PHẦN MỞ ĐẦU Mác từng nói rằng, lịch sử phương Đông là lịch sử tôn giáo. Điều này đặc biệt với trường hợp Ấn Độ. Ở Ấn Độ đã có nhiều hệ thống tôn giáo tồn tại và các hệ thống triết học thường gắn liền với tôn giáo. Đã gắn bó với tôn giáo thì khó tránh khỏi duy tâm và hữu thần, dẫu có lúc nhà triết học đã cố tách khỏi hay quên mình là nhà tôn giáo. Nhưng phải chăng, do gắn với tôn giáo, các nhà triết học Ấn Độ cổ có một hoạt động tâm linh sâu sắc và nhạy bén, khiến họ có thể phân tích một cách tế vi và sâu sắc mọi ngõ ngách của tinh thần, của các tâm, cái thức…Câu hỏi về tồn tại khôngtồn tại luôn làm các nhà triết học Ấn Độ khắc khoải. Nếu toán học cổ Ấn Độ đã đóng góp cho nhân loại con số không mà Bertrand Russel đã đánh giá rất cao, thì phạm trù không cũng đã được triết học cổ Ấn Độ hết sức chú ý. Nếu niềm hạnh phúc và nỗi bất hạnh của con người đã được triết học Ấn Độ quan tâm, thì bản thân nền triết học này cũng đã có những bất hạnh và may mắn do xã hội Ấn Độ thời cổ quy định. Và phải chăng là sự phát triển trì trệ của xã hội Ấn Độ thời cổ trung đại đã dẫn đến tình trạng đó? Nền triết học Ấn Độ cổ là một nền triết học đã phát triển liên tục nhưng chậm chạp trong một bối cảnh xã hội như Mác đã nhận xét là tính chất “ phương thức sản xuất Châu Á”. Chính Mác đã xây dựng khái niệm này trên các tài liệu về xã hội Ấn Độ. Vì vậy có thể coi xã hội Ấn Độ trung đại là “phương thức sản xuất Châu Á” điển hình. Với tất cả các quy định đó, các đặc điểm đó, nhìn chung triết học Ấn Độ cổ đã hiện ra trước mắt ta như một lâu đài đồ sộ, chứa đầy những kho báu của tư duy nhân loại mà chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Vì vậy, trong học phần lịch sử triết học em đã lựa chọn đề tài “Triết học Ấn Độ cổ trung đại”, làm đề tài nghiên cứu của mình. Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu song không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Trang 1và nỗi bất hạnh của con người đã được triết học Ấn Độ quan tâm, thì bản thânnền triết học này cũng đã có những bất hạnh và may mắn do xã hội Ấn Độthời cổ quy định Và phải chăng là sự phát triển trì trệ của xã hội Ấn Độ thời
cổ trung đại đã dẫn đến tình trạng đó? Nền triết học Ấn Độ cổ là một nền triếthọc đã phát triển liên tục nhưng chậm chạp trong một bối cảnh xã hội nhưMác đã nhận xét là tính chất “ phương thức sản xuất Châu Á” Chính Mác đãxây dựng khái niệm này trên các tài liệu về xã hội Ấn Độ Vì vậy có thể coi
xã hội Ấn Độ trung đại là “phương thức sản xuất Châu Á” điển hình
Với tất cả các quy định đó, các đặc điểm đó, nhìn chung triết học Ấn Độ
cổ đã hiện ra trước mắt ta như một lâu đài đồ sộ, chứa đầy những kho báu của
tư duy nhân loại mà chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu Vì vậy, trong học
phần lịch sử triết học em đã lựa chọn đề tài “Triết học Ấn Độ cổ trung đại”,
làm đề tài nghiên cứu của mình Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu songkhông tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự giúp đỡ của cácthầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Trang 2NỘI DUNG Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC
ẤN ĐỘ CỔ, TRUNG ĐẠI
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên
Ấn Độ là một bán đảo lớn- một tiểu lục địa, nằm ở miền Nam châu Á.Hai miền Đông Nam và Tây Nam của Ấn Độ giáp Ấn Độ Dương, phía Bắc ánngữ là dãy Hymalaya hùng vĩ, với vòng cung dài 2600km ( có 4 ngọn núi caohơn 7km vì thế chúng trở thành sứ sở của tuyết) Cực Bắc Kasơmia có nhữngngọn núi hũng vĩ dưới chân núi là vùng khí hậu ôn đới, có thung lũngKasơmia rộng lớn có tên gọi “ thiên đường nơi trần thế” Có 5 con sông lớntrong đó nổi tiếng là sông Indu, sông Hằng, lưu vực của chúng tạo nên nhữngvùng đồng bằng phì nhiêu Ấn Độ cũng có vùng là xa mạc khô cằn Yếu tốđịa lý như vậy ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành văn hóa, tôn giáo và tưtưởng triết học của người Ấn Độ
1.2 Vài nét về lịch sử xã hội
ảnh hưởng lớn nhất tới toàn bộ các mặt của lịch sử Ấn Độ là nhân tố xãhội Xã hội cổ đại Ấn Độ ra đời sớm Vào khoảng thế kỉ XXV trước côngnguyên ( tr CN) đã xuất hiện nền văn minh sông Ấn, sau đó bị tiêu vong chưa
rõ nguyên nhân
Từ thế kỉ XV trước CN các bộ lạc du mục Arya từ Trung á xâm nhậpvào Ấn Độ Họ định cư rồi đồng hóa với người bản địa Dravida tạo thành cơ
sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai trên đất Ấn Độ
Từ thế kỉ thứ VII trước CN, đất nước Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến
cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triềutrong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài Vào thế kỉ XVIII, Ấn
Độ bị đế quốc Anh đô hộ, từ đó Ấn Độ bước sang thời kì thống nhất về chínhtrị, thúc đẩy sự kết hợp giữa văn hóa cổ truyền với văn hóa phương Tây
Trang 3Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế xã hội của Ấn Độ cổ, trung đại là
sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình “công xãnông thôn”, trong đó chế độ công hữu về ruộng đất là cơ sở để tìm hiểu toàn
bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại Từ hai đặc điểm trên dẫn đến hệ quả là các bướcphát triển của lịch sử xã hội Ấn Độ không mạch lạc như lịch sử xã hội cácnước Châu Âu Thực sự ở Ấn Độ không có quan hệ phong kiến giống như ởcác nước Tây Âu Ở Ấn Độ, nô lệ chưa bao giờ là lực lượng sản xuất chủ yếu,
họ chưa bao giờ trở thành nông nô như ở Tây Âu phong kiến…Mặt khác quan
hệ đẳng cấp ở Ấn Độ càng làm cho kết cấu xã hội giai cấp thêm phức tạp.Trong xã hội có 4 đẳng cấp:
1 Bràhman (Tăng lữ) là đẳng cấp cao quý nhất
2 Ksattrya (quý tộc)
3 Vaisya (bình dân tự do)
4 Ksudra (cùng đinh, nô lệ)
Ngoài ra còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo
1.3 Điều kiện về văn hóa
Người Ấn Độ cổ đại tích lũy được nhiều kiến thức về thiên văn, sáng tạo
ra lịch pháp, giải thích được hiên tượng nhật thực…Toán học xuất hiện rấtsớm: phát minh ra số thập phân, tính đươc trị số π, biết về đại số lượng giác,phép khai căn, giải phương trình bậc 2, 3 Trong lĩnh vực y học đã xuất hiệnnhững danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, thuốc thảo mộc.Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ, trung đại là mang dấu ấn sâu đậm vềtín ngưỡng, tôn giáo và tâm linh
Văn hóa Ấn Độ cổ trung đại được chia làm 3 giai đoạn:
- Khoảng từ thế kỉ XXV – XV tr.CN gọi là nền văn minh sông ấn:
Hay còn gọi là nền văn minh Harappa là một nền văn minh thành thị đãxuất hiện tư khoảng 2500 tr CN Từ năm 1924, các nhà khảo cổ học tiếnhành khai quật các thành thị cổ Harappa và Mohenjo – Daro đã tìm thấy dấuvết của một nền văn minh kĩ thuật cao: đường phố thẳng tắp, nhà hai tầng, bể
Trang 4bơi…Đây là một nền văn minh đã có nhà nước, có chữ viết Trước kia một sốngười cho rằng chủ nhân của nền văn hóa Harappa là người Dravida mà ngàynay còn tồn tại ở Nam Ấn Độ Sau đó người Arya, một bộ lạc du mục nóingôn ngữ Ấn- Âu xâm nhập và tàn phá nền văn minh này Lịch sử phát triểncủa van hóa Ấn Độ, do vậy, bị coi là đứt đoạn Nhưng mới đây, các nhà khảo
cổ học Ấn Độ đã đọc được các văn tự cổ khắc trên các con dấu bằng sànhtrong các di tích văn hóa Harppa, đã nhận ra rằng nhiều tên người, tên thầnđược khắc trên con dấu tương tự như trong Rigveda Như vậy, giữa thời kìvăn minh sông ấn và thời kì Veda không có sự cách tuyệt như trước kia người
ta tưởng
- Từ thế kỉ XV – VII trCN gọi là nền văn minh Veda
Sau thời kì Harappa là thời kì Veda Nó được phản ánh trong các tậpsách mà nay gọi là Veda Tập cổ nhất là Riveda ( các khúc hát du mục) Cáctập Veda là nguồn suối của tư tưởng Ấn Độ Nhiều trường phái triết học Ấn
Độ sau này đều tự coi bắt nguồn từ Veda Các tập Veda phản ánh sinh hoạt vàtín ngưỡng của người Ấn Độ cổ đại, theo hệ đa thân Qua các tập từ sớm đếnmuộn, có thể thấy những thần tự nhiên dần biến thành những thần có chứcnăng xã hội, chẳng hạn thần sấm biến thành thần chiến tranh, thần lửa biếnthành thần hiến tế…sự biến chuyển này phản ánh một quá trình biến chuyển
từ xã hội nguyên thủy lên xã hội có giai cấp
- Từ thế kỉ VI – I tr.CN là thời kì hình thành các trường phái triết học tôngiáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống.Đây là thời kì hình thành các quốc gia ở Ấn Độ Đầu thế kỉ thé VI tr.CNBắc Ấn Độ có nhiều quốc gia ( đế chế hay cộng hòa) nhỏ, độc lập hay phụthuộc Đấu tranh giai cấp phát triển Sức sản xuất cũng phát triển mạnh ởvùng dọc sông Hằng Thủ công và thương nghiệp phát triển Thời kì này, Ba
Tư và sau đó là Hy Lạp đã nối liền Ấn Độ với thế giới Địa Trung Hải Bọnquý tộc Ấn Độ cần hàng hóa để trao đổi, chúng càng ra sức bóc lột Thợ thủcông và thương nhân tập trung quanh các vương quốc mạnh Thành thị phát
Trang 5triển Cuối thế kỉ IV tr.CN hình thành đế quốc Maurya với vương triềuChandragupta Đây là thời kì tri thức khoa học Ấn Độ phát triển mạnh: đã biếtquả đất tròn và tự quay xung quanh trục của nó, biết làm lịch chính xác, biếtđến chữ số và hệ thống đếm thập phân, đại số, lượng giác, tính căn, đườngtròn, y học và hóa học phát triển Đó là thời kì phát triển của tư duy trừutượng, thời kì tạo nên các hệ thống tôn giáo – triết học của Ấn Độ Các hệthống đó đấu tranh gay gắt với nhau, thử đưa ra các cách giải thích thế giới,đưa ra những con đường giải thoát khác nhau Trong cuộc đấu tranh đó,những vấn đề thuộc về thế giới quan, vũ trụ luận, bản thể luận chiếm vai tròquan trọng.
Tóm lại: Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Ấn Độ, ngoài đặc trưng chủ yếu
là chế độ đẳng cấp nghiệt ngã và sự tồn tại dai dẳng của những công xã nôngthôn, thì chế độ nô lệ kiểu gia trưởng và Nhà nước quân chủ chuyên chế trungương tập quyền, trong đó các đế vương nắm quyền lực vô hạn về sở hữuruộng đất và thần dân, cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới tính chất khắc nghiệtcủa tự nhiên và chế độ đẳng cấp, thể chế xã hội càng đè nặng lên đời sốngngười dân Ấn Độ, làm cho cuộc sống của họ càng thêm khổ cực Chính vìphản ánh nhu cầu muốn thoát khỏi cuộc sống khổ đau… đó của người dân Ấn
Độ, mà mà các trường phái triết học Ấn Độ đều tập trung vào việc lý giải cănnguyên nỗi khổ và tìm cách giúp con người thoát khỏi những những nỗi khổnão, lo âu trong đời sống ngàn năm của họ…
Theo cách phân chia truyền thống, ở Ấn Độ cổ đại có chín hệ thống triếthọc Chín hệ thống này lại được chia làm 2 loại:
Trang 6thừa nhận tính đúng đắn tuyệt đối của Veda Những người Phật giáo và Jainagiáo có kinh điển riêng nên bị coi là “tà giáo”.
Tuy nhiên, có một số hệ thống được coi là chính thống nhưng không cóhay có rất ít điểm chung với Veda, theo tinh thần hay nội dung các nguyên lýtriết học
Theo phái chính thống thì ba hệ thống tà giáo chống Veda là:
1 Lokaỳata: triết học duy vật
4 Yoga: chú trọng các vấn đề thực tiễn, không phải là lý luận triết học
5 Nyaya, hệ thống đầu tiên ngiên cứu phương pháp biện luận và các vấn
đề liên quan đến logic
6 Vaisêska nghiên cứu các phạm trù thực thể như vật chất, chất lượng…Trong sáu thực thể đó, quyền uy của Veda chỉ có ý nghĩa quyết định đốivới Vedànta
1.4 Những đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ, trung đại
- Triết học Ấn Độ cổ trung đại bị chi phối trực tiếp và sâu sắc bởi xuhướng tín ngưỡng và tôn giáo truyền thống mạnh hơn nhiều so với các nềntriết học khác, ở nơi đây khó phân biệt tôn giáo và triết học Tư tưởng triếthọc ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí
- Hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn đềnhân bản Trong nhân sinh quan của triết học thường xoay quanh vấn đề “giải thoát”, “ siêu thoát”
- Bước phát triển của triết học Ấn Độ có những đặc điểm khác Châu Âu,các nhà tư tưởng thay thế nhau, thường phát triển triết học với quan điểm
Trang 7hoàn toàn mới, phê phán và gạt bỏ quan điểm của người đi trước Còn ở Ấn
Độ, một loạt các quan điểm triết học hay hệ thống triết học đã được đặt cơ sở
từ thời cổ Sự phát triển sau đó chỉ là phát triển các quan điểm ban đầu Cácnhà triết học tiếp nhau, nói chung, không đặt mục đích tạo ra thứ triết họcmới Mỗi người ủng hộ một hệ thống đã có, bảo vệ và hoàn thiện nó, thường
là tăng cường các chứng cứ cho người đi trước hơn là tìm các sai lầm Các đạibiểu luôn luôn giới hạn mình trong việc làm sáng tỏ các học thuyết cũ vàkhông bao giờ mâu thuẫn với chúng” Do vậy, phần lớn các tác phẩm triết học
Ấn Độ không có niên đại rõ ràng
- Dù phong phú và đa dạng, có nhiều tư tưởng sâu sắc về bí ẩn thế giới
và đời sống con người, nhưng vận động chậm chạp
- Khi bàn về vấn đề bản thể luận, có một số trường phái xoay quanh vấn
đề “ tính không”, đêm đối lập “ không” và “ có”, quy cái có về cái “không”.Điều đó thể hiện tư duy trừu tượng cao
Trang 8Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA
Những người Sàmkhya gạt bỏ Bràhman, tinh thần vũ trụ và phủ nhận sựtồn tại của thần Họ đưa ra học thuyết Satkarya – vàda tức học thuyết tồn tạicủa kết quả trong nguyên nhân trước khi nó xuất hiện và học thuyếtParinàma- vàda tức học thuyết về sự chuyển hóa thực tế của nguyên nhântrong kết quả Trong nguyên nhân đã chứa cái gì nằm trong kết quả; trồngSali được Sali, trồng Vrihi được Vrihi Như vậy từ tính chất của kết quả tìmđược chìa khóa để đi vào tính chất của nguyên nhân
Nếu thế giới là vật chất thì nguyên nhân của nó cũng phải là vật chất.Theo những người Sàmkhya, Pràkriti hay Pradhana là vật chất đầu tiên, nókhông phải là vật chất ở dạng thô hay rõ ràng có thể nhận thức bằng cảm giácđược, mà là vật chất ở dạng tinh tế, tiềm ẩn, không thể cảm giác được trựctiếp nhưng không biểu hiện, không hình, không thu biệt, không giới hạn.Bất kì vật thể nào của thế giới vật chất cũng là thể thống nhất không ổnđịnh gồm 3 yếu tố:
1 Sattva: nhẹ, sáng, vui tươi
2 Rajas: Động, kích thích
Trang 9Nhưng Sàmkhya hậu kì, nhất là với Sàmkhya – Kàrikà đã thừa nhậnPurusa là linh hồn bên cạnh Prakrti Những người Sàmkhya hậu kì đã đề caoPurusa Ta biết rằng trong Caraka – Samhita (thế kỉ II) Caraka cho rằngPurusa là sản phẩm của Prakrti chứ không phải là song song tồn tại như ý kiếncủa những người Sàmkhya hậu kỳ Trong khi đó, tác giả Sàmkhya – Kàrikàlại ví dụ Purusa như người què và mù.
Như vậy sàmkhya sơ kì là duy vật Chính vì thế mà phái Vedànta và coiSàmkhya là kẻ đối lập nguy hiểm Sự đối lập giữa Sàmkhya và Vedànta cóthể biểu hiện bằng sơ đồ dưới đây
Sàmkhya Đối lập với Vedànta
Pradhana – Vafda hay Brahma – Vàda hay Brahma KàranaPradhana – Kàrana – Vàda ( học thuyết Vàda ( học thuyết Brahman là
Vật chất là nguyên nhân đầu tiên) nguyên nhân đầu tiên)
Acctana – Kàrana – Vàda Cetana – Kàrana – Vàda
(học thuyết vật chất phi ý thức là (học thuyết ý thức là
Nguyên nhân đầu tiên) nguyên nhân đầu tiên)
Trang 102.1.2 Mimànsà
Mimànsà là một trong những trường phái chính thống của triết học Ấn
Độ cổ đại, do Jaimini sáng lập vào khoảng thế kỉ II tr.CN Xuất phát điểm củaMimànsà chủ yếu dựa vào Véda và Upanishad Về sau tạo ra kinh điển riêng,kinh điển đầu tiên là Mimànsà – sutra Mục đính cơ bản của Mimànsà là diễngiải, chú giải ( Mimànsà nghĩa là thẩm vấn, khảo cứu) các phương pháp cúngbái, lễ nghi, tế lễ và thực hiện các quy tắc xã hội theo bổn phận mỗi ngườimột cách chặt chẽ
Về mặt triết học, Mimànsà chỉ thừa nhận sự tồn tại của những bảnnguyên tinh thần trong thế giới, trong đó “tinh thần thế giới vô ngã” là thựcthể duy nhất, có trước, sáng tạo và chi phối thế giới hiện thực vật chất Linhhồn chỉ là sự hiện thân của tinh thần vũ trụ vĩnh cửu và bất diệt Linh hồnluôn luôn bị ràng buộc bởi thể xác, nhục dục và thế giới hiện tượng, vật chất,trần tục
Mimànsà thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất Thế giới này tồn tạivĩnh viễn, do những nguyên tử tạo nên Những nguyên tử này bị các quy luậtKarma điều khiển Đến đây Mimànsà lại nghiên sang chủ nghĩa duy tâm, biểuhiện rõ tinh thần nhị nguyên luận Mimànsà không thừa nhận sự tồn tại củathần Trường phái này lập luận đơn giản là không có bằng chứng đầy đủ về sựtồn tại của thần, vì cảm giác không nhận ra thần, nguồn gốc của tri thức suycùng là dựa trên cảm giác
Những người Mimànsà chống chủ nghĩa duy tâm vì nếu tin rằng tất cả đềukhông tồn tại thì nghi lễ và hiệu quả của nó trở nên vô nghĩa Ngay Vrtikàra đãchống chủ nghĩa duy tâm Vrtikàra khẳng định cái được cảm giác không thể chỉ
là ý thức Nếu như đặt tấm vải trước con người thì ta cảm nhận được rằng đó làvải chứ không phải là bình gốm Như vậy, vật được cảm nhận nằm ngoài ýthức và không phải là ý thức Prabhàkàra và Kumàrila phát triển các luận điểmcủa Vrtikàra Kumàrila đã tóm tắt lập luận của chủ nghĩa duy tâm như sau: “Cảm giác về cái cột là giả vì đó là nhận thức Tất cả các nhận thức đều giả
Trang 11giống như nhận thức của người nằm trong mộng” Và Kumàrila đã vạch ra sự
vô lý của lập luận trên: Nếu như coi nhận thức khi ngủ là giả thì phải coi nhậnthức khi thức là chân và như thế là mâu thuẫn với kết luận trên
Những người Mimànsà hậu kì đã chuyển sang thừa nhận có thần
2.1.3 Vêdànta
Theo nghĩa đen, Vêdànta tức là sự hoàn thiện kinh Veeda Kinh điển đầutiên là Vedànta – sutra, được coi do Badarayna viết, nhằm hệ thống, thốngnhất hóa các quan điểm triết học của Upanisad Vì vậy, Vêdànta còn có nghĩa
là “kết thúc Vêda” Cả Mimànsà và Védanta đều chú giải cho Upanisad, songMimànsà thiên về giải thích, hệ thống hóa và phát triển phần nghi lễ củaVéda, còn Vêdanta chú trọng chứng minh cho sự tồn tại của “tinh thần thếgiới” Brahman trong Upanisad
Vêdànta thể hiện thế giới quan duy tâm tôn giáo Trường phái này chỉthừa nhận có linh hồn con người (Atman) và linh hồn vũ trụ, hay tồn tại tuyệtđối (Brahman) là tồn tại có thật Còn thế giới vật chất chỉ là ảo ảnh (Maya),sinh ra do vô minh (Avidya)
Linh hồn (Atman) chỉ là biến thể hay hiện thân của Brahman nơi thể xáccon người Để đưa Atman trở về hợp nhất với Brahman, con người phải từ bỏmọi ham muốn nhục dục do thể xác con người và thế giới vật chất do ảo ảnhgây nên Điều này đòi hỏi con người phải sức tu luyện, tư duy, chiêm nghiệmnội tâm, thực nghiệm tâm linh Vì Vêdànta không thừa nhận bất cứ cái gìngoài “tinh thần thế giới” Brahman hay ý thức thuần túy nên nó trở thành cơ
sở lý luận của đạo Hindu
2.1.4 Yoga
Yoga theo tiếng phạn có nghĩa là “sự liên kết” hay hợp nhất tâm thể vềmột khối” Nó là một hệ thống lý luận về phương pháp tu luyện mà người tuhành thực hiện nhằm giải thoát linh hồn khỏi sự ảnh hưởng của các giác quan
và mọi sự ràng buộc với các cơ thể xác thịt, với thế giới vật chất là nguồn gốccủa vô minh và đau khổ Khi người tu hành giải thoát Atman ra khỏi cơ thể
Trang 12thể có thể tự điều khiển được bản thân mình, tiến tới làm chủ được môitrường và vạn vật xung quanh.
Trong Yoga có sự kết hợp tư tưởng triết học của Sàmkhya Nhưng lại coiPurusa là thượng đế Thượng đế ở đây không có ý nghĩa về mặt triết học, màchỉ được hiểu là sự vượt qua thế giới vật chất hữu hình để nhập vào đại giác-đến với Brahman
Phái này đề cao khả năng của con người mà họ cho rằng vô hạn Muốnphát huy khả năng vô hạn đó, phải tập trung tư tưởng và rèn luyện, kích thíchcác huyệt đạo để có thể khai mở khả năng tiềm ẩn của con người
2.1.5 Trường phái Nyàya- Vai’sêsika
Hai hệ thống Nyàya- Vai’sêsika tuy khác nhau nhưng có nhiều quanđiểm triết học tương đồng nhất là vào giai đoạn hậu kì đã gắn liền với nhau,nên có thể gọi chung là Nyàya- Vai’sêsika
Lý thuyết nguyên tử
Cả hai trường phái Nyàya- Vai’sêsika đều thừa nhận sự tồn tại của thếgiới vật chất, thế giới ấy rất phong phú đa dạng.Phương pháp luận của họ làquy toàn bộ sự đa dạng của tồn tại vào bốn yếu tố vật chất: Đất, nước, lửa vàkhông khí Những yếu tố này lại được quy vào bản nguyên duy nhất, bất biến,vĩnh hằng, được phân biệt ở chất lượng, khối lượng và hình dáng, tồn tạitrong môi trường đặc biệt, trong không gian, thời gian được gọi là Anu( nguyên tử)
Ngoài việc thừa nhận sự tồn tại của Anu, phái này còn thừa nhận có vô
số những linh hồn tồn tại trong vũ trụ, những linh hồn đó được gọi lag Ya màđặc tính của nó được thể hiện ra như ước vọng, ý chí, vui buồn, giận hờn…
Để điều khiển sự kết hợp giữa các nguyên tử với nhau và giữa cácnguyên tử với linh hồn, hoặc giải thoát các linh hồn khỏi nguyên tử, hai pháinày tìm đến lực lượng thứ ba mang tính chất siêu nhiên đó là thần Isvara
Lý thuyết nhận thức và Logic học
Trang 13Các trường phái Nyàya- Vai’sêsika thừa nhận sự tồn tại khách quan củađối tượng nhận thức Nhận thức có thể tin cậy, cũng có thể không tin cậy Vìvậy, phải kiểm tra đúng sai của nhận thức một cách thực tế.
Việc kiểm tra đúng sai của nhận thức dựa vào lý thuyết “ngũ đoạn luận”,gồm năm vấn đề:
1 Luận đề: đồi có lửa cháy
2 Nguyên nhân: vì đồi bốc khói
3 Minh họa: tất cả cái bốc khói đều có lửa cháy
4 Suy đoán: Đồi bốc khói thì không thể không có lửa
5 Kết luận: do đó đồi có lửa cháy
Như vậy, nhũ đoạn luận gần giống tam đoạn luận của Arítxtốt nhưngthêm vào đó 2 phần: đó là kết luận được đưa ra trước và nhắc lại sau cùng
2.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của các trường phái không chính thống
2.2.1 Đạo Jaina
Jaina là một trường phái triết học tôn giáo được xác lập cùng thời vớiPhật giáo Tên của Jaina bắt nguồn từ tên người sáng lập Mahavira có hiệu làJaina (chiến thắng)
Về triết học, phái này theo học thuyết tương đối, dung hòa hai phái cựcđoan Một mặt tiếp nhận ở Upanisad tư tưởng tồn tại đầu tiên là bất biến, vôthủy, vô chung Mặt khác tiếp nhận ở Phật giáo quan điểm biến chuyển làkhông ngừng Vì vậy, theo thuyết này, tồn tại vừa bất biến vừa chuyển hóa.Cái vĩnh hằng là bản thể ví như đất sét, cái luôn biến đổi là các dạng của bảnthể như các vật thể làm từ đất sét
Thực thể đầu tiên tạo nên thế giới theo trướng pháp Jaina là Giva vàAtgiva Vật chất chỉ là một trong những biến thể của Atgiva, có những đặctính như sờ mó được, có âm thanh, mùi vị và màu sắc Các vật thể mà conngười cảm giác được cấu thành từ các nguyên tử Nguyên tử cực kì nhỏ bé,không thể phân chia, không do ai sáng tạo ra
Trang 14Những người Jaina cho rằng có thể chia thực thể tồn tại ra làm 2 loạisống và không sống Thực thể sống có lý trí, linh hồn Còn thực thể khôngsống gồm không gian, thời gian, vận động, nghỉ ngơi…Các yếu tố sống vàkhông sống liên kết với nhau Cũng như vật chất, linh hồn không do ai sángtạo ra, nó cũng tồn tại ngay từ đầu với một số lượng rất lớn và cố định, đượcthể hiện trong các cơ thể sống Linh hồn có tính toàn năng, nhưng nó bị hạnchế bởi thể xác mà nó sống trong đó.
Jaina tin vào thuyết luân hồi và nghiệp Để giải thoát khỏi luân hồi cầnhoàn thiện đạo đức, bằng hình thức tu khổ hạnh, không có của riêng, ăn chay,bất sát, bất bạo, không mưu hại các sinh linh Khi thực hành tu luyện, đạoJaina chia thành 2 phái: phái không mặc quần áo để hòa mình vào tự nhiên,phái kia mặc quần áo trắng để tỏ ra đạo đức trong sạch
2.2.2 Phái Lokàyata
Lokàyata là trường phái duy vật triệt để nhất trong số các trường pháitriết học duy vật Ấn Độ cổ, trung đại Tên Lokàyata hay Carvaka thườngđược hiểu là thứ triết học phổ biến trong dân chúng, hay là triết học lấy vậtchất làm cơ sở Trường phái này ra đời trong cuộc đấu tranh lâu dài chốngchủ nghĩa duy tâm, phê phán chế độ phân biệt đẳng cấp, đòi hỏi tự do tưtưởng và bình đẳng xã hội
Khi luận giải về nguồn gốc thế giới, trường phái Lokàyata bác bỏ sự tồntại của Brahman (linh hồn thế giới) và Atman (linh hồn của mỗi cá nhân conngười) Phái này cho rằng thế giới được tạo thành từ bốn yếu tố: đất, nước,lửa, không khí tạo thành và ý thức cũng được tạo ra từ các yếu tố đó Nhữngyếu tố này có khả năng tự tồn tại, tự vận động trong không gian và cấu thànhvạn vật Tính đa dnagj của vạn vật do sự kết hợp khác nhau những yếu tố ấy.Bản thân con người cũng là kết quả sự kết hợp của các yếu tố đất, nước,lửa, không khí Sự hợp thanh hay tan rã của các nguyên tố làm cho con ngườihay các sự vật khác tồn tại hay mất đi