Trong sự phát triển chung của nền kinh tế, các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam chiếm phần lớn về số lượng, theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp (DN) đăng ký hoạt động, trong đó DNNVV chiếm tới 97%, đóng góp 47% GDP và 40% ngân sách Nhà nước. Các DNNVV không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước mà còn giúp tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm đặc biệt là nguồn lao động chưa qua đào tạo; góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội,… Bên cạnh những Tập đoàn, Tổng công ty lớn, các DN lớn thì các DNNVV là động lực phát triển toàn diện và là sự bổ sung cần thiết cho nền kinh tế. Tuy nhiên việc phát triển của các DNNVV hiện nay còn gặp không ít những khó khăn trở ngại: Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh trên thị trong nước và quốc tế thấp, trình độ quản lý kém, ... và đặc biệt trong đó là thiếu vốn dùng cho sản xuất kinh doanh. Khó khăn về vốn hiện đang là vấn đề lớn nhất đối với các DNNVV. Tuy tỷ trọng cho DNNVV vay trong tổng số tín dụng ngân hàng (NH) đã tăng lên qua các năm nhưng nhìn chung các DN này vẫn thiếu vốn trầm trọng. Do thị trường vốn đang trong quá trình hình thành và hệ thống NH còn chưa đáp ứng được nhu cầu, cộng thêm sự yếu kém của các DN này nên nhiều nơi chỉ có trên 32% số DNNVV có khả năng tiếp cận được với nguồn vốn NH (chủ yếu là NH thương mại), trong khi có hơn 35% số DN khó tiếp cận và trên 32% số DN không có khả năng tiếp cận vốn NH, tỷ lệ hồ sơ vay vốn được NH chấp thuận chỉ đạt 30-40%, đặc biệt là vốn đầu tư khi thành lập DN. Phần vốn thiếu còn lại các DNNVV phải huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Các nguồn vốn này hiện chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ và cũng do những điều kiện ràng buộc chặt chẽ nên cũng chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu của DN. Do đó cần có giải pháp cần thiết để huy động, sử dụng một cách an toàn, có hiệu quả. Xuất phát từ thực trạng trên, sau một thời gian học tập tại Học Viện Tài chính với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS.Nguyễn Bá Minh em đã hoàn thành đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM’’.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự phát triển chung của nền kinh tế, các Doanh nghiệp nhỏ và vừa(DNNVV) Việt Nam chiếm phần lớn về số lượng, theo thống kê mới nhất, cả nướchiện có trên 500.000 doanh nghiệp (DN) đăng ký hoạt động, trong đó DNNVVchiếm tới 97%, đóng góp 47% GDP và 40% ngân sách Nhà nước Các DNNVVkhông chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước mà còn giúp tạo
ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm đặc biệt là nguồn lao động chưa qua đàotạo; góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội,… Bên cạnh nhữngTập đoàn, Tổng công ty lớn, các DN lớn thì các DNNVV là động lực phát triển toàndiện và là sự bổ sung cần thiết cho nền kinh tế
Tuy nhiên việc phát triển của các DNNVV hiện nay còn gặp không ít những
khó khăn trở ngại: Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh trên thị trong nước và quốc tế thấp, trình độ quản lý kém, và đặc biệt trong đó là thiếu vốn dùng cho sản xuất kinh doanh Khó khăn về vốn hiện đang là vấn đề lớn
nhất đối với các DNNVV Tuy tỷ trọng cho DNNVV vay trong tổng số tín dụngngân hàng (NH) đã tăng lên qua các năm nhưng nhìn chung các DN này vẫn thiếuvốn trầm trọng Do thị trường vốn đang trong quá trình hình thành và hệ thống NHcòn chưa đáp ứng được nhu cầu, cộng thêm sự yếu kém của các DN này nên nhiềunơi chỉ có trên 32% số DNNVV có khả năng tiếp cận được với nguồn vốn NH (chủyếu là NH thương mại), trong khi có hơn 35% số DN khó tiếp cận và trên 32% số
DN không có khả năng tiếp cận vốn NH, tỷ lệ hồ sơ vay vốn được NH chấp thuậnchỉ đạt 30-40%, đặc biệt là vốn đầu tư khi thành lập DN Phần vốn thiếu còn lại cácDNNVV phải huy động từ nhiều nguồn khác nhau Các nguồn vốn này hiện chưađược nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ và cũng do những điều kiện ràng buộcchặt chẽ nên cũng chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu của DN Do đó cần có giảipháp cần thiết để huy động, sử dụng một cách an toàn, có hiệu quả
Trang 2Xuất phát từ thực trạng trên, sau một thời gian học tập tại Học Viện Tài
chính với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS.Nguyễn Bá Minh em đã hoàn thành
đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM’’
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất, luận văn làm rõ vai trò của vốn trong sản xuất kinh doanh, trên cơ
sở đó, xác lập các hình thức huy động vốn cho DNNVV
Thứ hai, luận văn đề cập một cách khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của DN và tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động huyđộng vốn trong các DNNVV Việt Nam Qua đó xác định những khó khăn, tồn tạicủa DNNVV trong việc huy động vốn, làm cơ sở để xây dựng các giải pháp khắcphục
Cuối cùng, luận văn nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy
động các nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh của các DNNVV Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các DNNVV được định nghĩa theo luật pháp
của Việt Nam và những đối tượng khác có liên quan tới quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh của các DNNVV
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xem xét ở hai lĩnh vực Về không gian: luận văn chỉ tìm hiểu trong phạm vi các DNNVV Về thời gian: luận văn chỉ đề cập
đến vấn đề tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV từ năm 2000 đến năm 2009
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Thông qua việc đưa và phân tích số liệu, luận văn nhằm
làm rõ thêm một số điểm trong hoạt động huy động vốn của các DNNVV Việt Namhiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn: Nguồn vốn có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất
kinh doanh của DNNVV, qua đó ảnh hưởng tới sự tồn vong của DN Những giảipháp luận văn đưa ra, tác giả hy vọng sẽ là đóng góp để hoàn thiện hơn nữa côngtác huy động vốn trong các DNNVV Việt Nam hiện nay
Trang 35 Kết cấu của luận văn
Luận văn, ngoài mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm có 3 chươngnhư sau:
Chương 1 - DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ CÁC HÌNH THỨC HUY
ĐỘNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
Chương 2 – THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM HIỆN NAY
Chương 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Trang 4Chương 1 DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG
VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
xí nghiệp có dưới 300 lao động và vốn dưới 300 triệu Yên là DN nhỏ Với Cộnghòa Liên Bang Đức, DNNVV sử dụng lao động nhỏ hơn 500 và doanh số hàng nămdưới 100 triệu Mác Đức,
Vấn đề tiêu chí DNNVV, DN nhỏ và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộctranh luận về sự phát triển của loại hình này trong nhiều năm qua Định nghĩa vềDNNVV, DN nhỏ và cực nhỏ rõ ràng phải dựa trước tiên vào quy mô doanh nghiệp
Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng ký, doanh thu, các tiêu chí
này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau
Tại Việt Nam theo Công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo
đó DNNVV là DN có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷđồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm banhành công văn) Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về cácDNNVV ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách Trên thực tế tiêu chínày không cho phép phân biệt các DN vừa, nhỏ và cực nhỏ Vì vậy, tiếp theo đó
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra chính thức định nghĩa DNNVV như sau:
Trang 5“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Các DN cực nhỏ được quy
định là có từ 1 đến 9 nhân công, DN có từ 10 đến 49 nhân công được coi là DN nhỏ
Mới nhất hiện nay theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm
2009 của Thủ tướng Chính phủ thì DNNVV được xác định như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) ”
“ Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp
mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.”
“ Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan điều tra, tổng hợp và công bố số liệu thống kê về doanh nghiệp nhỏ và vừa hàng năm theo định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định tại Nghị định này”
1.1.1.2 Tiêu chí phân loại DNNVV
Trên thế giới, định nghĩa về DNNVV được hiểu và quy định khác nhau tuỳ
theo từng nơi Các tiêu chí để phân loại DN có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của DN
như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lýthấp, Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưngthường khó xác định trên thực tế Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở đểtham khảo trong kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế Nhómtiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hayvốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó: Số lao động có thể là lao động trung bìnhtrong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn: có thể
là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định Doanh thu: có thể là tổng
Trang 6doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ sốnày) Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động.Cũng có một số tiêu chuẩn khác tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước Tuy nhiên sựphân loại DN theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vàonhiều yếu tố như:
+ Trình độ phát triển kinh tế của một nước - Trình độ phát triển càng cao thì
trị số các tiêu chuẩn càng tăng lên Ví dụ như một DN có 400 lao động ở Việt Namkhông được coi là DNNVV nhưng lại được tính là nhỏ và vừa ở Đức ở một sốnước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loạiDNNVV sẽ thấp hơn so với các nước phát triển
+ Tính chất ngành nghề: Do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng
nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn nhưhoá chất, điện Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trongphân loại các DNNVV giữa các ngành với nhau Trong thực tế, ở nhiều nước, người
ta thường phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khácnhau Ngoài ra có thể dùng khái niệm hệ số ngành (Ib) để so sánh đối chứng giữacác ngành khác nhau
+ Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy mô
DN cũng khác nhau Do đó cần tính đến cả hệ số vùng (Ia) để đảm bảo tính tươngthích trong việc so sánh quy mô DN giữa các vùng khác nhau
Bảng 1.1 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại DN theo quy mô Điều này là hợp lý hơn so
với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn, là các chỉ tiêu có thểlượng hóa được bằng giá trị tiền tệ Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quantrọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sựphát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát, nên thiếu sự ổn định trong việcphân loại DN Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiềuquốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại
Trang 7thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà DNđang tham gia.
Trang 8Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số
quốc gia và khu vực
Quốc gia/
Khu vực Phân loại DN vừa và nhỏ
Số lao động bình quân
Vốn đầu tư Doanh thu
A NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN
1 Hoa kỳ Nhỏ và vừa 0-500 Không quy định Không quy định
2 Nhật
- Đối với ngành sảnxuất
- Đối với ngànhthương mại
- Đối với ngànhdịch vụ
1-3001-1001-100
0-300 triệu 0-100 triệu 0-50 triệu
Không quy định
3 EU
Siêu nhỏNhỏVừa
< 100
< 500
Không quy định < CDN$ 5 triệu
CDN$ 5 -20triệu
6.New ealand Nhỏ và vừa < 50 Không quy định Không quy định
7 Korea Nhỏ và vừa < 300 Không quy định Không quy định
8 Taiwan Nhỏ và vừa < 200 < NT$ 80 triệu < NT$ 100 triệu
B NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1 Thailand Nhỏ và vừa Không quy
định
< Baht 200 triệu Không quy định
2 Malaysia - Đối với ngành sảnxuất 0-150 Không quy định RM 0-25 triệu
3 Philippine Nhỏ và vừa < 200 Peso 1,5-60 triệu Không quy định
4 Indonesia Nhỏ và vừa Không quy
định
< US$ 1 triệu < US$ 5 triệu
5.Brunei Nhỏ và vừa 1-100 Không quy định Không quy định
C NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI
1 Russia Nhỏ
Vừa
1-249250-999
Không quy định Không quy định
2 China Nhỏ
Vừa
50-100101-500
Không quy định Không quy định
3 Poland NhỏVừa < 5051-200 Không quy định Không quy định
4 Hungary
Siêu nhỏNhỏVừa
1-1011-5051-250
Không quy định Không quy định
Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và
nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000.
Trang 9Số liệu ở Bảng 1.1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi Một sốquốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên Một số ít quốc gia sửdụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu
Ở Việt Nam, căn cứ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP việc phân loại các DNNVV được chia thành 3 cấp độ (siêu nhỏ, nhỏ và vừa) dựa trên 2 tiêu chí cơ bản
là tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm.
Việc đưa ra các tiêu chí để phân định DNNVV như trong định nghĩa và Bảng1.2 mục đích là để tiện cho việc quản lý, thống kê, hoạch định chính sách và trợgiúp DN phát triển Việc phân loại DN có ý nghĩa rất lớn đối với các DN và cả cácnhà quản lý Bởi lẽ, đối với các nhà quản lý thì có tiêu chí phân loại sẽ là căn cứtrong việc phân loại, thống kê, dự báo, tính thuế, đưa ra các quyết định, các văn bảnquy phạm pháp luật, Còn đối với DN thì việc họ thuộc loại hình DN nào rất quantrọng Quan trọng từ việc có được hưởng hay không các chính sách hỗ trợ (chínhsách hỗ trợ: hỗ trợ đào tạo, hỗ trợ thông tin, hỗ trợ vay vốn, tín dụng, ) và thuế họphải nộp là bao nhiêu
Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động
1 Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 người trởxuống
20 tỷ đồngtrở xuống
từ trên 10 ngườiđến 200 người
từ trên 20 tỷđồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200người đến
300 người
2 Công nghiệp
và xây dựng
10 người trởxuống
20 tỷ đồngtrở xuống
từ trên 10 ngườiđến 200 người
từ trên 20 tỷđồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200người đến
300 người
3 Thương mại
và dịch vụ
10 người trởxuống
10 tỷ đồngtrở xuống
từ trên 10 ngườiđến 50 người
từ trên 10 tỷđồng đến 50 tỷđồng
từ trên 50người đến
100 người
Nguồn: Trích Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009
Trang 10Tiêu chí phân loại DNNVV bước đầu đã giải quyết được một số vướng mắcnhư thuế suất được tính cho DNNVV, các chính sách hỗ trợ được tìm được đúngnơi cần đến, làm sáng tỏ hơn một số khâu trong thủ tục vay vốn Nhưng việc vậndụng trong thực tế cũng đã nảy sinh một số bất cập Trước hết đó là việc phân loạiDNNVV: theo Nghị định 56, DNNVV được phân chia dựa theo các tiêu chí quy mô
về vốn, quy mô về số lao động và khu vực Trong đó quy mô về nguồn vốn được ưutiên Đây cũng chính là sự chưa hợp lý trong phân loại Bởi lẽ, tổng nguồn vốn của
DN bao gồm vốn của chủ sở hữu và vốn huy động dưới các hình thức khác nhau.Trong khi vốn chủ sở hữu là tương đối ổn định, được ghi nhận trong điều lệ DN vàgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì vốn huy động lại thường xuyên biến động
Do đó, tổng nguồn vốn này của DN cũng thường xuyên biến động Vì vậy, hômnay, một DN được xếp vào loại DN nhỏ nhưng ngay ngày mai có thể đã trở thành
DN vừa và ngược lại Việc phân loại các DNNVV rất cụ thể: siêu nhỏ, nhỏ và vừa.Sau nữa, trong các điều khoản về các chính sách hỗ trợ tiếp sau lại không tách bạch
và cụ thể cho từng đối tượng Sau nữa một số các DN nghiệp ở dạng “mập mờ” chưa rõ thuộc loại nào thì “lách luật” để được hưởng lợi khi kê khai thuế.
1.1.2 Đặc điểm của chung của DNNVV
- Tính chất hoạt động kinh doanh
DNNVV thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gầnvới người tiêu dùng hơn Trong đó cụ thể là:
+ DNNVV là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với
tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư
+ DNNVV thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như
các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giảitrí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ
+ Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng
với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này
mà các DNNVV có lợi thế về tính linh hoạt Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trộicủa các DNNVV, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng,
Trang 11chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnhcủa các DNNVV.
- Về nguồn lực vật chất
Nhìn chung các DNNVV bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai vàcông nghệ Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành DN.Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính - tiền tệ, quátrình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng DNNVV
Nhận thức về vấn đề này các quốc gia đang tích cực hỗ trợ các DNNVV để
họ có thể tham gia tốt hơn trong các tổ chức hỗ trợ, và đưa ra các chính sách đểkhắc phục sự hạn hẹp này
- Về năng lực quản lý điều hành
Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô các quản trị giaDNNVV thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt độngkinh doanh Thông thường họ được coi là nhà quản trị DN hơn là nhà quản lýchuyên sâu Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong DNNVVcòn rất thấp so với yêu cầu
- Về tính phụ thuộc hay bị động
Do các đặc trưng kể trên nên các DNNVV bị thụ động nhiều hơn ở thị
trường Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trường của họ rất nhỏ Nguy cơ “bị bỏ rơi”, phó mặc được minh chứng bằng con số DNNVV bị phá sản ở các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển Chẳng hạn ở Mỹ, bình quân mỗi ngày có tới 100DNNVV phá sản (đương nhiên lại có số doanh nghiệp tương ứng phù hợp các
DNNVV mới xuất hiện), nói cách khác các DNNVV có “tuổi thọ” trung bình thấp.
1.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam
1.2.1 Sơ lược quá trình phát triển của DNNVV Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển các DNNVV ở Việt Nam diễn ra từ khálâu, trải qua nhiều giai đoạn với những đặc điểm khác nhau, môi trường khác nhau
mà nhìn chung là chịu sự ảnh hưởng của hai nhóm nhân tố chính là cuộc trường kỳ kháng chiến kéo dài gần một thế kỷ và những quan điểm chính trị thời kỳ hậu chiến
Trang 12tranh Giai đoạn trước năm 1945, khi mà Việt Nam còn nằm trong ách thống trị của
thực dân Pháp thì cũng đã tồn tại một số lượng đáng kể các DN mà lúc đó là các cơ
sở, các xưởng sản xuất nhỏ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp, cácnghề thủ công truyền thống Các mặt hàng giai đoạn nay phần lớn vẫn ở dạngnguyên sơ nhưng cũng đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trong hoàn cảnh rất đặcbiệt của thời kỳ đô hộ, thậm chí nhiều hàng còn được gửi đi triển lãm ở một số nướcphương Tây thời bấy giờ
Trong giai đoạn từ cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công và cả nướcbước vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp Các DNNVV lúc này tồn tại cả ở vùng
ta và vùng địch, đáng chú ý là các DNNVV ở vùng căn cứ đã đóng góp vai trò đáng
kể, vừa phục vụ nhu cầu thời chiến của nhân dân, vừa đáp ứng nhu cầu hậu cần chokháng chiến lâu dài Sau thắng lợi Điện Biên Phủ lừng lẫy, cả miền Bắc bắt tay vàoxây dựng lại đất nước trên con đường xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Các DNNVV rađời rất nhanh và nhiều trong giai đoạn này, lúc này chịu sự chi phối của đường lốichính trị hình thức hợp tác xã, tổ hợp tác kinh doanh được khuyến khích phát triển,còn các DNNVV dưới hình thức sở hữu tư nhân thì bị loại trừ, trong khi đó loạihình DNNVV tư nhân ở miền Nam lúc đó lại rất phát triển Sau khi thống nhất đấtnước năm 1975 và đến trước đại hội VI Điểm đáng lưu ý trong các DNNVV ở giaiđoạn này là ở miền Nam, kinh tế tư nhân là hình thức bị kỳ thị và các DNNVV dướihình thức sở hữu tư nhân buộc phải quốc hữu hoá, DNNVV của tư nhân bị cải tạo,xoá bỏ, không khuyến khích phát triển Nếu muốn tồn tại thì phải tồn tại dưới dạngkhác như dưới hình thức hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, công tư hợp danh
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 thực sự là một bướcngoặt Đại hội VI đã đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần, thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sử hữu khác nhau, thay đổiquan điểm với kinh tế tư nhân, từ kỳ thị chuyển sang coi trọng Chủ trương này đãtạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt cơ sở sản xuất tư nhân, cá thể, hộ gia đình kinhdoanh trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại ra đời và phát triển
Trang 13Bên cạnh đó, từ năm 1986 đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bảnpháp quy, quy định chế độ chính sách đối với hộ gia đình, hộ cá thể, DN tư nhân,
hợp tác xã, DN Nhà nước Đáng chú ý là Nghị quyết 16 của Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam (1988); Nghị định 27, 28, 29 /HĐBT (1988) về kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác và hộ gia đình; Nghị định 66/HĐBT về nhóm kinh doanh dưới vốn pháp định, Công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/98 về định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNNVV và một loạt các Luật như: Luật công ty, Luật doanh nghiệp
tư nhân mà nay hai Luật này đã được gộp lại thành Luật doanh nghiệp (1999), Luật hợp tác xã, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1994), Luật đầu tư nước ngoài (1989) đã tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho
DNNVV phát triển Chính phủ còn giao cho Bộ Kế hoạch - Đầu tư (MPI - Ministry
of Planning and Investment) đứng lên làm đầu mối phối hợp các Bộ, các ngành và địa phương tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh dự thảo “Chiến lược và chính sách phát triển DNNVV”, đề xuất giải pháp thực hiện để Chính phủ xem xét và phê duyệt.
Nghị định cũng quy định việc thành lập “Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa” (ASMED) trực thuộc Bộ Kế hoạch - Đầu tư, để giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về xúc tiến phát triển DNNVV; thành lập “Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV” làm nhiệm vụ tư
vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển
DNNVV; thành lập “Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật DNNVV” thuộc các cơ quan, các tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhằm thực hiện các chươngtrình trợ giúp một cách thiết thực và có hiệu quả; khuyến khích, tạo điều kiện để các
Trang 14DNNVV tham gia các hiệp hội doanh nghiệp đã có và thành lập các hiệp hội, câulạc bộ doanh nghiệp, nhằm triển khai các hoạt động kể cả thu hút các nguồn lực từnước ngoài để trợ giúp một cách thiết thực, trực tiếp cho DNNVV, các dịch vụ vềthông tin, tiếp thị mở rộng thị trường, đào tạo, công nghệ nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của các DNNVV.
Từ tiến trình đổi mới cũng như xu thế hội nhập và cùng với sự nỗ lực củaChính phủ trong việc tạo điều kiện tốt nhất cho DN nói chung và DNNVV nói riêngphát triển, đã có những thành quả nhất định Điều đó có thể thấy qua sự gia tăng về
số lượng các loại hình DN trong thời gian qua
Bảng 1.3: Số DN Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008
Đơn vị: Doanh nghiệp
Tổng số doanh nghiệp
(Totalnumber ofenterprises)
Theo quy mô lao động - Employees size
DN siêu nhỏ
(super smallenterprises)
DN nhỏ
(smallenterprises)
DN vừa
(mediumenterprises)
DN lớn
(largeenterprises)
Trang 15Năm 2007 155.771 95.322 50.763 4.059 5.627
Nguồn: “Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21” - Tổng Cục Thống Kê
Biểu 1.1: Mức độ phát triển DNNVV 2000-2008
Đơn vị: Doanh nghiệp
Từ số liệu của Bảng 1.3 và Biểu 1.1 cho ta thấy số lượng DN Việt Nam tăngkhá đều qua các năm, phát triển đều ở mọi loại hình DN Năm 2008 so với năm
2000 số lượng DN đã tăng 4,86 lần, với tốc độ tăng bình quân là 19,22% năm Tuy
số lượng DN tăng lên nhiều nhưng chiếm đại bộ phận trong đó vẫn là các DNNVV,
đó là một hiện thực vẫn thấy ở mọi nền kinh tế: Số DNNVV năm 2000 là 38.883
DN (2+3+4) chiếm 91,95% tổng số DN; Số DNNVV năm 2008 là 199.710 DNchiếm tỷ lệ 97,09% tổng số DN Như vậy năm 2008 so với năm 2000 số DNNVV
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Trang 16Sự gia tăng về số lượng của các DN Việt Nam thể hiện sự quan tâm củaĐảng và Chính phủ trong việc tạo điều kiện và môi trường cho DN phát triển, phùhợp với xu thế phát triển của thời đại, góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo công ănviệc làm, ổn định chính trị.
1.2.2 Một số nét đặc trưng cơ bản
Đặc điểm của các DNNVV xuất phát trước hết từ chính quy mô của doanhnghiệp Do đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trungsang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên các DNNVV ViệtNam có những đặc điểm sau:
- Các DNNVV Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức
tổ chức doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp và các công
ty tư nhân, các hợp tác xã Từ đó xuất hiện sự phân biệt đối xử giữa các DN thuộc
các thành phần khác nhau Điều này làm ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinhdoanh của các DN hiện nay, đồng thời tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cậnnguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng…)
- Là những doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, đây thường là
những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân Đặc điểm này đã làm
cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của mình.Nguyên nhân là do các DN này chưa có kinh nghiệm huy động vốn kinh doanh.Ngoài ra, các tổ chức cung ứng vốn xem khu vực này có nhiều rủi ro nên chưa sẵnsàng cấp tín dụng
- Khả năng quản lý hạn chế, do các chủ DN thường là những người tự đứng
ra thành lập và vận hành DN Họ là những người vừa quản lý vừa tham gia trực tiếpvào quá trình sản xuất kinh doanh nên mức độ chuyên môn trong quản lý khôngcao Phần lớn chủ DN thường không được đào tạo về quản lý chính quy hoặc khôngqua khóa đào tạo nào
- Trình độ tay nghề của người lao động thấp Các chủ DNNVV không đủ
khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê lao động có tay nghề
Trang 17cao do hạn chế về tài chính… Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng nhưnhững người thân của họ về khu vực này còn khá lớn Người lao động ít được đàotạo vì kinh phí hạn hẹp nên trình độ và kỹ năng thấp Ngoài ra, sự không ổn địnhkhi làm việc cho các DN này, cơ hội để phát triển thấp cũng là lý do không thu hútđược lao động có kỹ năng cao
- Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển
khai, nhiều DNNVV có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài
chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc
bị các DN lớn mua lại với giá rẻ Tuy nhiên, các DNNVV rất linh hoạt trong việcthay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây chuyền công nghệ thường thấp và họthường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từnhững công nghệ cũ và lạc hậu Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới côngnghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các DN này có thể tồn tại trên thịtrường
- Các DNNVV Việt Nam thường sử dụng chính những diện tích đất riêng của
mình làm mặt bằng sản xuất, và cũng rất khó thuê mặt bằng sản xuất Vì vậy, các
DNNVV rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô DNđược mở rộng Một số DN thuê được đất thì gặp nhiều trở ngại trong việc giảiphóng mặt bằng và đền bù
- Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài.
Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những DN mới hình thành, khảnăng tài chính cho các hoạt động tiếp thị không có và cũng chưa có nhiều kháchhàng truyền thống Thêm vào đó, quy mô thị trường của các DN này thường bó hẹptrong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn
1.2.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam
DNNVV có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước
có trình độ phát triển cao Đối với Việt Nam thì vai trò của DNNVV càng có ýnghĩa quan trọng bởi các lý do sau:
- DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp
Trang 18Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay, DNNVV gópmặt trong mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình DN.
Áp dụng tiêu chí số lao động để phân loại DN (theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ) tại Bảng 1.4 và để tiện cho tính toán ta quy ước như sau: DN có từ 299 lao động trở xuống gộp chung là DNNVV, DN có từ
300 lao động trở lên là DN lớn.
Bảng 1.4: Số DN năm 2007 theo quy mô lao động và loại hình DN
Đơn vị: Doanh nghiệp
Tổng số
Phân theo quy mô lao động
Dưới 5
người
5 - 9 người
200-người
499 người
300- 999 người
500- 4999 người
1000-5000 người trở lên
Trang 19Qua số liệu ở Bảng 1.4 thì DNNVV chiếm 99,77% tổng số các DN tư nhân,chiếm 99,16% trong tổng số DN thuộc thành phần KT tập thể, chiếm 99,04% trongtổng số các công ty trách nhiệm hữu hạn, và 66,97% trong tổng số các DN nhà nước
và chiếm 77,69% các DN có vốn đầu tư nước ngoài
DN thuộc thành phần kinh tế ngoài Nhà nước có số tuyệt đối là 147.316 DN,chiếm 94,57% tổng số các DN Các DNNVV thuộc khối KT ngoài nhà nước có sốlượng là 145.586 DN, chiếm tới 98,82% tổng số DN ngoài Nhà nước Vậy có thể
nói đại bộ phận các DNNVV Việt Nam là thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước
và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DN.
- DNNVV là nơi tạo ra việc làm chủ yếu ở Việt Nam
Với số lượng chiếm trên 97% tổng số các DN như vậy thì lẽ tất nhiên cácDNNVV cũng sẽ thu hút được một lực lượng lao động tương ứng
Bảng 1.5: Tỷ trọng lao động theo loại hình DN năm 2007
Trang 20Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.685.861 22,84
Nguồn: “Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra từ năm 2000 đến
2008”-Tổng Cục Thống Kê
Số liệu của Bảng 1.5 cho thấy số lao động thuộc thành phần kinh tế ngoàiNhà nước chiếm 53,28% tổng số lao động trong các DN với số tuyệt đối là3.933.182 người (trong đó số lao động thuộc loại hình DNNVV chiếm tới hơn97%) Con số này sẽ tăng hơn nữa nếu ta tính thêm cả lao động của loại hình DN cóvốn đầu tư nước ngoài Theo thống kê nếu tính cả số hợp tác xã, trang trại và các hộkinh doanh cá thể thì khối DNNVV thu hút tới 50% lực lượng lao động xã hội
- Tạo nên sự linh hoạt của nền kinh tế, hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động
Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi DN phụ thuộc rất nhiều vàonhững nhà sáng lập ra chúng Do đặc thù là số lượng DNNVV vừa là rất lớn vàthường xuyên phải thay đổi để thích nghi với môi trường xung quanh, phản ứng vớinhững tác động bất lợi do sự phát triển, xu hướng tích tụ và tập trung hoá sản xuất
Sự sát nhập, giải thể và xuất hiện các DNNVV thường xuyên diễn ra trong mọi giaiđoạn Đó là sức ép lớn buộc những người quản lý và sáng lập ra chúng phải có tínhlinh hoạt cao trong quản lý và điều hành, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận sự mạohiểm, sự có mặt của đội ngũ những người quản lý này cùng với khả năng, trình độ,nhận thức của họ về tình hình thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽtác động lớn đến hoạt động của từng DNNVV Họ luôn là người đi đầu trong đổimới, tìm kiếm phương thức mới, đặt ra nhiệm vụ chuyển đổi cho phù hợp với môitrường kinh doanh
Đối với một quốc gia thì sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào
sự có mặt của đội ngũ này, và chính đội ngũ này sẽ tạo ra một cơ cấu kinh tế năngđộng, linh hoạt phù hợp với thị trường
- DNNVV đóng vai trò quan trọng, khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại địa phương
Trang 21Từ các đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV đã tạo ra cho
DN lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh Thực tế đã cho thấyDNNVV đã có mặt ở hầu hết các vùng, địa phương Chính điều này đã giúp choDNNVV tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ Theo tiêu chí số lao độngnăm 2008 Hà Nội có tổng số DN là 39.503 DN trong đó số DNNVV là 37.624 DNchiếm tỷ lệ 95,24%; Hải Phòng có 4.913 DN, trong đó DNNVV là 4.620 DN, chiếm
tỷ lệ 94,04%; Vĩnh Phúc có 1.501 DN, số DNNVV là 1.458 DN, chiếm tỷ lệ97,14%; Bắc Ninh có 2.162 DN, sô DNNVV là 2.089 DN chiếm tỷ lệ 96,62% (sốliệu tổng hợp từ “Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21”-Tổng Cục ThốngKê) Ngoài lao động ra DNNVV còn sử dụng nguồn tài chính của dân cư trongvùng, nguồn nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế và đóng góp ngân sách
Ở phần lớn các nền kinh tế và cả ở Việt Nam, các DNNVV là những nhà
thầu phụ cho các DN lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm chophép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, DNNVV được ví là “thanh giảm xóc”cho nền kinh tế
Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, hiện nay DNNVV chiếm tới trên 97% tổng số
DN trong cả nước; chiếm trên 50,1% lao động trong DN, ước tính đóng góp khoảngtrên 40% GDP Nếu tính cả 133.000 hợp tác xã, các trang trại và các hộ kinh doanh
cá thể thì khu vực này đóng góp vào tăng trưởng tới 60% GDP Tính chung, hiện
các DN này sử dụng trên 50% lao động xã hội, đóng góp gần 40% ngân sách, giúp tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới mỗi năm, trong đó, chủ yếu giải quyết số lao động
chưa qua đào tạo
Như vậy qua các phân tích ở trên chúng ta có thể thấy rõ vai trò và tầm quantrọng của các DNNVV tăng lên và tiềm năng phát triển của khu vực này rất rộnglớn Bởi vì các DNNVV đang là động lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việclàm và huy động nguồn vốn trong nước… Vì những lý do đó việc khuyến khích, hỗtrợ phát triển của DNNVV là giải pháp quan trọng để thực hiện thành công chiến
Trang 22lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, đảm bảo cho sự phát triển bền vữngcủa nền kinh tế nước ta.
Trang 231.3 Các hình thức huy động vốn trong DNNVV
1.3.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của nguồn vốn trong DN
1.3.1.1 Khái niệm về vốn
Vốn là khái niệm được xuất phát từ tên tiếng Anh là “capital” có nghĩa là
“tư bản” Tuy nhiên, khi nói về vốn, trên thực tế còn tồn tại rất nhiều quan điểm
khác nhau định nghĩa về vốn và hiện nay vẫn tiếp tục có sự tranh luận về định nghĩachính xác của nó
Theo Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hoá thành
phạm trù tư bản K.Marx cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư,
là đầu vào của quá trình sản xuất
Theo P.Samuelson: “Vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho
quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp (máy móc, trang thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu…)”.
Còn theo D.Begg, tác giả cuốn “Kinh tế học”, cho rằng: vốn bao gồm vốn
hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá
của doanh nghiệp Theo định nghĩa trên, D.Begg đã đồng nhất vốn với tài sản củadoanh nghiệp Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả cáctài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh Vốn của doanhnghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hoá Nó giống
các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm là người sởhữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất
cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản xuất vật
chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục suốt thờigian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên đến chu kỳsản xuất cuối cùng
Trang 24Một cách thông dụng nhất, vốn được hiểu là các nguồn tiền tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn tiền (quỹ) này được hình thành
dưới nhiều cách thức khác nhau và tại các thời điểm khác nhau Giá trị nguồn vốnphản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Tùy từng loạihình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có các phươngthức tạo vốn và huy động vốn khác nhau
1.3.1.2 Phân loại vốn
Nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sảnđang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp Để có thể quản lý vốn một cách có hiệuquả, doanh nghiệp cần phải phân loại vốn Tùy theo loại hình doanh nghiệp và đặcđiểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức phù hợp nhất chodoanh nghiệp của mình Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại như theo nguồnhình thành, theo phương thức chu chuyển, theo thời gian huy động và sử dụng vốn Tuỳ theo mỗi tiêu thức phân loại mà vốn của doanh nghiệp có các loại khácnhau:
- Phân loại theo nguồn hình thành thì vốn của doanh nghiệp bao gồm 2 loại
chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc về các
chủ sở hữu của doanh nghiệp Nếu chia nhỏ hơn thì vốn chủ sở hữu bao gồm các bộphận như: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, vốn do phát hành cổ phiếu mới Còn nợ phải trả là phần vốn không thuộc sở hữu của các chủ sở hữu của doanhnghiệp, bao gồm các khoản vốn chiếm dụng và nợ vay
- Phân loại theo phương thức chu chuyển thì vốn của doanh nghiệp bao gồm 2
loại là vốn cố định và vốn lưu động Vốn cố định là phần vốn dùng để đầu tư vào tài
sản cố định của doanh nghiệp Đây là các tài sản có thời gian sử dụng dài, tham giavao nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, thường có giá trị lớn Còn vốn lưu động làphần vốn dùng để đầu tư vào tài sản lưu động của doanh nghiệp Tài sản lưu động làcác tài sản có thời gian sử dụng ngắn, chỉ tham gia vao một chu kỳ sản xuất vàthường có giá trị nhỏ Cách thức phân loại nay rất quan trọng bởi vì vốn lưu động
Trang 25và vốn cố định có hình thái tồn tại và vai trò khác nhau trong quá trình sản xuất, do
đó cần có các cơ chế quản lý khác nhau
- Phân loại theo thời gian thì vốn được chia thanh vốn ngắn hạn và vốn dài hạn.
Vốn ngắn hạn là vốn có thời hạn dưới 1 năm, còn vốn dài hạn là vốn có thời hạn từ
1 năm trở lên Vốn chủ sở hữu được coi là vốn dài hạn
1.3.1.3 Vai trò của vốn trong DN
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với DN nói chung và DNNVV nóiriêng Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thanh lập một doanh nghiệp và tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình DN, vốn phản ánhnguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong quản lý tài chính,các DN cần chú ý quản lý việc huy động và sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởngqua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả tài chính
- Điều kiện tiên quyết để thành lập DN
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một DN Về mặt pháp lý, mỗi
DN khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và phải lớn hơn hoặc bằngmức vốn pháp định do Nha nước quy định đối với lĩnh vực kinh doanh đó Như vậyvốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của DN trước pháp luật
Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loạihình doanh nghiệp Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề
có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm, Kinh doanh vàng và Kinhdoanh tiền tệ
Đối với các DN thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không quy định giá trịvốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ hàng triệu đếnhàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập DN
- Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hanh bất kỳ quá trình và loạihình sản xuất kinh doanh nào Điều này được thể hiện rõ trong hàm sản xuất cơ bản:
P = F(K, L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản xuất, bên cạnhcác yếu tố lao động (L) và công nghệ (T) Hơn nữa, trong hàm sản xuất nay thì vốn
Trang 26có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao động và công nghệ có thể mua đượckhi có vốn.
Sau khi thành lập, DN phải tiến hành sản xuất kinh doanh
Hoạt động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắmnguyên vật liệu, máy móc; trả lương Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoàinguồn vốn của DN Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu cầu của hoạtđộng sản xuất kinh doanh thì DN sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quỹ Cáchoạt động hàng ngày của DN tạm thời bị đình trệ, suy giảm Nếu tình hình nàykhông được khắc phục kịp thời, DN sẽ rơi vào tình trạng khó khăn tài chính triềnmiên; hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn; tâm lý cán bộ công nhân viênhoang mang; mất uy tín với bạn hàng, chủ nợ và NH Những khó khăn này có thểnhanh chóng đưa công ty đến kết cục cuối cũng là phá sản, giải thể hoặc bị sát nhậpvới công ty khác
- Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh
Vốn không chỉ giúp DN duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn giúp
DN mở rộng và phát triển Trong quá trình phát triển của mình, DN luôn mongmuốn mở rộng sản xuất kinh doanh, giữ vững và vươn lên trong thị trường Để làmđược điều đó, đòi hỏi DN phải liên tục đổi mới, đầu tư, tái đầu tư, cải tiến máy móc,thiết bị, công nghệ, hệ thống phân phối sản phẩm Kỷ nguyên của công nghệ và sựtăng trưởng kinh tế mạnh mẽ càng tạo sức ép cho DN, buộc phải liên tục làm mớimình, đổi mới không ngừng nếu không muốn giẫm chân tại chỗ hay bị tụt hậu Đểlàm được tất cả những công việc đó DN không thể không cần đến nguồn vốn đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong các DN
ở Việt Nam hiện nay là rất lớn Nhiều DN do không có nguồn vốn bổ sung kịp thời,
đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của mình trên thị trường Vốn còn là nhân tố cực kỳquan trọng giúp DN nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Vốn khôngnhững là cơ sở để DN có thể nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lướiphân phối mà còn có thể giúp DN vượt qua các đối thủ cạnh tranh hay hơn nữa là
Trang 27loại bỏ họ bằng các chính sách marketing hiệu quả (tăng cường quảng cáo, giảmgiá, khuyến mại ).
Như vậy, vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa DN Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một cách rõ ràng, từ đó phải
có một chính sách huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả để có thể tồn tại và khôngngừng phát triển trên thương trường
1.3.2 Cơ sở hình thành nguồn vốn trong DNNVV
Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của DN là những nguồn lực tài chính cótrong nền kinh tế, được DN huy động, khai thác bằng nhiều phương pháp, hìnhthức, cơ chế khác nhau nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động kinhdoanh trước mắt và lâu dài Như vậy, một cấu trúc vốn an toàn ổn định, hợp lý, linhhoạt sẽ mang lại sự phát triển năng động và hiệu quả cho DN Nếu xét trên nhữngtiêu chí khác nhau sẽ có những cơ sở hình thành vốn khác nhau:
- Căn cứ phạm vi tài trợ
+ Nguồn vốn bên trong: chủ yếu trích lập từ lợi nhuận có được từ kết quả kinh
doanh của DN
+ Nguồn vốn bên ngoài: hình thành từ nguồn vốn liên doanh, liên kết, phát
hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, tín dụng NH…
- Căn cứ thời gian tài trợ
+ Nguồn vốn tài trợ ngắn hạn: có được từ tín dụng thương mại, các khoản
chiếm dụng về tiền lương, tiền thuế, tín dụng ngân hàng, các khoản phải trả khác…
+ Nguồn vốn dài hạn: hình thành từ tín dụng NH dài hạn, phát hành trái
phiếu, huy động vốn góp cổ phần, liên doanh, bổ sung vốn từ lợi nhuận…
- Căn cứ vào tính chất sở hữu nguồn tài chính
+ Nguồn vốn chủ sở hữu doanh nghiệp: là vốn đóng góp ban đầu của các chủ
sở hữu DN, vốn bổ sung bằng cách kết nạp thêm các thành viên mới, vốn tài trợ từlợi nhuận sau thuế
+ Nguồn vốn đi vay và chiếm dụng: khai thác từ nguồn vốn tín dụng NH, tín
dụng thương mại, phát hành trái phiếu DN, các nguồn chiếm dụng khác…
Trang 28- Căn cứ vào hình thức huy động vốn
+ Nguồn huy động dưới dạng tiền.
+ Nguồn huy động dưới dạng tài sản hữu hình hoặc vô hình.
- Căn cứ vào tính pháp lý
+ Vốn huy động từ thị trường chính thức
+ Vốn huy động từ thị trường phi chính thức như tín dụng nặng lãi, góp vốn
với pháp nhân không chính thức để rửa tiền hoặc trốn thuế
1.3.3 Các hình thức huy động vốn trong DNNVV
Để chủ động kinh doanh theo các phương án đầu tư đã chọn, các DN phảichủ động về nguồn vốn Do đó, việc xác định quy mô lựa chọn nguồn cung cấp vốnkinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng Trong nền kinh tế thị trường, một DN hoạt
động chủ yếu dựa vào hai nguồn vốn: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn Nợ phải trả.
Tương ứng với mỗi nguồn có những cách huy động vốn khác nhau
- Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, DN huy động theo các phương pháp sau:
+ Huy động vốn góp ban đầu của các chủ sở hữu: đây là nguồn vốn ban đầu
do các chủ sở hữu DN trực tiếp đầu tư khi thành lập DN Tuỳ theo loại hình sở hữu
của DN mà nguồn vốn này được tạo lập theo các hình thức khác nhau Cụ thể: DN
Nhà nước thì do ngân sách Nhà nước cấp vốn; DN sở hữu một chủ thì vốn ban đầu
là do chính chủ sở hữu đầu tư; các DN thuộc sở hữu tập thể thì vốn đầu tư ban đầuđược hình thành từ sự tham gia đóng góp của các thành viên cổ đông
Để huy động được nguồn vốn này một cách hiệu quả, DN có thể vận độngcác nguồn tiết kiệm nhàn rỗi từ người thân, bạn bè… Ngoài ra, DN cần có phương
án kinh doanh khả thi và hấp dẫn nhằm thu hút các thành viên góp vốn
+ Huy động vốn từ lợi nhuận sau thuế: trong quá trình kinh doanh, DN có thể
làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu bằng thình thức tái đầu tư lợi nhuận thu được.Nghĩa là lợi nhuận sẽ được đưa trở lại quá trình kinh doanh nhằm tăng thêm nuồnvốn chủ sở hữu Tuy nhiên, nguồn vốn này phụ thuộc vào quy mô lợi nhuận kiếmđược trong quá trình kinh doanh của DN
Trang 29Để có được nguồn vốn từ lợi nhuận sau thuế, DN sẽ không chia lợi nhuậnhoặc chia theo tỷ lệ, phần lợi nhuận có được sẽ tái đầu tư thành vốn kinh doanh.Mặt khác, DN có thể chia lợi nhuận dưới hình thức cổ phiếu cho cổ đông Phươngpháp này vừa tăng nguồn vốn kinh doanh, vừa tạo cho các thành viên góp vốn cảmgiác an toàn vì đã nhận được kết quả từ đồng vốn mình bỏ ra.
+ Huy động nguồn vốn bổ sung bằng cách kết nạp thêm thành viên mới: khi
cần tăng thêm quy mô kinh doanh, các DN thuộc loại hình công ty có thể huy độngthêm vốn bằng cách kêu gọi thêm các nhà đầu tư mới Tuy nhiên, hình thức huyđộng này sẽ dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư cũ phải phân chia quyền kiểm soát
DN và lợi ích kinh tế cho các nhà đầu tư mới
Để huy động nguồn vốn này có hiệu quả, DN cần cân nhắc thận trọng giữa
sự tăng quy mô hoạt động với sự chia sẻ lợi nhuận; giữa sự tăng quy mô hoạt độngvới lượng vốn cần tăng để tránh tình trạng lãng phí vốn và giảm lợi nhuận đượcchia
Tóm lại nguồn vốn chủ sở hữu có những ưu điểm sau như: DN được chủ
động trong đầu tư lâu dài mà không bị áp lực về thời gian sử dụng; tạo ra năng lựctài chính mang lại sự an toàn, uy tín trong kinh doanh; tạo ra khả năng huy động cácnguồn vốn khác
- Hình thành vốn cho DN từ nguồn Nợ phải trả: là số tiền doanh nghiệp đi chiếm
dụng hoặc vay mượn làm vốn kinh doanh, và phải cam kết thanh toán cho các chủ
sở hữu đó trong một thời gian nhất định Để bổ sung vốn cho kinh doanh, DN phải
huy động từ các hình thức:
+ Huy động từ vốn tín dụng ngân NH: vốn vay NH là một trong những
nguồn quan trọng để tài trợ vốn cho DN Do đặc điểm luân chuyển vốn trong quátrình kinh doanh là luôn tạo ra sự không ăn khớp về thời gian và quy mô giữa nhucầu vốn và khả năng tài trợ nên dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn Phần thiếu hụt nàychỉ có thể giải quyết bằng nguồn vốn vay NH Ngân hàng thương mại có thể cungcấp vốn tương ứng với thời gian và quy mô mà DN có nhu cầu vay dưới các hình
Trang 30thức như: vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, vay có đảm bảo (tín chấp, thế chấp), vay trả góp
+ Huy động vốn từ tín dụng thương mại: nguồn vốn này hình thành trong
quan hệ mua bán chịu giữa các doanh nghiệp với nhau Đây là loại hình tín dụngngắn hạn, nó thường được thực hiện giữa các DN khi có sự tín nhiệm và thiết lậpđược quan hệ cung ứng thường xuyên Do chu kỳ sản xuất kinh doanh và luânchuyển vốn giữa các DN có sự tách biệt nên sẽ dẫn đến hiện tượng, trong cùng mộtthời điểm, một DN đang có sẵn một lượng hàng cần bán trong khi một DN khácđang cần mua lượng hàng ấy Trong trường hợp này, trên cơ sở quen biết, tín nhiệmnhau, họ có thể thỏa thuận quan hệ vay mượn
Như vậy, người mua dù chưa đủ tiền nhưng vẫn có được lượng hàng cần và
sẽ hoàn trả cho người bán theo thời hạn thoả thuận
+ Nguồn vốn từ hoạt động cho thuê tài chính (CTTC): thuê mua tài chính là
một phương thức tài trợ tín dụng trung hạn hay dài hạn không thể hủy ngang Theo
đó, người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê hoặcngười cho thuê cung cấp tài sản của họ cho người đi thuê Như vậy người cho thuênắm giữ quyền sở hữu pháp lý, còn người đi thuê ngoài các lợi ích như gia tăngnăng lực sản xuất, tiết kiệm thời gian và công sức để hoàn thành thủ tục mua tài sảnnếu không đi thuê tài chính… còn giải quyết vấn đề đổi mới công nghệ Ngoài ra,phương thức này có ưu điểm như bên đi thuê nhận tài sản (có thể tới 100% vốn vay)
mà không phải thế chấp giá trị tài sản, còn bên cho thuê thì hạn chế được rủi ro,đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích, an toàn Theo hình thức này, doanhnghiệp cần vốn trang bị máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sảnkhác… sẽ được các Công ty CTTC đáp ứng
+ Quỹ đầu tư mạo hiểm (ĐTMH): vốn mạo hiểm là khoản đầu tư do những
tổ chức chuyên môn hoá thực hiện tới những hãng tăng trưởng cao, rủi ro cao vàthường là có công nghệ cao đang cần vốn cổ phần để tài trợ cho phát triển sản phẩmhoặc tăng trưởng Vốn mạo hiểm được cung cấp dưới nhiều hình thức khác nhau,trong đó điển hình nổi bật là việc tài trợ vốn thông qua các quỹ ĐTMH Về bản
Trang 31chất, đó là một quỹ đầu tư nhưng mục tiêu hoạt động của họ là nhắm vào những dự
án có độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn mức thông
thường
Như vậy, quỹ ĐTMH chuyên đầu tư vào các DNNVV mới khởi sự nhằm
mong đợi một gia tăng thu nhập cao hơn mức bình quân để bù đắp cho rủi ro caohơn mức bình quân của khoản đầu tư bỏ ra cho DNNVV, là loại hình DN có mức
độ rủi ro cao trong giai đoạn khởi sự, nhưng lại rất linh hoạt, năng động trong quátrình hoạt động kinh doanh và có hiệu quả kinh doanh cao
+ Nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước: là một trong các kênh huy động vốn của
DNNVV, các nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước hiện nay được cung cấp cho cácdoanh nghiệp thông qua các Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu Các quỹnày là các tổ chức tài chính của Nhà nước Việt Nam, được thành lập với mục đíchcung cấp tín dụng ưu đãi cho các dự án vay vốn đầu tư nếu đáp ứng một số điềukiện nhất định
+ Các nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp như tiền lương, bảo hiểm xã hội, tiền thuế chưa nộp, các khoản thanh toán khác là những nguồn vốn mà DN có thể
sử dụng trong một thời gian ngắn nhằm giải quyết phần nào nhu cầu vốn trong quátrình kinh doanh Tuy nhiên, với việc chiếm dụng này, phải lưu ý đến khả năngthanh toán kịp thời các khoản nợ khi đến hạn, các quy định về pháp luật mà DNphải tuân thủ như thời hạn nộp thuế, xử phạt…
Tóm lại, chương một của luận văn là sự khái quát về DNNVV Khái niệm, phân loại và đặc điểm chung của DNNVV cho ta thấy những nét cơ bản về loại hình DN đang chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế DNNVV Việt Nam với quá trình phát triển lâu dài của mình cùng với sự chuyển mình đi lên của đất nước, đang dần từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta
Vốn trong DN đóng vai trò quyết định trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của DN Thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là một thực trạng phổ biến trong mọi nền kinh tế, trong mọi DN, điều này càng đặc biệt thể hiện rõ ở loại hình DNNVV với quy mô vốn rất nhỏ Việc đưa ra những khái quát cơ bản về
Trang 32nguồn vốn cũng như các hình thức huy động vốn cho DN là cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng và các giải pháp hỗ trợ cho hoạt động huy động vốn trong DNNVV.
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tổng quan chung về các DNNVV Việt Nam hiện nay
2.1.1 Vốn của các DNNVV
Hiện nay các DNNVV gặp phải tình trạng khó khăn về vốn để mở rộng sản
xuất kinh doanh Theo Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chỉ
có 32,38% doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tiếp cận được các nguồn của cácngân hàng; 35,24% khó tiếp cận và 32,38% không tiếp cận được (số liệu năm2007)
Theo số liệu tại Bảng 2.1 tổng Nợ phải trả (nguồn vốn vay) của các DN năm
2008 là 4.350.914 tỷ đồng, trong đó khối DN Nhà nước chiếm 45%, khối DN ngoàiNhà nước là 40%, còn lại là khối DN có vốn đầu tư nước ngoài 15% Nhìn về con
số ta sẽ nghĩ tỷ trọng về vốn vay của DN Nhà nước và DN ngoài Nhà nước là tươngđối cân bằng Nhưng thực tế nếu xét về vốn vay bình quân của một DN thì có sựmất cân bằng thấy rõ: số DN Nhà nước năm 2008 là 3494 DN chiếm 45% tổng vốnvay, còn số DN ngoài Nhà nước là 147.316 DN có được 40% trong tổng vốn vay.Điều lưu ý ở đây là số DNNVV chiếm tới hơn 97% tổng số các DN và nằm đại bộphận ở khối DN ngoài Nhà nước Đại diện tiêu biểu cho DNNVV là các DN tưnhân và DN tập thể thì tỷ trọng vốn vay cũng chỉ chiếm 2% và 1% trong tổng vốnvay
Sự mất cân bằng vốn vay còn thể hiện ở tỷ lệ Nợ/ Vốn chủ sở hữu: Tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu của khối DN Nhà nước đạt 3,38 lần (làm tròn), trong khi đó củakhối DN ngoài Nhà nước là 1,79 lần và khối DN có vốn đầu tư nước ngoài là 1,15lần Điều đó thể hiện các DN Nhà nước vay được nhiều vốn và “biết cách vay vốn”còn các DN ngoài Nhà nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài thì “tự chủ đượcnguồn tài chính” hay “không biết cách vay vốn”
Trang 34Bảng 2.1: Nợ phải trả và Nguồn vốn chủ sở hữu các DN năm 2008
Đơn vị: Tỷ đồng
Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ Nợ /Vốn chủ sở hữu
Trang 35với DN Nhà nước Vốn chủ sở hữu của các DN tập thể và tư nhân chỉ đạt lần lượt là1% và 4% trong tổng chủ sở hữu Điều đó là phù hợp quy luật, bởi do đặc điểm củacác DNNVV là quy mô nguồn vốn rất nhỏ (do vậy mới xếp vào loại hình DNNVV).
2.1.2 Thiết bị công nghệ sử dụng
Trình độ thiết bị, công nghệ trong các DNNVV rất lạc hậu Chỉ trừ một số ítcác doanh nghiệp mới thành lập, còn phần lớn sử dụng thiết bị lạc hậu tới 20-50năm so với các nước trong khu vực Năng lực công nghệ và kỹ thuật hạn chế, trang
bị vốn thấp (chỉ bằng 3%) mức trang bị kỹ thuật trong các doanh nghiệp côngnghiệp lớn Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị thấp Nếu lấy thành phố Hồ Chí Minh -trung tâm công nghệ cao nhất cả nước làm ví dụ thì tỷ lệ này cũng chỉ là khoảng10% một năm tính theo vốn đầu tư Trong khi đó, nhiều sản phẩm công nghệ hiệnnay như các sản phẩm điện tử, viễn thông, hóa thực phẩm có chu kỳ sống rất ngắn.Với tốc độ đổi mới máy móc thiết bị như trên thì không tránh khỏi tụt hậu; do đó
mà năng suất thấp, giá thành cao, rất khó cạnh tranh trên thị trường trong nước vàquốc tế Có thể thấy tình hình tại thành phố Hồ Chí Minh như Bảng 2.2
Bảng 2.2: Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị đang sử dụng tại các DNNVV
ở TP Hồ Chí Minh so với trình độ chung của thế giới
Đơn vị: %
Loại hình doanh
nghiệp
Trình độ công nghệ , máy móc, thiết bị (%)
Hiện đại Trung bình Lạc hậu, quá lạc
Trang 36- Thiếu vắng chiến lược công nghệ cho DNNVV, do đó đổi mới công nghệ
diễn ra một cách tự phát, cá biệt, thiếu định hướng, hướng dẫn và hỗ trợ của Nhànước hoặc của doanh nghiệp lớn
- Thiếu thông tin hướng dẫn và điều kiện tiếp cận công nghệ, năng lực tài
chính hạn hẹp Việc đổi mới công nghệ vẫn chỉ là việc làm tự thân của DNNVV
- Tiến trình thay đổi công nghệ diễn ra chậm chạp, chưa tương xứng với tốc
độ gia tăng của thị trường Việc đổi mới công nghệ chỉ tập trung vào một số ngành
và chủ yếu ở các thành phố lớn, các ngành này đã đạt được những tiến bộ nhất định
về công nghệ và từ đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường (ngành may mặc,thủ công mỹ nghệ, hóa mỹ phẩm, chất tẩy rửa, sản xuất đồ nhựa, sản xuất công cụchế biến lương thực, đồ gia dụng )
- Thiếu những giải pháp đồng bộ trong việc tiếp thu công nghệ ngoại nhập,
thiếu thông tin tư vấn, trình độ và tổ chức đánh giá thẩm định cho nên khoảng 70%máy móc thiết bị mua về ở mức trung bình, trong đó một bộ phận đáng kể ở dạngsecond-hand Việc quản lý công nghệ nhập còn nhiều sơ hở, quy chế giám địnhcông nghệ chưa chặt chẽ gây tổn thất lớn về kinh tế
- Vai trò hướng dẫn quản lý của các ngành kinh tế - kỹ thuật, của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tư vấn về công nghệ còn thiếu và lúng túng.
Trang 37Cơ chế chính sách, cơ chế chuyển giao công nghệ không đồng bộ; quy trình, quyphạm, thiếu sự hỗ trợ trong chính sách tài chính tín dụng do đó DNNVV không đủsức đổi mới công nghệ hoặc tiếp thu công nghệ mới kém hiệu quả, cơ chế kiểm soátchuyển giao công nghệ chưa chặt chẽ.
- Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu triển khai với các DNNVV,
tiềm năng nghiên cứu của các viện, trung tâm, các trường đại học chưa được khaithác phục vụ cho các chương trình đổi mới công nghệ, thiếu sự hỗ trợ về công nghệgiữa các doanh nghiệp lớn với DNNVV
- Thiếu đội ngũ chuyên gia, công nhân lành nghề, thợ bậc cao, những nhà hoạch định chính sách và tổ chức ứng dụng công nghệ mới.
- Thiếu những điều kiện chuẩn bị cho quá trình thay đổi công nghệ một cách
cơ bản, đồng bộ để thích ứng với sự biến đổi của thị trường khi hội nhập đầy đủ với
các nước ASEAN và thế giới
Kế đó, còn có một số nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến hoạt độngchuyển giao công nghệ của các DNNVV như:
- Các doanh nghiệp chưa được phép khấu hao nhanh máy móc thiết bị do đó
chưa khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ
- Việc yêu cầu các hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được Chính phủ phê chuẩn với các thủ tục, quy định hiện hành gây khó khăn, phiền hà và mất rất
nhiều thời gian cho các doanh nghiệp Và cũng các chính quy định hiện hành làmcho các DNNVV không đủ điều tài chính mua máy móc thiết bị mới cũng không thểnâng cao công nghệ của mình bằng cách nhập máy móc thiết bị cũ nhưng phù hợpvới năng lực sản xuất của họ
- Các chi phí liên lạc viễn thông quốc tế và Internet còn quá cao Đây là một
trong những cản trở đầu tiên để tiếp cận với thông tin thị trường công nghệ quốc tế
- Các thủ tục cồng kềnh, tốn kém trong việc cấp thị thực nhập cảnh cho các chuyên gia nước ngoài, những người chuyển tải công nghệ vào Việt Nam, và thuế
thu nhập cao mà các chuyên gia này phải chịu so với các nước Đông Nam á đãkhông khuyến khích họ đến Việt Nam
Trang 38- Nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện nay của các DNVVN đang phải chịu các mức thuế suất cao Trong khi đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại
được miễn thuế nhập khẩu
2.1.3 Trình độ nhân lực, lao động và quản lý
Nhìn chung lao động trong các DNNVV ít được đào tạo cơ bản qua cáctrường lớp chính thống mà chủ yếu theo phương pháp truyền nghề, trình độ văn hóathấp, đặc biệt là số lao động trong các cơ sở kinh doanh nhỏ Sở dĩ như vậy là do cơcấu lao động đã qua đào tạo rất bất hợp lý, cụ thể là: Tỷ lệ giữa đào tạo đại học-trung học - công nhân kỹ thuật là 1-1,5-2,5 trong khi ở các nước đang phát triểntrong khu vực tỷ lệ là 1- 4 -10 Điều đó dẫn đến tổng số lao động qua đào tạo đã ít,tổng số công nhân kỹ thuật lại càng ít hơn so với nhu cầu thực tế Hơn nữa, chấtlượng dạy nghề lại yếu, nguyên nhân là do trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, đội ngũgiáo viên, giáo trình, giáo án đều rất thiếu thốn và lạc hậu, không đáp ứng được yêucầu
- Về chủ doanh nghiệp: Thực trạng trình độ của chủ DNNVV ở nước ta được
biểu hiện trên một số mặt sau đây:
+ Về cơ cấu trình độ của chủ DNNVV: Theo kết quả điều tra thì 30% chủ
doanh nghiệp xuất thân từ công nhân, viên chức thuộc khu vực kinh tế nhà nướcchuyển ra Đây là đội ngũ phần nào đã có kinh nghiệm trong sản xuất, một số ít cótay nghề và hiểu biết về quản lý kinh tế Động cơ hoạt động sản xuất - kinh doanh là
để tự tạo việc làm, có thu nhập cho cuộc sống
Khoảng 60% đã từng là chủ doanh nghiệp nhỏ hoặc đã hoạt động ở khu vựckinh tế cá thể, tư nhân, có truyền thống của gia đình Đây là lực lượng khá lớn, cókinh nghiệm nghề nghiệp nhưng trình độ quản lý sản xuất- kinh doanh, tài chính, kếtoán còn thiếu Khoảng 10% là học sinh, sinh viên các trường phổ thông, cáctrường trung học, đại học tìm được việc làm, có vốn hoặc vay vốn tự lập doanhnghiệp sản xuất hoặc kinh doanh
Trang 39+ Về trình độ học vấn: 40% chủ doanh nghiệp có trình độ lớp 7; 35% trình
độ lớp 10 (hệ cũ) và 25% có trình độ lớp 12 (hệ mới) Trình độ này còn được chứngminh qua số liệu điều tra 300 doanh nghiệp nhỏ ở 3 thành phố: Hải Phòng, ĐàNẵng, thành phố Hồ Chí Minh của Viện khoa học lao động Nhật Bản kết hợp vớiViện khoa học lao động của Bộ lao động- thương binh và xã hội Việt nam; hơn 70%
có trình độ cấp II (hệ cũ) và khoảng 25% có trình độ cấp III trở lên
+ Về trình độ chuyên môn: Trong số các chủ doanh nghiệp được điều tra, cứ
100 người thì có một người có trình độ trên đại học, 3 người có trình độ đại học, 14người có trình độ trung học hoặc tương đương Hơn nữa, trong số trình độ trung học
và đại học thì chủ doanh nghiệp có trình độ tay nghề đào tạo phù hợp với nghề hoạtđộng sản xuất - kinh doanh thấp, chỉ khoảng 7% Khoảng 30% chủ doanh nghiệp đãhoạt động kinh tế tư nhân, mặc dù chưa có nghề nhưng nhờ chính sách đổi mới đãnắm cơ hội tạo lập cơ sở riêng hoặc phát triển doanh nghiệp thừa kế của gia đình
Số chủ doanh nghiệp này phần lớn hoạt động ở khu vực dịch vụ, đặc biệt là maymặc, dịch vụ văn hóa, sửa chữa cơ khí, điện tử Một số các chủ doanh nghiệp có taynghề phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp nhưng ở trình độ thấp, chủ yếu dựavào đào tạo từ cơ sở dạy nghề tư nhân hoặc kèm cặp qua thực tế, hay được gia đìnhtruyền lại Có một số chủ doanh nghiệp loại này đã làm trong khu vực kinh tế Nhànước, nhưng khi lập nghiệp, kiến thức cũ không đáp ứng được mà phải tự học lại,hoặc nâng cao kiến thức nghề nghiệp qua các lớp bồi dưỡng ngắn Một số ít trongcác chủ doanh nghiệp đã qua quá trình đi làm cho các chủ doanh nghiệp khác từ khicòn ít tuổi, tự học nghề trong thực tế, sau đó trưởng thành, có vốn và tự đứng ra tạolập doanh nghiệp
Qua phần thực trạng trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp nêu trên, có
thể kết luận rằng đội ngũ các chủ doanh nghiệp có sự bất cập về trình độ Nguyên
nhân chủ yếu của tình hình này, trước hết là do sự chuyển biến về cơ chế quản lý,các DNVVN đang ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành, phát triển, việc đào tạobồi dưỡng chưa được chú ý đúng mức hoặc đã được chú ý nhưng chưa triệt để
Trang 40- Về lao động phổ thông trong các DNNVV: Lao động trong các DNNVV chủ
yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiếu kỹ năng, trình độ văn hoá thấp,tình trạng này còn trầm trọng hơn đối với số lao động trong các cơ sở kinh doanhnhỏ Số liệu điều tra cho thấy chỉ có 5,13% lao động trong khu vực ngoài quốcdoanh có trình độ đại học, trong khi đó chủ yếu tập trung vào các công ty tráchnhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần, 74,8% lao động chưa tốt nghiệp phổ thôngtrung học