1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phạm trù không tring triết học ấn độ cổ trung đại - tiểu luận cao học

19 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 40,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU Mác từng nói rằng, lịch sử phương Đông là lịch sử tôn giáo. Điều này đặc biệt với trường hợp Ấn Độ. Ở Ấn Độ đã có nhiều hệ thống tôn giáo tồn tại và các hệ thống triết học thường gắn liền với tôn giáo. Đã gắn bó với tôn giáo thì khó tránh khỏi duy tâm và hữu thần, dẫu có lúc nhà triết học đã cố tách khỏi hay quên mình là nhà tôn giáo. Nhưng phải chăng, do gắn với tôn giáo, các nhà triết học Ấn Độ cổ có một hoạt động tâm linh sâu sắc và nhạy bén, khiến họ có thể phân tích một cách tế vi và sâu sắc mọi ngõ ngách của tinh thần, của các tâm, cái thức…Câu hỏi về tồn tại không tồn tại luôn làm các nhà triết học Ấn Độ khắc khoải. Nếu toán học cổ Ấn Độ đã đóng góp cho nhân loại con số không mà Bertrand Russel đã đánh giá rất cao, thì phạm trù không cũng đã được triết học cổ Ấn Độ hết sức chú ý. Nếu niềm hạnh phúc và nỗi bất hạnh của con người đã được triết học Ấn Độ quan tâm, thì bản thân nền triết học này cũng đã có những bất hạnh và may mắn do xã hội Ấn Độ thời cổ quy định. Và phải chăng là sự phát triển trì trệ của xã hội Ấn Độ thời cổ trung đại đã dẫn đến tình trạng đó? Nền triết học Ấn Độ cổ là một nền triết học đã phát triển liên tục nhưng chậm chạp trong một bối cảnh xã hội như Mác đã nhận xét là tính chất “ phương thức sản xuất Châu Á”. Chính Mác đã xây dựng khái niệm này trên các tài liệu về xã hội Ấn Độ. Vì vậy có thể coi xã hội Ấn Độ trung đại là “ phương thức sản xuất Châu Á” điển hình.Với tất cả các quy định đó, các đặc điểm đó, nhìn chung triết học Ấn Độ cổ đã hiện ra trước mắt ta như một lâu đài đồ sộ, chứa đầy những kho báu của tư duy nhân loại mà chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Vì vậy, trong học phần lịch sử triết học em đã lựa chọn đề tài “ Triết học Ấn Độ cổ trung đại”, làm đề tài nghiên cứu của mình. Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu song không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

Mác từng nói rằng, lịch sử phương Đông là lịch sử tôn giáo Điều này đặc biệt với trường hợp Ấn Độ Ở Ấn Độ đã có nhiều hệ thống tôn giáo tồn tại

và các hệ thống triết học thường gắn liền với tôn giáo Đã gắn bó với tôn giáo thì khó tránh khỏi duy tâm và hữu thần, dẫu có lúc nhà triết học đã cố tách khỏi hay quên mình là nhà tôn giáo Nhưng phải chăng, do gắn với tôn giáo, các nhà triết học Ấn Độ cổ có một hoạt động tâm linh sâu sắc và nhạy bén, khiến họ có thể phân tích một cách tế vi và sâu sắc mọi ngõ ngách của tinh thần, của các tâm, cái thức…Câu hỏi về tồn tại không-tồn tại luôn làm các nhà triết học Ấn Độ khắc khoải Nếu toán học cổ Ấn Độ đã đóng góp cho nhân loại con số không mà Bertrand Russel đã đánh giá rất cao, thì phạm trù không cũng đã được triết học cổ Ấn Độ hết sức chú ý Nếu niềm hạnh phúc

và nỗi bất hạnh của con người đã được triết học Ấn Độ quan tâm, thì bản thân nền triết học này cũng đã có những bất hạnh và may mắn do xã hội Ấn Độ thời cổ quy định Và phải chăng là sự phát triển trì trệ của xã hội Ấn Độ thời

cổ trung đại đã dẫn đến tình trạng đó? Nền triết học Ấn Độ cổ là một nền triết học đã phát triển liên tục nhưng chậm chạp trong một bối cảnh xã hội như Mác đã nhận xét là tính chất “ phương thức sản xuất Châu Á” Chính Mác đã xây dựng khái niệm này trên các tài liệu về xã hội Ấn Độ Vì vậy có thể coi

xã hội Ấn Độ trung đại là “ phương thức sản xuất Châu Á” điển hình

Với tất cả các quy định đó, các đặc điểm đó, nhìn chung triết học Ấn

Độ cổ đã hiện ra trước mắt ta như một lâu đài đồ sộ, chứa đầy những kho báu của tư duy nhân loại mà chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu Vì vậy, trong

học phần lịch sử triết học em đã lựa chọn đề tài “ Triết học Ấn Độ cổ trung đại”, làm đề tài nghiên cứu của mình Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu

song không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Trang 2

B NỘI DUNG

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học ẤN Độ cổ, trung đại 1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên

Ấn Độ là một bán đảo lớn- một tiểu lục địa, nằm ở miền Nam châu Á Hai miền Đông Nam và Tây Nam của Ấn Độ giáp Ấn Độ Dương, phía Bắc án ngữ là dãy Hymalaya hùng vĩ, với vòng cung dài 2600km ( có 4 ngọn núi cao hơn 7km vì thế chúng trở thành sứ sở của tuyết) Cực Bắc Kasơmia có những ngọn núi hũng vĩ dưới chân núi là vùng khí hậu ôn đới, có thung lũng Kasơmia rộng lớn có tên gọi “ thiên đường nơi trần thế” Có 5 con sông lớn trong đó nổi tiếng là sông Indu, sông Hằng, lưu vực của chúng tạo nên những vùng đồng bằng phì nhiêu Ấn Độ cũng có vùng là xa mạc khô cằn Yếu tố địa lý như vậy ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành văn hóa, tôn giáo và tư tưởng triết học của người Ấn Độ

1.2 Vài nét về lịch sử xã hội

Ảnh hưởng lớn nhất tới toàn bộ các mặt của lịch sử Ấn Độ là nhân tố

xã hội Xã hội cổ đại Ấn Độ ra đời sớm Vào khoảng thế kỉ XXV trước công nguyên ( tr CN) đã xuất hiện nền văn minh sông Ấn, sau đó bị tiêu vong chưa

rõ nguyên nhân

Từ thế kỉ XV trước CN các bộ lạc du mục Arya từ Trung á xâm nhập vào Ấn Độ Họ định cư rồi đồng hóa với người bản địa Dravida tạo thành cơ

sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai trên đất Ấn Độ

Từ thế kỉ thứ VII trước CN, đất nước Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài Vào thế kỉ XVIII, Ấn Độ bị đế quốc Anh đô hộ, từ đó Ấn Độ bước sang thời kì thống nhất về chính trị, thúc đẩy sự kết hợp giữa văn hóa cổ truyền với văn hóa phương Tây

Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế xã hội của Ấn Độ cổ, trung đại

là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình “công xã

Trang 3

nông thôn”, trong đó chế độ công hữu về ruộng đất là cơ sở để tìm hiểu toàn

bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại Từ hai đặc điểm trên dẫn đến hệ quả là các bước phát triển của lịch sử xã hội Ấn Độ không mạch lạc như lịch sử xã hội các nước Châu Âu Thực sự ở Ấn Độ không có quan hệ phong kiến giống như ở các nước Tây Âu Ở Ấn Độ, nô lệ chưa bao giờ là lực lượng sản xuất chủ yếu,

họ chưa bao giờ trở thành nông nô như ở Tây Âu phong kiến…Mặt khác quan

hệ đẳng cấp ở Ấn Độ càng làm cho kết cấu xã hội giai cấp thêm phức tạp Trong xã hội có 4 đẳng cấp:

1 Brahman ( tăng lữ) là đẳng cấp cao quý nhất

2 Ksatrya ( quý tộc)

3 Vaisya ( bình dân tự do)

4 Ksudra ( cùng đinh, nô lệ)

Ngoài ra còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo

1.3 Điều kiện về văn hóa

Người Ấn Độ cổ đại tích lũy được nhiều kiến thức về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được hiên tượng nhật thực…Toán học xuất hiện rất sớm: phát minh ra số thập phân, tính đươc trị số π, biết về đại số lượng giác, phép khai căn, giải phương trình bậc 2, 3 Trong lĩnh vực y học đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, thuốc thảo mộc.Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ, trung đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo và tâm linh

Văn hóa Ấn Độ cổ trung đại được chia làm 3 giai đoạn:

- Khoảng từ thế kỉ XXV – XV tr.CN gọi là nền văn minh sông Ấn: Hay còn gọi là nền văn minh Harappa là một nền văn minh thành thị đã xuất hiện tư khoảng 2500 tr CN

- Từ thế kỉ XV – VII trCN gọi là nền văn minh Veda

- Từ thế kỉ VI – I tr.CN là thời kì hình thành các trường phái triết học tôn giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống.Đây là thời kì hình thành các quốc gia ở Ấn Độ

Trang 4

Tóm lại: Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Ấn Độ, ngoài đặc trưng chủ yếu là

chế độ đẳng cấp nghiệt ngã và sự tồn tại dai dẳng của những công xã nông thôn, thì chế độ nô lệ kiểu gia trưởng và Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, trong đó các đế vương nắm quyền lực vô hạn về sở hữu ruộng đất và thần dân, cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới tính chất khắc nghiệt của tự nhiên và chế độ đẳng cấp, thể chế xã hội càng đè nặng lên đời sống người dân Ấn Độ, làm cho cuộc sống của họ càng thêm khổ cực Chính vì phản ánh nhu cầu muốn thoát khỏi cuộc sống khổ đau… đó của người dân Ấn

Độ, mà mà các trường phái triết học Ấn Độ đều tập trung vào việc lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm cách giúp con người thoát khỏi những những nỗi khổ não, lo âu trong đời sống ngàn năm của họ…

*Theo cách phân chia truyền thống, ở Ấn Độ cổ đại có 9 hệ thống triết học

9 hệ thống này lại được chia làm 2 loại: Chính thống ( Astika) có 6 hệ thống ,

Tà giáo ( Nastika) có 3 hệ thống

-Theo phái chính thống thì ba hệ thống tà giáo chống Veda là: Lokaỳata ( triết học duy vật ), Phật giáo , Jaina giáo

-Sáu hệ thống được coi là chính thống Veda là: Mimànsà ,Vedànta , Sàmkhuya ,Yoga(chú trọng các vấn đề thực tiễn, không phải là lý luận triết học ),Nyaya (hệ thống đầu tiên ngiên cứu phương pháp biện luận và các vấn

đề liên quan đến logic) , Vaisêska (nghiên cứu các phạm trù thực thể như vật chất, chất lượng…)

Trong sáu thực thể đó, quyền uy của Veda chỉ có ý nghĩa quyết định đối với Vedànta

1.4 Những đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ, trung đại

- Triết học Ấn Độ cổ trung đại bị chi phối trực tiếp và sâu sắc bởi xu hướng tín ngưỡng và tôn giáo truyền thống mạnh hơn nhiều so với các nền triết học khác, ở nơi đây khó phân biệt tôn giáo và triết học Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí

Trang 5

- Hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn

đề nhân bản Trong nhân sinh quan của triết học thường xoay quanh vấn đề “ giải thoát”, “ siêu thoát”

- Bước phát triển của triết học Ấn Độ có những đặc điểm khác Châu

Âu, các nhà tư tưởng thay thế nhau, thường phát triển triết học với quan điểm hoàn toàn mới, phê phán và gạt bỏ quan điểm của người đi trước Còn ở Ấn

Độ, một loạt các quan điểm triết học hay hệ thống triết học đã được đặt cơ sở

từ thời cổ Sự phát triển sau đó chỉ là phát triển các quan điểm ban đầu Các nhà triết học tiếp nhau, nói chung, không đặt mục đích tạo ra thứ triết học mới Mỗi người ủng hộ một hệ thống đã có, bảo vệ và hoàn thiện nó, thường

là tăng cường các chứng cứ cho người đi trước hơn là tìm các sai lầm Các đại biểu luôn luôn giới hạn mình trong việc làm sáng tỏ các học thuyết cũ và không bao giờ mâu thuẫn với chúng” Do vậy, phần lớn các tác phẩm triết học

Ấn Độ không có niên đại rõ ràng

- Dù phong phú và đa dạng, có nhiều tư tưởng sâu sắc về bí ẩn thế giới

và đời sống con người, nhưng vận động chậm chạp

- Khi bàn về vấn đề bản thể luận, có một số trường phái xoay quanh vấn đề “ tính không”, đêm đối lập “ không” và “ có”, quy cái có về cái

“không” Điều đó thể hiện tư duy trừu tượng cao

2 Những tư tưởng triết học cơ bản của các trường phái chính thống.

2.1 Sàmkhya

Sàmkhya là số đếm Ý nghĩa của thuật ngữ này không rõ và nguồn gốc của triết học này cũng bí ẩn Tư tưởng Sàmkhya có nguồn gốc rất cổ và ảnh hưởng của nó rất lớn

Những người Sàmkhya gạt bỏ Bràhman, tinh thần vũ trụ và phủ nhận

sự tồn tại của thần Họ đưa ra học thuyết Satkarya – vàda tức học thuyết tồn tại của kết quả trong nguyên nhân trước khi nó xuất hiện và học thuyết Parinàma- vàda tức học thuyết về sự chuyển hóa thực tế của nguyên nhân

Trang 6

trong kết quả Trong nguyên nhân đã chứa cái gì nằm trong kết quả; trồng Sali được Sali, trồng Vrihi được Vrihi Như vậy từ tính chất của kết quả tìm được chìa khóa để đi vào tính chất của nguyên nhân

Nếu thế giới là vật chất thì nguyên nhân của nó cũng phải là vật chất Theo những người Sàmkhya, Pràkriti hay Pradhana là vật chất đầu tiên, nó không phải là vật chất ở dạng thô hay rõ ràng có thể nhận thức bằng cảm giác được, mà là vật chất ở dạng tinh tế, tiềm ẩn, không thể cảm giác được trực tiếp nhưng không biểu hiện, không hình, không thu biệt, không giới hạn

Bất kì vật thể nào của thế giới vật chất cũng là thể thống nhất không ổn định gồm 3 yếu tố: Sattva (nhẹ, sáng, vui tươi ) , Rajas( Động, kích thích ) ,Tamas(nặng, khó khăn)

Ở vật chất đầu tiên, Sattva là trí tuệ, trí năng tiềm ẩn, Rajas là năng lượng, Tamas là khối lượng quán tính Nếu Pràkriti ở trạng thái Avyakta thì

nó cân bằng ổn định Sự phá hoại thăng bằng là điểm xuất phát của tiến hóa thế giới từ Avyakta Vật chất này là vĩnh hằng nhưng không đứng yên, biến đi không ngừng từ dạng này sang dạng khác Như vậy là từ rất sớm, đã hình thành rõ ràng tư tưởng vật chất vận động không ngừng Sàmkàra nhà triết học Vedànta đã gọi học thuyết của Sàmkhya là acetanakàrana – Vàda ( học thuyết vật chất phi ý thức, là nguyên nhân đầu tiên)

2.2 Mimànsà

Mimànsà là một trong những trường phái chính thống của triết học Ấn

Độ cổ đại, do Jaimini sáng lập vào khoảng thế kỉ II tr.CN Xuất phát điểm của Mimànsà chủ yếu dựa vào Véda và Upanishad Về sau tạo ra kinh điển riêng, kinh điển đầu tiên là Mimànsà – sutra Mục đính cơ bản của Mimànsà là diễn giải, chú giải ( Mimànsà nghĩa là thẩm vấn, khảo cứu) các phương pháp cúng bái, lễ nghi, tế lễ và thực hiện các quy tắc xã hội theo bổn phận mỗi người một cách chặt chẽ

Về mặt triết học, Mimànsà chỉ thừa nhận sự tồn tại của những bản nguyên tinh thần trong thế giới, trong đó “ tinh thần thế giới vô ngã” là thực thể duy nhất, có trước, sáng tạo và chi phối thế giới hiện thực vật chất

Trang 7

Mimànsà thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất Thế giới này tồn tại vĩnh viễn, do những nguyên tử tạo nên Những nguyên tử này bị các quy luật Karma điều khiển Đến đây Mimànsà lại nghiên sang chủ nghĩa duy tâm, biểu hiện rõ tinh thần nhị nguyên luận Mimànsà không thừa nhận sự tồn tại của thần Trường phái này lập luận đơn giản là không có bằng chứng đầy đủ về sự tồn tại của thần, vì cảm giác không nhận ra thần, nguồn gốc của tri thức suy cùng là dựa trên cảm giác

Những người Mimànsà chống chủ nghĩa duy tâm vì nếu tin rằng tất cả đều không tồn tại thì nghi lễ và hiệu quả của nó trở nên vô nghĩa Những người Mimànsà hậu kì đã chuyển sang thừa nhận có thần

2.3 Vêdànta

Theo nghĩa đen, Vêdànta tức là sự hoàn thiện kinh Véda Kinh điển đầu tiên là Vedànta – sutra, được coi do Badarayna viết, nhằm hệ thống, thống nhất hóa các quan điểm triết học của Upanisad Vì vậy, Vêdànta còn có nghĩa

là “ kết thúc Vêda” Cả Mimànsà và Védanta đều chú giải cho Upanisad, song Mimànsà thiên về giải thích, hệ thống hóa và phát triển phần nghi lễ của Véda, còn Vêdanta chú trọng chứng minh cho sự tồn tại của “tinh thần thế giới” Brahman trong Upanisad

Vêdànta thể hiện thế giới quan duy tâm tôn giáo Trường phái này chỉ thừa nhận có linh hồn con người ( Atman) và linh hồn vũ trụ, hay tồn tại tuyệt đối ( Brahman) là tồn tại có thật Còn thế giới vật chất chỉ là ảo ảnh ( Maya), sinh ra do vô minh ( Avidya)

2.4 Yoga

Yoga theo tiếng phạn có nghĩa là “ sự liên kết” hay hợp nhất tâm thể về một khối” Nó là một hệ thống lý luận về phương pháp tu luyện mà người tu hành thực hiện nhằm giải thoát linh hồn khỏi sự ảnh hưởng của các giác quan

và mọi sự ràng buộc với các cơ thể xác thịt, với thế giới vật chất là nguồn gốc của vô minh và đau khổ

Trang 8

Trong Yoga có sự kết hợp tư tưởng triết học của Sàmkhya Nhưng lại coi Purusa là thượng đế Thượng đế ở đây không có ý nghĩa về mặt triết học,

mà chỉ được hiểu là sự vượt qua thế giới vật chất hữu hình để nhập vào đại giác- đến với Brahman

Phái này đề cao khả năng của con người mà họ cho rằng vô hạn Muốn phát huy khả năng vô hạn đó, phải tập trung tư tưởng và rèn luyện, kích thích các huyệt đạo để có thể khai mở khả năng tiềm ẩn của con người

2.5 Trường phái Nyàya- Vai’sêsika

Hai hệ thống Nyàya- Vai’sêsika tuy khác nhau nhưng có nhiều quan điểm triết học tương đồng nhất là vào giai đoạn hậu kì đã gắn liền với nhau, nên có thể gọi chung là Nyàya- Vai’sêsika

Lý thuyết nguyên tử

Cả hai trường phái Nyàya- Vai’sêsika đều thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất, thế giới ấy rất phong phú đa dạng.Phương pháp luận của họ là quy toàn bộ sự đa dạng của tồn tại vào bốn yếu tố vật chất: Đất, nước, lửa và không khí Những yếu tố này lại được quy vào bản nguyên duy nhất, bất biến, vĩnh hằng, được phân biệt ở chất lượng, khối lượng và hình dáng, tồn tại trong môi trường đặc biệt, trong không gian, thời gian được gọi là Anu ( nguyên tử) Để điều khiển sự kết hợp giữa các nguyên tử với nhau và giữa các nguyên tử với linh hồn, hoặc giải thoát các linh hồn khỏi nguyên tử, hai phái này tìm đến lực lượng thứ ba mang tính chất siêu nhiên đó là thần Isvara

Lý thuyết nhận thức và Logic học

Các trường phái Nyàya- Vai’sêsika thừa nhận sự tồn tại khách quan của đối tượng nhận thức Nhận thức có thể tin cậy, cũng có thể không tin cậy Vì vậy, phải kiểm tra đúng sai của nhận thức một cách thực tế

Việc kiểm tra đúng sai của nhận thức dựa vào lý thuyết “ngũ đoạn luận”, gồm năm vấn đề: Luận đề( đồi có lửa cháy ),Nguyên nhân ( vì đồi bốc khói), Minh họa (tất cả cái bốc khói đều có lửa cháy ), Suy đoán (Đồi bốc khói thì không thể không có lửa ), Kết luận( do đó đồi có lửa cháy)

Trang 9

Như vậy, nhũ đoạn luận gần giống tam đoạn luận của Arítxtốt nhưng thêm vào đó 2 phần: đó là kết luận được đưa ra trước và nhắc lại sau cùng

3 Những tư tưởng triết học cơ bản của các trường phái không chính thống

3.1 Đạo Jaina

Jaina là một trường phái triết học tôn giáo được xác lập cùng thời với Phật giáo

Về triết học, phái này theo học thuyết tương đối, dung hòa hai phái cực đoan Một mặt tiếp nhận ở Upanisad tư tưởng tồn tại đầu tiên là bất biến, vô thủy, vô chung Mặt khác tiếp nhận ở Phật giáo quan điểm biến chuyển là không ngừng Vì vậy, theo thuyết này, tồn tại vừa bất biến vừa chuyển hóa

Thực thể đầu tiên tạo nên thế giới theo trướng pháp Jaina là Giva và Atgiva Vật chất chỉ là một trong những biến thể của Atgiva, có những đặc tính như sờ mó được, có âm thanh, mùi vị và màu sắc Các vật thể mà con người cảm giác được cấu thành từ các nguyên tử Nguyên tử cực kì nhỏ bé, không thể phân chia, không do ai sáng tạo ra

Những người Jaina cho rằng có thể chia thực thể tồn tại ra làm 2 loại sống và không sống Thực thể sống có lý trí, linh hồn Còn thực thể không sống gồm không gian, thời gian, vận động, nghỉ ngơi…Các yếu tố sống và không sống liên kết với nhau

Jaina tin vào thuyết luân hồi và nghiệp Để giải thoát khỏi luân hồi cần hoàn thiện đạo đức, bằng hình thức tu khổ hạnh, không có của riêng, ăn chay, bất sát, bất bạo, không mưu hại các sinh linh

3.2 Phái Lokàyata

Lokàyata là trường phái duy vật triệt để nhất trong số các trường phái triết học duy vật Ấn Độ cổ, trung đại Tên Lokàyata hay Carvaka thường được hiểu là thứ triết học phổ biến trong dân chúng, hay là triết học lấy vật chất làm cơ sở

Trang 10

Khi luận giải về nguồn gốc thế giới, trường phái Lokàyata bác bỏ sự tồn tại của Brahman ( linh hồn thế giới) và Atman ( linh hồn của mỗi cá nhân con người) Phái này cho rằng thế giới được tạo thành từ bốn yếu tố: đất, nước, lửa, không khí tạo thành và ý thức cũng được tạo ra từ các yếu tố đó

Về lý luận nhận thức, phái bày có khuynh hướng duy vật theo lập trường kinh nghiệm luận Họ cho rằng cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận thức, đồng thời phủ nhận tính xác thực của tri thức gián tiếp

Về logic học, Lokàyata không phủ nhận giá trị của biện chứng, chứng minh và kết luận logic mà chỉ phủ nhận phương thức suy luận, chứng minh và

mở ra kết luận sai lầm của kinh Veda

Về đạo đức, các đại biểu Lokàyata chê lý thuyết chấm dứt đau khổ bằng sự kiềm chế ham muốn dục vọng, hạnh phúc ở thiên đường Họ cho rằng chỉ có thế giới con người đang sống mới là có thực Vì vậy hãy để cho mọi người sống và hưởng lạc tất cả những cái gì họ mong muốn

Những tư tưởng trên đây cho thấy, Lokàyata là phái duy vật triệt để nhất trong các trường phải triết học Ấn Độ cổ đại, nó xa lạ với tinh thần tôn giáo truyền thống của Ấn Độ và đây có thể là một trong những nguyên nhân khiến nó sớm mất đi

3.3 Đạo Phật ( Phật giáo)

Phật giáo xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI tr.CN, là một trào lưu tôn giáo triết học Nó nhanh chóng phổ biến, trở thành quốc giáo ở Ấn Độ rồi ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa tinh thần của nhiều dân tộc cả phương Đông lẫ phương Tây

Đạo Phật có 3 môn phái khác nhau giáo lý, tổ chức, giáo đoàn:

1 Phật giáo nguyên thủy ( Tiểu thừa = Hina – yana = Cỗ xe nhỏ) Chủ trương tu cho bản thân giác ngộ thành La Hán (Arhat) , không thờ cúng thần linh hoặc chỉ thờ Thích ca mâu ni thôi.Đạo Phật tiểu thừa nay thịnh hành ở các nước Đông Nam Á như Srilanka, Thái Lan, Lào, Camphuchia và một vài tỉnh miền Nam Việt Nam

Ngày đăng: 18/08/2017, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w