1.Vấn đề cơ bản của triết học. đnghĩa vật chất của lênin ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA LENIN 2.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 3.Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận 4.Các cặp phạm trù 5.Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng 6.Thực tiễn là gì ? các hình thức cơ bản. Vai trò của thực tiễn với nhận thức 7. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. 8.Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tần 9.Tồn tại xã hội quyết định ý thúc xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội 10. Quần chúng nhân dân và vai trò sáng tạo lịch sử của qcnd, Lãnh tụ và phẩm chất của lãnh tụ
Trang 1ÔN TẬP MÁC-LÊNIN
1.Vấn đề cơ bản của triết học đnghĩa vật chất của lênin.
VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC
- Theo ăngghen :” vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, làmối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất, giữa con người với tự nhiên
- Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
+ Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Nói cách khác, giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào
là tính thứ hai Có hai cách trả lời khác nhau dẫn đến hình thành hai khuynh hướng triết học đối lập nhau:
#Những quan điểm triết học cho vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai hợp thànhchủ nghĩa duy vật Trong lịch sử tư tưởng triết học có ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật: Chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ cổ đại; Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷXVII – XVIII; Chủ nghĩa duy vật biện chứng
#Ngược lại, những quan điểm triết học cho ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, hợp thành chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm lại được thể hiện qua hai trào lưu chính: Chủ nghĩa duy tâm khách quan (Platon, Hêghen…) và chủ nghĩa duy tâm chủ quan (Beccli, Hium…)
+ Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?(Ý thức có thể phản ánh được vật chất hay không, tư duy có thể phản ánh được tồn tại hay không?) Mặt này còn được gọi là mặt nhận thức
#Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới Song, do mặt thứ nhất quy định, nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người #Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy
#Một số nhà triết học duy tâm khác như Hium, Can-tơ lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Đây là những người theo “Bất khả tri luận” (Thuyết không thể biết) Khuynh hướng này ko thừa nhận vai trò của nhận thức khoa học trong đời sống xã hội
- Đối với các hệ thống triết học, vấn đề cơ bản của triết học không chủ được thể hiện trong cácquan niệm có tính chất bản thể luận, mà còn được thể hiện trong các quan niệm chính trị xã hội, đạo đức và tôn giáo, tất nhiên có thể là nhất quán hoặc là không nhất quán
- Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử phát triển của tư tưởng triết học và thể hiện tính đảng trong triết học
- Hai mặt vấn đề cơ bản của triết học này tác động qua lại lẫn nhau
ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA LENIN
- “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác”
- Phân tích định nghĩa
Trang 2+ thứ nhất cần phải phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với “vật chất là toàn bộ thực tại khách quan” Nó khái quát những thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọidạng tồn tại của vật chất với khái niệm vật chất được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành,hay nói cách khác là khác dùng để chỉ những dạng vật chất cụ thể như: nước lửa không khí, nguyên tử, thịt bò…
+ Thứ hai thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất chính là thuộc tính tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại vận động và phát triển của nó không lệ thuộc vào tâm tư, nguyện vọng, ý chí và nhận thức của con người
+ Thứ ba vật chất ( dưới những hình thức tồn tại cụ thể của nó) là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức; những cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan của con người
+ Thứ hai khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh, Lê-nin đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học đó là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định
ý thức Đó là con người có thể nhận thức được thế giới khách quan thông qua sự chép lại, chụp lại, phản ánh của con người đối với thực tại khách quan Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã tạo
cơ sở nền tảng, tiền đề để xây dựng quan niệm duy vật về xã hội,về lịch sử
2.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
** Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất:
– Ý thức có thể thức đẩy hoặc kìm hãm với một mức độ nhất định sự biến đổi của những đk vật chất
– Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người Con người dựa trên các tri thức về những quy luật khách quan mà đề ra mục tiêu, phương hướng thực hiện;xác định các phương pháp và bằng ý chí thực hiện mục tiêu ấy.Sự tác động của ý thức đối với vật chất dù có đến mức độ nào đi chăng nữa thì nó vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất
Trang 3** Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội
- là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội Ngoài ra, mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ khác nhau như: chủ thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan v.v
**ý nghĩa phương pháp luận
– Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất, cho nên trong nhận thức phải bảo đảm nguyên tắc “tính khách quan của sự xem xét” và trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan
– Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người, cho nên cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng chung trong hoạt động thực tiễn của con người.– Cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ thụ động, chờ đợi vào điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan…
3.Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận
1.NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
- Khái niệm mối liên hệ phổ biến : dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
- Tính chất của các mối liên hệ
+ Tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ: Nhờ có mối liên hệ mà có sự vận động, mà vận động lại là phương thức tồn tại của vật chất, là một tất yếu khách quan, do đó mối liên hệ cũng là một tất yếu khách quan
#Mối liên hệ tồn tại trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng ở tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tưduy
#Mối liên hệ phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, nó thể hiện tính thống nhất vật chất của thế giới
+ Do mối liên hệ là phổ biến, nên nó có tính đa dạng: Các sự vật; hiện tượng trong thế giới vật chất là đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, vì thế, khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng cần phải phân loại mối liên hệ một cách cụ thể
+ Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, có thể có những loại mối liên hệ sau: chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, bên trong và bên ngoài, chủ yếu và thứ yếu, không gian và thời gian, v.v Sự phân loại này là tương đối, vì mối liên hệ chỉ là một bộ phận, một mặt trong toàn
bộ mối liên hệ phổ biến nói chung.\
+ Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất và phổ biến nhất của thếgiới khách quan Còn những hình thức cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học cụ thể
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động
Trang 4nhận thức và hoạt động thực tiến con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện.
#Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữacác bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật
+ Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú – sự vật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể
#Quan điểm lịch sử – cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác
- Tính chất của sự phát triển
+ Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong
sự vật, htượng đó Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, ko phụ thuộc vào ý muốn con người
+ Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và mọi quá trình; trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng
+ Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng song trong mỗi sự vật, hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau Sự vật, hiện tượng tồn tại trong thời gian, ko gian khác nhau có sự phát triển khác nhau
Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện tượng hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể, sự thay đổi của các yếu tố tác động đó
có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật
Trang 5- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải: Xem xét sự vật và hiện tượng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”, trong sự biến đổi của nó”
+ Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối liên hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên đồng thời phải phát huy nhân tố chủ quan của con người để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng quy luật
+ Phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển
- Quan hệ biện chứng giữa cái riêng với cái chung:
+ Cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan, vì nó là biểu hiện tính hiện thực tất yếu, độc lập với ý thức con người
+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình; cái chung không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng mà nó phải tồn tại trong từng cái riêng cụ thể,xác định
+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Không có cái riêng tồn tại độc lập, tuyệt đối tách rời cái chung mà tất yếu phải tồn tại trong mối liên hệ với cái chung
+ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng bởi vì cái riêng là tổng hợp của cái chung và cái đơn nhất,còn cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính quy luật của nhiều cái riêng
+ Cái riêng và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định: Cái mới ra đời: đi từ cái đơn nhất - cái đặc thù - cái phổ biến Cái cũ mất theo con đường chuyển hóa ngược lại
- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Vì cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung nên không được tuyệt đối hóa cái riêng (lợi ích riêng của cá nhân, gia đình, tôn giáo, dân tộc, v.v )
+ Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng, nên muốn tìm ra cái chung (bản chất, quy luật, chính sách, v.v ) phải thông qua việc nghiên cứu cái riêng Mặt khác, khi áp dụng
Trang 6cái chung vào cái riêng cần phải tính đến đặc điểm và những điều kiện tồn tại cụ thể của cái riêng.
+ Tôn trọng tính đa dạng phog phú của cái riêng, đồg thời phải tôn trọng những nguyên tắc chung
+ Tạo điều kiện để cái riêng và cái đơn nhất chuyển hóa đúng quy luật để thúc đẩy sự ra đời
và phát triển của mới và sự tiêu diệt cái cũ, cái lỗi thời
NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ
- Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
+ Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân Mối quan hệ nhân quả không chỉ đơn thuần là sự đi kế tiếp nhau về thời gian (cái này có trước cái kia), mà là mối liên hệ sản sinh: cái này tất yếu sinh
ra cái kia Chỉ có mối quan hệ tất yếu về mặt thời gian mới là quan hệ nhân quả
+ Nguyên nhân thế nào thì sinh ra kết quả thế ấy Cùng một nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả
và ngược lại, một kết quả do nhiều nguyên nhân sinh ra Do đó, mối quan hệ nhân quả rất phức tạp
+ Trong trường hợp nhiều nguyên nhân cùng tham gia sinh ra một kết quả, người ta chia ra các loại nguyên nhân: bên trong và bên ngoài; trực tiếp và gián tiếp; cơ bản và không cơ bản; chủ yếu và thứ yếu; khách quan và chủ quan
+ Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định
Nguyên nhân sinh ra kết quả, rồi kết quả lại tác động đến sự vật, hiện tượng khác và trở thành nguyên nhân sinh ra kết quả khác nữa Do đó, sự phân biệt nguyên nhân với kết quả chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạn, sự phát triển của vật chất là nguyên nhân sinh ra tinh thần, nhưng tinh thần lại trở thành nguyên nhân làm biến đổi vật chất
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thực khách quan chứ không phải ở ngoài thế giới đó + Do mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để có phg pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức
và thực tiễn
+ Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhânnên trong nhận thức và thực tiễn cần có cách nhìn toàn diện và lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân quả
Trang 7TẤT NHIÊN VÀ NGẪU NHIÊN
- Khái niệm
+ Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do nguyên nhân cơ bản, bên trong của sự vật,hiện tượng quyết định và trong những điều kiện nhất định, nó phải xảy ra như thế chứ không thểkhác
+ Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do nguyên nhân bên ngoài quyết định, cho nên nó có thể xuất hiện hay không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc như thế khác + Như vậy, tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân Nguyên nhân cơ bản, bên trong gắn với tất nhiên còn nguyên nhân bên ngoài gắn với ngẫu nhiên
- Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên:
+ Quan điểm siêu hình tuyệt đối hóa cái tất nhiên hoặc cái ngẫu nhiên, hoặc tách rời hai cái với nhau Nếu tuyệt đối hóa cái tất nhiên sẽ dẫn đến thuyết định mệnh Nếu tuyệt đối hóa cái ngẫu nhiên, sẽ dẫn đến phủ nhận quy luật khách quan, phủ nhận khoa học
+ Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định rằng:
# Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan trong hiện thực và đều có vai trò nhất định đối với sự phát triển của sự vật và hiện tượng, trong đó tất nhiên giữ vai trò quyết định
# Tất nhiên và ngẫu nhiên là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập Không có tất nhiên thuần túy và ngẫu nhiên thuần túy Tất nhiên vạch đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên Ngẫu nhiên là biểu hiện một mặt, một khía cạnh của cái tất nhiên.Trong tất nhiên có ngẫunhiên, trong ngẫu nhiên có tất nhiên
# Tất nhiên quy định ngẫu nhiên Ngẫu nhiên bổ sung cho tất nhiên Tuy nhiên, ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có tính chất tương đối Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải căn cứ vào cái tất nhiên chứ không phải căn cứ vào cái ngẫu nhiên Tuy nhiên không được bỏ qua cái ngẫu nhiên, không tách rời cái tất nhiên khỏi cái ngẫu nhiên Cần xuất phát từ cái ngẫu nhiên để đạt đến cái tất nhiên và khi dựa vào cái tất nhiên phải chú ý đến cái ngẫu nhiên
+ Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau vì vậy cần tạo ra những điều kiện nhất định để cản trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúng theo mục đích nhất định
Trang 8- Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
+ Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất biện chứng với nhau Không cónội dung nào lại không có một hình thức nhất định Cũng không có một hình thức nào lại khôngchứa đựng một nội dung nhất định.Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong nhiều hình thức, cùng một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung
+ Nội dung quyết định hình thức và hình thức tác động trở lại nội dung Khuynh hướng chủ đạo của nội dung là khuynh hướng biến đổi, còn hình thức là mặt tương đối ổn định trong mỗi
sự vật, hiện tượng
+ Nội dung thay đổi bắt buộc hình thức phải thay đổi theo cho phù hợp nhưng không phải lúc nào cũng có sự phù hợp tuyết đối giữa nội dung và hình thức Nội dung quyết định hình thức nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung Hình thức phù hợp với nội dung thì thức đẩy nội dung phát triển và ngược lại, hình thức không phù hợp với nội dung sẽkìm hãm sự phát triển của nội dung
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Nội dung và hình thức luôn thống nhất với nhau nên trong hoạt động thực tiễn, cần tránh sự tách rời giữa nội dung và hình thức hoặc tuyết đối hóa một trong hai mặt đó
+ Nội dung quyết định hình thức cho nên khi xem xét sự vật, hiện tượng, trước hết cần căn cứ vào nội dung của nó, muốn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải thay đổi nội dung của nó
+ Trong hoạt động thực tiễn, cần phát huy tính tích cực của hình thức đối với nội dung trên cơ
sở tạo ra tính phù hợp của hình thức với nội dung; mặt khác cần thay đổi những hình thức khôngcòn phù hợp với nội dung, cản trở sự phát triển của nội dung
BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG
- Khái niệm
+ Bản chất là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng đó
+ Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ
đó trong những điều kiện xác định Hiện tượng là những biểu hiện ra bên ngoài của bản chất
+ Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập trong mỗi sự vật
# Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng biểu hiện ở chỗ: Bản chất bao giờ cũng biểu hiện ra thành những hiện tượng nhất định.Còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhất định Không có bản chất tách rời hiện tượng cũng như không có hiện tượng lại không biểu hiện của một bản chất nào đó
+ Bản chất quyết định hiện tượng Bản chất như thế nào thì hiện tượng như thế ấy Bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo
# Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng thể hiện ở chỗ: Bản chất là cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng là cái riêng biệt, phong phú và đa dạng; Bản chất là cái bên trong, hiện
Trang 9tượng là cái bên ngoài; Bản chất là cái tương đối ổn định, hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Trong nhận thức, không được dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm ra bản chất của sự Phải thông qua nhiều hiện tượng khác nhau mới nhận thức đúng được bản chất
+ Bản chất phản ánh tính tất yếu, tính quy luật nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải căn
cứ vào bản chất chứ không căn cứ vào hiện tượng mới có thể đánh giá đầy đủ, chính xác về sự vật, hiện tượng
5.Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mối sự vật hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
1 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến thể hiện hình thức và cách thức của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy
** Khái niệm chất, lượng
- Khái niệm “chất” dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác
+ Chất của sự vật là các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật nhưng không đồng nhất với khái niệm thuộc tính Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng Khi các thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của sự vật thay đổi
+ Chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành
mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng,thông qua các mối liên hệ cụ thể do đó việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối + Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiều chất, tùythuộc vào các mối quan
hệ cụ thể của nó với những cái khác Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, biểu hiện tính
ổn định tương đối của nó
- Khái niệm “lượng” dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật
+ Một sự vật có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật
+ Chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng Hai phương diện đó tồn tại một cách khách quan, tuy nhiên sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa
Trang 10tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại
là lượng
** Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật
+ Sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng Hai mặt đó khôngtách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng
+ Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất nhưng không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất Ở một giới hạn nhất định sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ
+ Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng Trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác
- Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất
+ Sự vận động, biến đổicủa sự vật, hiện tượng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Lượng biến đổitrong phạm vi “độ” chưa làm chất thay đổi nhưng khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất địnhthì sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất
+ Giới hạn đó chính là điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện xác định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng; là sự kết thúc một giai đoạn vận động,phát triển đồng thời là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tục của sự vật
- Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất thành những sự thay đổi về lượng: Khi chất mới ra đời, sẽ tác động trở lại lượng mới Chất mới tác động tới lượng mới làm thay đổi kếtcấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật
=> Như vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất
và lượng Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy Chất mới ra đời sẽ tác động trởlại sự thay đổi của lượng mới Quá trình đó liên tục diễn ra,tạo thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy
** Ý nghĩa phương pháp luận
- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau do đó trong thức tiễn và nhận thức phải coi trọng
cả hai phương diện chất và lượng
- Những sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất trong điều kiện nhất định và ngược lại do đó cần coi trọng quá trình tích lũy về lượng để làm thay đổi chất của sự vật đồng thời phát huy tác động của chất mới để thúc đẩy sự thay đổi về lượng của sự vật
Trang 11- Sự thay đổi về lượng chỉ làm thay đổi chất khi lượng được tích lũy đến giới hạn điểm nút do
đó trong thực tiễn cần khắc phục bệnh nôn nóng tả khuynh, bảo thủ trì trệ
- Bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú do vậy cần vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với điều kiện cụ thể Đặc biệt trong đời sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan, mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực chủ động của các chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất
2 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật ở vị trí “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật; quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển
** Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn
- Khái niệm mâu thuẫn
+ Quan điểm siêu hình: coi mâu thuẫn là cái đối lập phản lôgic, không có sự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập
+ Ngược lại, phép biện chứng quan niệm, mâu thuẫn để chỉ mối liên hệthống nhất và đấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
+ Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập Mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính,những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng là điều kiện, tiền
đề tồn tại của nhau Ví dụ: điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử, đồng hóa và dị hóa của một cơ thể sống, sản xuất và tiêu dùng trong hoạt động kinh tế
- Tính chất chung của mâu thuẫn
+ Tính khách quan và phổ biến: bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội và tư duy cũng tồn tại, vận động trên cơ sở các mâu thuẫn nội tại của các mặt đối lập của nó hoặc giữa nó với các sự vật, hiện tượng khác
+ Tính đa dạng, phong phú của mâu thuẫn: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau; giữ vị trí vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật Đó là mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối kháng Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sự biểu hiện của mâu thuẫn
** Quá trình vận động của mâu thuẫn
- Sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại Xét về phương diện nào đó giữa các mặt đốilập bao giờ cũng có một số yếu tố giống nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập bao hàm sự đồng nhất của nó
- Khái niệm sự đấu tranh giữa các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng