình Nếu coi tình huống là một sự kiện có ý nghĩa bộc lộ mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, bộc lộ phẩm chất, tính cách nhân vật thì truyện ngắn Trần