Đặc điểm chung của TH Ấn Độ cổ - trung đại (1). Triết học Phương Đông (Gồm Ấn Độ và Trung Hoa) thường tập trung vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, nhân sinh, mà ít chú ý nghiên cứu về giới tự nhiên, về vũ trụ. Trong đó TH Ấn Độ là TH tâm linh = Xoay quanh các VĐ của Thánh Kinh Vedha…, như “siêu thoát, giải thoát”…(2). TH Â/Đ có xu hướng hướng nội…(TH = daksana = sự suy ngẫm, chiêm nghiệm) (3). Sự đối lập giữa tư tưởng DV và DT thường diễn ra trong nội bộ các trường phái hơn là giữa các trường phái. Mặc dù cuộc Đ/T DV-DT vẫn diễn ra trên tất cả các bình diện và mọi hình thức, nhiều khi rất gay gắt và phức tạp…, nhưng không trực tiếp và gay gắt như trong TH Phương Tây, nên đây cũng là một nguyên nhân là cho TH Phương Đông phát triển không mạnh mẽ bằng TH Phương Tây
Trang 21.1 Triết học và đối tượng nghiên cứu của nó
1.2 Vấn đề cơ bản của triết học – CNDV
và CNDT
1.3 Biện chứng và siêu hình
1.4 Chức năng và vai trò của triết học
Trang 3Triết học DV-DT
1 Những khái quát chung của các KH tự nhiên
2 Những khái quát chung của các KH XH
Trang 4HỌCTRƯỚC MÁC VÀ HiỆN ĐẠI
2.1 Khái lược về lịch sử triết học
Trang 5* Những nguyên tắc cơ bản về phân kỳ LSTH:
- Phân kỳ theo Hình thái KT – XH:
TH của XH CHNL => TH của XH P/K =>
TH của XH TBCN => TH của XH CSCN
- Phân kỳ theo tính đặc thù của sự
P/triển:….
Trang 6- LSTH Tây Âu cổ đại (Hy Lạp – La Mã cổ đại)
- LSTH Tây Âu thời trung cổ
- LSTH Tây Âu thời Phục Hưng và Cận đại
- TH Phương Tây hiện đại (TH M-L >< THTSHĐ)
Trang 7Phương Đụng 2.1.1 LSTH ấn độ cổ, trung đại
2.1.2 LSTH Trung Hoa c , trung ổ, trung đại đại i
Trang 9Độ cổ đại
* iều kiện về tự nhiên Đ
* iều kiện về kinh tế - xã hội Đ
* iều kiện về khoa học v n hóa Đ – văn hóa ăn hóa
Trang 10* Ấn Độ cổ đại nằm trên Tiểu lục địa Ấn Độ, với hàng trăm vương quốc cổ đại…
- - Bắc là dãy Hymalaya, sứ sở cuả tuyết
- - Cực bắc là vùng Kasơmia với khí hậu ôn đới
- - Nam là Ấn độ dương
- - 2 con sông lớn: Sông Indu và sông Hằng là nơi sinh ra
nền VM ÂĐ cổ đại (Rất sớm)
- - Tóm lại: ĐKTN, khí hậu của Ấ/Đ rất phức tạp Địa
hình vừa có nhiều núi non trùng điệp, vừa có nhiều sông ngòi và đồng bằng trù phú; vừa có vùng khí hậu nóng,
ẩm, mưa nhiều, vừa có vùng lạnh giá, quanh năm tuyết phủ, lại có cả những vùng sa mạc khô cằn, nóng nực…
=> Tính đa dạng và khắc nghiệt của Đ/K TN, khí hậu là những thế lực TN đè nặng lên ĐS và tâm trí con người
ÂĐ cổ đại…, tạo nên những nét huyền bí…
Trang 16- VM Ấn Độ cổ đại xuất hiện rất sớm trên lưu vực sông Ấn (VM Harappa), khoảng -XXV… Sau đó,
cuối TNK –II thì suy vong, chưa rõ N/nhân.
+ XH đã bước vào thời kỳ đồ đồng, có nông
nghiệp, thủ công nghiệp và thương mại…, khá
Trang 17- Từ TK -XV, Người Arya từ Trung Á xâm nhập Ấ/Đ và
đồng hóa với người bản địa Dravida, chuyển từ du mục sang nông nghiệp định cư và phát triển nền VM trên lưu vực sông Hằng và cao nguyên Dekakan, hình thành nên các tiểu vương quốc (rajan) ở Ấ/Đ…
- Đây là thời kỳ xuất hiện đẳng cấp khá rõ rệt theo quy
định của đạo Bàlamôn (Trong luật Manu), XH chia thành 4 chủng tính hay đẳng cấp lớn, là:
+ Brahmana: Tăng lữ, lễ sư Bà la môn (Xuất hiện từ
Trang 18- Từ TK -VII => +XVI ẤĐ diễn ra hàng loạt biến cố lớn, các quốc
gia chiếm hữu NL thôn tính lẫn nhau, hình thành những quốc gia lớn, các vương triều thống nhất, đặc biệt như vương quốc
Magadha, hay Murya với triều đại Asoka (Adục) nổi tiếng.
- Thời kỳ này, nền KT và XH ẤĐ đã có những bước tiến vượt bậc:
+ Nông nghiệp P/T mạnh nhờ mở mang thủy lợi, khai khẩn đất đai, trồng ngũ cốc
+ Thủ công cũng rất phát đạt, nhất là nghề dệt bông, đay, tơ lụa Nghề sắt đã xuất hiện Đồ gỗ, gốm sứ và trang sức, đồ dùng vàng bạc… rất P/T…
+ Thương nghiêp cũng phát triển với tầng lớp thương nhân và thợ thủ công… Tiền kim loại… Nhiều thành phố và các con đường thương mại thủy bộ nối liên các thành thị và thông thương tới
TQ, Ai Cập, Trung Á…
Các đẳng cấp càng được củng cố, rất nghiệt ngã, và còn ảnh hưởng nặng nề cho tới tận ngày nay
- Từ XVIII ẤĐ bị ĐQ Anh đô hộ, đến 1947 giành độc lập => chuyển
sang thời hiện đại
Trang 19- Tóm lại:
Trong XH CHNL ở Ấ/Đ, ngoài đặc trưng chủ yếu là
chế độ đẳng cấp nghiệt ngã và sự tồn tại dai dẳng của những công xã nông thôn, thì chế độ nô lệ kiểu gia
trưởng và Nhà nước quân chủ chuyên chế TƯ tập
quyền, trong đó các đế vương nắm quyền lực vô hạn
về sở hữu ruộng đất và thần dân, cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới T/chất khắc nghiệt của tự nhiên và chế
độ đẳng cấp, thể chế XH càng đè nặng lên đời sống người dân Ấ/Đ, làm cho cuộc sống của họ càng thêm khổ cực Chính vì phản ánh nhu cầu … đó của người dân Ấ/Đ, mà mà các trường phái TH Ấ/Đ đều tập trung vào việc lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm cách giúp con người thoát khỏi những những nỗi khổ não, lo âu trong đời sống ngàn năm của họ…
Trang 23+ TV: Tổng mục sao (Tổng mục khoảng 300 vì sao), lịch pháp, giải thích nhật thực, nguyệt thực…
+ Toán học: số thập phân, đại số, khai căn, số Pi, lượng giác, P/ trình bậc 2,3, số 0…
+ Y học: có những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng châm cứu
và thuốc thảo mộc
* Văn Hóa ẤĐ cổ, trung đại P/t qua 3 G/đoạn:
- TK – XV => -XV: VM Sông Ấn
- TK – XV => - VII: VM Vedha: Đây là giai đoạn xuất hiện những
mầm mống của tư tưởng TH Ấn Độ thông qua các Bộ Thánh Kinh Vedha, Kinh Upanisahd, Sử thi Ramayana, sử thi
Mahabarata…
- TK -VI => -I: G/Đ cổ điển (Hay giai đoạn Phật giáo, Bà la môn
giáo), là G/đoạn hình thành các trường phái chủ yếu của TH
ẤĐ cổ đại (9 Trường phái)
Nghệ thuật ẤĐ cổ đại đều P/T cao trên tất cả 6 lĩnh vực nghệ thuật cổ đại: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, múa, âm nhạc, thơ
ca (Ramayana, Mahabharata, …)
=> Tất cả đều mang đậm bản sắc VH tâm linh và TH của ẤĐ…
Trang 28(3) Sự đối lập giữa tư tưởng DV và DT thường diễn ra trong nội bộ các trường phái hơn là giữa các trường phái Mặc dù cuộc Đ/T DV-DT vẫn diễn ra trên tất cả các bình
diện và mọi hình thức, nhiều khi rất gay gắt và phức tạp…, nhưng không trực tiếp và gay gắt như trong TH Phương Tây, nên đây cũng là một nguyên nhân là cho TH Phương Đông phát triển không mạnh mẽ bằng TH Phương Tây
Trang 29trung đại
(4) Trong TH Phương Đông (cả TH Ấn Độ và Trung Hoa) không có sự xuất hiện các trường phái mới…, như
trong TH Phương Tây
* Mặc dù vậy, TH Ấ/Đ vẫn phát triển rất phong phú, đa dạng, có nhiều TT sâu sắc, biện chứng về TG và con người…, với một trình độ TD trừu tượng rất cao…
=> Song, so với TH Ph Tây, thì TH Phương Đông phát triển chưa đầy đủ, chưa thật điển hình nên cũng phát triển chậm chạp, kéo dài…
Trang 30trung đại
• So sánh với ĐĐ của TH Phương Tây (Hy Lạp –
La Mã cổ đại)
• - TH Phương Tây cổ đại là TH – tự nhiên…
• - Sự đối lập giữa CNDV và CNDT diễn ra trực tiếp và
rất gay gắt…
• - Luôn xuất hiện các trường phái TH mới trên cơ sở
phủ định các trường phái trước đó.
• => Cho nên TH phương Tây dù ra đời sau nhưng đã phát triển đầy đủ và điển hình hơn, nên cũng phát
triển nhanh hơn so với TH Phương Đông Đó cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho XH
Phương Tây “Đi sau nhưng về trước”… so với
Phương Đông
Trang 31+ Các trường phái chính thống: Astika (tin vào TG
bên kia), và thừa nhận uy thế tuyệt đối của Thánh
Kinh Vedha, bao gồm 6 trường phái: Sàmkhya,
Mimànsà, Vêdànta, Yoga, Nyànya-Vai’sêsika
+ Các trường phái không chính thống (tà giáo):
Nastika (làm ô nhục Vedha), phủ nhận uy thế tuyệt
đối của Vedha, có kinh điển riêng, không phụ thuộc vào Vedha, bao gồm 3 trường phái: Jaina giáo,
Lokàyata, Phật giáo
Trang 32dưới dạng truyền miệng, sau được sưu tập, ghi chép lại, gồm có
4 tập thánh kinh chủ yếu:
- Rig-Vedha: Tri thức về thánh ca, tán tụng, dùng để cầu nguyện,
chúc tung các vị thánh thần, như thần lửa Agni, thần Sấm sét
Indra Kinh này chuyên dùng cho các bậc “Khuyến thỉnh sư”
(Hotri)
- Sama-Vedha: Tri thức về các giai điệu ca chầu khi hành lễ, ca
ngợi thần linh, chuyên dùng cho các bậc “Ca vinh sư”
- Yajur-Vedha: Tri thức về những lời khấn lễ, những công thức,
nghi lễ khấn vái trong hiến tế, chuyên dùng cho “Hành lễ sư”
- Athava-Vedha: Những lời khấn vái mang tính bùa chú, ma
thuật, phù phép (Thần chú)…, nhằm cầu điều tốt cho mình hoặc điều họa cho kẻ thù…
- Vedha còn gồm các bộ phận muộn hơn là: (1) Brahmana…; (2)
Những kinh Aranyaka (Kinh rừng)…; (3) Những kinh
Upanishad…
Trang 33- Vedha còn gồm các bộ phận muộn hơn là:
1 Brahmana gọi là Phạn chí, hay kinh Bà la môn , gồm
những bài cầu nguyện giải thích các nghi lễ của Vedha,
giành cho các tu sĩ;
2 Những kinh Aranyaka (Kinh rừng), giải thích ý nghĩa
huyền bí của những nghi lễ và những ý nghĩa tượng trưng, cao siêu của Vedha, dùng cho những tu sĩ khổ hạnh và ẩn dật;
3 Những kinh Upanishad, bình chú tôn giáo-triết học, giải thích ý nghĩa triết lý sâu xa của các tư tưởng trong Vedha, đặc biệt là lập luận về đấng tối cao Brahman và bản chất tâm linh của con người, dùng cho các triết gia…
Trang 34hình thức TZ cổ của Ấn Độ, thờ thiên nhiên với các vị thần
tượng trưng…
(1) Tư tưởng TH cơ bản trong kinh Vedha:
Theo Kinh Vedha, trong vũ trụ đồng thời tồn tại ba lực lượng
có liên quan với nhau là: thần linh, con người và ác quỷ, ứng với ba cõi là: thiên giới, trần thế và địa ngục, trong đó các thần linh điều khiển mọi H/động của vũ trụ theo nguyên lý Rita (chân xác, thích hợp, trật tự vận hành của vũ trụ)
- Các thần linh ngụ ở khắp ba cõi: Đất hay Hạ giới (Prithivi),
Không trung hay cõi trung gian (Autarriksa), và Trời hay Thiên giới (Dyaus) Trời là hiện thân của Thượng đế toàn năng, không giới hạn, vô thủy, vô chung, chứa đựng toàn thể vũ trụ… Cùng với Trời là cha, mang khí dương, còn có Đất là mẹ(Aditi) mang khí âm Dyaus là tinh thần, Aditi là VC, do hai nguyên lý âm
dương (Trời, Đất) giao hợp mà sinh ra và nuôi dưỡng vạn vật trong vũ trụ.
Trang 35• Kinh Vedha và Upanishad là cơ sở giáo lý của Vedha giáo, hình thức
TZ cổ của Ấn Độ, thờ thiên nhiên với các vị thần tượng trưng…
•Theo V giáo, người ẤĐ cổ đại tin rằng trong vũ trụ đồng thời tồn tại
ba lực lượng có liên quan với nhau là: …
• Các thần linh ngụ ở khắp ba cõi…
• Cai quản Hạ giới là thần Lửa Agni, cai quản Không trung
là thần gió Vâyu, cai quản thiên giới là thần mặt trời Surya
Đó là ba ngôi tối linh trong kinh V.
• Theo V người ÂĐ còn thờ thần Mặt trăng - Mosa, thần
mưa - Parjanya, thần sét - Indra, thần không trung - Vanura, thần nước, thần rạng đông, hoàng hôn, Thần Tri thức, ánh sáng, bóng tối, thần tài, thần chiến tranh, thần bò cái…
(điều đó cho thấy, trong thời kỳ này TZ còn mang nặng
mầu sắc đa thần)
Trang 36nhiên, nhưng cũng mang nặng tính người Các vị thần cũng có vợ chồng, con cái, cũng chọc ghẹo nhau, cũng uống rượu say, cũng
có lúc thích khoe khoang, hoặc gây gổ…, nhưng nói chung thì
thần linh là những bậc độ lượng, luôn tượng trưng cho sự tốt lành
•Mỗi vị thần linh cai quản một lĩnh vực riêng, nhưng khi thi hành
những quyền lực ấy, các vị thần lại có sự liên hệ mật thiết và đồng điệu với nhau
•Như vậy, khi giải thích T/Giới theo QN TZ, tư tưởng TH Â/Đ thời
tối cổ đã dần khám phá ra cái chung, cái bản chất ẩn dấu đằng sau các SV, HT phong phú đa dạng
•Càng về sau, trong kinh V và U QN tự nhiên về các vị thần linh
đa dạng mà đồng điệu, biểu tượng cho các H/Tượng TN phong
phú đã mờ nhạt dần Thay vào đó là những nguyên lý trừu tượng, khái quát, giải thích căn nguyên và bản chất vũ trụ bằng một đấng sáng tạo duy nhất, bằng “Tinh thần TG vô ngã”, tuyệt đối, tối
cao…
Trang 37•Chẳng hạn, trong một bài ca của Rig-Vedha, đưa ra QN về một
“Đấng nguyên nhân” đầu tiên Purusa, có ngàn đầu, ngàn mắt, ngàn chân phân ra cùng khắp không gian… Sau đó Purusa mới sinh ra các chư thần và vạn vật, muôn loài Từ miệng “Ngài”
sinh ra dòng dõi Bà la môn, từ cánh tay “Ngài” sinh ra…, từ mắt
“Ngài” sinh ra mặt trời Puán, hơi thở của “Ngài” sinh ra cõi
trời, chân làm cõi đất, hai tay thành bốn phương trời…
•Về sau, trong kinh U người Ấ/Đ ngày càng tôn sùng ba vị
thần tối cao là: Thần sáng tạo Brahman, thần hủy diệt Shiva,
Thần Bảo vệ Vishnu Ba vị thần ba xu hướng, nhưng thực chất
là sự thể hiện của một Q/trình thống nhất: Sáng tạo để bảo tồn rồi hủy diệt, hủy điệt để sáng tạo rồi bảo tồn, bảo tồn để hủy
diệt rồi sáng tạo.
Trang 38trọng nhất của Vedha, bao gồm những bình giải tôn giáo-triết học
về các lẽ thiết yếu, các ý nghĩa triết lý sâu xa của các bài kinh, các nghi lễ cũng như các bản thần thoại trong Vedha, được biên soạn
từ khoảng -X => -V, bởi các tông phái, đạo sỹ trong những hoàn
cảnh, địa phương khác nhau (như Yajnavalkya và vợ ông, cùng nữ triết gia nổi tiếng Gârgi) U được coi là bước nhảy rõ rệt từ TGQ thần thoại sang TD triết học của người Ấ/Đ cổ đại.
• Về Bản thể luận: U biện hộ cho QĐ DT-TZ về cái gọi là “Tinh thần
sáng tạo tối cao” sáng tạo và chi phối TG.
• Trả lời cho câu hỏi: cái gì là thực tại cao nhất, là căn nguyên của
tất cả, mà khi NT được nó thì người ta sẽ NT được mọi cái còn lại
và có thể giải thoát linh hồn khỏi mọi lo âu, sầu não của đời sống trần tục và sự ràng buộc của TG hiện tượng biến ảo, vô thường ?
U cho rằng: bản nguyên của TG là “Tinh thần vũ trụ tối cao”, tuyệt đối và bất tử - Brahman Trong vũ trụ mọi cái đang T/tại đều chỉ là biểu hiện của Brahman.
Trang 39•Linh hồn - Atman là cái bất tử, nhưng T/tại trong thể xác
con người trần tục, nên YT con người lầm tưởng “Cái bản
ngã” của mình là cái khác với “Linh hồn vũ trụ”… Những ý
chí, dục vọng… của con người trần tục đã gây ra những hậu quả, gieo đau khổ ở kiếp này và cả những kiếp sau, gọi là
nghiệp báo - karma Chính vì vậy mà linh hồn bị giam hãm vào hết thể xác này đến thể xác khác, bị che lấp, ràng buộc bởi
TG hiện tượng như ảo ảnh, gọi là sự luân hồi - Samsara,
không nhận ra và trở về đồng nhất được với chân bản của
mình là Brahman.
•Muốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo… để trở về đồng nhất với Brahman, con người phải dốc lòng, toàn tâm tu luyện cả về hành động và tri thức Bằng
thực nghiệm tâm linh và trực giác con người mới nhận ra
chân bản của mình, khi đó linh hồn bất tử mới có thể trở về đồng nhất với Brahman, bắt đầu siêu thoát (Moska)
Trang 40•Về bản thể luận: ….
•Về NT luận: U chia NT con người thành hai trình độ là hạ
trí (Aparâ-vidây) và thượng trí (Parâ-vidây) Hạ trí chỉ P/á được những cái riêng lẻ… Còn thượng trí thì vượt qua tất
cả những cái cụ thể, hữu hình, hữu hạn thường xuyên
B/đổi, để NT một thực tại tuyệt đối, duy nhất, thường hằng,
vô hình và là bản chất của tất cả mọi cái đang T/tại Tuy
nhiên hạ trí cũng có vai trò, công dụng và là Ph/tiện để đưa người ta tới thượng trí
•Chính vì … mà U đã trở thành nguồn gốc của hết thẩy
QĐ TH chính thống và là cơ sở lý luận cho đạo Bà la môn
và đạo Hindhu sau này, đồng thời qua đó mà trở thành hệ
tư tưởng tôn giáo thống trị ở Ấ/Đ trong suốt thời cổ và
trung đại…
Trang 41SHIVA hủy điệt để sáng tạo rồi bảo tồn
VISHNU bảo tồn để hủy diệt rồi sáng tạo
BRAHMA
Sáng tạo để bảo
tồn rồi hủy diệt
,,.
Trang 44BAPS Akshardham Swaminarayan là một phức hợp đền thờ Hindu ở New Delhi, Ấn Độ Nó nhằm mục đích giới thiệu nghệ thuật cổ xưa của Ấn Độ giáo, văn hóa và di sản tinh thần.
Kể từ khi khai trương trong tháng 11 năm 2005,
Swaminarayan Akshardham đã trở thành một cột mốc phổ biến của cảnh quan văn hóa và tôn giáo của Ấn Độ, thu hút hơn 5.000.000 du khách mỗi năm Nó nổi bật
trong ấn bản năm 2009 của cuốn sách Guinness World Records - là ngôi đền Hindu lớn nhất trên thế giới
Trang 46(Pháp, nguyên lý đạo đức và chức phận), (2) Samsàra (Luân hồi, sống, chết và tái sinh), (3) Karma (Nghiệp, hành động tạo tác và kết quả của hành động tạo tác), (4) Moksha (Giải thoát khỏi luân hồi), và (5) Yoga (các phương pháp tu tập…)
Những giáo thuyết này có vẻ trùng hợp với giáo thuyết của Phật Giáo và Kỳ Na Giáo, nhưng thực tế có nhiều khác biệt trong nhận thức và thực hành chúng trong Ấn Độ Giáo so với Phật Giáo và
Kỳ Na Giáo.
Hầu hết tín đồ Ấn Độ Giáo tin rằng thần linh và linh hồn được gọi
là tiểu ngã (atman) là tồn tại vĩnh viễn Tiểu ngã là cái bóng mờ
của đại ngã, Thần Brahman Mục tiêu sau cùng của đời sống là
nhận thức được rằng tiểu ngã đồng nhất với Brahman
Bất cứ ai trở nên tỉnh giác hoàn toàn về tiểu ngã như là nội thể của tự ngã thì nhận thức được sự đồng nhất với Brahman, và do vậy, người đó cũng đạt tới sự giải thoát Tóm lại, theo Ấn Độ Giáo tiến trình giải thoát cá nhân chính là tiến trình thể nhập và đồng nhất tiểu ngã (atman) với đại ngã (Brahman).