Những người là giáo viên như tôi không khỏi suy nghĩ phải làm gì, làm như thế nào để “sản phẩm” của mình phải có chất lượng, những lí do trên đã thôi thúc tôi cần phải có kế hoạch và bi
Trang 1MỤC LỤC
A TÊN ĐỀ TÀI ……… ……… … 2
B PHẦN MỞ ĐẦU……… ……… ………… 2
I Lí do chọn đề tài……… …… …… 2
II Mục đích nghiên cứu…….……… ……….………… 2
III Đối tượng nghiên cứu ……….2
IV Đối tượng khảo sát, thực nghiệm …………… 3
III Phương pháp nghiên cứu……… ……….……….…… 3
IV Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu …….…… ……… ………… 3
C PHẦN NỘI DUNG……… ……… ……….3
I Hiện trạng……… ……… ………… 3
II Giải pháp ……… ……… ……… 4
III Kết quả………….……….……… 10
D KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… ………11
Tài liệu tham khảo ……… ….… ………… 12
Trang 2
A TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2
HỌC TỐT MÔN TIẾNG VIỆT
B PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
1.1 Cơ sở lí luận
Môn Tiếng Việt là môn học chủ đạo, là môn học công cụ; mang tính nhân văn, góp phần hình thành nhân cách của con người lao động mới Các kiến thức,
kĩ năng môn Tiếng Việt có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết
để học các môn học khác ở trường Tiểu học và học tiếp môn ngữ văn ở Trung học Đặc biệt lứa tuổi tiểu học: là giai đoạn chuyển tiếp từ hoạt động chơi là chủ yếu ở mẫu giáo sang hoạt động học là chủ đạo ở Tiểu học, nó đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam Môn Tiếng Việt lớp 2 giúp học sinh hình thành và cũng cố 4 kĩ năng đã học ở lớp 1: Nghe, nói, đọc, viết, nhưng chú ý hơn đến kĩ năng đọc và viết Trên cơ sở dạy học sinh đọc đúng và hiểu phù hợp với lứa tuổi, giáo viên giúp các em bước đầu mở tầm nhìn rộng lớn ra thế giới xung quanh, rung cảm trước cái đẹp, cái xấu, trước những niềm vui, nỗi buồn, thái độ yêu, ghét… của con người Đồng thời hình thành ở mức đơn giản trong các em những nhận thức tình cảm và thái độ đúng đắn của con người Việt Nam hiện đại, biết phân biệt cái xấu, cái đẹp, thiện, ác, đúng, sai, biết yêu trường lớp, thầy cô, bạn bè, yêu quê hương, đất nước, có lòng
nhân ái vị tha…
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong thời gian này xã hội đang nói rất nhiều về giáo dục, về chất lượng
học sinh lên lớp, về những học sinh ngồi nhầm lớp từ khi có cuộc vận động Hai
không” của Bộ trưởng Bộ giáo dục Những người là giáo viên như tôi không
khỏi suy nghĩ phải làm gì, làm như thế nào để “sản phẩm” của mình phải có chất lượng, những lí do trên đã thôi thúc tôi cần phải có kế hoạch và biện pháp cụ thể góp phần đưa chất lượng học sinh của lớp mình đạt hiệu quả tốt Là giáo viên chủ nhiệm lớp 2 tôi nhận thấy lớp 2 là lớp rất quan trọng ở Tiểu học, nếu các em không đọc thông viết thạo thì các em làm toán cũng rất khó khăn và học các môn học khác cũng rất chậm, như vậy các em học lên các lớp trên sẽ bị hổng kiến thức Nhận thức được tầm quan trọng đó, thấy được những thuận lợi và khó khăn cơ bản, tôi- giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 2 đã tiến hành vận dụng một
số biện pháp nhằm giúp các em học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
Vì những lí do trên, tôi đã quyết định đi sâu, nghiên cứu đề tài:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 HỌC TỐT MÔN
TIẾNG VIỆT
II Mục đích nghiên cứu
- Theo dõi và kiểm nghiệm kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh qua những phương pháp mà giáo viên thực hiện
- Tìm ra những giải pháp, phương pháp mới giúp học sinh học tốt hơn môn Tiếng Việt lớp 2
III Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng học tập môn Tiếng Việt của học sinh
Trang 3- Các phương pháp dạy học Tiếng Việt mới
IV Đối tượng khảo sát, thực nghiệm
- Học sinh lớp 2B trường Tiểu học Hướng Phùng
V Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành tìm hiểu nội dung của đề tài bản thân tôi đã kết hợp nhiều phương pháp, cụ thể là:
+ Phương pháp điều tra: điều tra thực trạng đọc, viết của học sinh, điều tra hoàn cảnh gia đình của từng học sinh
+ Phương pháp trò chuyện: Trò chuyện tìm hiểu nguyện vọng, sở thích, thói quen, tâm lý của học sinh
+ Phương pháp thống kê: thống kê kết quả học tập của các em theo từng tháng
+ Phương pháp thực hành luyện tập: thực hành các phương pháp dạy học mới trên đối tượng khảo sát
+ Nghiên cứu tài liệu …
VI Phạm vi, kế hoạch nghiên cứu
5.1 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của tôi tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Hoàn cảnh, tâm lí của học sinh lớp 2
- Năng lực học tập của học sinh vùng Bản
- Phương pháp dạy học Tiếng Việt lớp 2
5.2 Kế hoạch nghiên cứu
- Kế hoạch này được tiến hành từ tháng 9/2015 đến hết tháng 3/2016
C PHẦN NỘI DUNG
I Hiện trạng
Học sinh lớp 2 là đối tượng đang còn rất nhỏ, lứa tuổi còn rất hiếu động, ham chơi, trong thời gian học các em được học những gì và được dạy gì phụ thuộc phần lớn vào thầy cô ở trường Trong quá trình dạy giáo viên là người tổ chức
và học sinh là trung tâm quá trình dạy học Thiết kế những tiết dạy phải mang tính khoa học, thẩm mĩ, lo-gic, phải phù hợp với tâm sinh lí học sinh Và hơn nữa Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2 của đối tượng học sinh dân tộc thiểu số nên các em nắm bắt chậm và cách phát âm của người bản xứ dễ nhầm lẫn dấu thanh
Chính vì những lý do đó mà ngay từ đầu năm học, sau khi nhận lớp, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh: về nhận diện con chữ, về tìm hiểu môi trường xung quanh, về nhận diện các số kết quả như sau:
*Tổng số học sinh toàn lớp: 36 em(14 nữ, 22 nam; tất cả 36 em đều là học sinh dân tộc Vân Kiều), trong đó:
Số học sinh đọc, viết theo chuẩn: 10 em
Số học sinh đọc, viết chậm so với chuẩn: 11 em
Số học sinh chưa đọc, viết được: 15em
Tôi phát hiện ở các em có một số lỗ hổng về kiến thức như sau:
- Trường hợp 1: Em hãy đánh vần : vần an
Kết quả: Một số em không đánh vần được, một số em đọc được a nhưng chưa biết ráp a- nờ - an, một số em lại đánh vần a – nờ - nờ - a – na
Trang 4- Trường hợp 2: Em hãy đánh vần tiếng : năm
Kết quả: một số em đánh vần: ắ - mờ - ăm, nờ - ăm – năm, một số em lại đánh vần: nờ - ă – ná – mờ - ăm, nờ - ăm – năm, năm
- Trường hợp 3: đa số học sinh viết sai dấu thanh( đặc trưng của học sinh dân tộc thiểu số) và xác định vần sai
- Trường hợp 4: Một số em chưa thuộc bảng chữ cái
- Trường hợp 5: Một số em đọc được nhưng chưa viết được
II Giải pháp thực hiện
* Về tập đọc: Tôi nắm kĩ lại các kĩ năng đọc trong tập đọc gồm:
-Phát âm từng âm, nhận diện chữ/ dấu ghi âm/ thanh điệu
-Ghép âm, ghép vần ( gọi “đánh vần”)
-Đọc trơn từng tiếng
-Đọc trơn từng chữ, từng câu
-Đọc trơn một bài
Trong tháng đầu tiên của năm học tôi tập trung vào ôn tập cho các em phần học vần, luyện kĩ năng nói, đọc và viết
Khi học sinh đọc trơn được một tiếng tôi kiểm tra xem em đã nắm vững cấu trúc của tiếng ấy chưa, hay là em chỉ làm một sự liên hệ giữa cách đọc chữ
ấy với chỗ của nó trên trang bài học Để kiểm tra học sinh xem các em đã đọc chắc chắn hay chưa, ta có thể đảo lộn trật tự các từ trong câu để học sinh đọc thành câu mới
Đối với các em nhanh chóng đọc trơn được một âm tiết thì tôi kiểm tra khả năng phân tích âm tiết của em đó Hay khi dạy học sinh tập nói ở giai đoạn học vần, tôi dựa vào tranh vẽ, dựa vào những câu hỏi hướng dẫn, hướng học sinh tìm ra chủ điểm của bài tập Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm Khi học sinh đọc tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn
*Về luyện nói: Các kĩ năng luyện nói:
- Nói rõ từng tiếng, không ngọng
- Nói to, đủ nghe trong lớp
- Nói thành câu có sự trợ giúp của tranh vẽ hoặc câu hỏi, câu mẫu
- Nói với ngữ điệu tự nhiên
Ở phần luyện nói tôi đưa ra kế hoạch cụ thể sau: Trong vòng 1 – 2 tuần mỗi học sinh trong lớp phải được luyện nói ít nhất một lần Luôn động viên những em nhút nhát, không dám nói hoặc chỉ nói lí nhí Đối với những em chậm, yếu không nghĩ ra ý gì để nói, tôi đưa ra câu hỏi cho các em trả lời Để phát huy trí tưởng tượng của các em khi dùng kênh hình Cùng nhìn vào một hình vẽ gợi ý , các em có thể có những câu nói khác nhau Tôi luôn để các em nói tự nhiên, phát âm rõ, to, đủ cho cả lớp nghe và đặc biệt lưu ý cho các em về thanh điệu
Sau đây là một số ví dụ khi dạy học sinh luyện nói mà bản thân tôi đã áp dụng:
Trước khi cho các em quan sát tranh, tôi giới thiệu về bức tranh, sau đó cho học sinh quan sát rồi nói
Trang 5Khi nói tôi cho học sinh đứng trên bảng để học sinh nói to cho cả lớp cùng nghe
Gọi các bạn nhận xét phần nói của bạn
Nhận xét, sửa sai cho từng em và tuyên dương kịp thời các em nói tốt
* Về tập viết: Các kĩ năng tập viết:
-Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng kiểu
-Viết đúng mẫu chữ
-Viết liền nét trước khi đánh dấu phụ trong mỗi chữ
-Tập viết chữ hoa
Tập viết không những có những quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học khác mà còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tính kỉ luật và óc thẩm mĩ
Tôi thiết nghĩ luyện cho học sinh tư thế ngồi và cách cầm bút viết cho đúng không phải chỉ là việc làm ở lớp 1, lớp 2 mà là việc làm thường xuyên của giáo viên trong tất cả các lớp Tiểu học Vì thế tôi đặc biệt quan tâm tới hai thao tác quan trọng sau:
Một là tư thế ngồi viết: lưng thẳng, tay trái chặn giấy, tay phải cầm bút và đầu chỉ hơi cúi để cách mặt giấy một khoảng vừa phải
Hai là tay cầm bút: ngón cái và ngón trỏ đặt ở phía trên và ngón giữa ở phía dưới quản bút, ngón áp út và ngón út chặn giấy lấy điểm tựa cho động tác
di chuyển ngòi bút Bài viết phải đảm bảo yêu cầu, ánh sáng và thuận chiều khi viết đưa đúng bút từ trái sang phải, từ trên xuống dưới không ấn ngòi bút mạnh vào mặt giấy
Để thực hiện được hai thao tác này tôi luôn kiên nhẫn và nhẹ nhàng, làm
đi làm lại nhiều lần khi nào học sinh nắm bắt được mới thôi Tôi giảng mẫu chữ trong sách giáo khoa, treo mẫu chữ lên bảng, viết mẫu trên bảng, viết mẫu trên từng trang vở học trò Cho các em tập viết nhiều lần ở bảng con, đi đến từng em hướng dẫn, nắm tay các em hướng dẫn cách viết đúng, cứ như thế khi nào các
em viết đúng, đẹp thì mới cho học sinh viết vào Vở tập viết 2 Bởi vì sự nhiệt tâm, chu đáo của giáo viên là một trong những yếu tố đảm bảo sự thành công của giờ dạy tập viết
Ngoài ra tôi còn tổ chức các hình thức như thi viết đẹp, viết nhanh trong lớp, có tác dụng động viên, khuyến khích các em tập viết Tạo phong trào thi
đua giữ vở sạch viết chữ đẹp
Sau khi đã nắm bắt được tình hình học sinh trong lớp, tôi đi vào vận dụng các giải pháp:
1.Giải pháp thứ nhất: Giúp giáo viên vận dụng linh hoạt phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh; giáo viên cần nhiệt tình quan tâm, giúp đỡ học sinh
1.1 Phương pháp dạy học theo nhóm đối tượng:
Tôi phân loại học sinh trong lớp thành những nhóm đối tượng như sau:
Nhóm 1: Gồm những học sinh chậm, yếu
Nhóm 2: Gồm những học sinh trung bình
Trang 6 Nhóm 3: Gồm những học sinh khá, giỏi
Tôi có thể thay tên nhóm 1, 2, 3 thành tên khác như tên các loài hoa, quả, con vật… Trong quá trình dạy tôi vẫn phải lấy chuẩn để làm thước đo nhưng ở các tiết ôn tập, các giờ phụ đạo tôi yêu cầu các em thực hiện nhiệm vụ với 3 mức khác nhau trong cùng một giờ học
Nhóm 1 các em đọc nhiều lần hơn, viết ít hơn so với nhóm 3
Ví dụ: bài Có công mài sắt, có ngày nên kim, các em chỉ cần đọc một đoạn ngắn, có thể cho các em tập chép chứ không nghe viết như các nhóm còn lại
Các em ở nhóm 2 chỉ cần viết theo yêu cầu cao hơn, tức là nghe viết nhưng giáo viên đọc chậm hơn, cho các em tập đọc nhiều hơn
Còn các em ở nhóm 3 thì có thể cho các em tổ chức tự đọc theo nhóm Cho các em nghe viết ở mức độ chuẩn hoặc cao hơn
Để khắc phục tình trạng học sinh chậm, yếu tôi phải tăng cường phụ đạo, giúp đỡ riêng các học sinh yếu, chậm (ngoài giờ chính khóa) Bởi vì trong lớp học đồng loạt, bản thân người giáo viên có cố gắng giảng dạy sát ba đối tượng đến đâu đi nữa thì việc truyền thụ kiến thức cũng cần phải được tiến hành theo trình độ và nhịp độ chung của cả lớp, nếu quá chú ý đến đối tượng học sinh chậm, yếu thì các em khá, giỏi, trung bình sẽ buồn chán, không muốn học Để mọi học sinh trong lớp đều hứng thú, tự tin trong giờ học Tôi đưa ra những yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau để học sinh tự chọn Trong khi học sinh thực hiện, tôi theo dõi, kiểm tra từng cá nhân, từng nhóm Sau đó tôi tiến hành đánh giá và nhận xét kết quả theo yêu cầu đã đặt ra Chính vì lẽ đó mà tôi đã đưa ra một quy trình giảng dạy (phụ đạo) ở nhóm học sinh chậm, yếu:
Bước 1: Tôi cho các em ôn tập lại các kiến thức và kĩ năng có liên quan đến bài học sắp tới
Bước 2: Cho các em đọc lại cả bài học ở trong sách giáo khoa Đánh vần lại những tiếng chưa đọc thông
Bước 3: Giáo viên đọc mẫu lại toàn bài theo các bước và tổ chức cho học sinh ghi nhớ lại các bước
Lớp học của tôi học theo chế độ học 1 buổi/ngày Đó là một khó khăn cho tôi khi thực hiện kế hoạch phụ đạo cho những em học sinh chậm, yếu Khi tôi lên kế hoạch phụ đạo trái buổi thì vấp phải một số vấn đề đó là các em tham gia không đầy đủ, và một số em tham gia phụ đạo buổi sáng thì buổi chiều các
em không tham gia buổi học chính nữa Nhận thấy tình hình bất cập cho nên tôi quyết định lên kế hoạch phụ đạo cho các em vào 15p đầu giờ và sau khi các em hoàn thành buổi học để đảm bảo các em đều được tham gia học phụ đạo đầy đủ,
có hiệu quả cao
1.2 Phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, vật thật….cho học sinh học chậm
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học nhất là học sinh lớp 2 khả năng tư duy trừu tượng kém, phần lớn các em phải dựa trên những mô hình vật thật, tranh ảnh, do vậy trong các giờ học việc yêu cầu giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học là không thể thiếu kể cả đồ dùng do giáo viên tự làm, đồ dùng dạy học là phương tiện
Trang 7chuyển tải thông tin và là nội dung truyền thụ kiến thức giáo dục tư cách, rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, nó có tác dụng điều khiển hoạt động của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, kích thích hứng thú cho học sinh học tập
Ví dụ: Ở những bài học Luyện từ và câu Dùng trang vẽ (hoặc vật thật) để
học sinh quan sát và tìm ra từ khoá sau khi các em đã nhận diện được vật thật
Từ những hình ảnh như thế các em sẽ dễ nhớ và nhớ chính xác hơn các vần và các từ được học bởi các em có sự liên tưởng từ vật thật đến vần của bài học
Như vậy dùng tranh, ảnh, vật thật trong các giờ Tiếng Việt giúp học sinh nhớ vần và từ tốt hơn
Ngoài ra dùng tranh, ảnh có vai trò rất lớn trong phần luyện nói ở các tiết Tiếng Việt lớp 2
Ví dụ: Trong phân môn Tập làm văn, bài: Đáp lời cảm ơn – Trang 30
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 tập II – Phần luyện nói: Em đáp lại lời cảm ơn sau như thế nào?
Giáo viên hỏi nội dung bức tranh, sau đó cho các em nói nội dung bức tranh, động viên các em học chậm nói trước, nhìn vào tranh tự các em có thể nói được như: Cậu bé đưa bà cụ qua đường, bà cụ nói lời cám ơn cậu bé, và cậu bé đáp lời cảm ơn
Như vậy rõ ràng trong cùng một giờ học giáo viên biết vận dụng khéo léo tranh, ảnh thì vừa phát huy được tính sáng tạo chủ động cho học sinh khá giỏi lại vừa tạo sự hứng thú cố gắng vươn lên cho học sinh học chậm
1.3 Giáo viên tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng
Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn học sinh do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, đo đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho học sinh
Trong phân môn Tập đọc có thể tổ chức cho học sinh thi đọc giữa các nhóm hay thi đọc tiếp sức
Ví dụ: Tập đọc: Vè chim- Trang 28 sgk Tiếng Việt 2 tập II, từng nhóm thi đọc
tiếp sức lần lượt lên đứng thành hàng ngang, quay mặt về phía các bạn; mỗi
người cầm một quyêt sách giáo khoa đã mở sắn trang có bài Vè chim sẽ thi đọc Giáo viên tính thời gian và ghi lại kết quả số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm Nhóm đọc ít hoặc không mắc lỗi và có thời gian đọc nhanh nhất là nhóm giành phần thắng trong cuộc thi "đọc tiếp sức" theo sách
Qua các trò chơi tôi nhận thấy các em rất hứng thú học tập, ghi nhớ nội dung bài và có ý chí cố gắng đọc tốt hơn
1.4 Người giáo viên cần có lòng nhiệt tình, luôn quan tâm giúp đỡ học sinh
Tôi luôn hiểu rằng các em học sinh lớp 2 mới từ lứa tuổi còn ham chơi chuyển lên nên việc tiếp thu kiến thức thông qua hình thức: Học mà chơi, chơi
mà học, giáo viên phải nhẹ nhàng ân cần dạy bảo các em luôn tạo không khí thoải mái, vui vẻ trong giờ học, một lời nhận xét động viên các em giúp các em thấy tự tin và phấn khởi, sự chỉ bảo ân cần là điều rất cần thiết, tránh quát mắng
Trang 8các em khi các em làm sai hay chưa làm được Giáo viên phải đi xuống bên học sinh xem em nào đã làm được còn em nào làm chưa được nhắc nhở các em, chỉ
cụ thể cho các em nhất là với các em học chậm cần nhắc lại hay bắt tay các em
để các em viết cho đúng Giáo viên phải gần gũi với học sinh thì mới hiểu được
về học sinh của mình, để hình ảnh ân cần của cô luôn là hình ảnh đẹp trong ánh mắt của các em, bản thân các em cũng thấy cô giáo như người thân trong gia đình sẵn sàng kể cho cô nghe những niềm vui hoặc những khó khăn của mình trong học tập hay trong sinh hoạt hàng ngày mà cần cô giúp đỡ
- Ví dụ: Em Thành, em Vũ, em Giáo viết còn hay sai, không đúng cỡ chữ,
không ngay hàng, một số chữ hay lẫn lộn trong các tháng đầu năm học Nhưng
cứ đến tiết tập viết là tôi luôn đến tận nơi khi bắt tay, khi chỉ hàng cho em cùng với lời khen dù chỉ là tiến bộ nhỏ nhất, tôi theo dõi hàng tháng để xem em đó tiến bộ như thế nào, quả thật đến nay em Thành, em Vũ, Giáo đã tiến bộ rõ rệt, chữ viết đã đúng, rõ ràng, thẳng hàng
2 Giải pháp thứ 2: Người giáo viên phải làm gì để học sinh nhận thức chậm, hay quên; học sinh có hoàn cảnh gia đình học tốt hơn
2.1 Đối với học sinh nhận thức chậm, hay quên
Với công tác chủ nhiệm công việc của tôi là phải phân loại và nắm được
số lượng dạng học sinh này,sau đó là tôi đưa ra một phương pháp dạy và dạy một lượng kiến thức phù hợp cho các em
Trước hết là tôi sắp xếp chỗ ngồi cho các em phù hợp và có tác dụng thúc đẩy
Ví dụ: Cho các em ngồi gần các bạn học tốt để các em được sự giúp đỡ từ
bạn, được học tập từ bạn như các em tập đọc theo bạn, nhắc lại câu của bạn nói, được các bạn nhắc nhở luôn với hình thức này là điều kiện rất tốt cho các em hoạt động nhóm đôi, tránh cho các em cùng học chậm ngồi với nhau và ngồi cuối cùng của lớp, cần tạo điều kiện cho các em học tốt để các em biết phát huy những ưu điểm của bạn
Dạy các em lượng kiến thức phù hợp như: Về viết chỉ yêu cầu các em viết một số dòng nếu như những học sinh bình thường có thể viết nhiều dòng trở lên
Ví dụ: Tiết Chính tả(nghe- viết): Cây dừa - Tiếng Việt 2 tập II, yêu cầu
chuẩn học sinh nghe- viết 8 dòng thơ đầu, nhưng đối với học sinh chậm chỉ yêu cầu các em nghe- viết 4 dòng, bên cạnh đó giáo viên phải theo dõi sát các em, uốn nắn và hướng dẫn cụ thể cho các em
Về đọc tăng cường gọi các em nhắc lại nhiều lần nếu là vần, đọc nhiều lần nếu là câu ứng dụng hay một đoạn văn, đoạn thơ
Ngoài ra bản thân tôi còn lập kế hoạch về thời gian để kèm cặp, phụ đạo cho những học sinh này, mỗi tuần tôi sắp xếp thời gian cho phù hợp và phụ đạo cho học sinh có chất lượng, cụ thể các tiết ôn tập buổi chiều các em học giỏi, khá tự làm các yêu cầu giáo viên giao và các em ngồi cùng bàn theo dõi lẫn nhau, khi đó giáo viên phải quan tâm đặc biệt tới những em học chậm theo dõi sát khi các em đọc, viết, cho các em đọc nhiều hơn, động viên các em mỗi khi các em đọc tốt Vào các tiết hoạt động tập thể có thể cho các em này ngồi tại lớp
Trang 9để hướng dẫn các em viết cho đúng và đẹp cũng như luyện cho các em đọc nhiều lần
2.2 Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình như mồ côi, cha mẹ bất hoà, cuộc sống khó khăn
Trong quá trình tìm hiểu thực tế cho thấy nhiều em đến lớp không viết bài, ngồi ngơ ngác có khi còn ngủ gật, không chú ý cô giảng bài… Đối tượng học sinh này cần được quan tâm nhiều cả về vật chất lẫn tinh thần Vì vậy muốn các học sinh này học tốt giáo viên phải nắm được hoàn cảnh thực tế của các em
từ đó mới có biện pháp cụ thể để dạy các em
Để giúp tôi có biện pháp dạy và tạo điều kiện tốt cho các em học tập, tôi bàn với Ban giám hiệu trường chủ động tham mưu với hội phụ huynh học sinh, các cơ quan đóng trên địa bàn giúp đỡ về vật chất như tặng cho các em sách vở, quần áo, đồ dùng học tập
Ví dụ: Trong lớp có em Đới do nhà ở khá xa trường, bố thì hay say xỉn
đánh đập vợ con nên em hay nghỉ học, đến lớp ngồi một mình không tham gia hoạt động cùng với các bạn, em học yếu, hay quên tập vở Tôi luôn luôn gần gũi, động viên em, khi thấy em nghỉ học không lí do cần đến nhà gặp gia đình của em, giúp em cùng chơi và hoà nhập với các bạn Đồng thời tôi cho em để một số sách vở ở lớp để em khỏi quên như tập hát, tự nhiên xã hội, vở bài tập các loại Một vài lần kiểm tra, tôi thấy em cũng đã tiến bộ nhiều, em vui hơn khi tham gia chơi cùng bạn bè và không còn ngồi buồn nữa
3 Giải pháp thứ 3: Làm thế nào để phụ huynh quan tâm tới con em mình
không khoán trắng cho nhà trường và thấy được sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là rất cần thiết
Từ thực tế cho thấy đa số cha mẹ học sinh đối tượng dân tộc Vân Kiều ở đây cho con đến trường là xong nhiệm vụ còn trách nhiệm dạy, giáo dục con mình là phần thầy cô giáo, có những em bị bệnh nhưng cha mẹ không hề biết vẫn cho con đi học có khi các em đi học cả buổi mà vẫn chưa ăn gì, ngay cả khi các em bị ốm mà phụ huynh cũng không quan tâm tới các em Với các trường hợp này đòi hỏi giáo viên cần phải thường xuyên liên lạc với phụ huynh, trao đổi với phụ huynh để họ hiểu rằng kết quả học tập của các em có tốt là phải có
sự phối hợp nhịp nhàng giữa gia đình và nhà trường Yêu cầu quan tâm tối thiểu như cha mẹ các em cần kiểm tra bài vở của các em sau mỗi buổi học ở trường xem con mình đã học những môn nào, các em có ghi chép đủ không, giúp các
em soạn sách vở trong thời gian đầu và theo dõi kiểm tra nhắc nhở các em việc soạn sách vở khi cho các em đã tự làm, hướng dẫn các em đọc bài nhiều lần ở nhà, chuẩn bị cho bài mới
Ví dụ: Ở lớp có một số em thường xuyên quên mang tập vở, không học
bài ở nhà, lần họp phụ huynh đầu tiên cha mẹ của các em không đi Sau nhiều lần như thế tôi phải liên lạc trực tiếp với phụ huynh, đến tận nhà thông báo tình hình học tập của các em và nhờ phụ huynh bắt tay với nhà trường, giúp phụ huynh hiểu được vai trò của gia đình trong việc dạy các em là rất quan trọng, mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình không thể tách rời nhau Thời gian sau cha mẹ các em đó đã quan tâm tới các em hơn và thường xuyên liên lạc với giáo
Trang 10viên chủ nhiệm, kì họp phụ huynh lần sau cha mẹ các em đi đầy đủ Sau một thời gian đến nay các em học sinh đó có tiến bộ rõ rệt
III Kết quả thực nghiệm
Với những biện pháp nêu trên, tôi đã rèn học sinh trong suốt gần một học
kì Qua các tiết dạy, tôi nhận thấy học sinh hứng thú hơn, tích cực hơn và tiến bộ nhiều hơn Không khí lớp học dường như có một chất xúc tác vô hình nào đấy làm cho các em đọc hay hơn, chính xác hơn và dĩ nhiên tiết dạy đạt hiệu quả cao Điều đó làm tôi cũng vui lây với niềm vui của các em Đó là một thực tế mà tôi đã trải qua
Sau gần hai học kì giảng dạy nói chung và dạy môn Tiếng Việt nói riêng, tôi nhận thấy chất lượng dạy môn Tiếng Việt đã được nâng lên
Kết quả giữa học kì II so với đầu năm ( cuối tháng 2/2016) cụ thể như sau:
Phân loại học sinh
Tổng số học sinh Tổng số học sinh
Ngoài số liệu trên tôi còn nhận thấy rõ kết quả cụ thể của bản thân và học sinh
*Bản thân tôi biết vận dụng khéo léo và vận dụng linh hoạt các phương
pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp
*Tìm hiểu rõ được nguyên nhân và hoàn cảnh của các em, tôi chủ động
bàn bạc với Ban giám hiệu nhà trường với các thành viên trong tổ khối tìm giải pháp hợp lí, sẵn sàng nhiệt tình giúp đỡ các em
*Học sinh có sự chuyển biến tích cực trong học tập, tự giác học và có rất
nhiều cố gắng nhất là các em có hoàn cảnh đặc biệt, các em có bệnh lí đồng thời các em còn cảm nhận được sự gần gũi, yêu thương của thầy cô, biết hoà đồng cùng các bạn, biết chia sẻ những vui, buồn, khó khăn với bạn bè, thầy cô Các
em tự tin trong học tập và thực sự thấy mỗi ngày đến trường là một ngày vui
*Làm nền móng tốt cho các em học lên lớp trên, tạo đà để chất lượng học
tập ngày một tốt hơn
*Một số phụ huynh nhận thấy rõ vai trò của gia đình trong quá trình giáo
dục con em mình, nhiệt tình chỉ bảo, quan tâm tới các em nhiều hơn, thường xuyên giữ mối liên hệ với nhà trường, hiểu được tầm quan trọng của sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình
Trên đây là một số kết quả mà tôi đã đạt được Tôi tin tưởng rằng với những biện pháp nêu trên thì chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 trong những năm tới sẽ đạt kết quả tốt hơn