MỞ ĐẦU Nếu gọi Phương đông là chiếc nôi của văn minh nhân loại thì Ấn Độ là một trong những trung tâm văn hoá và triết học cổ xưa, rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy nó có một vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng của Châu Á. Giống như triết học Trung Quốc, triết học Ấn Độ ra đời sớm và chứa đựng nhiều tư tưởng sâu sắc về thế giới, trong đó có vấn đề phạm trù triết học. Có thể nói, trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có một vai trò khá quan trọng. Chính vì sự gần gũi đó mà triết học Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo. Đúng như lời nhận xét của Radhakrishnan: triết học Ấn Độ mang đượm màu sắc chủ nghĩa duy linh, chính chủ nghĩa duy linh đã cho Ấn Độ khả năng chống lại các cuộc chiến tranh của thù trong giặc ngoài. Hết người Hy Lạp, người Mông Cổ, đến người Pháp, người Anh đã muốn tàn phá và huỷ diệt nền văn minh của đất nước này, nhưng người dân Ấn Độ vẫn ngẩng cao đầu. Trong suốt quá trình lịch sử của mình, đất nước Ấn Độ tồn tại vì một mục đích: Đấu tranh cho chân lý và chống lại mọi sai lầm... Lịch sử tư tưởng Ấn Độ đã và đang minh chứng về những cuộc kiếm tìm vô tận của trí tuệ trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Một trong những điểm sáng của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại đó là sự xuất hiện Đạo Phật, sau này được tôn giáo hoá nhưng đạo Phật là một tôn giáo Phật, đây là một phương pháp giáo hoá con người, một phương pháp tu dưỡng dạy cho con người một triết lý sống, một cuộc sống có đạo lý, có lý tưởng cao cả và đầy lòng vị tha. Chính vì vậy mà ngày nay Phật giáo vẫn tồn tại và ngày càng phát triển trên thế giới.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nếu gọi Phương đông là chiếc nôi của văn minh nhân loại thì Ấn Độ
là một trong những trung tâm văn hoá và triết học cổ xưa, rực rỡ, phong phúnhất của nền văn minh ấy - nó có một vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởngcủa Châu Á Giống như triết học Trung Quốc, triết học Ấn Độ ra đời sớm vàchứa đựng nhiều tư tưởng sâu sắc về thế giới, trong đó có vấn đề phạm trùtriết học
Có thể nói, trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôngiáo, triết học có một vai trò khá quan trọng Chính vì sự gần gũi đó mà triếthọc Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo Đúng như lời nhận xét củaRadhakrishnan: "triết học Ấn Độ mang đượm màu sắc chủ nghĩa duy linh,chính chủ nghĩa duy linh đã cho Ấn Độ khả năng chống lại các cuộc chiếntranh của thù trong giặc ngoài Hết người Hy Lạp, người Mông Cổ, đếnngười Pháp, người Anh đã muốn tàn phá và huỷ diệt nền văn minh của đấtnước này, nhưng người dân Ấn Độ vẫn ngẩng cao đầu Trong suốt quá trìnhlịch sử của mình, đất nước Ấn Độ tồn tại vì một mục đích: Đấu tranh chochân lý và chống lại mọi sai lầm Lịch sử tư tưởng Ấn Độ đã và đang minhchứng về những cuộc kiếm tìm vô tận của trí tuệ trong quá khứ, hiện tại vàtương lai"
Một trong những điểm sáng của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại đó là
sự xuất hiện Đạo Phật, sau này được tôn giáo hoá nhưng đạo Phật là một tôngiáo Phật, đây là một phương pháp giáo hoá con người, một phương pháp tudưỡng dạy cho con người một triết lý sống, một cuộc sống có đạo lý, có lýtưởng cao cả và đầy lòng vị tha Chính vì vậy mà ngày nay Phật giáo vẫn tồntại và ngày càng phát triển trên thế giới
Trang 2NỘI DUNG
I Điều kiện ra đời của triết học ấn Độ cổ, trung đại
1 Điều kiện tự nhiên
Ấn Độ là quốc gia rộng lớn ở phía Nam châu á Hai mặt đông nam
và tây nam giáp ấn Độ dương với dải bờ biển dài Phía bắc là dãy Hymalayahùng vĩ Tiếp xuống phía dưới là vùng đồng bằng ấn - Hằng mênh môngđược bao bọc bởi hai dòng sông lớn là sông Hằng và sông ấn Miền nam ấn
Độ là cao nguyên Dekkah rộng lớn có nhiều rừng núi và sông ngòi chảy qua.Điều kiện thiên nhiên ấn Độ đa dạng và hết sức phức tạp Địa hình vừa cónhiều núi non trùng điệp, vừa có nhiều đồng bằng rộng lớn, trù phú, có vùngkhí hậu nóng và ẩm, có vùng quanh năm tuyết phủ, có nhiều miền ẩm thấpmưa quanh năm nhưng lại có nhiều vùng xa mạc nóng cháy, khô cằn Thờitiết, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán, bão lụt liên miên Đây là những yếu tố tácđộng đến đời sống tâm tư, tình cảm của người ấn Độ Họ đã tìm đến, cầu xincác lực lượng siêu nhiên cứu giúp Các vấn đề tôn giáo, tâm linh đã nảy sinh,phát triển trên mảnh đất ấn Độ cổ đại và ảnh hưởng tới tư tưởng triết họctrên mảnh đất này
2 Điều kiện kinh tế xã hội
Xã hội ấn Độ cổ đại xuất hiện sớm Nền văn minh sông ấn nảy nở từkhoảng giữa thiên niên kỷ thứ III đến đầu thiên niên kỷ thứ II trước côngnguyên, là cái nôi của văn minh ấn Độ Sau đó, nền văn minh sông ấn bi tiêuvong cho đến nay chưa rõ nguyên nhân Từ thế kỷ XV trước công nguyêncác bộ lạc du mục Arya từ Trung á xâm nhập vào ấn Độ Họ nô dịch, định
cư rồi đồng hoá ngươi bản địa Đravia tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốcgia, nhà nước lần thứ hai trên đất ấn Độ Từ thế kỷ thứ VII trước công
Trang 3nguyên đến thế kỷ XVI sau công nguyên, đất nước ấn Độ phải trải qua hàngloạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa cácvương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài Vào thế
kỷ XVIII, ấn Độ bị đế quốc anh đô hộ, từ đó ấn Độ bước sang thời kỳ thốngnhất về chính trị, thúc đẩy sự kết hợp giữa văn hoá cổ truyền với văn hoáphương Tây
Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế - xã hội ấn Độ thời kỳ cổ, trung đại
là sự xuất hiện sớm và tồn tại kéo dài kết cấu kinh tế - xã hội theo mô hìnhcông xã nông thôn và chế độ quốc hữu hoá ruộng đất Trên cơ sở “phươngthức sản xuất châu á”, trong xã hội ấn Độ, quan hệ gia đình thân tộc đượccoi là quan hệ cơ bản Nền kinh tế tiểu nông kết hợp chặt chẽ với thủ côngnghiệp rất được coi trọng
Tính đặc thù của xã hội ấn Độ cổ đại là chế độ phân biệt đẳng cấpdựa trên sự thống trị của tôn giáo hết sức chặt chẽ Xã hội phân chia bốnđẳng cấp lớn
- Tăng lữ (Braman) được coi là đẳng cấp cao quý nhất, giảng kinhvêda và tiến hành các nghi thức tôn giáo, nắm mọi quyền lực, không ai đượcxâm phạm
- Võ sĩ (Ksatrya) là đẳng cấp thứ hai, có nhiệm vụ bảo vệ vua chúa,lãnh thổ và mùa màng Những người thuộc đẳng cấp này được học kinhVêđa và tham dự các buổi tế lễ
- Bình dân (Vaisya) gồm những người làm nông nghiệp, thủ côngnghiệp, buôn bán, cũng được học kinh Vêđa và tham gia các buổi tế lễ
- Tiện dân (Ksudra) thường là con cháu các bộ lạc bại trận, sống bênngoài công xã, địa vị hèn kém phải phục vụ các đẳng cấp trên, không đượcđọc kinh và làm lễ
Trang 4Trong mỗi đẳng cấp còn phân chia thành nhiều tầng lớp nhỏ khácnhau và cách biệt nhau Trật tự xã hội theo chế độ đẳng cấp trong xã hội ấn
Độ cổ đại tồn tại khá bền vững, sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo nặng nề
và khắc nghiệt Sự phân chia đó phản ánh sự phân hoá sâu sắc về tài sảngiữa kẻ giàu người nghèo, giữa các tập đoàn người đối lập nhau trong xãhội Chế độ này tạo nên mâu thuẫn găy gắt giữa nông dân, thợ thủ công, nô
lệ với các đẳng cấp khác trong xã hội, trở thành lực cản đói với sự phát triểncủa nền kinh tế - xã hội ấn Độ trong lịch sử Bên cạnh đó, tôn giáo bao trùmđời sống xã hội ấn Độ Con người sống nặng về tâm linh, thờ cúng nhiềuthần để tìm đường thoát tục
3 Điều kiện văn hoá, khoa học
Khoa học và văn hoá ấn Độ cổ, trung đại phát triển rất sớm Nhànước xuất hiện từ nền văn minh sông ấn Người ấn Độ cổ đã sáng tạo đượcchữ viết (chữ phạn) Các bộ kinh, sử thi xuất hiện và được lưu truyền.Người ấn Độ cổ đã biết sử dụng tiền tệ làm phương tiện trao đổi Kỹ thuậtchế tác đồ trang sức đạt đến trình độ khá tinh xảo Tới thời kỳ Vêđa, thiênvăn học đã xuất hiện Người ấn Độ còn sáng tạo ra lịch pháp Cuối thế kỷ
V trước công nguyên người ấn Độ đã phát minh chữ số thập phân, biết đượcđịnh luật cơ bản về mối quan hệ giữa cạnh huyền và hai cạnh góc vuông
Về y học họ đã tìm ra nhiều thuốc chữa bệnh Trong nghệ thuật kiến trúc,người ấn Độ để lại phong cách kiến trúc độc đáo, tinh tế
II Đặc điểm của triết học ấn Độ cổ trung đại
Phản ánh cơ sở kinh tế, chính trị, khoa học và văn hoá của xã hội ấn
Độ, triết học ấn Độ cổ đại hình thành và phát triển từ rất sớm Mầm mốngtriết học đầu tiên xuất hiện ngay từ cuối thiên niên kỷ thứ II, đầu thiên niên
kỷ I trước công nguyên nhưng đến thời đại Upanishad tư tưởng triết học mớithật sự định hình rõ rệt và vận động trong lịch sử văn hoá ấn Độ cổ đại Tuy
Trang 5vây, sự phân định ranh giới giữa tôn giáo và triết học không rõ ràng Triếthọc ấn Độ là cái nôi của triết học thế giới và là cội nguồn tư tưởng trong nềnvăn minh nhân loại.
Thứ nhất, xã hội ấn Độ luôn nằm trong vòng cương toả của tôn giáo
Do vậy nền văn hoá ấn Độ nói chung cũng như nền triết học nói riêng đềuphát triển theo quỹ đạo của tôn giáo Hầu hết các hệ thống triết học đềumang đậm màu sắc của thế giới quan tôn giáo Tư tưởng triết học ẩn dấusau các lễ nghi huyền bí Các quan niệm về hiện thực pha trộn với cácquan niệm huyền thoại Cái trần tục trực quan xen lẫn cái ảo tưởng xaxôi
Thứ hai, cùng với sự đan xen giữa tư tưởng triết học và tín điều tôngiáo, trong phạm vi triết học, các quan điểm duy vật và duy tâm, biệnchứng và siêu hình của triết học cổ - trung đại không được thể hiện mộtcách rạch ròi, tách bạch mà đan xen nhau trong quá trình vận động và pháttriển
Thứ ba, triết học ấn Độ cổ - trung đại đã đề cập đến hầu hết các vấn
đề lớn như bản thể luận, nhận thức luận, phép biện chứng và vấn đề conngười
Khi bàn về vấn đề bản thể luận, một số học phái xoay quanh vấn đềtính không, đem đối lập không và có, quy cái có về cái không, thể hiện mộttrình độ tư duy trừu tượng cao
Nổi bật trong tư tưởng triết học ấn Độ cổ - trung đại là vấn đề conngười và quan niệm nhân sinh triết học ấn độ chủ yếu đề cập đến vấn đề nàydưới góc độ tập linh tôn giáo nhằm giải thoát con người khỏi khổ đau, trầmluân trong đời sống trần tục Tuy nhiên, do hạn chế về nhận thức và sự chiphối của quan điểm giai cấp, của những tư tưởng tôn giáo, quan niệm nhânsinh trong triết học ấn độ mang đậm sắc thái duy tâm
Trang 6Thứ tư, các nhà triết học của ấn Độ cổ - trung đại thường kế tục và
có xu hướng phục cổ tư tưởng triết học Đa số các hệ thống triết học đều dựavào tri thức đã có trong kinh Vêđa, lấy kinh Vêđa làm điểm xuất phát vàluận đàm xung quanh tư tưởng đó Các luận thuyết triết học sau tuyên bố sự
lệ thuộc của mình vào một học thuyết triết học đã có Các nhà triết học sau
tự đặt cho mình bổn phận bảo vệ, lý giải làm hoàn thiện thêm các luậnthuyết ban đâu
Mặc dù còn có nhiều quan điểm và cách đánh giá khác nhau nhưngcác học giả đều thừa nhận tầm vóc và vị trí của triết học ấn Độ cổ - trung đạitrong kho tàng tư tưởng quý báu của nhân loại Triết học cổ - trung đại ở ấn
Độ đã đóng góp số lượng lớn tác phẩm để lại, sự phong phú trong cách thểhiện tư tưởng, sự đa dạng của các trường phái và sự sâu rộng trong nội dungphản ánh
III Tư tưởng triết học của một số trường phái tiêu biểu
1 Trường phái triết học chính thống
a Trường phái triết học Samkhya
Theo nghĩa gốc, Samkhya là “liệt kê”, “số”, “đếm” Về mặt triết học,Samkhya được dùng với nghĩa “số luận” Người đầu tiên trình bày họcthuyết này một cách có hệ thống tư tưởng triết học của phái này làIsvarakrisma vào thế kỷ IV dương lịch và tác phẩm của ông được coi là bộsách triết học Samkhya cổ điển nhất
- Bản thể luận
Triết lý Samkhya không thừa nhận Braman, phủ nhận sự tồn tại củathần Trường phái Samkhya khẳng định thế giới này là thế giới vật chất(prakriti) Bản nguyên của thế giới là vật chất Tuy nhiên, vật chất đầu tiênnày không tồn tại dưới dạng “thô” và không nhận thức được một cách rõràng Nó tồn tại ở dạng “tinh”, “tiềm ẩn”, không hình dạng, không giới hạn
Trang 7Bản nguyên vật chất là nguyên lý chủ yếu cấu tạo nên mọi sự vật, hiệntượng trong vũ trụ, thế gian, được coi là căn nguyên duy nhất, không biếnđổi.
Bất kỳ vật thể nào của thế giới cũng đều là kết quả của sự thống nhất,hợp nhất, chuyển hoá, tác động, liên hệ của ba yếu tố (Guna):
+ Sattava: Thuần chất, tự trong sáng
+ Rajas: Kích chất, tính tích cực, sự khó chịu
+ Tamas: Tính ỳ, sự vô tình
Ba guna này là ba khuynh hướng, ba lực lượng cơ bản của sự tồn tạicủa thế giới vật chất Mỗi biến đổi của prakriti đều phụ thuộc vào mối tươngtác của ba guma này
Samkhya sơ kỳ cho rằng trong quá trình biến hoá của mình, vật chấtsinh ra tinh thần hay linh hồn (Purusa) Purusa không phải là ”thượng đế”cũng không phải là “tinh thần thế giới” mà là nguyên lý phổ quát, vĩnh hằng,
là ý thức trực quan của tiến trình sống được chứa đựng trong các sinh vật.Linh hồn không làm thay đổi được gì nhưng nó có khả năng truyền sinh khí
và năng lực biến hoá cho các prakiti Quan hệ giữa prakiti và purusa đóngvai trò quyết định sự tiến hoá đầu tiên của cá nhân và vũ trụ
Vào giai đoạn hậu kỳ, triết lý Samkhya thừa nhận bản nguyên linh hồn(purusa) tồn tại song song, bên cạnh bản nguyên vật chất (prakriti)
- Quan niệm về con người
Phái Samkhya cho rằng mỗi sinh vật, mỗi con người đều cấu thành bởi ba
bộ phận:
+Purus: thể tinh và thể thô gồm 25 nguyên tố, gọi là 25 đế
+ Purusa hay nguyên lý tinh thần, chỉ có mặt, quan chiếu trong quátrình tiến hoá của vũ trụ, chứ không tham gia vào đời sống của vật, hay
Trang 8quá tình tiến hoá ấy của vũ trụ Nhưng phải có nó thì cơ thể mới sinhđộng có ý thức
Thể thô bao gồm những yếu tố, bản nguyên, vật chất, chết đi cùng với
sự chết đi của sinh vật Thể tinh bao gồm trí tuệ (tư duy), các giác quan vàcác yếu tố gắn liền với các giác quan cùng sự ý thức về cái tôi, về bản thânchủ thể Thể tinh là trung tâm của nghiệp (karma)
Tinh thần thuần tuý vốn thanh tịnh, nhưng vì phải quan chiếu, hoà hợpvới thân thể vật chất Mà vật chất cứ bị đắm chìm trong nghiệp luân hồi, docon người có ý thức, ngộ nhận về mình, nên tinh thần thuần tuý cũng bị đaukhổ lây
Muốn giải thoát cho tinh thần thuần tuý, để tinh thần thuần tuý đượcthanh tịnh và vĩnh cửu, con người phải diệt khổ
b Trường phái triết học Mimansa
Môn phái Mimansa do triết gia Jaimini sáng lập (khoảng thế kỷ IItrước công nguyên) Tác phẩm của ông là những bài thơ ngắn với ý nghĩa tế
tự để cầu trong các cuộc tế lễ Sau này Mimansa được viết thành kinh điển,
có hệ thống để truyền bá, gọi là Mimansa Sutra Mục đích cơ bản của trườngphái Mimasa là tuyên truyền, bảo vệ cho nghi thức của kinh Vêđa Dựa vàokinh Upanisad và giáo lý Bàlamôn, Mimansa diễn tả các phương pháp cúngbái, lễ nghi tế lễ và phương thức thực hiện các quy tắc xã hội
Mimansa là hệ thống triết học chính thống của ấn Độ, không thừanhận sự tồn tại của thần Họ cho rằng bằng cảm giác không thể nhận ra thầncòn nguồn gốc của tri thức thì suy cho cùng là dựa trên cảm giác TheoMimansa, thế giới là một quá trình liên tục hình thành và tiêu diệt của các
sự vật
Trang 9Phái Mimansa tôn trọng và chủ trương duy trì thánh kinh Vêđa Họcho rằng thánh kinh Vêđa là những lời dạy mang tính chất tuyệt đối, trườngtồn Kinh Vêđa là tập mệnh lệnh về nghi lễ Do vậy học phái này chủ trươngnếu tổ chức tế lễ đúng thể thức, lễ nghi quy định và theo văn bài trong thánhkinh sẽ có sức mạnh và đưa ta đến giải thoát hoàn toàn.
Bên cạnh việc tuyên truyền cho nghi thức tôn giáo, Mimansa thừanhận sự tồn tại của thế giới vật chất Phái này cho rằng thế giới vật chất tồntại vĩnh viễn và do các nguyên tử vận động và kết hợp cấu thành nhưngnguyên tử lại bị các quy luật Karma điều khiển
Bàn về con người, Mimansa cho rằng con người chịu sự chi phối của
“tinh thần thế giới vô ngã” với hiện thân là linh hồn Linh hồn vĩnh hằng vàbất diệt Tuy nhiên, linh hồn bị giam hãm bởi thể xác, nhục dục và của thếgiới các sự vật nơi trần tục Con người chỉ có thể giải thoát linh hồn khỏi sựràng buộc, vây hãm đó bằng việc thực hiện đúng mọi nghi thức của kinhVêđa, triệt để chấp hành mọi nghĩa vụ, bổn phận xã hội và tôn giáo ở đâyphái Mimansa lại quay trở về bảo vệ tinh thần của chủ nghĩa duy tâm, bảo vệ
uy tín của kinh Vêđa cũng như triết lý tôn giáo Bàlamôn
c Trường phái Yoga
Chữ Yoga tiếng Phạn có nghĩa là sự liên kết, hợp nhất, thống nhất tâmthể về một mối, là hệ thống tu hành mà người tu hành chấp nhận giải thoátAtman ra khỏi các giác quan và sự ràng buộc của cơ thể
Yoga ra đời khoảng thế kỷ II trước công nguyên, do đạo sĩ Patanjalisáng lập Hệ thống triết học này được trình bày trong tác phẩm Yoga - Sutracủa đạo sĩ này
Phái Yoga không có một hệ thống triết học riêng biệt mà những tưtưởng triết học cơ bản của họ vay mượn của phái Samkhya Mặt khác Yoga
Trang 10lại chịu ảnh hưởng của triết lý Phật giáo Đối với phái Yoga, sự thừa nhậnthần hay thượng đế không có nhiều ý nghĩa triết học Thần hay thượng đế là
“linh hồn đặc biệt” mà khi con người đạt tới trình độ giác ngộ, vượt qua sựràng buộc của thế giới hữu hình, hữu hạn Linh hồn con người khi tự giảithoát khỏi sự giam hãm của dục vọng thể xác và thế giới vật chất thì nó trởthành Brahman có sức manh toàn năng
Nội dung cơ bản của học thuyết triết học Yoga là đề cập đến nhữngphương pháp tu luyện nhằm giai thoát linh hồn khỏi sự tác động của các giácquan và sự ràng buộc của thể xác, của thế giới vật chất để trở nên trong sạch,đạt được sự hiểu biết siêu phàm, tối cao và vĩnh hằng
Tám phương pháp mà Yoga đưa ra là:
- Cấm chế (Yama) là giữ đúng các điều răn
- Khuyến chế (Niyama) là thanh tịnh trong học tập kinh điển
- Toạ pháp (Asana) là giữ thân thể đúng đắn
- Điều tức (Pranayama): điều chỉnh hơi thở cho hợp lý
- Chế cảm (Pratyahana): chế ngự, kiểm soát và làm chủ các cảm giác
- Chấp trì (Dharana): tập trung tư tưởng, trí tuệ vào một chỗ
- Thiền định (Dhyana): giữ tâm thống nhát
- Tuệ (Samadhi): làm chủ ý chí, đưa con người vào trạng thái xuấtthần nhập hoà, chìm đắm trong đại ngã, nhập vào cõi vô biên, sáng lạn
d Trường phái Vedanta
Vedanta nghĩa đen là sự hoàn thiện kinh Vêđa Hệ thống triết học này
do Badarayana khởi xướng và thực hiện vào khoảng thế kỷ II trước côngnguyên Nội dung của Vedanta kế thừa, hệ thống hoá và phát triển các tưtưởng triết học của Upanisad Phái Vedanta coi Brama - Sutra hay Vedanta -Sutra là kinh điển của họ
Trang 11Tư tưởng chủ yếu mà Vedanta lấy làm cơ sở cho học thuyết của mình
là cho rằng Brahma như linh hồn vũ trụ còn átman là linh hồn cá thể, một bộphận của linh hồn vũ trụ Từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, từ cái đơn giảnđến phức tạp đều có sự hiện thân của Braman, tinh thần thế giới sáng tạotrong đó Tinh thần vũ trụ là cái toàn năng, vô hạn, từ đó sinh ra mọi cái tồntại và mọi cái tồn tại nhập về sau khi chết Đó là cái thực tuyệt đối, chi phối
sự sinh thành, huỷ diệt của thế giới
Vedanta phủ nhận sự tồn tại của thế giới vật chất Họ cho rằng thế giớikhông hiện thực Hình ảnh của nó chỉ là do ảo ảnh (màya) sinh ra do vôminh (avidya)
Để giải thoát linh hồn con người khỏi sự vây hãm, ràng buộc củanhững ham muốn, nhục dục do hành động của thể xác con người gây nênthì con người phải dốc lòng tu luyện, đưa linh hồn trở về đồng nhất với “tinhthần vũ trụ tối cao”, hợp nhất với Braman
Ngày nay, Vedanta vẫn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong tư tưởngtriết học của đạo Hindu
e Trường phái Nyaya - Vaisesika
Danh từ Nyaya vốn có nghĩa là ”luận lý” hay ”chính lý”, về sau đượcchuyển sang nghĩa là ”nghiên cứu khoa luận lý học” Nyaya là một trườngphái triết chính thống của triết học ấn Độ cổ đại Trong học thuyết Nyaya,nguyên tử luận và đặc biệt là luận lý học là những nội dung đóng vai trò ýnghĩa to lớn
Vaisesika theo chữ Phạn có ngiã là ”tính đặc thù” Vaisesika gần gũivới Nyaya khi giải thích nguyên tử là phần tử cuối cùng tạo nên vạn vậttrong vũ trụ Nội dung chủ yếu của triết học Nyaya - Vaisesika:
- Lý thuyết nguyên tử