1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước

12 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 578,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết khái quát những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, tìm hiểu sự vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới đất nước.

Trang 1

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

ThS Đỗ Thị Yên *

ThS Nguyễn Thị Hào ** Trường Đại học Hoa Lư

Tóm tắt

Bài viết khái quát những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan

hệ giữa kinh tế và chính trị Trên cơ sở đó, nghiên cứu, tìm hiểu sự vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới đất nước

Từ khóa: Chủ nghĩa Mác - Lênin, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị của Đảng

Cộng sản Việt Nam

I MỞ ĐẦU

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong các vấn đề cơ bản, quan trọng, xuyên suốt của chủ nghĩa Mác - Lênin Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là cơ sở lý luận, đặt nền móng tư tưởng, lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết mối quan

hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới đất nước ở nước ta hiện

nay Bài viết khái quát những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ

giữa kinh tế và chính trị và sự vận dụng quan điểm đó của chủ nghĩa trong thực tiễn

cách mạng Việt Nam của Đảng ta

II NỘI DUNG

2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Theo C Mác, kinh tế có vai trò hết sức to lớn đối với chính trị Vai trò quyết định

của kinh tế đối với chính trị được thể hiện ở chỗ: Kinh tế tạo ra những cơ sở cho sự

*, **

Giảng viên Bộ môn Lý luận chính trị, Trường Đại học Hoa Lư

Trang 2

xuất hiện giai cấp và đối kháng giai cấp; kinh tế tạo ra điều kiện để hình thành các chính đảng của các giai cấp thông qua các cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời kinh tế cũng là cơ sở cho sự ra đời của nhà nước Do đó, khi nói về vai trò quyết định của kinh tế đối với những quan hệ chính trị, Ph Ăngghen viết: "Từ đó, nhận thấy rất rõ ràng rằng những sự kiện kinh tế mà từ trước đến nay, những tác phẩm sử học cho là không đúng một vai trò nào, hoặc có chăng nữa thì chỉ đúng một vai trò thảm hại, thì ít nhất trong thế giới hiện đại, cũng đó là một lực lượng lịch sử quyết định" [3; tr.321] Trước hết, C Mác và Ăngghen cho rằng, kinh tế là cơ sở xuất hiện giai cấp và đối kháng giai cấp Ph Ăngghen viết: "Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát từ luận điểm cho rằng, sản xuất và tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất, là

cơ sở của mọi chế độ, xã hội, rằng trong mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm và cùng với sự phân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp đều được quyết định bởi tình hình: người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào" [2; tr.371] Như vậy, theo Ph Ăngghen, kinh tế - sản xuất và trao đổi là cơ sở của sự xuất hiện giai cấp trong xã hội Vì vậy, cần tìm nguyên nhân của sự xuất hiện giai cấp, của những biến đổi xã hội, đặc biệt là những biến đổi về chính trị, ở ngay trong kinh tế chứ không phải ở những lực lượng thần bí, hay ở ý thức chủ quan của con người như các nhà xã hội học trước C Mác đó làm Ph Ăngghen viết: "Phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu

óc người ta, không phải ở nhận thức ngày càng tăng thêm của người ta, mà là trong những biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi; cần phải tìm những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của thời đại tương ứng" [2; tr.371]

Trong đấu tranh giai cấp, tất yếu các giai cấp phải lập ra chính đảng của mình để lãnh đạo phong trào Như vậy, kinh tế cũng là cơ sở gián tiếp của sự hình thành các chính đảng của các giai cấp và cuộc đấu tranh chính trị giữa các chính đảng đó với nhau Thêm vào đó, sự ra đời của nhà nước, sự xuất hiện các quan điểm chính trị của một giai cấp nhất định có tác dụng chi phối hoạt động của giai cấp, của nhà nước trong

xã hội, đều bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế

Nhà nước ra đời cùng sự ra đời của chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng Giai cấp thống trị không thể duy trì địa vị thống trị nếu không dựa vào bộ máy bạo lực và các công cụ của nó như quân đội, pháp luật Tất cả những cái đó đều bắt nguồn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ những nguyên nhân kinh tế

Trang 3

Do đó, Ph Ăngghen đã khẳng định: "Tất cả mọi quyền lực xã hội và tất cả mọi bạo lực chính trị đều bắt nguồn từ những tiền đề kinh tế, từ phương thức sản xuất, trao đổi của mỗi một xã hội nhất định trong lịch sử" [2; tr 303] Vì vậy, sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của Nhà nước khụng phải do ý muốn chủ quan của một cá nhân của một giai cấp nào, mà trái lại, là một tất yếu khách quan, do yêu cầu phát triển tất yếu của các quan

hệ kinh tế

Không những giai cấp, đảng phái, nhà nước và đấu tranh giai cấp đều có nguồn gốc từ kinh tế mà hệ tư tưởng chính trị chi phối mọi hoạt động chính trị như đấu tranh giai cấp, hoạt động của Nhà nước, của các chính đảng cũng đều là biểu hiện của kinh

tế Mặc dù chưa trực tiếp chỉ ra rằng, hệ tư tưởng chính trị là biểu hiện của kinh tế nhưng khi nói về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trỳc thượng tầng của một xã hội nhất định, C Mác, Ph Ăngghen đều coi chính trị (gồm có hệ tư tưởng chính trị và các thiết chế tương ứng cũng như mối quan hệ nội tại giữa chúng) là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được sinh ra từ quan hệ kinh tế nhất định và phản ánh những quan hệ kinh tế đó

Vì lẽ đó, những mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị bao giờ cũng là sự phản ánh của những mâu thuẫn về kinh tế, và ngược lại, những mâu thuẫn trong kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến đấu tranh giai cấp Đúng như C Mác đã khẳng định, mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cuối cùng sẽ dẫn đến cuộc cách mạng xã hội

Do đó, khi nghiên cứu những cuộc đảo lộn trong xã hội thì bao giờ cũng phải phân biệt cuộc đảo lộn vật chất trong những điều kiện kinh tế của sản xuất với những hình thái pháp lý, chính trị, tôn giáo Tóm lại, với những hình thái tư tưởng, trong đó con người

ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết nó [1; tr.15]

Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị không chỉ biểu hiện ở chỗ, kinh tế sinh ra chính trị, mà còn biểu hiện ở chỗ, những biến đổi căn bản trong kinh tế sớm muộn sẽ dẫn đến những biến đổi căn bản trong chính trị

Theo Ph Ăngghen, kinh tế là cái có trước, còn chính trị là cái có sau và là sự biểu hiện của kinh tế; kinh tế là tính thứ nhất, còn chính trị là tính thứ hai, cho nên sự biến đổi của chính trị bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi trong kinh tế Nhưng không phải

cứ có sự biến đổi nào về kinh tế thì ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi về chính trị Song, sự biến đổi của kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chính trị Chính trị được sinh ra từ những nguyên nhân kinh tế và mọi sự biến đổi của nó đều do kinh tế quyết định một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Nhưng chính trị không phải

là yếu tố thụ động mà có tác động trở lại kinh tế Khẳng định điều đó Ph Ăngghen viết:

Trang 4

"Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế" [5; tr.271]

Trong tất cả các nhân tố của chính trị, nhà nước đúng một vai trò hết sức quan trọng và có tác dụng to lớn đối với kinh tế Được nảy sinh trên một cơ sở kinh tế nhất định, nhà nước tác động trở lại đối với sự phát triển kinh tế Chính vì vậy, trong xã hội

có giai cấp đối kháng, các giai cấp đấu tranh với nhau để giành, giữ chính quyền cũng

là để tạo cho giai cấp mình một sức mạnh kinh tế Vì thế, khi nói về cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản, Ph Ăngghen viết: "Chúng tôi đấu tranh cho chuyên chính chính trị của giai cấp vô sản để làm gì, nếu quyền lực chính trị bất lực về kinh tế? Bạo lực (tức là quyền lực nhà nước) - cũng là một lực lượng kinh tế" [4; tr.683] Dựa vào nhà nước, giai cấp nắm chính quyền không ngừng phát triển lực lượng kinh tế của mình ngày càng vững mạnh Khi kinh tế phát triển lại là cơ sở đảm bảo cho quyền lực nhà nước càng được tăng cường mạnh mẽ Có như vậy, địa vị và quyền lực kinh tế của giai cấp nắm chính quyền nhà nước luôn luôn được đảm bảo vững chắc Nghĩa là cơ sở kinh tế của một xã hội nhất định được ổn định và vững chắc là phần lớn nhờ vào sự vững mạnh của chính quyền nhà nước tương ứng

Sự tác động của chính trị đối với kinh tế không chỉ được thể hiện thông qua sự tác động của nhà nước mà cũng thể hiện ở vai trò của hệ tư tưởng chính trị - một nhân tố quan trọng của chính trị Nhưng hệ tư tưởng chính trị tự nó chưa có vai trò gì đối với kinh tế Vai trò tác động của hệ tư tưởng chính trị đối với kinh tế được thực hiện thông qua thực tiễn chính trị của nhà nước, của chính đảng của một giai cấp nhất định Chỉ thông qua những hoạt động đó, hệ tư tưởng chính trị mới có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ hoặc xóa bỏ chế độ kinh tế hiện đang tồn tại

Cũng như sự tác động của nhà nước, hệ tư tưởng chính trị của một giai cấp tác động đến kinh tế theo hai chiều Nếu hệ tư tưởng chính trị phản ánh một cách khoa học và được

cụ thể hóa trong các cương lĩnh, đường lối của các chính đảng, trong pháp luật và các chính sách của nhà nước của giai cấp nắm chính quyền thì sẽ có tác dụng bảo vệ và thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh chóng Ngược lại, sẽ cản trở sự phát triển của kinh tế

Như vậy, thông qua sự tác động của hệ tư tưởng chính trị của một giai cấp nhất định trong xã hội, thông qua hoạt động của nhà nước, chính đảng của giai cấp đó, chính trị có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế, ở một mức độ nhất định, chính trị có thể làm thay đổi cơ sở kinh tế Vai trò của chính trị đối với kinh tế có thể tác động theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Chính trị sẽ có tác động tích cực, nếu

Trang 5

nó tác động cùng chiều với các quy luật phát triển kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển Trái lại, sự tác động ngược chiều của chính trị đối với các quy luật kinh tế sẽ dẫn đến

sự xung đột giữa kinh tế và chính trị, lúc đó chính trị là chướng ngại vật cản trở sự phát triển của kinh tế

Quá trình giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ ở nước Nga, V.I Lênin đã có nhiều đóng góp quan trọng vào lý luận về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị

Theo V.I Lênin, khi giai cấp vô sản chưa giành được chính quyền, chưa nắm được quyền lực nhà nước thì giai cấp vô sản chưa có quyền lực kinh tế Giai cấp vô sản chỉ

có được quyền lực ấy khi hoàn thành nhiệm vụ chính trị là lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và thiết lập nền chính quyền của giai cấp vô sản

Trong tác phẩm Làm gì, Lênin viết: "Từ chỗ quyền lợi kinh tế đóng một vai trò

quyết định, tuyệt nhiên không thể kết luận được rằng cuộc đấu tranh kinh tế (có tính chất nghiệp đoàn) lại có một tầm quan trọng bậc nhất, với những quyền lợi chủ yếu,

"quyết định" của cuộc giai cấp nói chung, chỉ có thể thỏa mãn được bằng những cuộc cải biến chính trị căn bản; còn quyền lợi kinh tế trọng yếu của giai cấp vô sản nói riêng, chỉ có thể thỏa mãn được bằng cuộc cách mạng chính trị thay thế chuyên chính của giai cấp tư sản bằng chuyên chính vô sản" [6; tr.59] Theo V.I Lênin, trong bất cứ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào, giai cấp vô sản đã làm xong nhiệm vụ giành chính quyền thì tất nhiên có một nhiệm vụ căn bản khác được đề lên hàng đầu, đó là thiết lập một chế độ xã hội mới cao hơn chủ nghĩa tư bản Để thực hiện nhiệm vụ đó, giai cấp vô sản phải đề ra được cách tổ chức lao động cao hơn, tức là nhiệm vụ kinh tế [7; tr.228]

Do đó, sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền nhà nước, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị biểu hiện ở chỗ, giai cấp vô sản đã thiết lập được bộ máy nhà nước của mình, có quyền sử dụng bộ máy nhà nước đó để giải quyết những nhiệm vụ tiếp theo trong lĩnh vực kinh tế, tổ chức lại và phát triển kinh tế quốc dân, quản lý sản xuất

Vì thế, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ chính trị giữ địa vị phụ

thuộc so với nhiệm vô kinh tế Khẳng định điều đó, V.I Lênin viết: "nhiệm vụ quản lý

nhà nước trước hết và trên hết được quy lại thành nhiệm vụ thuần túy kinh tế, hàn gắn những vết thương do chiến tranh gây ra trên đất nước, khôi phục lại các lực lượng sản xuất, tổ chức công tác kiểm soát đối với việc sản xuất và phân phối sản phẩm, nâng cao năng suất lao động Nói tóm lại, nhiệm vụ đã được quy thành nhiệm vụ tổ chức lại nền kinh tế" [7; tr 63]

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị còn biểu hiện ở chỗ, nhu cầu phát triển khách quan của nền kinh tế quyết định phương

Trang 6

hướng hoạt động của đảng, của nhà nước của giai cấp vô sản, quyết định tính chất và khả năng ảnh hưởng của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Nghĩa là, chính trị là sự phản ánh tập trung của kinh tế Sự phản ánh đã biểu hiện thông qua việc hình thành các

tổ chức chính trị, những chính sách, từ đó giải quyết những vấn đề, quyết định mục tiêu

và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Theo quan điểm của V.I Lênin, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế

và chính trị là hai lĩnh vực của đời sống xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đã kinh tế, xét đến cùng, là nhân tố quyết định sự hình thành phát triển của chính trị, song chính trị, có vai trò hết sức to lớn, nó tác động trở lại đối với sự phát triển của kinh tế Điều này thể hiện trước hết là ở chỗ; mọi hoạt động kinh tế, mọi sự phát triển của nền kinh tế không chỉ gắn liền với việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, mà còn là điều kiện đảm bảo cho hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh, đảm bảo cho chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện trong thực tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đó cũng chính là cơ sở vững chắc cho sự thắng lợi của chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa đối với chế độ xã hội

cũ Tất cả những điều đó có ý nghĩa chính trị to lớn Ngược lại, chính sách kinh tế của Đảng cộng sản, sự quản lý của nhà nước, đối với kinh tế đều tạo ra động lực thúc đẩy cho kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Vì thế, V.I Lênin quan niệm rằng, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế và chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế Đó là hai kết luận cơ bản của Lênin về biểu hiện của sự tác động biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, kinh tế vẫn luôn đóng vai trò quyết định đối với chính trị và các quan hệ xã hội khác Song, chính trị có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế Nhưng chính trị phải phản ánh trên cơ sở tính tất yếu kinh tế mới có tác dụng tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội

2.2 Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới

2.2.1 Kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị

Thời kỳ trước đổi mới, trong mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, ở nước ta có hạn chế: chúng ta đã nhấn mạnh quá mức vai trò kiến trúc thượng tầng,

Trang 7

coi chính trị là thống soái, quyết định kinh tế và tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; chưa đánh giá đúng vai trò của kinh tế trong quan hệ với chính trị; nhận thức một cách đơn giản về tác động của kiến trúc thượng tầng chính trị đối với cơ sở kinh tế Chính trị can thiệp quá sâu vào các quá trình kinh tế - xã hội bằng hệ thống những mệnh lệnh chủ quan của các cơ quan quản lý các cấp; bộ máy hành chính còn quan liêu, cửa quyền, cồng kềnh, kém hiệu quả Đại hội VI của Đảng (1986) xác định: “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ

cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác” [17; tr.124] Từ khi đổi mới đến nay,

về quan điểm Đảng ta chủ trương “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” [10; tr.71] Đây là nhận thức đúng cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn

Để giữ vững ổn định chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong nhân dân, Nghị quyết

số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) quyết định các nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo toàn bộ quá trình đổi mới theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa: “Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo vào phát triển chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin” [18]

Về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Nghị quyết số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) đã chỉ rõ:

“Chúng ta tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức

và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị Không thể tiến hành cải cách hệ thống chính trị một cách vội vã khi chưa đủ căn cứ, mở rộng dân chủ không có giới hạn, không có mục tiêu cụ thể và không đi đôi với tập trung thì dẫn đến sự mất ổn định

về chính trị, gây thiệt hại cho sự nghiệp đổi mới” [11] Một bước đi cực kỳ đứng đắn và thể hiện được bản lĩnh chính trị của Đảng ta biểu hiện bằng nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VI), ngày 15/8/1989 bàn

về một số vấn đề cấp bách trong công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc

tế hiện nay: “Chế độ chính trị của chúng ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Chúng ta không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị, không để cho các tổ chức chống đối chủ nghĩa xã hội ra đời và hoạt động, không coi việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần là thực hiện chủ trương đa nguyên

về kinh tế” [12; tr.17]

Trang 8

Chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị được tiếp tục nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991): “Phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị Đồng thời, với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” [13; tr.54] Kinh nghiệm thành công của sự kết hợp đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng

(tháng 6-1996) khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới

chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” [14; tr.14]

Đó là những quan điểm đúng đắn của Đảng ta phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân lao động, những quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong các

kỳ Đại hội IX (4/2001), Đại hội X (4/2006) với mục tiêu: “đổi mới toàn diện, đồng bộ,

có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Phải đổi mới từ nhận thức, tư

duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị” [15; tr.70] Đại hội XI của Đảng (1/2011) đã đưa ra quan điểm về đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị: “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng

và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương…” [16; tr.99-100] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (1/2016), xác định: Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện

và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị; Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới;

phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước

công nghiệp theo hướng hiện đại Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân

dân Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ

Trang 9

nghĩa Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới

Như vậy, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị

2.2.2 Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt

Đại hội VI của Đảng, với đường lối đổi mới toàn diện, Đảng coi phát triển kinh tế

là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt Các đại hội sau, từ Đại hội VII cho đến nay - Đại hội XII, vẫn kiên trì coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chủ trương, đường lối kinh tế để tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, nổi bật là: Chủ trương, đường lối chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, hành chính sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,… xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) chỉ rõ 4 nguy cơ: Tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; diễn biến hòa bình; tệ quan liêu, tham nhũng Trong 4 nguy cơ đó, 3 nguy cơ sau có liên quan trực tiếp đến xây dựng, chỉnh đốn Đảng Đặc biệt nhất, các Nghị quyết Đại hội XI (2011) và XII (2016) của Đảng, được

cụ thể hóa bằng hai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Trung ương 4 (khóa XII),

đã nêu lên tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, cùng với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa ngăn chặn, đẩy lùi được, là một nguy

cơ lớn làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ Đảng ta luôn nhất quán khẳng định: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

về chính trị, tư tưởng, tổ chức Không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng

Như vậy, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ

trương phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt

Trang 10

2.2.3 Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Đảng ta khẳng định: Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hộị chủ nghĩa ở nước ta là tất yếu, khách quan vì: Nó phù hợp với tính quy luật phát triển khách quan;

do tính ưu việt của kinh tế thị trường trong thúc đẩy phát triển mô hình kinh tế thị trường; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân mong muốn dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn rninh Vì vậy, trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta chủ

trương phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Khi bắt đầu đổi mới (1986) Đảng ta quan niệm kinh, tế hàng hóa có những mặt tích cực cần vận dụng cho xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trong quá trình đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận Đảng ta đã nhận thức rõ hơn, kinh tế hàng hỏa, kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tẩt yếu

để xây dựng chủ nghĩa xã hội; từ áp dụng cơ chế thị trường đến phát triển kinh tế thị trường; đưa ra quan niệm và từng bước cụ thể hóa mô hình và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Tổng kết thực tiễn đổi mới kinh tể, Đại hội IX khẳng định “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”

Đại hội XI khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ' chế thị trường, có

sự quản lý của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”

Đại hội XII của Đảng, có sự phát triển mới bằng việc đưa ra quan niệm: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy

đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn nhất triển của đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

Để kinh tế thị trường ở Việt Nam phát triển, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp: Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp, chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần; phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường; đẩy mạnh công nghiệp hóa,

Ngày đăng: 06/05/2021, 13:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w