Trên cơ sở đó, tôi quyết định chọn “Một số phương pháp giúp học sinh THPT học tốt phần đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn ” làm đề tài nghiên cứu của mình như là một sự chia sẻ với tất cả
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG: THPT CHÂU VĂN LIÊM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Chợ Mới, ngày 20 tháng 02 năm 2019
BÁO CÁO
KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC 2018-2019
I SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ
- Họ và tên: Phạm Thị Mỹ Lời Nam, nữ: Nữ
- Ngày tháng năm sinh: 15/05/1983
- Nơi thường trú: Ấp Mỹ Thành, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đơn vị công tác: Trường THPT Châu Văn Liêm
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy môn Ngữ văn
II TÊN SÁNG KIẾN:
Một số phương pháp giúp học sinh THPT học tốt phần đọc hiểu văn bản môn Ngữ
văn
III LĨNH VỰC: Văn học thuộc phương pháp giảng dạy
IV MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA SÁNG KIẾN
1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
1.1.Thuận lợi
Khi thực hiện đề tài này, bản thân tôi cũng có được những thuận lợi cần thiết
Trước hết, bản thân có hơn 10 năm đứng lớp, có sự tâm huyết với nghề, có tinh thần
cầu tiến trong công tác và luôn có ý thức thay đổi phương pháp cũng như hình thức kiểm
tra đánh giá trong dạy học cho phù hợp tình hình mới
Thứ hai, bản thân cũng được sự hỗ trợ nhiệt tình về mặt chuyên môn, phương pháp
cũng như sự tư vấn, giúp đỡ của tập thể Ban lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn trong
công tác giáo dục cũng như giảng dạy
Thứ ba, về cơ sở vật chất, nhà trường đã trang bị cho giáo viên những trang thiết bị cần
thiết hỗ trợ trong việc dạy học để thích nghi với tình hình mới như máy vi tính, máy
Trang 2chiếu, tranh ảnh…nên giáo viên có ứng dụng công nghệ thông tin khi dạy học, tạo nên tâm lí hứng thú ở học sinh Điều này làm cho giờ học thêm sinh động, tạo hiệu ứng tốt cho giáo viên và học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy
Cuối cùng, trên thực tế vẫn còn bộ phận học sinh yêu thích bộ môn Văn, luôn tích cực trong học tập và say mê nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá những điều hay qua tác phẩm văn chương
1.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi, khi áp dụng đề tài bản thân tôi cũng cảm thấy nhiều vấn
đề còn đang tồn đọng, ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy Cụ thể như sau:
Thứ nhất, về phía hoạc sinh, môn Ngữ Văn trước nay vốn dĩ là môn bắt buộc trong
kì thi Tuyển sinh vào lớp 10 và thi tốt nghiệp THPT (nay gọi là thi THPT quốc gia) Biết
là vậy, thế nhưng, kì thực tâm lí của đại bộ phận học sinh thường không mấy yêu thích, thậm chí các em tỏ ra thờ ơ, lười nhát trong suy nghĩ, thiếu sự kiên nhẫn khi đối diện với
bộ môn này trong nhà trường THPT
Thứ hai, về phía giáo viên, ngoài công tác giảng dạy chuyên môn còn phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác như chủ nhiệm lớp, tham gia các phong trào trong năm của đơn
vị, ban ngành nên ít nhiều bị chi phối đến năng suất làm việc và hiệu quả công tác Với giáo viên chủ nhiệm đôi lúc phải chịu áp lực về hiệu quả đào tạo, với giáo viên bộ môn thì
ngán ngại tỉ lệ bộ môn vì vậy nhiều lúc giáo viên cũng phải lực bất tòng tâm trước thực
trạng hiện nay
Thứ ba, về hình thức thi cử trong những năm gần đây Bộ giáo dục cứ thay đổi liên tục, nhất là trong việc ra đề thi và chấm thi của bộ môn nên ít nhiều đã ảnh hưởng, gây sự xáo trộn trong việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh Cụ thể ở năm học 2014-
2015 và 2015-2016, Bộ giáo dục đã chuyển sang kì thi THPT quốc gia (gọi tắt là kì thi hai trong một), nghĩa là học sinh chỉ cần thi một lần nhưng kết quả sẽ tính cho cả tốt nghiệp và tuyển sinh Cao đẳng- Đại học Và từ năm học 2016-2017 đến nay, học sinh sẽ thi ba môn bắt buộc gồm Ngữ Văn, Toán, Ngoại ngữ và chọn một trong hai bài thi : bài thi tổ hợp ban Khoa học tự nhiên (Lí, Hóa Sinh) hoặc tổ hợp môn Khoa học xã hội (Sử, Địa, Giáo dục công dân) Ngoại trừ môn Ngữ Văn thi dưới hình thức tự luận, các môn còn lại thi trắc nghiệm 100%
Thứ tư, Từ năm 2014 đề thi cho môn Ngữ Văn khác hẳn so với trước kia là có riêng phần Đọc hiểu văn bản gồm nhiều câu hỏi nhỏ với tổng số điểm là 3.0/10.0 điểm toàn bài thi Đây thực sự là thách thức rất lớn cho bộ môn Ngữ Văn mà bản thân tôi đang trực tiếp giảng dạy
Trang 3
Minh họa sự khác biệt về cấu trúc đề th THPTQG qua các năm:
Khoảng thời gian từ năm học 2009 - 2010 đến năm học 2012 - 2013, hình thức thi
của Bộ giáo dục vẫn theo kiểu truyền thống từ trước đó Cụ thể như sau:
II Phần riêng – Phần tự chọn (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục
– 2008)
Câu 3.b Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau trong bài Sóng của Xuân Quỳnh :
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ
(Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, tr.122 – 123, NXB Giáo dục – 2008)
NĂM 2011
I Phần chung cho tất cả thí sinh (5,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kỹ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?
II Phần riêng - phần tự chọn (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Trang 4Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
(Ngữ văn 12, Tập một, tr.88, NXB Giáo dục – 2009)
Câu 3.b Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
(Phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục - 2008)
II PHẦN RIÊNG – PHÀN TỰ CHỌN (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b) Câu 3.a Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu:
Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô
Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
Trang 5Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…
(Ngữ văn 12, tập một, tr 111, NXB Giáo dục – 2000)
Câu 3.b Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Phân tích hình tượng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò Sông
Đà của nhà văn Nguyễn Tuân (phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập
một, NXB Giáo dục – 2009)
NĂM 2013
I PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm) Câu 1.(2,0 điểm)
Trong phần cuối truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, nhân vật bà mẹ hạ Du
đã có thái độ như thế nào khi nhìn thấy vòng hoa trên mộ con mình? Hình ảnh vòng hoa ấy có ý nghĩa gì?
em liền chạy đến Thấy một nhóm học sinh đang chới với dưới nước, Nam đã nhảy xuống, lần lượt cứu được ba học sinh lớp 9 và một học sinh lớp 6 Khi đẩy được em thứ năm vào bờ thì Nam đã kiệt sức và bị dòng nước cuốn trôi
(Theo Khánh Hoan, Thanhnienonline, ngày 6/5/2013)
II PHẦN RIÊNG – PHÀN TỰ CHỌN (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b) Câu 3.a Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị qua cảnh đêm
mùa xuân khi Mị muốn đi chơi và bị trói trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài (phần trích trong Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam- 2012)
Câu 3.b Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm:
Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng (Ngữ văn 12, Nâng cao, tập một, NXB Giáo
dục Việt nam-2012,tr 115-116-117)
Trang 6Đề thi tốt nghiệp THPT của Bộ giáo dục đào tạo năm 2014
Ghi chú: Minh họa đề thi tốt nghiệp THPT của Bộ giáo dục đào tạo năm 2014
Trang 72 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Trước thực trạng đó, bản thân tôi rất lo lắng và luôn trăn trở tìm ra lời giải cho bài toán khó khăn này
Tôi quyết định tìm ra phương pháp giúp các em học tốt phần Đọc hiểu văn bản Tôi
thiết nghĩ nếu học tốt phần này sẽ giúp các em giảm nhẹ việc học vẹt, ghi nhớ máy móc bài học Các em chỉ cần có kĩ năng đọc, hiểu để trả lời các câu hỏi gợi ra từ văn bản là có thể ghi điểm dễ dàng Mà công việc này thì với học sinh trung bình- yếu sẽ nhẹ nhàng rất nhiều so với việc viết một bài tập làm văn
Nghĩ là làm, tôi quyết định thực hiện Qua mỗi giai đoạn, mỗi năm học, sự tiến bộ của học sinh tăng dần và kết quả cuối năm đã thật sự thay đổi làm tôi rất phấn khởi bởi kết quả chung cao hơn tỉ lệ tỉnh (tôi sẽ trình bày kĩ hơn ở phần sau)
Thừa thắng xông lên, những năm học sau, tôi cũng đem những thành công của những năm trước áp dụng vào thực tiễn Kết quả là tỉ lệ chung khá ổn định và luôn cao hơn tỉnh Đó là một tín hiệu đáng mừng cho riêng bản thân tôi
Đứng trước những khó khăn trong thực tiễn giảng dạy, tôi nhận thấy rằng dù ngành giáo dục có thay đổi như thế nào thì môn Ngữ Văn vẫn là môn thi bắt buộc để xét công nhận tốt nghiệp lớp 12 Nó như là bậc thang đầu tiên trong con đường học tập của mỗi người học sinh Dù muốn dù không, thích hay không thích, học sinh không thể chạm vào cánh cửa Đại học Cao đẳng mà không học môn Ngữ Văn cũng như không có bằng chứng nhận tốt nghiệp THPT Có khác chăng là người dạy và người học sẽ phải thích nghi với từng điều kiện, hoàn cảnh thực tế như thế nào
Chương trình học thì đã có sẵn, người dạy và người học chỉ cần thay đổi phương pháp và cách tiếp cận bộ môn thì sẽ giảm được sự bỡ ngỡ và lạ lẫm lúc đầu Qua mỗi ngày, mỗi năm, tôi cũng dần rút ra cho bản thân vài kinh nghiệm trong việc giảng dạy bộ môn Với mỗi đối tượng khác nhau, cách dạy và học cũng cần khác nhau, nhất là khi giảng dạy
ôn tập trong kì thi quan trọng- THPT quốc gia- thì phương pháp dạy học với người giáo viên là một điều thật sự cần thiết
Với những điều tôi đã đạt được trong những năm qua đã giúp tôi phần nào tự tin hơn khi đứng trước học sinh và tập thể đồng nghiệp Có thể những kinh nghiệm của bản thân tôi không phải là quá mới với mọi người nhưng đó là kết quả của sự trải nghiệm thực tế
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao Trên cơ sở đó, tôi quyết định chọn “Một số phương pháp giúp học sinh THPT học tốt phần đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn ” làm
đề tài nghiên cứu của mình như là một sự chia sẻ với tất cả những ai quan tâm đối với bộ
môn Ngữ Văn nói riêng và ngành giáo dục nói chung
Trang 83.Nội dung sáng kiến
3.1.Tiến trình thực hiện
3.1.1.Phạm vi nghiên cứu
- Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ tập trung nghiên cứu các vần đề cơ bản: làm thế nào để học sinh học tốt phần đọc hiểu văn bản môn Ngữ Văn trong chương trình THPT
- Đồng thời xác định đối tượng ban đầu thử nghiệm của đề tài là học sinh 11 và ớp
12 tôi trực tiếp giảng dạy ở trường THPT Châu Văn Liêm
3.1.2 Thời gian thực hiện đề tài
3.1.2.1 Thời gian thử nghiệm đề tài
- Năm học 2014 -2015, khi cấu trúc đề thi THPT thay đổi theo hướng mới tôi tiến
hành thử nghiệm đề tài vào HKII ở lớp 11 và 12 Tôi lấy kết quả so sánh giữa kết quả cuối HKI ( chưa thử nghiệm đề tài)và kết quả cuối HKII ( khi đã thử nghiệm đề tài) của lớp 11
và kết quả thi THPTQG ở lớp 12 để cho thấy hiệu quả của đề tài
Bảng1: Kết quả HKI năm học 2014 – 2015 của lớp 11C3, 12C1
LỚP
Số
HS
ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN HỌC KÌ I 2014 – 2015
ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN HỌC KÌ I 2014 – 2015
ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN HỌC KÌ II 2014 – 2015
ĐIỂM TRUNG BÌNH MÔN HỌC KÌ II 2014 – 2015
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
Trang 911C3 28 8 28,57 15 53,57 5 17,6 28 100 0 0 0 0 0 0
Khi thử nghiệm đề tài kết quả thi THPTQG của lớp 12 tôi dạy rất khả quan
Bảng 3: Kết quả thi THPTQG năm học 2014 – 2015
3.1.2.2 Thời gian thực nghiệm đề tài
Khi tiến hành thử nghiệm đề tài chất lượng bộ môn đã nâng dần lên đặc biệt là kết quả thi THPT quốc gia cao hơn tỉ lệ tỉnh.Từ kết quả trên tôi tiến hành thực hiện đề tài một cách triệt để vào năm 2015 - 2016 đến HKI năm học 2018 -2019 Kết quả bộ môn tăng dần và thể hiện rõ nét ở kết quả thi THPTQG của khối 12 Điều này được thể hiện ở bảng 4
3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp quan sát thực tiễn trong quá trình dạy và học ở trường phổ thông
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, so sánh, đối chiếu, phân loại, thống kê
- Tham khảo các tài liệu dạy học có liên quan nhất là kiến thức xã hội, lịch sử, địa lí,
- Sưu tầm, tra cứu, học hỏi từ sách, báo, bạn bè, đồng nghiệp,
3.3.Biện pháp tổ chức
3.3.1 Một số yêu cầu khi thực hiện đề tài
3.3.1.1 Yêu cầu ở giáo viên
Trước hết, giáo viên phải viên lồng ghép ôn lại kiến thức Tiếng Việt đã học ở THCS giúp các em làm tốt phần đọc - hiểu khi tham gia kiểm tra, thi cử Điều này có thể thực hiện ở học sinh ớp 10, 11 để các em làm quen Đặc biệt là cần thực hiện liên tục ở các lần
Trang 10kiểm tra 15 phút đối với học sinh 12 nhằm giúp các em làm tốt phần đọc hiểu văn bản ở
đề thi THPTQG Khi kiểm tra 15 phút ngoài kiến thức giáo khoa giáo viên cần cho học sinh kiểm tra phần đọc – hiểu văn bản Để kiểm tra được cả hai phần trên thời lượng kiểm tra có thể tăng lên là 30 phút Công việc này đòi hỏi sự sáng tạo, lòng nhiệt tình của giáo viên
3.3.1.2 Yêu cầu ở học sinh
* Việc học của học sinh ngoài lớp
- Học sinh cần chuẩn bị tốt các khâu tự học ở nhà một cách cụ thể, chi tiết
- Học sinh cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện học tập, tư liệu học tập trước khi đến lớp
- Học sinh ôn lại kiến thức Tiếng Việt đã học ở THCS
* Việc học của học sinh trên lớp
- Ngoài việc chuẩn bị ở nhà, trên lớp học sinh phải tích cực chủ động vì học sinh là
“trung tâm của hoạt động dạy học”
- Trong việc học tập đòi hỏi học sinh phải thật tích cực, nhạy bén và có đầu óc tư duy
3.3.2 Các bước thực hiện đề tài
Tôi đã thực hiện đề tài như sau: Tôi đưa ra mục tiêu cần đạt là học sinh làm tốt phần đọc – hiểu văn bản trong bài thi Để thực hiện được điều này các em phải nắm được kiến thức đọc – hiểu văn bản bao gồm cả kiến thức Tiếng Việt có ở chương trình THCS Đồng thời, khi kiểm tra 15 phút tôi thường cho học sinh làm 30 phút nhằm vừa củng cố kiến thức
lý thuyết và thực hành đọc hiểu
Dưới đây là quy trình tôi thực hiện
* Bước 1: Định hướng kiến thức cơ bản
Sau khi căn cứ vào các dạng câu hỏi trong phần đọc hiểu văn bản của BGDĐT ra hàng năm cho học sinh khối 12, tôi đã trang bị một số lí thuyết cơ bản liên quan nội dung đọc - hiểu văn bản để phổ biến cho học sinh Nội dung đó bao gồm:
- Từ vựng
- Ngữ pháp
- Văn bản
- Phép liên kết
Trang 11- Nghĩa tường minh và hàm ý
- Các phương châm hội thoại
- Phương thức biểu đạt
- Phong cách ngôn ngữ
- Thao tác lập luận
- Biện pháp tu từ: từ vựng, cú pháp, ngữ âm
- câu hỏi nêu ý ngĩa văn bản
- Câu hỏi theo tác giả,………
* Bước 2: Định hướng các dạng câu hỏi thường gặp trong đề thi:
1 Xác định phương thức biểu đạt
2 Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản
3 Xác định thao tác lập luận văn bản
4 Xác định thể thơ, cách gieo vần và hiệu quả của thể thơ đó
5 Xác định biện pháp tu từ và nêu hiệu quả biểu đạt
6 Xác định câu chủ đề hoặc khái quát chủ đề
7 Nêu nội dung chính, các ý chính của văn bản
8 Xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt
9 Giải thích ý nghĩa từ ngữ, câu văn trong đoạn văn bản
10 Xác định từ láy và nêu hiệu quả sử dụng
11 Chỉ ra các phép liên kết được sử dụng ( phép lặp, phép thế, phép nối, phép đối, phép liên tưởng)
12 Xác định ngôi kể và phương thức trần thuật
13 Trình bày suy nghĩ của bản thân về một vấn đề được đặt ra từ văn bản, vì sao tác giả cho rằng, theo tác giả vấn đề đó như thế nào?,…( thông điệp, điều tâm đắc)
-Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực nghiên cứu, học tập
và phổ biến khoa học, đặc trưng cho các mục đích diễn đạt chuyên môn sâu
-Trích từ sgk, vb phổ biến kiến thức y học…
-VD các tác phẩm văn học (thơ, truyện )
Trang 12VD: nhật kí, hồi kí, thư từ, truyện trò trên mạng xã hội, tin nhắn điện thoại,…
- Bản tường thuật, tường trình
- Tác phẩm văn học nghệ thuật
(truyện, tiểu thuyết)
Chiều tối qua ngày 11/11/2016, một tấm hình lan truyền trên mạng gây xúc động và nhận được biết bao nhiêu lời khen ngợi Vô tình va quẹt và làm vỡ một chiếc gương ô tô bên đường, một cậu học trò Hải Phòng đã viết một lời xin lỗi với nội dung sau : “Do
vô tình nên cháu đâm vào gương ô tô Cháu xin lỗi ạ! Liên lạc với cháu theo số điện thoại…để cháu đền
ạ vì cháu không biết chủ ô tô là ai” Lá thư được dán trên kính ô tô khiến nhiều người bày tỏ sự cảm kích, khen ngợi hành động trung thực, dám làm, dám chịu của người viết lá thư này
Anh Chung, chủ nhân xe ô tô bị vỡ gương, dù không tin lắm nhưng cũng gọi điện vào số điện thoại ghi trên giấy Bất ngờ khi biết đó là em Nguyễn Thế Tùng học sinh lớp 11 trường Trần Nguyên Hãn - Hải Phòng… “Tôi rất cảm động vì trong xã hội ngày nay không ít người gây hậu quả nhưng không dám nhận lỗi, thậm chí thoái thác trách nhiệm, đổ lỗi cho người khác Đây là hành động dũng cảm cho thấy em được gia đình và nhà trường giáo dục rất tốt.” anh Chung chia sẻ”
(Theo kinh HTV7, chương trình Tin tức 60s)
Trang 13- Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự
sự
Trăng đang lên Mặt sông lấp loáng ánh vàng Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát” (Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)
- Tác phẩm văn học: thơ trữ tình, tùy bút
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than (Ca dao)
Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm
(Lời người bên sông - Lê Bá Dương)
- Giới thiệu
di tích, thắng cảnh, nhân vật
- Trình bày tri thức và phương pháp trong khoa học
Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đã tạo
ra trên thế gian này, hiếm có loài hoa nào mà sự đánh giá về nó lại được thống nhất như là hoa lan Hoa lan đã được người phương Đông tôn là
« loài hoa vương giả » (vương giả chi hoa) Còn với người phương Tây thì lan là « nữ hoàng của các loài hoa »
Họ lan thường được chia thành hai nhóm : nhóm phong lan bao gồm tất cả những loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí.Còn nhóm địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục …
điểm của con
người đối với tự
- Xã luận, bình luận, lời kêu gọi
- Sách lí luận
- Tranh luận
về một vấn
đề chính trị,
xã hội, văn hóa
“Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài giỏi Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai
Trang 14– Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ được tư tưởng, đạo
lí, phẩm chất, quan hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm
– Cách giải thích: Tìm đủ
lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa vấn đề đó Đặt ra hệ thống câu hỏi để trả lời
Ví dụ 1
Sự trong sáng của ngôn ngữ là kết quả của một cuộc phấn đấu Trong và sáng dính liền nhau Tuy nhiên, cũng có thể phân tích ra để cho được
rõ nghĩa hơn nữa Theo tôi nghĩ, sáng là sáng sủa,
dễ hiểu, khái niệm được rõ ràng; thường thường khái niệm, nhận thức, suy nghĩ được rõ ràng thì lời diễn đạt ra cũng được minh bạch Tuy nhiên, nhất là trong thơ, có rất nhiều trường hợp ý nghĩa sáng rồi, dễ hiểu rồi, nhưng lời diễn đạt còn thô, chưa được trong, chưa được gọn, chưa được chuốt Do đó tôi muốn hiểu chữ sáng là nặng về nói nội dung, nói tư duy, và chữ trong là nặng nói
về hình thức, nói diễn đạt (và cố nhiên là nội dung
và hình thức gắn liền) Cho nên phải phấn đấu cho được sáng nghĩa, đồng thời lại phải phấn đấu cho được trong lời, đặng cho câu thơ, câu văn trong sáng
đó Còn có một cách giải thích khác được lưu truyền Cách giải thích ấy cho rằng "Lá lành đùm
lá rách" là để chỉ những lớp lá khi gói luôn là
Trang 15những chiếc lá không mấy lành lặn rồi mới đốn những chiếc lá lành lặn, đẹp đẽ Cái cách gói ấy
đã có từ muôn đời, đến nay đã thành cái lệ, cái tập tục, cái thói quen của những người làm bánh."
tích
-Là cách chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố
bộ phận để đi sâu xem xét một cách toàn diện về nội dung, hình thức của đối tượng
– Cách phân tích: Chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận theo những tiêu chí, quan hệ nhất định
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
(Nguyễn Khuyến)
Từ “xanh ngắt” gợi tả không gian trời thu
cao xanh vời vợi, nền trời là một màu xanh ngăn ngắt Màu xanh này gợi tả được cảnh trong veo và
thật im vắng, yên tĩnh Cụm từ “mấy từng cao” đã
diễn tả không gian sâu thẳm vô cùng Trên nền không gian bao la ấy, tác giả điểm xuyết một cành
trúc Từ láy “lơ phơ” giàu sức tạo hình, gợi tả cành
trúc khẳng khiu, thanh mảnh, nhẹ nhàng, thưa thớt
lá, đang đong đưa trong làn gió nhẹ của chiều thu Nhờ cần trúc với dáng nét lơ phơ mà cảnh thu có
vẻ đẹp duyên dáng thơ mộng, thanh thoát
minh
– Dùng những bằng chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ đối tượng
– Cách chứng minh: Xác định vấn đè chứng minh để tìm nguồn dẫn chứng phù hợp Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, toàn diện sát hợp với vấn đề cần chứng minh, sắp xếp dẫn chứng phải lô gic, chặt chẽ
Việc hình thành các mạng xã hội đã tạo điều kiện cho các bạn trẻ được thỏa sức xây dựng một thế giới ảo và một cuộc sống ảo cho riêng mình Trong thế giới đó nhiều chuẩn mực, lễ nghi trong giao tiếp ngoài đời đã không còn và vì thế những phong cách và cá tính “chính hiệu” đã ra đời Lướt qua một vài “chat room” ta bắt gặp những cách
trình bày, biểu cảm khác lạ của ngôn từ
Xu hướng đơn giản hóa là khuynh hướng phổ biến
nhất Chỉ cần lướt qua những “chat room”(phòng chat), forum (diễn đàn) chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những kiểu diễn đạt như: wá, wyển ( quá, quyển); wen(quen); wên (quên); iu (yêu); lun (luôn); bùn (buồn); bitk? (biết không?); bít rùi (biết rồi); mí (mấy); dc (được); ko,k (không); u (bạn, mày), ni (nay), en(em), m (mày), ex (người yêu cũ), t (tao), hem (không), Bít chít lìn (biết chết
Xu hướng phức tạp hóa như một cách để thể hiện
sự khác biệt “sành điệu”của giới trẻ: dzui (vui), thoai (thôi), dzìa(về), roài(rồi), khoai(khó) ><in (xin), lÔ0~i(lỗi), em4jl (email).v.v Trong xu hướng phức tạp hóa một trong những nét đặc trưng cần phải nhấn mạnh đó là cách thể hiện, trình bày nội dung văn bản Với mong muốn được thể hiện, khẳng định bản thân (do tâm lý lứa tuổi) xu hướng này vì thế, càng được phát huy mạnh mẽ Sự phức tạp trước hết được thể hiện thông qua hàng loạt các
Trang 16biểu đạt tình cảm đi kèm buồn; :(( , T _
T khóc; cười; :))))) rất buồn cười; =.= mệt mỏi; >!< cau có; yêu; :* hôn, ^^, vui v.v
Sự phức tạp còn được thể hiện trong cách trình bày cầu kỳ: “ThiẾu zẮng a e hUmz thỂ shỐng thÊm
1 fÚt jÂy nÀo nỮa” (Thiếu vắng anh, em không thể sống thêm một phút giây nào nữa) Xu hướng này còn phát triển đến mức ngay cả những người
“trong cuộc” nhiều khi cũng không thể hiểu hết được những nội dung do những sáng tạo mang nặng tính cá nhân như vậy
…Trên đây chúng tôi trình bày tóm lược những biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ của giới trẻ
ở cả hai môi trường thực – ảo Những kết quả khảo sát đã phần nào cho thấy thực trạng ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay Bên cạnh những nét độc đáo, những sáng tạo đáng ghi nhận vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần có sự can thiệp, chấn chỉnh kịp
thời để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt….” (Ngôn ngữ @ và vấn đề giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt)
4 Bác bỏ – Là cách trao đổi, tranh
luận để bác bỏ ý kiến được cho là sai
– Cách bác bỏ: Nêu ý kiến sai trái, sau đó phân tích, bác bỏ, khẳng định ý kiến đúng; nêu từng phần ý kiến sai rồi bác bỏ theo cách cuốn chiếu từng phần
“ …Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn Lời trách cứ này không có
cơ sở nào cả Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?
Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?
Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?
Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này:
Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra …”
(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức, Theo
SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014,
… Văn hóa ứng xử từ lâu đã trở thành chuẩn mực trong việc đánh giá nhân cách con người Cảm ơn là một trong các biểu hiện của ứng
Trang 17nhận xét, đánh giá, đúng hay sai, hay / dở, tốt / xấu, lợi / hại… về sự việc, hiện tượng… để nhận thức đối tượng, có phương châm hành động đúng
– Cách bình luận: Trình bày rõ ràng, trung thực vấn
đề được bình luận, đề xuất
và chứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá là xác đáng Thể hiện rõ chủ kiến của mình
xử có văn hóa Ở ta, từ cảm ơn được nghe rất nhiều trong các cuộc họp: cảm ơn sự có mặt của quý vị đại biểu, cảm ơn sự chú ý của mọi người…Nhưng đó chỉ là những lời khô cứng,
ít cảm xúc Chỉ có lời cảm ơn chân thành, xuất phát từ đáy lòng, từ sự tôn trọng nhau bất kể trên dưới mới thực sự là điều cần có cho một xã hội văn minh Người ta có thể cảm ơn vì những chuyện rất nhỏ như được nhường vào cửa trước, được chỉ đường khi hỏi… Ấy là chưa kể đến những chuyện lớn lao như cảm ơn người đã cứu mạng mình, người đã chìa tay giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn … Những lúc đó, lời cảm ơn còn có nghĩa là đội ơn
được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm
-Các loại so sánh:
+so sánh tương đồng
+ so sánh tương
phản
– Cách so sánh: Đặt đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí, nêu rõ quan điểm, ý kiến của người viết
Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại
ưa những màu xanh nhạt… Các cụ bâng khuâng
vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một việc tội lỗi, ta thì cho
là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng : cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi…, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…
(Hoài Thanh)
4.CÁC HÌNH THỨC (KIỂU) LÂP LUẬN
Trang 181.Diễn
dịch
Diễn dịch là từ một chân lí chung, quy luật chung mà suy ra các hệ luận, các biểu hiện cụ thể
Một chiếc lá rụng có linh hồn riêng, một tâm tình riêng, một cảm giác riêng Có chiếc tựa
như mũi tên nhọn, từ cành cây rơi cắm phập xuống đất như cho xong chuyện, cho xong một đời lạnh lùng thản nhiên, không thương tiếc, không do dự vẩn
vơ Có chiếc lá như con chim bị lảo đảo mấy vòng trên không rồi cố gượng ngoi đầu lên, hay giữ thăng bằng cho tận tới cái giây nằm phơi trên mặt đất Có chiếc lá nhẹ nhàng khoan khoái đùa bỡn, hay múa may với làn gió thoảng như thầm bảo rằng vẻ đẹp của vạn vật chỉ ở hiện tại: cả thời quá khứ dài dằng dặc của chiếc lá trên cành cây không bằng một vài giây bay lượn, nếu sự bay lượn ấy có vẻ đẹp nên thơ
Có chiếc lá như sợ hãi, ngần ngại rụt rè, rồi như gần tới mặt đất, còn cất mình muốn bay trở lại cành Có chiếc lá đầy âu yếm rơi bám vào một bông hoa thơm, hay đến mơn trớn một ngọn cỏ xanh mềm mại
2.Quy
nạp
Quy nạp là từ những chứng cớ cụ thể mà rút
ra những nhận định tổng quát
Những đứa con từ khi sinh ra đến khi trưởng
thành, phần lớn thời gian là gần gũi và thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn từ cha Chúng được
mẹ cho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ốm đau…Với việc nhận thức thông qua quá trình bé tự quan sát, học hỏi tự nhiên hàng ngày và ảnh hưởng đặc biệt các đức của người mẹ, đã hình thành dần dần bản tính của đứa con theo kiểu “mưa dầm, thấm lâu”
Ngoài ra, những đứa trẻ thường là thích bắt chước người khác thông qua những hành động của người
gần gũi nhất chủ yếu là người mẹ Chính người phụ
nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu
mô hình cấu tạo của toàn bài văn nghị luận
Trong hoàn cảnh “trăm dâu đổ đầu tằm”,
ta càng thấy chị Dậu thật là một người phụ nữ đảm đang, tháo vát Một mình chị phải giải quyết mọi khó
khăn đột xuất của gia đình, phải đương đầu với những thế lực tàn bạo : quan lại, cường hào, địa chủ
và tay sai của chúng Chị có khóc lóc t có kêu trời, nhưng chị không nhắm mắt khoanh tay, mà tích cực tìm cách cứu được chồng ra khỏi cơn hoạn nạn
Hình ảnh chị Dậu hiện lên vững chãi như một chỗ dựa chắc chắn của cả gia đình
(Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh) 4.Song
hành
(Không có câu chủ đề):
Đây là đoạn văn có các câu triển khai nội dung song song nhau, không nội dung nào bao trùm
Trong tập “Nhật kí trong tù”(Hồ Chí
Minh), có những bài phác họa sơ sài mà chân thực đậm đà, càng tìm hiểu càng thú vị như đang chiêm ngưỡng một bức tranh cổ điển Có những bài cảnh lồng lộng sinh động như những tấm thảm thuê nền
Trang 19lên nội dung nào Mỗi câu trong đoạn văn nêu một khía cạnh của chủ
đề đoạn văn, làm rõ cho nội dung đọan văn
gấm chỉ vàng Cũng có những bài làm cho người đọc nghĩ tới những bức tranh sơn mài thâm trầm, sâu sắc
Đoạn móc xích có thể
có hoặc không có câu
chủ đề
Đọc thơ Nguyễn Trãi, nhiều người đọc khó
mà biết có đúng là thơ Nguyễn Trãi không Đúng là thơ Nguyễn Trãi rồi thì cũng không phải là dễ hiểu đúng Lại có khi chữ hiểu đúng, câu hiểu đúng mà toàn bài không hiểu Không hiểu vì không biết chắc bài thơ bài thơ được viết ra lúc nào trong cuộc đời nhiều nổi chìm của Nguyễn Trãi Cũng một bài thơ nếu viết năm 1420 thì có một ý nghĩa, nếu viết năm
1430 thì nghĩa khác hẳn
(Hoài Thanh)
Trang 206.Nêu
phản đề
Nêu phản đề là nêu ra một luận điểm giả định
và phát triển nó cho đến tận cùng để chứng
tỏ đó là luận điểm sai
và từ đó mà khẳng định luận điểm của mình
Đây là cách lật ngược vấn đê để xem xét
Giả sử, nếu không có Thơ mới thì sau Cách mạng tháng Tám, tình hình thơ ca sẽ ra thế nào ? Chắc chắn là từ các thể thơ cũ, bát cú, tuyệt
cú, cổ phong mà nhảy vọt lên để sớm có được những thành tựu như của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu… trong kháng chiến làn thứ nhất,
là chuyện khó quan niệm nổi Lịch sử là sợi dây chuyền mà mỗi khâu trong đó đều có vai trò trong quá trình phát triển
-Có hai kiểu so sánh khi viết đoạn văn là: so sánh tương đồng và so sánh tương phản
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ Suy rộng ra, câu ấy
có ý nghĩa là : tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng ; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do
cụ coi như đã làm một việc tội lỗi, ta thì cho là mát
mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng : cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi…, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…
(Lưu Trọng Lư)
5 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THƯỜNG GẶP
Biện pháp tu
So sánh Là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật,
sự việc mà giữa chúng có những
-A là B VD “Người ta là hoa đất”
-A như B:
Trang 21nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn
VD.“Nước biếc trông như làn khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào”
-Bao nhiêu….bấy nhiêu
VD Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu
Ẩn dụ Là gọi tên sự vật, hiện tượng
này bằng tên sự vật, hiện
tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức
gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
-Ẩn dụ hình thức - tương đồng về hình thức:
VD Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”
(Chỉ hoa lựu màu đỏ như lửa) -Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức
VD “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
[ăn quả - hưởng thụ, “trồng cây” – lao
động]
-Ẩn dụ phẩm chất - tương đồng về phẩm chất
VD
tiếng ghi ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi lá xanh biết ấy tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
(Thanh Thảo)
Nhân hóa Là biện pháp tu từ sử dụng
những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi vốn chỉ dành cho con người để miêu tả
đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn
- Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự
vật: Chị ong nâu, Ông mặt trời, Bác giun, Chị gió,…
-Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:
VD.Heo hút cồn mây súng ngửi trời”
- Trò chuyện với vật như với người:
VD.“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
(Quang Dũng)
“Trâu ơi ta bảo trâu này…”
(Ca dao)
Hoán dụ Gọi tên sự vật, hiện tượng, khái
niệm này bằng tên của một sự
vật, hiện tượng khác có quan hệ
+ Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể:
“Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi”
Trang 22gần gũi với nó nhằm làm tăng
sức gợi hình, gợi cảm cho sự
+Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:
“Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
(Tố Hữu)
+Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản
Vd “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
[Truyện Kiều – Nguyễn Du]
+ Điệp nối tiếp:
“Mai sau Mai sau Mai sau Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”
[Tre Việt Nam – Nguyễn Duy]
+ Điệp vòng tròn:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
[Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm]
Lặp (điệp) cấu
trúc
- Là biện pháp tu từ tạo ra những câu văn đi liền nhau trong văn bản với cùng một kết cấu nhằm
Lặp ngữ âm+ cấu trúc:
VD1:
Trang 23nhấn mạnh ý và tạo sự nhịp nhàng, cân đối cho văn bản
Ðòn gánh / có mấu
Củ ấu / có sừng Bánh chưng / có lá Con cá / có vây Ông thầy / có sách Ðào ngạch / có dao
Thợ rào / có búa
→ lặp vần nhịp, ở đây cũng còn có hiện tượng lặp cú pháp
VD 2
Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta”
[Đất nước – Nguyễn Đình Thi]
→lặp cú pháp “ đây là của chúng ta”
Khẳng định chủ quyền dân tộc, bộc lộ niềm tự hào, vui sướng,
Vd 3
Lặp cú pháp: Tre, anh hùng lao động!
Tre, anh hùng chiến đấu!
Cấu tạo ngữ pháp; "Ðề ngữ - dạng câu đặc biệt " (tạo sắc thái cảm thán)
Nói giảm, nói
tránh
Là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, nhằm tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự
Vd “Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta”
[Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến]
Vd “Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
[Việt Bắc - Tố Hữu ]
Câu hỏi tu từ Là đặt câu hỏi nhưng không đòi
hỏi câu trả lời mà nhằm ộc lộ, xoáy sâu cảm xúc (có thể là những băn khoăn, ý khẳng định…), nhấn mạnh một ý nghĩa khác
Vd “Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?”
[Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm]
=> Nhấn mạnh cảnh ngộ mất mát, chia lìa, hoang tàn của quê hương trong chiến tranh
Đảo ngữ Thay đổi trật tự cấu tạo ngữ
pháp thông thường của câu, nhằm nhấn mạnh ý, nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng và làm
“Lom khom dưới núi: tiều vài chú Lác đác bên sông: chợ mấy nhà”
[Qua Đèo Ngang – Bà huyện Thanh
Quan]
Trang 24câu thơ, câu văn thêm sinh động, gợi cảm, hài hòa về âm thanh,… => Tô đậm cảm giác hoang vắng, cô liêu
Tương phản
Là cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả
nhấn mạnh, gợi liên tưởng, gợi hình ảnh sinh động, tạo nhịp điệu cho lời nói
-Có 2 kiểu: đối tương phản [ý trái ngược nhau]; đối tương hỗ [bổ sung ý cho nhau]
“Ta/ dại /ta/ tìm/ nơi/ vắng vẻ Người/ khôn/ người/ đến/ chốn/ lao xao”
[Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm]
CHÊM XEN Là chêm vào câu một cụm từ
không trực tiếp có quan hệ đến quan hệ ngữ pháp trong câu, nhưng có tác dụng rõ rệt để tạo điểm nhấn,bổ sung thông tin cần thiết hay bộc lộ cảm xúc, gợi sự lắng đọng cảm xúc, tình cảm
Thường đứng sau dấy gạch nối hoặc trong ngoặc đơn
Vd.Cô bé nhà bên (có ai ngờ) Cũng vào du kích!
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)”
[Quê hương – Giang Nam]
=> Bộc lộ tình cảm, cảm xúc: ngạc nhiên, xúc động, yêu mến,… một cách kín đáo
Chơi chữ Lợi dụng đặc sắc về âm, về
nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái
dí dỏm, hài hước,… làm câu văn hấp dẫn và thú vị
Vd Bà già đi chợ cầu Đông Xem một que bói lấy chồng lợi chăng Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”
Các lối chơi chữ thường gặp:
+ Dùng từ ngữ đồng âm + Dùng lối nói trại âm (gần âm) + Dùng cách điệp âm
+ Dùng lối nói lái
+ Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa
– Chơi chữ được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, thường trong văn thơ, đặc biệt là trong văn thơ trào phúng, trong câu đối, câu đố,…
Liệt kê Là sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ
hay cụm từ cùng loại để diễn tả Vd.“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng
Trang 25cụ thể, đầy đủ, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay tư tưởng, tình cảm
Em đã sống lại rồi, em đã sống!
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung Không giết được em, người con gái anh hùng!”
[Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý]
*Lưu ý: Tác dụng tu từ còn tùy thuộc vào văn bản cụ thể
6 CÁC PHÉP LIÊN KẾT THƯỜNG GẶP
Các phép
Phép lặp -Lặp lại nhiều lần một số từ
ngữ, cấu trúc
-Tác dụng: liên kế chúng lại
với nhau, đem lại những ý
nghĩa tu từ như nhấn mạnh
gây cảm xúc, gây ấn tượng
Lặp từ ngữ: Buổi sáng, Bé dậy sớm ngồi học
bài Dậy sớm học bài là một thói quen tốt Nhưng phải cố gắng lắm mới có được thói quen ấy Rét ghê Thế mà Bé vùng dậy, chui ra được khỏi cái chăn
ấm Bé ngồi học bài
Phép thế -Cách thay những từ ngữ nhất
định bằng những từ ngữ có ý
nghĩa tương đương (cùng chỉ
sự vật ban đầu, còn gọi là có
mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng Tuy thế người trai làng Phù Ðổng vẫn còn ăn một bữa cơm (Nguyễn Ðình Thi)
Thế đại từ (nhân xưng, phiếm định, chỉ định):
Ví dụ 1:
Rõ ràng Trống Choai của chúng ta đã hết tuổi bé bỏng thơ ngây Chú chẳng còn phải quấn quýt quanh chân mẹ nữa rồi
(Hải Hồ)
Ví dụ 2:
Dân tộc ta có một lòng yêu nước nồng nàn Ðó là một truyền thống quý báu của ta (Hồ Chí Minh)
Nguyễn Trãi sẽ sống mãi trong trí nhớ và tình
cảm của người Việt Nam ta Và chúng ta phải làm
cho tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Trãi rạng rỡ ra ngoài bờ cõi nước ta (Phạm Văn Ðồng)
Trang 26pháp khác trong câu, vào mục
bởi thế, tuy vậy, nếu vậy,
vậy mà, thế thì, với lại, vả
lại nghĩa là, trên đây, tiếp
theo, nhìn chung, tóm lại,
Ví dụ 1:
Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác, đều dòng dõi tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc (Hồ Chí Minh)
Ví dụ 2:
Một hồi còi khàn khàn vang lên Tiếp theo là những tiếng bước chân bình bịch, những tiếng khua rộn rã: phu nhà máy rượu bia chạy vào làm (Nam Cao)
Ví dụ 1:
Gà lên chuồng từ lúc nãy Hai bác ngan cũng đã ì ạch về chuồng rồi Chỉ duy có hai chú ngỗng vẫn tha thẩn đứng giữa sân (Tô Hoài)
hướng nào đó, xuất phát từ
những từ ngữ ban đầu, nhằm
tạo ra mối liên kết giữa các
phần chứa chúng trong văn
nhau có liên quan đến nhau
• Liên tưởng cùng chất:
Ví dụ 1:(liên tưởng theo quan hệ bao hàm):
Chim chóc cũng đua nhau đến bên hồ làm tổ Những con sít lông tím, mỏ hồng kêu vang như tiếng kèn đồng Những con bói cá mỏ dài lông sặc sỡ Những con cuốc đen trùi trũi len lủi giữa các bụi ven
bờ
Quan hệ bao hàm còn thể hiện rõ trong quan hệ chỉnh thể - bộ phận (cây: lá, cành, quả, rễ ) hoặc trong quan hệ tập hợp - thành viên của tập hợp (quân đội:
sĩ quan, binh lính )
Ví dụ 2 (liên tưởng đồng loại):
Cóc chết bỏ nhái mồ côi, Chẫu ngồi chẫu khóc: Chàng ôi là chàng!
Ễnh ương đánh lệnh đã vang!
Tiền đâu mà trả nợ làng ngóe ơi!
Trang 27theo lối từ cái này mà nghĩ
đến cái kia (liên tưởng)
Sự liên tưởng có thể diễn ra
giữa những sự vật cùng chất
cũng như giữa những sự vật
khác chất
Ví dụ 3 (liên tưởng về số lượng):
Năm hôm, mười hôm Rồi nửa tháng, lại một tháng
(Nguyễn Công Hoan)
• Liên tưởng khác chất:
Ví dụ 1: (liên tưởng theo quan hệ định vị giữa các sự vật):
Nhân dân là bể
(Trần Ðăng Khoa)
Ví dụ 3: (liên tưởng theo đặc trưng sự vật):
Mặt trời lên bằng hai con sào thì ông về đến con đường nhỏ rẽ về làng Không cần phải hỏi thăm nữa cũng nhận ra rặng tre ở trước mặt kia là làng mình rồi Cái chấm xanh sẫm nhô lên đó là cây đa đầu làng Càng về đến gần càng trông rõ những quán chợ khẳng khiu nấp dưới bóng đa (Nguyễn Ðịch Dũng)
-> Làng được đặc trưng bằng rặng tre, cây đa, quán chợ
Ví dụ 4 (liên tưởng theo quan hệ nhân - quả, hoặc nói rộng ra: theo phép kéo theo như tuy nhưng (nghịch nhân quả), nếu thì (điều kiện/giả thiết - hệ quả)
Ðồn địch dưới thấp còn cách xa gần bốn trăm thước đang cháy thật, tre nứa nổ lốp bốp như cả cái thung lũng đang nổ cháy Khói lửa dày đặc không động đậy bên dưới, mà bốc ngọn mỗi lúc một cao, ngùn ngụt, gió tạt về phía đồi chỉ huy vàng rực, chói lòe trong nắng, hơi nóng bốc lên tận những đỉnh núi
bố trí (Trần Ðăng)
-> Có khói lửa, hơi nóng là do nổ cháy
7 PHÂN BIỆT CÁC THỂ THƠ
-HS xem lại kiến thức về luật thơ (những quy tắc về số câu, số tiếng, cách hiệp vần, phép hài thanh, ngắt nhịp )
-Căn cứ vào số tiếng để xác định thể thơ
-Căn cứ vào luật thơ, người ta phân chia các thể thơ Việt Nam ra thành 3 nhóm chính:
+Các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, hát nói;
+Các thể thơ Đường luật: ngũ ngôn, thất ngôn;
Trang 28+Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ -
văn xuôi,…
-Minh họa:
Thơ lục bát
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn
lòng
( Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Thơ sáu tiếng
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai ai biết mà đưa
Giường kia treo cũng hững hờ
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn
(Nguyễn Khuyến)
Thơ bảy tiếng (thất ngôn)
Vd
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đem hơi
(Tây Tiến, Quang Dũng)
Thơ bốn tiếng
VD:
Em tan trương về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng
(Ngày xưa – Hoàng Thị)
Thơ tám tiếng
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, Tôi sẽ trách cố nhiên nhưng rất nhẹ;
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về, Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề Đời chỉ đẹp những khi còn dang
dở
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ
đỗ, Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa
(Ngập Ngừng - Hồ Dzếnh )
Đêm Trường Sơn Lá với nước rầm
rì Hơi đá lạnh nép mái nhà nghe ngóng
Chúng tôi ngồi xòe tay trên lửa nóng
Máu bàn tay mang hơi lửa vào tim (Bếp lửa rừng - Nguyễn Khoa
Điềm )
Trang 29Thơ năm tiếng (ngũ ngôn)
Vd.Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì
(Hoàng Cầm)
8 ĐẶT NHAN ĐỀ, XÁC ĐỊNH CÂU CHỦ ĐỀ
*Yêu cầu của việc đặt nhan đề: Đúng, hay, ngắn gọn, phải khái quát được cao
nhất nội dung tư tưởng của văn bản, phải cô đọng được cái thần, cái hồn của văn bản
Cần: đọc kỹ văn bản để hiểu ý nghĩa của văn bản sau đó mới xác định nhan đề
Nhan đề của văn bản thường nằm ở những từ ngữ, những câu lặp đi, lặp lại nhiều lần trong
văn bản
*Muốn xác định được câu chủ đề của đoạn, cần xác định xem đoạn văn đó trình
bày theo cách nào:
-Nếu là đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch thì câu chủ đề thường ở đầu đoạn
-Nếu là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp thì câu chủ đề nằm ở cuối đoạn -Còn đoạn văn trình bày theo cách móc xích hay song hành thì câu chủ đề là câu có tính chất khái quát nhất, khái quát toàn đoạn Câu đó có thể nằm bất cứ vị trí nào
trong đoạn văn
Lưu ý: Đối với văn bản là một đoạn, hoặc một vài đoạn, việc cần làm là phải xác
định được đoạn văn trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy nạp, móc xích hay song hành… Xác đinh được kiểu trình bày đoạn văn sẽ xác định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào Thường câu chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội dung chính của cả đoạn Xác định bố cục của đoạn cũng là căn cứ để chúng ta tìm ra các nội dung chính của đoạn văn bản đó
9.XÁC ĐỊNH NỘI DUNG CHÍNH CỦA VĂN BẢN
- Căn cứ vào tiêu đề của văn bản
- Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn, câu thơ được nhắc đến nhiều lần ( những từ khóa)
10.YÊU CầU XÁC ĐịNH TỪ NGỮ, HÌNH ẢNH BIỂU ĐẠT NỘI DUNG CỤ THỂ TRONG VĂN BẢN
Cần: + đọc kĩ đề
+ liệt kê một từ ngữ, một hình ảnh, một câu nào đó có sẵn trong văn bản
* Bước 4: Định hướng cách làm các dạng câu hỏi :
- Hình thức:
+Văn bản ngữ liệu: Một đoạn văn xuôi hoặc một đoạn thơ
+Số lượng câu hỏi khoảng 4 câu, mức độ phân hóa (độ khó) rõ ở những câu cuối
Trang 30Căn cứ vào độ khó của những dạng đề thi và đáp án môn Ngữ Văn THPTQG từ năm năm 2016 đến năm 2018 và đề minh họa năm 2019, dạng câu hỏi đọc hiểu có sự phân hóa
rõ, ở câu 3, 4 mức độ câu hỏi khá khó.( Minh họa kèm đề thi) Với dạng câu hỏi này, ngoài việc cung cấp cho học sinh cách nhận dạng các dạng câu hỏi như nêu trên, tôi cũng đưa ra một số cách làm những dạng câu hỏi gần với đề thi như sau:
• Đề thi và đáp án môn Ngữ Văn THPTQG 2016, 2017, 2018 Đề minh họa 2019
Trang 31
Tôi xin đưa ra một số dạng câu hỏi và gợi ý cách làm bài cụ thể như sau:
MỘT SỐ DẠNG CÂU HỎI VÀ PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1 Xác định chủ đề,nội dung chính,
các ý chính của văn bản
( Có thể yêu cầu đặt nhan đề cho
văn bản)
- Đọc kĩ toàn bộ văn bản Dựa vào nhan đề,
câu mở đầu, kết thúc văn bản, các câu chủ của các đoạn văn….để xác định nội dung chính
- Đặt nhan đề: phải bao quát nội dung chính,
hướng tới sự ngắn gọn, khúc chiết, tránh dài dòng
- Xác định chủ đề, nội dung chính: phải căn
cứ vào các từ ngữ lặp đi, lặp lại nhiều lần; mối liên hệ, gắn kết giữa các ý, các vế, các câu (cùng nói về vấn đề gì, nhấn mạnh điều gì?)
2 Xác định tư tưởng, tình cảm mà
tác giả gửi gắm Dựa vào văn bản: dựa vào các câu , các từ ngữ thể hiện thái độ, dựa vào giọng điệu, dựa vào
nội dung văn bản
3 Xác định phong cách ngôn ngữ - Dựa vào đặc trưng phong cách ngôn ngữ
- Lưu ý: Một số văn bản có thể sử dụng nhiều
phương thức biểu đạt khác nhau (cần đọc kĩ để tránh thiếu sót)
5 Xác định hiệu quả diễn đạt của
một/ một số từ ngữ nào đó
- Cần xác định từ ngữ đó nhấn mạnh vấn đề gì, nội dung gì được đề cập trong văn bản
- Cần xác định từ ngữ đó thể hiện thái độ gì của người viết đối với vấn đề được đề cập
6 Xác định biện pháp tu từ và nêu
tác dụng của biện pháp tu từ
- Dựa vào những hiểu biết về các biện pháp tu từ để trả lời
- Lưu ý: Một văn bản có thể có nhiều biện pháp
tu từ
- Tác dụng của biện pháp tu từ được thể hiện
ở hai phương diện:
+ Về nghệ thuật: VD: biện pháp tu từ đó có tác dụng gì trong việc tạo nhịp điệu/ giọng điệu? Hoặc có giá trị gì trong việc tạo hình, biểu cảm cho văn bản?
+ Về nội dung: VD: biện pháp tu từ đó nhấn mạnh/ khắc sâu/ tô đậm/ thể hiện/ khẳng định…điều gì?
Trang 327 Nhận xét về sự giàu đẹp của tiếng
Việt (hệ thống từ láy, các từ đồng
âm, khác nghĩa, từ nhiều nghĩa…)
- Nhận xét về mặt nội dung biểu hiện: từ ngữ
đó thể hiện sự khắc họa… điều gì??
- Nhận xét về hiệu quả nghệ thuật: VD: tính
chân thực, tính chính xác, tính biểu cảm, tính hình tượng… của từ ngữ đề yêu cầu phân tích
8 Câu hỏi theo tác giả,
Ví dụ: Theo tác giả, thấu cảm là gì?
- Khi trả lời cần hợp ý tác giả với quan điểm cá nhân Chú ý cần lý giải rõ ràng
✓ Ví dụ: Trong một đề đọc hiểu có dạng câu hỏi như sau ( Minh họa đề ở bước
5) Câu 3: Theo tác giả, vì sao “người thông minh’’ dễ gặp thất bại trong cuộc sống? Câu 4: Thái độ của tác giả đối với đối tượng “người thông minh’’ được đề cập trong đoạn trích trên là gì? Anh/chị có hoàn toàn đồng tình với tất cả các quan điểm của tác giả trong bài viết?
✓ Gợi ý:
Câu 3: Theo tác giả, “người thông minh’’ dễ gặp thất bại trong cuộc sống vì:
- Người thông minh quá chú ý rèn luyện trí óc mà quên phát triển các mối quan
hệ, trong khi mối quan hệ là một yếu tố quan trọng quyết định đến thành công của mọi người
- Người thông minh thường lo sợ mạo hiểm, ít cởi mở, không muốn người khác đánh giá thấp mình trong những việc mà họ không giỏi
- Người thông minh thường lười biếng, vì họ thường giải quyết công việc trên
Trang 33❖ Dạng câu hỏi xác định thông điệp ( thường là câu 4 trên đề )có ý nghĩa nhất đối
- Không ghi lại nội dung từ văn bản như dạng câu hỏi theo tác giả
- Chú ý lý giải vì sao chọn thông điệp ( dù đề không yêu cầu)
- Thông điệp giúp học sinh nhận thức, hành động như thế nào
✓ Ví dụ: Trong một đề đọc hiểu có dạng câu hỏi như sau ( Minh họa đề ở bước
5)
Câu 4: Thông điệp nào của đoạn trích có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?
Sau khi tôi đưa ra định hướng kiến thức lý thuyết, các dạng đề, cách nhận diện các dạng câu hỏi, định hướng cách làm các dạng câu hỏi ( qua 4 bước trên), tôi tiếp tục biên soạn đề cho học sinh thực hành theo từng khối lớp
*Bước 5: Thực hành bài tập đọc hiểu văn bản
Sau khi học sinh nắm được kiến thức lí thuyết Tôi tiến hành soạn bài tập cho học sinh vận dụng Câu hỏi bài tập sẽ theo cấp độ nhận biết, thông hiểu sau đó là vận dụng dành cho lớp có học sinh giỏi Tôi soạn cho học sinh nhiều dạng đề đọc hiểu văn bản để học sinh luyện tập được quen hơn Tôi phô tô bài tập cho học sinh làm để tránh mất thời gian Các bước làm bài tập tôi tiến hành như sau:
Trước tiên học sinh làm bài ở lớp dưới sự hướng dẫn của tôi
Sau đó, tôi cho thêm nhiều bài về nhà để học sinh thực hành cho quen Vào lớp tôi
sẽ kiểm tra việc làm bài ở nhà của học sinh và sửa những câu khó, học sinh thường sai hoặc vướng mắc Ở phần này, tôi còn đặc biệt chú trọng đến phần viết đoạn văn ngắn ở câu 3 hoặc câu 4 như trước đây là khoảng 5-7 dòng Còn 2 năm trở lại đây thì không còn giới hạn số dòng Tôi đặc biệt lưu ý dạng câu hỏi này bởi những câu này thường chiếm số điểm khá cao của đề ở phần Đọc hiểu Khi tiến hành viết đoạn, tôi cho học sinh viết ngay tại lớp và chỉnh sửa cho từng đối tượng Khi thực hành, những học sinh nào học nghiêm túc, làm bài tốt, tôi đều có sự động viên, khen thưởng bằng nhiều cách để tạo hứng thú học tập cho các em
Ở đây tôi xin trình bày rõ cách thực hiện cho từng khối lớp như sau:
❖ Đối với học sinh 10 và 11
Học sinh khối 10 và 11 chỉ được học môn Ngữ Văn theo phân phối chương trình trên lớp, các em không được tăng tiết thêm Tuy nhiên đề thi HKI, HKII thi theo cấu trúc
Trang 34đề thi THPTQG Chính vì điều này nên tôi tiến hành lồng ghép kiến thức Tiếng Việt vào các giờ học Ngữ Văn cho các em Đồng thời tôi cho các em thực hành đọc hiểu văn bản ở tác phẩm trong chương trình sách giáo khoa trước sau đó đến văn bản đơn giản ở ngoài sách giáo khoa Với đối tượng này chủ yếu cho các em tiếp cận để sang lớp 12 học cho tốt
Tôi xin đưa ra một số ví dụ bài tập đọc hiểu trong và ngoài chương trình Sgk đối với học sinh 10 và 11
➢ Văn bản trong chương trình: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng
Thủy
Khi dạy xong tác phẩm trên lớp tôi phôtô bài tập đọc hiểu và hướng dẫn các em làm như sau
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4:
Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi Vua chạy tới bờ biển, đường cùng không có thuyền qua bèn kêu rằng ” Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn ” Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó! ” Vua bèn tuốt kiếm chém Mị Châu, Mị Châu khấn rằng ” Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù “ Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển
( Trích Truyện An Dương Vương, Mị Châu và Trọng
Thuỷ, Trang 42, SGK Ngữ văn 10,Tập I, NXBGD 2006)
Câu 1 Nêu ý chính của văn bản trên ?
Câu 2 Vì sao Rùa Vàng lại nói: ” Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó! “ ?
Câu 3 Xác định câu ghép trong lời khấn của Mị Châu ? Câu ghép đó thể hiện mối quan
hệ gì ?
Câu 4.Lời khấn của Mị Châu có ứng nghiệm không? Điều đó có ý nghĩa như thế nào?
Gợi ý
Câu 1 Ý chính của văn bản trên :
- Bị truy đuổi cùng đường, An Dương Vương Cầu cứu Rùa Vàng Rùa Vàng kết tội
Mị Châu là giặc
- Vua chém Mị Châu, Mị Châu khấn trước khi chết, Vua theo Rùa Vàng xuống biển
Trang 35Câu 2 Rùa Vàng nói: ” Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó! “ vì chính Mị Châu đã
rắc lông ngỗng trên đường bỏ chạy Trọng Thủy đã lần theo dấu lỗng ngỗng để dồn cha con An Dương Vương vào đường cùng
Câu 3 Câu ghép trong lời khấn của Mị Châu: “, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù.” Câu ghép đó thể hiện mối quan hệ :
Điều kiện – kết quả
Câu 4 Lời khấn của Mị Châu có ứng nghiệm Mị Châu chết máu chảy xuống nước, trai
sò ăn phải đều biến thành hạt châu Điều đó có ý nghĩa là: thể hiện cái nhìn bao dung vị
tha của nhân dân đối với Mị Châu
➢ Văn bản ngoài chương trình:
Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi bên dưới:
Lời cha dặn
Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha Những bài học một đời cay đắng Cha gửi cho con chút nắng Hãy giữ giữa lòng con Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn
Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn Con hãy chậm bước dù là người đến muộn
Dù phần con chẳng ai nhớ để dành!
Hãy vui lên trước điều nhân nghĩa Hãy buồn với chuyện bất nhân
Và hãy tin vào điều có thật:
Con người sống để yêu thương
(Bùi Nguyễn Trường Kiên, theo Đất Việt)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chủ yếu được sử dụng trong đoạn thơ?
Câu 2 : Đoạn thơ thuộc thể thơ gì?
Câu 3 : Cho biết nội dung chính của đoạn thơ trên?
Câu 4: Xác định 02 phép tu từ và hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ đó trong các dòng thơ sau:
Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha
Những bài học một đời cay đắng
Cha gửi cho con chút nắng
giữ giữa lòng con
Gợi ý :
Câu 1: Phương thức biểu đạt chủ yếu được sử dụng trong đoạn thơ: Biểu cảm
Câu 2 : Đoạn thơ thuộc thể thơ tự do
Câu 3 : Nội dung chính của đoạn thơ:
Đoạn thơ là lời dạy của người cha trước khi con chuẩn bị bước vào đời: người cha muốn định hướng cách sống cho đứa con Sống phải biết nhân nghĩa, phải khiêm tốn học hỏi Câu 4: 02 phép tu từ và hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ đó trong các dòng thơ sau: