1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận nghiên cứu môn triết học về con người

26 513 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 87,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

c Quan niệm về con người của triết học phương Tây thời Phục Hưng – cận đại  Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm - Bêcơn: Con người là sản phẩm của tự nhiên, có thể xác và linh hồn đều được

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CAO HỌC KHÓA 25

TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU MÔN HỌC: TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI: TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI

GVHD: TS BÙI VĂN MƯA

LỚP KẾ TOÁN TÀI CHÍNH TỐI T3 – B118 DANH SÁCH NHÓM :

7701251045A Trần Thị Trang

7701250702A Trương Nhất Nam

7701250766A Lê Trần Huỳnh Như

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG I: KHÁI LƯỢC CÁC QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ .2 1. Quan niệm triết học phương Đông về con người 2

2. Quan niệm triết học phương Tây trước Mác về con người 3

3. Quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học ngoài mácxít đương đại 6

CHƯƠNG II: QUAN NIỆM TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ CON NGƯỜI 6

1. Khái niệm về con người 6

2. Các phương diện tiếp cận nguồn gốc, bản chất con người 7

CHƯƠNG III: SỰ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG - PHƯƠNG TÂY 12

1. Sự khác biệt về tính minh bạch trong việc nhìn nhận và đánh giá về thế giới xung quanh 12

2. Sự khác biệt phương thức tư duy và văn hóa ứng xử 12

3. Sự khác biệt về chủ thể văn hóa 17

4. Sự khác biệt về tôn giáo và đức tin 18

CHƯƠNG IV: ĐIỂM MẠNH - ĐIỂM YẾU CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM 18

1. Điểm mạnh 19

2. Điểm yếu – Những thói hư tật xấu của người Việt Nam 20

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

CHƯƠNG I: KHÁI LƯỢC CÁC QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ

1. Quan niệm triết học phương Đông về con người

Một trong những vấn đề trọng tâm của triết học phương Đông là vấn đề con người Triết học phương Đông khi bàn về con người thường đi sâu vào các vấn đề nguồn gốc, bản chất con người để tìm ra con đường, phương pháp giải phóng con người

a) Quan niệm về con người của triết học Ấn Độ

- Phật giáo cho rằng, bản chất thế giới là “không” “Không” vừa tĩnh lặng, trống rỗng lại vừa xáo động và nhân đôi, từ đây sinh ra vạn vật và con người Con người là “tự kỉ nhân quả” mà thành chứ không phải do thượng đế hay Brahman sinh ra Con người được cấu thành bởi ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức), đó là sự phối hợp của danh (tinh thần) và sắc (vật chất) Thế giới là “vô thường” còn con người là “vô ngã”, nhưng do con người

“vô minh” nên đã không hiểu được điều đó Do vậy, “đời là bể khổ”, để thoát khổ thì con người phải đạt đến Niết bàn bằng cách diệt trừ dục vọng, khắc phục vô minh, từ bỏ tham, sân, si Muốn vậy, con người phải tự giác thực hiện “bát chánh đạo”, “tam học”, “lục độ”, phải hiểu biết “tứ diệu đế” …

- Triết học Vadanta quan niệm, linh hồn con người là hiện thân của tinh thần vũ trụ tối cao (Brahman) trong thể xác Để giải thoát cho linh hồn con người khỏi thể xác để trở về hòa nhập với tinh thần vũ trụ tối cao, con người cần phải hết lòng tu luyện, suy tư, chiêm nghiệm nội tâm, thực nghiệm tâm linh để nhận ra chân bản của mình, khi đó linh hồn cá thể sẽ trở về hòa nhập với linh hồn vũ trụ

- Phái Lôkayata cho rằng, bốn yếu tố (đất, nước, lửa, gió) là bản nguyên vật chất từ đó sinh

ra thế giới vạn vật và con người Kể cả ý thức, lý tính và các giác quan của con người cũng xuất hiện do sự kết hợp của các nguyên tử mà thành Con người là thân thể có ý thức, lý trí là thuộc tính của thân thể, tinh thần và lý trí của con người không tồn tại tách rời với thân thể Sau khi con người chết, các nguyên tử sẽ tan ra thành các nguyên tố Tuy còn thô sơ, mộc mạc nhưng quan điểm duy vật này đã thể hiện tư tưởng tiến bộ về con người trong triết học phương Đông

b) Quan niệm về con người của triết học Trung Quốc

- Triết học Nho giáo cho rằng, Trời là một lực lượng thần bí đã sinh ra con người và vạn vật; con người cũng như vạn vật chịu sự chi phối của mệnh trời Con người là một tạo thể

Trang 4

đạo đức, muốn sống tốt để trở thành người quân tử, con người phải trau dồi phẩm chất đạo đức, phải hiểu và làm theo thiên mệnh:

• Khổng Tử cho rằng, “tính tương cận, tập tương viễn”, tức là con người

ta khi mới sinh ra bản tính gần nhau khi lớn lên, do phong tục tập quán

xã hội nên xa nhau

• Mạnh Tử cho rằng, bản tính của con người là thiện “nhân chi sơ tính bản thiện”

• Tuân Tử thì cho rằng bản tính con người khi sinh ra đã là ác…

- Phái Mạnh Gia cho rằng, không có “thiên mệnh” mà chỉ có “thiên ý” – “kiêm ái”, nên con người phải sống hợp với “thiên ý” (phải yêu nhau) Nếu thuận theo ý trời, con người

sẽ được giàu sang, trường thọ; nếu nỗ lực làm việc và thực hành tiết kiệm, con người sẽ

no đủ và ngược lại Trong cuộc sống, con người không chỉ thực hành kiêm ái , mà đồng thời phải thực hành thượng đồng, thượng hiền…

- Trường phái Pháp gia cho rằng, con người sinh ra vốn đã có sẵn lòng tham dục, tư lợi; mọi quan hệ xã hội đều được xây dựng trên cơ sở tính toán lợi ích cá nhân Vì thế, người cai trị phải biết căn cứ vào tâm lý tránh hại, cầu lợi, vị kỷ của con người để định ra pháp luật (thưởng, phạt) nhằm duy trì trật tự xã hội

2. Quan niệm triết học phương Tây trước Mác về con người

Điểm nổi bật của triết học phương Tây là tập trung mọi cố gắng để nghiên cứu con người, làm tăng thêm sức mạnh để nghiên cứu và chinh phục thế giới khách quan Do đó, triết học phương Tây tập trung nghiên cứu con người một cách khá toàn diện và đặc biệt

đề cao con người, coi con người là trung tâm của vũ trụ, là “thước đo của vạn vật”; chú ý đến những phẩm chất khoa học và tự do của con người

a) Quan niệm về con người của triết học Hy Lạp cổ đại

Chủ nghĩa duy tâm

- Pytago: Con người có thể xác khả tử và linh hồn bất tử (độc lập với thể xác) chịu sự chi

phối bởi luật nhân quả, tồn tại thông qua hình thức luân hồi; mục đích sống của con người là giải thoát linh hồn ra khỏi thể xác; chức năng của linh hồn là nhận thức chân lý siêu nhiên bằng hình thức chiêm nghiệm tâm linh, qua sự mách bảo của thần linh

- Platông: Con người là sự kết hợp của thể xác với linh hồn; thể xác khả tử, được tạo

thành từ tứ đại (đất, nước, lửa, không khí) là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn lý trí bất

tử Linh hồn lý trí bất tử là sản phẩm của linh hồn vũ trụ được thượng đế tạo ra từ lâu;

Trang 5

chúng ngự trên các vì sao, sau đó dùng cánh bay xuống nhập vào thể xác con người, và quên hết quá khứ; ngoài linh hồn lý trí bất tử, trong linh hồn con người còn có cảm giác

và ý chí khả tử Do có ba cấp độ linh hồn mà trong xã hội có ba hạng người…

Chủ nghĩa duy vật

- Empêđốc: Con người là sự kết hợp của tứ đại (đất, nước, lửa, không khí) có linh hồn lý

tính

- Đêmôcrít: Con người là kết quả tiến hóa từ tự nhiên, có thể xác định và linh hồn đều

được tạo thành từ các nguyên tử, tồn tại theo luật nhân quả, mang tính tất nhiên tuyệt đối

Triết học Arixtốt: Con người là một động vật nhận thức có lý trí – linh hồn; nhưng khi

con người mới sinh ra, linh hồn lý trí chỉ là một tấm bảng trắng Con người còn là động vật chính trị - đạo đức; con người không chỉ nhận thức mà hơn thế nữa con người phải tham gia hoạt động chính trị và thực hành đạo đức Nô lệ không phải là con người mà chỉ

là một động vật biết nói hay công cụ đi bằng hai chân

b) Quan niệm về con người của triết học phương Tây thời trung đại

- Ôguýtxtanh: Con người do Thượng đế sáng tạo ra; số phận con người do Ngài xếp đặt

Do tổ tiên loài người ăn trái cấm nên loài người mắc tội tổ tông; con người sống càng lâu, tội lỗi càng chất chồng; chỉ có Thượng đế mới cứu vớt cho con người bớt đi tội lỗi Vì vậy, con người phải luôn hướng đến Thượng đế, phải bằng lòng với cuộc sống tạm bợ trên trần gian để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng sau khi chết

c) Quan niệm về con người của triết học phương Tây thời Phục Hưng – cận đại

Chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm

- Bêcơn: Con người là sản phẩm của tự nhiên, có thể xác và linh hồn đều được tạo thành

từ vật chất; linh hồn giống như không khí hay lửa, biết cảm giác, tồn tại trong bộ óc, vận động theo các dây thần kinh và các mạch máu của cơ thể, con người có sức mạnh nằm trong tri thức khoa học

- Hốpxơ: Con người là một thể thống nhất giữa tự nhiên và xã hội, có bản tính là ích kỷ,

chỉ hướng đến lợi ích để thỏa mãn những nhu cầu cá nhân; do đó con người luôn gây ra cái ác, và là một loài vật độc ác nhất trong vũ trụ

Chủ nghĩa duy lý – siêu hình học

Trang 6

- Đềcáctơ: Con người là một sự vật đặc biệt, vừa có linh hồn bất tử được tạo thành từ thực

thể tinh thần, vừa có thể xác khả tử được tạo thành từ thực thể vật chất Con người là sinh vật chưa hoàn thiện nhưng có khả năng vươn đến hoàn thiện, là cái trung gian ở giữa Thượng đế và Hư vô; do đó, con người vừa cao siêu, không mắc sai lầm, vừa thấp hèn,

có thể mắc sai lầm

Chủ nghĩa khai sáng Pháp thế kỷ 18

- Rútxô: Con người có bản tính là tự do và lịch sử nhân loại do chính kết quả hoạt động

của con người hướng đến tự do tạo ra

- Điđơrô: Con người là thể thống nhất giữa thể xác và linh hồn , linh hồn là tổng các hiện

tượng tâm lý, là đặc tính của thể xác, thể xác là khí quan vật chất của linh hồn, là cơ sở của mọi quá trình tâm lý, ý thức, tư duy, nhân cách con người là sản phẩm của hoàn cảnh sống xung quanh

Triết học cổ điển Đức

- Hêghen: Con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối, lịch sử nhân loại là kết quả hoạt

động của những con người theo đuổi mục đích và khai thác lợi ích của riêng mình; lao động đã góp phần hình thành con người; con người luôn thuộc một giai tầng nhất định, vừa là chủ thể của lịch sử vừa là kết quả của quá trình phát triển lịch sử, nhưng lịch sử nhân loại lại không phụ thuộc vào lợi ích và mục đích của con người dù đó là vĩ nhân

- Phoiơbắc: Con người là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, giới tự nhiên là “thân thể

vô cơ” của con người, đời sống của con người phụ thuộc vào giới tự nhiên, giới tự nhiên ảnh hưởng đến đời sống tâm lý, tình cảm của con người, làm cho người này khác người kia Con người vừa mang tính cá nhân có bản tính sáng tạo, vừa mang tính cộng đồng có bản tính yêu nhau Bản chất con người nằm trong tình yêu, tình yêu đối với phụ nữ là tình yêu phổ quát, ai không yêu phụ nữ kẻ đó không yêu con người và không là con người

3. Quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học ngoài mácxít đương đại

- Phân tâm học (Phơrớt): bản năng tính dục là cái cơ bản quy định mọi hành động của

con người, giải phóng cong người là giải phóng bản năng tính dục -> vô thức (được thể hiện trong quan hệ từ cái Tôi đến cái trên – Tôi) là cái cơ bản nhất trong con người, nó điều chỉnh mọi hành vi của con người trong cuộc sống thực của nó

- Chủ nghĩa hiện sinh (Haiđơgơ): Con người là một chủ thể tưởng tượng cô độc, bị tha

hóa bởi chính sản phẩm do mình làm ra và những lo toan bất hạnh của cuộc sống hàng ngày Con người phải đoạn tuyệt với quá khứ nhưng lại sợ hãi cho tương lai, nên chỉ tồn

Trang 7

tại trong “phút sống thực” ở hiện tại Vì vậy, chỉ có cá nhân con người mới “hiện sinh” – hiểu được sự tồn tại của mình, con người cần thoát ra khỏi sự ràng buộc của xã hội, của những cá nhân khác để thể hiện giá trị hiện sinh của mình.

=> Các quan niệm thời này về con người đều đề cao nhân tố tinh thần (bản năng,

vô thức, tình cảm…), chúng tuyệt đối hóa tính cá nhân, khá bi quan khi nhận định về tương lai nhân loại… Vì vậy, chúng họp thành trào lưu nhân bản phi lý tính trong dòng triết học Phương Tây hiện – đương đại

CHƯƠNG II: QUAN NIỆM TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ CON NGƯỜI

1. Khái niệm con người

a) Con người là một thực thể sinh học – xã hội

Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hóa tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo ra mọi thành tựu văn hóa trên Trái đất

Con người bị chi phối bởi các quy luật sinh học như: quy luật trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường, quy luật biến dị và di truyền, quy luật tiến hóa,…

Ngoài ra, con người bị chi phối bởi các quy luật xã hội như: học tập, giao tiếp, tinh thần, ý thức, lao động, nhân cách, ngôn ngữ, đạo đức…

Con người tồn tại trong thế giới không như các sinh vật khác, mà tồn tại với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức và hành động cải tạo thế giới, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người

b) Con người là chủ thể của lịch sử

Triết học Mác-Lê nin cho rằng, con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử, tức

là sản phẩm của điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội, mà con người còn là chủ thể sáng tạo ra quá trình lịch sử ấy – lịch sử của con người Đó là quá trình hoạt động có ý thức của con người nhằm mục đích cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người, dựa trên sự hiểu biết và vận dụng quy luật khách quan

Bằng hoạt động thực tiễn, con người trở thành chủ thể sáng tạo ra lịch sử Tuy nhiên, không phải mọi con người đều là người sáng tạo ra lịch sử nhân loại mà lực lượng đích thực sáng tạo ra lịch sử là quần chúng nhân dân

2. Các phương diện tiếp cận nguồn gốc, bản chất con người

Trang 8

a) Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với lịch sản xuất vật chất

Lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triển của con người Triết học Mác – Lê nin xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử đã tiếp cận

sự hình thành, phát triển con người trong lịch sử sản xuất vật chất, từ đó khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triển của con người

b) Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội

Kế thừa quan niệm đúng đắn về con người trong lịch sử triết học, triết học Mác – Lênin tiếp cận con người trong tính toàn vẹn, khẳng định con người là một chỉnh thể tồn tại và phát triển trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội; cơ chế di truyền và hoạt động xã hội của con người Đây là một chỉnh thể phức tạp, năng động và luôn luôn vận động, phát triển Khi tiếp cận bản chất con người ở góc độ này cần theo hướng:

Thứ nhất, về mặt sinh học, con người tồn tại ở cấp độ cơ thể, biểu hiện trong các hiện tượng sinh lí, di truyền, thần kinh, điện – hóa và các quá trình khác của cơ thể Con người là sản phẩm của tự nhiên, nhưng là sản phẩm cao nhất của tự nhiên Vừa

là sản phẩm, vừa là chủ thể của tự nhiên Như vậy, tiền đề vật chất đầu tiên quy định

sự tồn tại của con người là giới tự nhiên Con người là động vật cao cấp, là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới sinh vật, như thuyết tiến hoá của Đác uyn đã chứng minh Vì vậy, con người là bộ phận của giới tự nhiên, giới

tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Do đó, con người cũng có như động vật khác như nhu cầu về sinh lý và cũng có các hoạt động bản năng: đói phải ăn, khát phải

uống, sinh hoạt tình dục Nhưng giải quyết những nhu cầu đó ở con người có bước tiến

xa hơn so với động vật, kể cả so với khi con người mới thoát thai khỏi động vật Chính quá trình sinh thành, phát triển và mất đi của con người quy định bản tính sinh học trong đời sống con người Như vậy,con người là một sinh vật có đầy đủ bản tính sinh vật

Thứ hai, về mặt xã hội, con người tồn tại ở cấp độ nhân cách, biểu hiện trong những quá trình ý thức, tính cách, tính khí …là chủ thể quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp, tinh thần, … Con người khác động vật ở chỗ có tư duy và hoạt động có mục đích Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người

là đặc tính sinh vật Con người là một sinh vật nhưng có nhiều điểm khác với sinh vật Các nhận định trên đều đúng khi nêu lên một khía cạnh về bản chất con người, nhưng đều phiến diện, không nói lên được nguồn gốc của những đặc điểm ấy và mối

Trang 9

quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhìn vấn đề bản chất con người một cách toàn diện, cụ thể, xem xét không phải một cách chung chung trừu tượng, phiến diện như các nhà tư tưởng khác Theo Mác mặt xã hội của con người, có điểm nổi bật, hơn hẳn và phân biệt với động vật là con người có hoạt động lao động sản xuất vật chất Qua quá trình lao động sản xuất: con người sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống cho mình và cho đồng loại Sản xuất ra các giá trị tinh thần làm phong phú thêm đời sống của mình Lao động

là yếu tố hình thành bản chất xã hội của con người, hình thành nhân cách ở con người

Thứ ba, sự hình thành và phát triển của con người thông qua một quá trình thống nhất giữa cơ chế di truyền và hoạt động xã hội, chịu sự chi phối của ba hệ thống quy luật:

Hệ thống quy luật tự nhiên: quy định sự phù hợp của cơ thể sống với môi trường, quy luật trao đổi chất, quy luật biến dị, di truyền

• Hệ thống quy luật tâm lý ý thức: như sự hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin,

ý chí…

• Hệ thống quy luật xã hội: quy định mối quan hệ giữa người với người, đó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật với cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng…

 Tóm lại, con người khác con vật ở cả ba mặt: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với bản thân Cả ba mối quan hệ đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội

là quan hệ bản chất nhất, bao quát mọi hoạt động của con người, cả trong lao động, sinh con đẻ cái và trong tư duy

c. Con người tồn tại, phát triển trong môi trường cư trú xã hội- hành tinh - vũ trụ và mang những thuộc tính tự nhiên – sinh học- xã hội

Triết học Mác – Lê nin tiếp cận con người trong hệ thống con người – môi trường cư trú, từ Trái đất đến vũ trụ Môi trường là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển, nó bao gồm toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên và xã hội được thu hút vào quá trình đời sống con người Theo nghĩa rộng nhất, môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Trong môi trường tự nhiên, con người là một bộ phận của tự nhiên, giao tiếp với

tự nhiên và phụ thuộc vào tự nhiên ở cả cấp độ chức năng – cơ thể và cấp độ cảm xúc – tinh thần Bản chất con người là tổng hòa các thuộc tính tự nhiên – sinh học – xã hội Mác đã khẳng định: “chừng nào loài người con tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên sẽ vẫn quy định lẫn nhau” Bởi lẽ, con người tồn tại trong môi trường xã hội, thông

Trang 10

qua xã hội mà thích nghi với tự nhiên vì chính xã hội cũng là một bộ phận của giới tự nhiên, là một kết cấu vật chất đặc thù của giới tự nhiên Toàn bộ quẩn thể xã hội hoạt động trong giới tự nhiên Không có một xã hội nào có thể tồn tại mà nằm ngoài tự nhiên

d) Con người là một thực thể cá nhân – xã hội

Theo chủ nghĩa Mác – Lê nin, con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang những phẩm chất của hệ thống các quan hệ xã hội Đó là một hệ thống năng động, phát triển thống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái riêng Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định với tư cách một cá thể, một thành viên của

xã hội ấy do những đặc điểm riêng biệt của mình mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội Xã hội do các cá nhân tạo nên Các cá nhân sống và hoạt động trong các nhóm, cộng đồng và tập đoàn xã hội khác nhau, mang tính lịch sử xác định Yếu tố xã hội

là đặc trưng căn bản để hình thành cá nhân Một đứa trẻ chưa tiếp nhận quan hệ xã hội thì chưa trở thành một cá nhân

Trong quan hệ với xã hội, cá nhân được phân biệt bởi các đặc trưng: Thứ nhất, cá nhân là phương thức tồn tại cụ thể của loài người một cách trực tiếp, cảm tính Không có con người nói chung một cách trừu tượng, mà chỉ có con người sống cụ thể cá nhân – của giống loài Thứ hai, cá nhân là phần tử đơn chất, riêng lẻ, tập hợp lại thành cộng đồng xã hội, là cơ sở hình thành lịch sử xã hội loài người Thứ ba, cá nhân là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách, biểu hiện trong phẩm chất sinh lí và tâm lí riêng biệt của mỗi con người Thứ tư, cá nhân trong mối quan hệ với xã hội là một hiện tượng lịch sử,vận động, phát triển phù hợp với mỗi thời đại nhất định

Như vậy, cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá biệt, vừa mang tình phổ biến Tính cá biệt thể hiện ở việc mỗi cá nhân có đời sống riêng, có quan hệ xã hội riêng, có nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích riêng do đặc điểm di truyền, do điều kiện sống riêng của mỗi người quy định nhưng không loại trừ tính phổ biến đó là họ đều là những thành viên xã hội, đều mang bản chất xã hội, không thể sống ngoài xã hội Do

đó, trong bất kỳ xã hội nào, cá nhân cũng không tách rời khỏi xã hội, mỗi thời đại sản sinh ra một kiểu cá nhân có tính đặc thù, thậm chí đối lập nhau, trong những quan hệ

xã hội nhất định

e) Sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người nhân loại

Bản chất xã hội, địa vị kinh tế xã hội và điều kiện sinh hoạt vật chất quy định sự đồng nhất và sự khác biệt giữa tính giai cấp và tính nhân loại của con người Trong xã hội

có giai cấp, con người sẽ mang tính giai cấp Bởi vì mỗi con người chính là một thành

Trang 11

viên của một giai cấp nhất định, nên con người sẽ mang địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó Địa vị kinh tế xã hội mang tính khách quan, do toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất quy định mặc dù mỗi thành viên giai cấp có thể ý thức được hoặc không ý thức được địa vị của mình

Còn tính nhân loại lại được thể hiện trong sự sáng tạo, trong những giá trị văn hóa chung, trong những quy tắc, chuẩn mực của đời sống xã hội với tư cách là những đạo lý phổ quát nhất, như nhân đạo, dân chủ, công bằng xã hội, hòa bình, bảo vệ môi trường sinh thái… Đây là thuộc tính vốn có hình thành trong suốt chiều dài lịch sử của cuộc sống cộng đồng phổ biến rộng lớn nhất Cơ sở của tính nhân loại là từ bản chất xã hội của con người, do yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng là con người phải nương dựa vào nhau để tồn tại và phát triển

Tính giai cấp và tính nhân loại trong con người vùa đồng nhất, vừa khác biệt Con người tồn tại thông qua những cá nhân hiện thực với tư cách là những chủ thể hành động xã hội Tính giai cấp có thể thay đổi tùy thuộc vào bản chất giai cấp nhưng tính nhân loại lại là cố hữu, vĩnh hằng Bởi vì trật tự kinh tế, chính trị, xã hội có thể bị thay đổi, nhưng quy luật con người luôn luôn phải biết dựa vào người khác, khai thác

sự phong phú của người khác để tồn tại, làm phong phú cho mình sẽ không bao giờ mất đi Mặt khác, trong xã hội còn tồn tại chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan

hệ đối kháng giai cấp thì còn con người mang tính giai cấp Các giai cấp và các hệ thống xã hội tương ứng vẫn là chủ thể chủ yếu của xã hội hiện thực Không bao giờ có một “lợi ích nhân loại thuần khiết” Nó được phản ánh trong nhận thức, trong hoạt động thực tiễn không tách dời lợi ích các giai cấp

f) Con người thống nhất biện chứng giữa tất yếu và tự do

Trước hết, cần phải làm rõ tự do, tất yếu là gì? Theo Locke, “tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào” Đây là định nghĩa nguyên thủy nhất về tự do, mặc dù được khá nhiều người tán đồng, nhưng trên phương diện tổng quát nhất thì theo cách định nghĩa này, tự do chỉ thuần túy chỉ mang tính bản năng Đến Hêghen, ông cho rằng “tự do là cái tất yếu được nhận thức”, còn cái tất yếu được hiểu là các quy luật tự nhiên Từ đó có thể định nghĩa tự do là các quy luật tự nhiên được nhận thức Hêghen cho rằng con người càng nhận thức một cách chính xác, rõ ràng và toàn diện về cái tất yếu bao nhiêu thì càng có

tự do bấy nhiêu Định nghĩa này đã phát triển hơn một bước so với định nghĩa của Locke, tức đã đưa tự do từ một trạng thái bản năng đến tự do trong mối tương quan với cái tất yếu Như vậy, ranh giới của trạng thái tự do và trạng thái không có tự do chính

là cột mốc nhận thức được cái tất yếu Nhận thức được cái tất yếu, con người sẽ không

Trang 12

nhân danh tự do để thực hiện những hành vi kìm hãm sự phát triển của bản thân anh ta

và cả cộng đồng Chính lúc ấy, tự do sẽ là điều kiện tinh thần giúp con người tiếp cận với sự phát triển thực thụ và toàn diện

Hoạt động của con người là sự thống nhất biện chứng giữa tự phát và tự giác, giữa tất yếu và tự do Biểu hiện bởi việc hoạt động của con người bị chi phối bởi tính tất yếu – mà chính là các quy luật khách quan Khi con người tìm ra những tiền đề tất yếu của sự chuyển hóa từ một hình thánh kinh tế - xã hội lỗi thời, lạc hậu sang một hình thái kinh tế - xã hội mới phù hợp hơn, tiến bộ hơn mà ở đó con người được phát triển tự do, toàn diện Tự do là tiền đề, điều kiện cho hoạt động sáng tạo của con người Con người tự do là con người nhận thức sâu sắc quy luật và hoạt động tự giác , tức là không đi ngược lại tất yếu

Hoạt động của con người là sự thống nhất giữa tất yếu và tự do Hoạt động con người có ý thức là hoạt động tiếp cận dần, nắm bắt quy luật khách quan để làm tiền đề cho sáng tạo Lịch sử xã hội loài người là lịch sử con người vươn lên giành lấy tự do ngày càng cao hơn Con người muốn tự do trước hết phải được giải phóng về mặt xã hội, phải có chế độ kinh tế xã hội tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động con người vươn tới tự do

CHƯƠNG III: SỰ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG - PHƯƠNG TÂY

1. Sự khác biệt về tính minh bạch trong việc nhìn nhận và đánh giá về thế giới xung quanh

Đối với người phương Tây, ngay từ thời cổ đại, cách nhìn nhận và đánh giá về thế giới xung quanh đã thể hiện khá rõ lập trường triết học của họ dưới các hình thức thế giới quan khác nhau, thậm chí đối lập nhau: có thế giới quan duy vật, có thế giới quan duy tâm, có thế giới quan lạc quan tích cực, có thế giới quan bi quan, tiêu cực, Những người

có thế giới quan duy vật, lạc quan tích cực (dù dưới các hình thức thô sơ, máy móc hay biện chứng…) thường đại diện cho xu hướng tư duy tiến bộ, ủng hộ hoặc đồng hành với

sự phát triển của khoa học Trái lại, những người có thế giới quan duy tâm, bi quan tiêu cực (dù dưới các hình thức chủ quan, khách quan hay tôn giáo) thường đại diện cho xu hướng tư duy phản tiến bộ, không tin hoặc cản trở sự phát triển của khoa học Dù vậy, đặc điểm dễ nhận thấy nhất trong thế giới quan của người phương Tây là tính minh bạch trong cách nhìn nhận và đánh giá về thế giới diễn ra xung quanh mình Trong thói quen xem xét của người phương Tây: thế giới chỉ có thể là đen hoặc trắng chứ không chấp

Trang 13

nhận một thế giới đen trắng lẫn lộn Điều đó lý giải tại sao người phương Tây lại coi trọng lối tư duy “duy lý” chứ không phải “duy tình”.

Trong nhận thức của người phương Đông, thế giới xung quanh mình không phải là những mảnh ghép rời rạc nhau mà là một chỉnh thể có tính thống nhất giữa trời, đất và con người Chính vì thế, trong triết học phương Đông, một số lý thuyết triết học như lý thuyết về “Tam tài” (Trời - Đất - Người), lý thuyết “Thiên Nhân hợp nhất” (Trời với Người là một) luôn được các nhà triết học qua các thời đại ở các nước phương Đông đề cao Đây chính là cơ sở quan trọng để hình thành nên thói quen đề cao văn hóa cộng đồng, đồng thời coi nhẹ văn hóa cá nhân của người phương Đông cũng là một sự khác biệt căn bản giữa văn hóa phương Đông với văn hóa phương Tây

Mặt khác, cũng do nền tảng phát triển của tri thức khoa học, đặc biệt là các tri thức

về khoa học tự nhiên qua các thời đại còn hạn chế nên trong thế giới quan của người phương Đông, các yếu tố duy tâm, duy vật, biện chứng và siêu hình thường đan xen lẫn lộn Điều này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành phương pháp luận trong văn hóa ứng xử của người phương Đông như tính linh hoạt, mềm dẻo, tính dễ thỏa hiệp trong việc thừa nhận chân lý

2. Sự khác biệt phương thức tư duy và văn hóa ứng xử

a. Phương thức tư duy

Phương thức tư duy xét về mặt triết học là thói quen, là cách thức sắp xếp, trình bày quá trình tư duy của con người được thể hiện trên nhiều phương diện: từ cách tiếp cận đối tượng nhận thức, cách lựa chọn nội dung phản ánh đến cách trình bày các kết quả phản ánh của quá trình nhận thức Phương thức tư duy thường là kết quả phản ánh từ điều kiện sinh tồn (điều kiện địa lý, phương thức sản xuất, môi trường xã hội, ) của chủ thể

tư duy

Đối với người phương Đông, do đặc điểm về điều kiện địa lý, phương thức sản xuất và lịch sử phát triển xã hội nên thường chú trọng và đề cao phương thức tư duy trực giác (duy cảm) Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy trực giác là “cách thức tư duy chú trọng đến sự cảm nhận hay thể nghiệm”(1) Về phương diện văn hóa, do chịu ảnh hưởng bởi phương thức tư duy trực giác nên trong cách suy nghĩ và ứng xử của người phương Đông trong cuộc sống thường ngày thường mang tính trực quan, cảm tính, đề cao nhận thức kinh nghiệm (chủ yếu là kinh nghiệm đời thường của cư dân nông nghiệp), coi nhẹ vai trò của tri thức khoa học Ngược lại, người phương Tây lại coi trọng tư duy duy

lý, là phương thức tư duy chỉ chú trọng đến giai đoạn nhận thức lý tính, là “lối tư duy độc lập chỉ thiên về lý trí, chỉ tin vào lý trí”

Ngày đăng: 07/03/2017, 00:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w