Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá các nhân tố tác động đến yếu tố năng suất tổng hợp Total Factors Productivity: TFP của các doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV ở Việt Nam trong năm 2008.. B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Đặng Thị Mỹ Nương
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN YẾU TỐ NĂNG SUẤT TỔNG HỢP
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở VIỆT NAM NĂM 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Đặng Thị Mỹ Nương
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN YẾU TỐ NĂNG SUẤT TỔNG HỢP
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở VIỆT NAM NĂM 2008
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Trang 3Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên Đặng Thị Mỹ Nương
Trang 4Để hoàn thành luận văn tác giả đã được sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện của nhiều người, sau đây là lời cảm ơn chân thành của tác giả:
Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn, TS Nguyễn Hoàng Bảo, trưởng khoa Kinh tế của trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh về sự hướng dẫn nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thành tốt hơn
Xin gửi lời cảm ơn đến Th.S Nguyễn Xuân Lâm, giảng viên của trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Thầy đã gợi ý cho tác giả một hướng nghiên cứu thật hấp dẫn và chia sẻ với tác giả những tài liệu tham khảo rất hữu ích
Xin gửi lời cảm ơn đến TS Phạm Khánh Nam, phó trưởng khoa Kinh tế của trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Thầy đã cung cấp cho tác giả bộ dữ liệu doanh nghiệp nhỏ và vừa Bên cạnh đó, thầy còn cho tác giả những ý kiến đóng góp quý báu trong giai đoạn xây dựng ý tưởng nghiên cứu
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến ba và mẹ, vì đã cho tác giả những điều kiện thuận lợi nhất từ vật chất đến tinh thần để tác giả hiện thực hóa ước mơ của mình Xin cảm ơn chị gái ở phương xa đã luôn động viên và cho tác giả niềm tin, cũng xin gửi lời cảm ơn đến em gái và em trai đã chia sẻ với tác giả công việc nhà,
và cảm ơn cháu gái bé nhỏ đã cho tác giả thật nhiều niềm vui giúp tác giả có nhiều động lực để hoàn thành luận văn
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
TÓM TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Cơ sở xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 5
1.2 Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) 6
1.3 Các nhân tố tác động đến TFP 8
1.4 Các nghiên cứu liên quan 13
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Lựa chọn hàm sản xuất 16
2.2 Đo lường tổng năng suất các yếu tố 18
2.3 Mô hình nghiên cứu 23
2.4 Mô tả biến 23
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN DNNVV VÀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 27
CHƯƠNG 4: ƯỚC TÍNH TỔNG NĂNG SUẤT CÁC YẾU TỐ 36
4.1 Khát quát bộ dữ liệu 36
4.2 Kết quả ước tính TFP cho các DNNVV 38
4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 45
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Các ký hiệu từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
Công ty TNHH Limited liability company Công ty
trách nhiệm hữu hạn
Trang 7Bảng 1.1: Tiêu thức phân loại DNNVV ở Việt Nam 5
Bảng 2.1: Tóm tắt các yếu tố kỳ vọng có tác động đến TFP của doanh nghiệp 25
Bảng 3.1: Số lượng các DNNVV đăng ký kinh doanh qua các giai đoạn 28
Bảng 3.2: Các chỉ số kinh tế cơ bản của Việt Nam 2008 29
Bảng 3.3: Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 theo giá so sánh 1994 30
Bảng 4.1: Khát quát dữ liệu nghiên cứu theo loại hình và tỉnh/thành 37
Bảng 4.2: Khát quát dữ liệu nghiên cứu theo loại hình và ngành sản xuấ 37
Bảng 4.3: Đặc điểm giá trị gia tăng, tài sản hữu hình 39
Bảng 4.4: Số lao động thường xuyên cuả doanh nghiệp 39
Bảng 4.5: Thống kê mô tả các biến trong hàm sản xuất Cobb - Douglas 40
Bảng 4.6: Mức độ tương quan giữa các biến trong hàm sản xuất 40
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy hàm sản xuất Cobb - Douglas 41
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy sau khi khắc phục phương sai thay đổi 42
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 43
Bảng 4.10: Giá trị TFP ước tính được từ hàm sản xuất Cobb-Douglas 46
Bảng 4.11: Thống kê mô tả tổng năng suất các yếu tố 48
Bảng 4.12: Mô tả tuổi của doanh nghiệp 49
Bảng 4.13: Thống kê mô tả tuổi của doanh nghiệp 49
Bảng 4.14: Kiểm định tương quan cho yếu tố tuổi của doanh nghiệp 50
Bảng 4.15: Mô tả hiệu quả sử dụng năng lượng của doanh nghiệp 50
Bảng 4.16: Thống kê mô tả mức độ sử dụng năng lượng của doanh nghiệp 51
Bảng 4.17: Kiểm định tương quan cho yếu tố mức độ sử dụng năng lượng 51
Bảng 4.18: Mô tả cho yếu tố định hướng xuất khẩu 52
Bảng 4.19: Kiểm định phương sai đồng nhất cho biến định hướng xuất khẩu 52
Bảng 4.20: Kiểm định t-test cho biến định hướng xuất khẩu (trường hợp phương sai không đồng nhất) 52
Bảng 4.21: Mô tả cho yếu tố loại hình doanh nghiệp 53
Bảng 4.22: Kiểm định phương sai đồng nhất cho biến loại hình doanh nghiệp 53
Trang 8sai không đồng nhất) 54
Bảng 4.24: Mô tả mạng lưới quan hệ xã hội của doanh nghiệp 54
Bảng 4.25: Kiểm định tương quan cho biến vốn xã hội của doanh nghiệp 54
Bảng 4.26: Mô tả số lần chi cho các khoản chi không chính thức 55
Bảng 4.27: Mục đích của các khoản chi phí không chính thức 55
Bảng 4.28: Kiểm định tương quan cho số lần chi các khoản chi không chính thức 56 Bảng 4.29: Thống kê mô tả cho biến khu vực hoạt động của doanh nghiệp 56
Bảng 4.30: Kiểm định phương sai đồng nhất cho biến khu vực hoạt động 57
Bảng 4.31: Kiểm định Kruskal – Wallis cho biến khu vực hoạt động 57
Bảng 4.32: Tóm tắt kết quả kiểm định tác động của các yếu tố đến TFP 58
Bảng 5.1: Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu 59
Bảng 5.2: Kết quả hồi quy mô (sau khi khắc phục phương sai thay đổi) 60
Bảng 5.3: Kiểm định đa cộng tuyến cho mô hình nghiên cứu 61
Trang 9Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện lợi thế kinh tế theo quy mô và đường cong học hỏi 9
Hình 1.2: TFP và các yếu tố tác động đến TFP 12
Hình 4.1: Biểu đồ phần dư theo giá trị dự đoán của biến phụ thuộc 44
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện phân phối bình thường của biến phụ thuộc (lntfp) 45
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện giá trị TFP theo hình thức doanh nghiệp 46
Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện giá trị TFP theo tỉnh/thành phố 47
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện giá trị TFP theo ngành 47
Hình 5.1: Biểu đồ phần dư theo giá trị dự báo của biến phụ thuộc 61
Trang 10Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá các nhân tố tác động đến yếu tố năng suất tổng hợp (Total Factors Productivity: TFP) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam trong năm 2008 Trong nghiên cứu này, phương pháp kinh
tế lượng được sử dụng trong cả hai giai đoạn ước tính Đầu tiên, hàm sản xuất Cobb – Douglas được hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để ước tính TFP Kết quả ước tính này cho thấy lao động là yếu tố có đóng góp lớn nhất và tương đối cao vào giá trị gia tăng của các doanh nghiệp, trong khi đó mức đóng góp của tài sản hữu hình lại thấp so với yếu tố lao động mặc dù các doanh nghiệp có lượng tài sản hữu hình tương đối cao Sau khi có được giá trị TFP, bài viết tiếp tục dùng phương pháp OLS hồi quy mô hình nghiên cứu để đánh giá các nhân tố tác động đến TFP Kết quả hồi quy cho thấy các doanh nghiệp sử dụng năng lượng hiệu quả sẽ có năng suất cao Chi phí không chính thức có tác động tích cực đến năng suất của doanh nghiệp Ngược lại, tuổi của doanh nghiệp lại có tác động tiêu cực đến TFP Một yếu tố khác là loại hình doanh nghiệp cũng có tác động đến năng suất của doanh nghiệp Bên cạnh đó, khu vực hoạt động của doanh nghiệp cũng được xem xét, các doanh nghiệp ở khu vực một (Hà Nội và Hồ Chí Minh) hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp ở khu vực hai (Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng và Nghệ An) và các doanh nghiệp ở khu vực hai lại hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp khu
vực ba (Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Long An)
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế, chính trị và xã hội là những vấn đề không thể tách biệt nhau Vừa chịu tác động từ hai yếu tố còn lại vừa giữ vai trò chi phối, kinh tế đã trở thành một yếu
tố vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia Một nền kinh tế vững mạnh sẽ giúp nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh trật tự trong và ngoài lãnh thổ Bên cạnh đó,
nó còn đảm bảo cuộc sống ấm no cho người dân và góp phần quyết định sự thành bại của chế độ xã hội mà quốc gia đó theo đuổi Đi tìm giải pháp để phát triển và tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề khiến các nhà hoạch định chính sách quan tâm Những năm gần đây, hợp tác kinh tế giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng đã mang đến cơ hội để các nước học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau vừa là cơ hội để mở rộng thị trường Cùng với đó là mức độ cạnh tranh ngày càng tăng cả yếu tố đầu vào lẫn đầu ra Nguồn lực dần trở nên khan hiếm và chi phí của chúng gia tăng Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng mất dần ưu thế Do đó, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu là giải pháp thay thế phù hợp trong điều kiện kinh tế hiện nay, cụ thể
là tăng mức đóng góp của TFP vào sản lượng đầu ra của quốc gia Không ngoài mục đích thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng, bài nghiên cứu này sẽ tìm hiểu về TFP của các DNNVV tại Việt Nam và đánh giá các nhân tố tác động đến nó
Một câu hỏi có thể được đặt ra, đó là tại sao đối tượng lại là các DNNVV Vấn
đề này xuất phát từ thực trạng của các DNNVV của Việt Nam Các doanh nghiệp này không chỉ chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số doanh nghiệp mà còn có vai trò không nhỏ đối với tổng thể kinh tế quốc dân và là nơi tạo ra phần lớn việc làm và góp phần bình ổn xã hội Theo kết quả điều tra tổng thể doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008, số lượng các DNNVV tính đến hết ngày 31/12/2008 đã lên đến
198152 doanh nghiệp, chiếm gần 96,34% tổng số doanh nghiệp; sử dụng khoảng 50,13% lao động xã hội; đóng góp gần 40% GDP; vốn chiếm 28,92%, doanh thu chiếm 22,07%; lợi nhuận chiếm 11,07% và nộp ngân sách nhà nước chiếm 17,46%
Trang 12Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của các DNNVV trong nước vẫn còn kém Chẳng hạn trình độ công nghệ thấp, chỉ có 10% hiện đại, 38% trung bình và 52% là lạc hậu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2%; đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chỉ khoảng từ 0,2% đến 0,3% tổng doanh thu (Nguyễn Thị Nhiễu, 2013) Chính vì công nghệ thấp này nên hiệu quả hoạt động thường không cao Bên cạnh đó, tiềm lực tài chính của các DNNVV vẫn còn yếu, phần lớn các DNNVV có tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn hoạt động ở mức thấp, nguồn vốn sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, số lượng các doanh nghiệp đi vay ngân hàng chiếm trên 50%, trong đó vốn tự có chỉ 36,25%, vốn vay ngân hàng chiếm tỷ trọng là 45,31%, còn lại 18,44% là các nguồn vốn khác (Nguyễn Thị Giang và Phạm Ngọc Phong, 2010) Ngoài ra, các DNNVV cũng yếu
về năng lực quản trị, chiến lược kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chiến lược phân phối, truyền thông và xúc tiến thương mại còn ở mức thấp; chi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại chỉ dưới 1% doanh thu (so với tỷ lệ 10 - 20% của doanh nghiệp nước ngoài) (Nguyễn Thị Nhiễu, 2013) Do đó, việc nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả hoạt động là vấn đề sống còn đối với các DNNVV Muốn đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể về thực trạng của các DNNVV, đặc biệt là yếu tố năng suất tồng hợp và các yếu tố tác động đến nó
Vì những lý do trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mang lại thông tin hữu ích cho những nhà hoạch định chính sách và các DNNVV để họ có những giải pháp thích hợp thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, từ
đó thúc đẩy tổng thể nền kinh tế Việt Nam phát triển
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của bài nghiên cứu là tìm ra các nhân tố có tác động đến TFP của các DNNVV để có những giải pháp hợp lý cải thiện năng lực sản suất cho các doanh nghiệp này Để đạt được mục tiêu đó bài nghiên cứu sẽ giải quyết các mục tiêu nhỏ như sau: Thứ nhất, bài viết sẽ ước tính TFP cho các DNNVV Thứ
Trang 13hai, bài viết sẽ lượng hóa các nhân tố tác động đến TFP vừa tính được trong bước một Và cuối cùng bài viết sẽ rút ra các hàm ý chính sách cho nghiên cứu này
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi: Nhân tố nào có tác động đến TFP của các DNNVV ở Việt Nam năm 2008 ?
4 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt kỹ thuật, phương pháp kinh tế lượng sẽ được sử dụng, thông qua việc hồi quy hàm sản xuất Cobb-Douglas, để tính TFP cho các DNNVV Để đánh giá các nhân tố tác động đến TFP, bài nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình hồi quy bội với biến phụ thuộc là TFP và các biến độc lập bao gồm tuổi, mức độ sử dụng năng lượng, định hướng xuất khẩu, vốn xã hội và chi phí không chính thức Ngoài ra, bài nghiên cứu còn có các biến kiểm soát là loại hình (hộ gia đình hay doanh nghiệp) và tỉnh/thành phố nơi doanh nghiệp hoạt động
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu chéo, thứ cấp được trích từ bộ số liệu điều tra DNNVV của Việt Nam năm 2009, do Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) thuộc
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Khoa kinh tế (DoE) của trường đại học Copenhagen cùng với đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam lên kế hoạch thực hiện
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, bài viết sẽ tập trung vào đánh giá các yếu tố tác động đến TFP của các DNNVV ở Việt Nam trong năm 2008
6 Kết cấu của bài nghiên cứu
Sau khi điểm qua phần giới thiệu sơ lược, chúng ta sẽ chuyển sang Chương một Chương một bài viết sẽ trình bày tất cả các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến chủ đề này Chương hai, cách thức đo lường TFP và mô
Trang 14hình nghiên cứu sẽ được xây dựng cụ thể Chương ba, bài viết sẽ khái quát lại những đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam Chương bốn sẽ tập trung thống kê mô tả các biến có tác động đến TFP Chương năm sẽ trình bày kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu và hàm ý chính sách của bài viết
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương này, bài viết sẽ trình bày tất cả các lý thuyết và nghiên cứu có liên quan Đây chính là căn cứ khoa học vững chắc đồng thời cũng là nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương sau Chương này
sẽ được trình bày theo bốn mục Đầu tiên, bài viết sẽ khát quát lại cơ sở xác định DNNVV tại Việt Nam Lý thuyết về TFP sẽ được trình bày trong mục tiếp theo Kế đến sẽ là các yếu tố tác động đến TFP Và cuối cùng là các nghiên cứu liên quan
1.1 Cơ sở xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Có nhiều quan điểm khác nhau về DNNVV, nguyên nhân là do tiêu thức dùng
để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên, trong nhiều tiêu chí phân loại đó có hai tiêu chí được sử dụng ở phần lớn các nước đó là quy mô vốn và số lượng lao động Ngoài ra, việc lượng hoá các tiêu chí còn tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, những quy định cụ thể phù hợp với mức độ phát triển trong từng giai đoạn và mức độ của các tiêu chí cũng khác nhau giữa các ngành
Bảng 1.1: Tiêu thức phân loại DNNVV ở Việt Nam
Quy mô siêu nhỏ Quy mô nhỏ Quy mô vừa
Lĩnh vực Lao động
(người)
Vốn (tỷ đồng)
Lao động (người)
Vốn (tỷ đồng)
Lao động (người) Nông, lâm nghiệp
và thủy sản [1; 10] (0; 20] (10; 200] (20; 100] (200; 300] Công nghiệp
và xây dựng [1; 10] (0; 20] (10; 200] (20; 100] (200; 300] Thương mại [1; 10] (0; 10] (10; 50] (10; 50] (50; 100]
Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV (2009)
Ở Việt Nam, tiêu chí xác định các DNNVV cũng thay đổi qua các năm Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP (2009), DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp quy mô: siêu nhỏ, nhỏ và vừa Căn cứ để phân loại quy mô doanh nghiệp là tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân trong một năm Trong đó, tổng nguồn vốn được xem là tiêu chí chính
Trang 161.2 Yếu tố năng suất tổng hợp (Total Factors Productivity: TFP)
Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) thường được biết đến là phần dư Solow trong mô hình của Robert Solow (1956) Mặc dù khái niệm TFP bắt nguồn từ những phân tích vĩ mô, nhưng nó đã trở thành phương pháp đo lường được sử dụng rộng rãi trong các phân tích ở cấp độ doanh nghiệp Điểm lại các lý thuyết về TFP chúng ta thấy có một sự đồng thuận mạnh mẽ trong khái niệm TFP Theo đó, TFP được định nghĩa đơn giản là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra thực tế với tất cả các yếu tố đầu vào Nói cách khác, nó được đo lường bằng cách lấy tổng sản lượng đầu ra chia cho tổng sản lượng của tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng Tóm lại, khái niệm TFP được tóm tắt ngắn gọn bởi Cororaton và Caparas (1999) như sau:
TFP là một khái niệm Tân Cổ Điển, nó có hai đặc trưng chính Thứ nhất, TFP chính là thước đo về năng suất mà có tính đến tất cả các yếu tố sản xuất Thứ hai, TFP là một yếu tố trong hàm sản xuất
Như đã được chỉ ra bởi Goldberg và các cộng sự (2005), TFP là thước đo năng suất đa yếu tố thể hiện tính hiệu quả của doanh nghiệp trong việc chuyển đổi yếu tố đầu vào thành đầu ra TFP đại diện cho phần sản lượng đầu ra không được giải thích bởi sự đóng góp của các yếu tố đầu vào, mức đóng góp này có thể đạt được nhờ vào kỹ năng chuyên môn của người lao động, hiệu quả hoạt động từ trang thiết
bị, máy móc và vốn mà họ sử dụng TFP tăng lên ngụ ý rằng tính hiệu quả hoặc suất sinh lợi của một doanh nghiệp tăng trong khi vẫn sử dụng cùng một lượng các yếu
tố đầu đầu vào như cũ Theo đó, một doanh nghiệp có mức TFP cao có thể đạt mức sản lượng đầu ra cao hơn với số lượng vốn và lao động nhất định
Mặc dù, nhiều nhà kinh tế đã thừa nhận rằng một doanh nghiệp có TFP càng cao thì có được càng nhiều lợi ích, nhưng rất ít người biết TFP được cấu thành bởi những yếu tố nào Điều này không khiến chúng ta quá ngạc nhiên, vì theo câu nói bất hữu của Abramovic (1956, được trích dẫn trong nghiên cứu của Mawson cùng các cộng sự 2003, trang 3), TFP là một thước đo về sự thiếu hiểu biết của chúng
Trang 17ta Lipsey và Carlaw (2001) cũng đã giải thích nh nhàng hơn rằng: TFP không là bất k thứ gì khác hơn là một thước đo về những gì mà chúng ta không biết
Những nỗ lực ban đầu trong việc xác định TFP đã quy cho toàn bộ TFP là do công nghệ đóng góp vào, dựa trên vai trò của công nghệ trong việc kết hợp và sử dụng nguyên liệu đầu vào Trong đó, công nghệ được xem là yếu tố ngoại sinh Điều này đã khiến cho các nhà kinh tế học chấp nhận rằng công nghệ chính là yếu
tố giải thích cho sự khác biệt trong sản lượng đầu ra của các doanh nghiệp R ràng,
nó không thể giải thích được tại sao một doanh nghiệp lại lựa chọn công nghệ s n
có thay vì nên chọn công nghệ mới và vì thế TFP sẽ hoàn toàn không có vai trò gì trong trường hợp này Mặt khác, khi xem xét hai doanh nghiệp giống hệt nhau, trong cùng một giới hạn về các yếu tố đầu vào và công nghệ, sản lượng đầu ra có thể khác nhau đáng kể giữa hai doanh nghiệp này Do đó, khuôn khổ này là quá h p
để phản ánh tính hiệu quả của một doanh nghiệp vì trên thực tế TFP được cấu thành
từ nhiều yếu tố và khi đó chúng ta đã phớt lờ đi nhiều thông tin có liên quan bởi chính sự thiếu hiểu biết của mình
Tóm lại, chúng ta cần phải hiểu rằng TFP nắm bắt được tất cả các tác động từ những yếu tố mà không thể đo lường được một cách cụ thể, nhưng chúng lại có vai trò đối với tính hiệu quả của doanh nghiệp Steindel và Stiroh (2001) đã xem TFP như là một thuật ngữ bao hàm cho tất cả Vì thế TFP sẽ đo lường tính hiệu quả và những yếu tố tác động đến TFP của doanh nghiệp có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau Có thể, TFP sẽ phản ảnh những hiện tượng mà nguồn góc của chúng thường chưa được biết đến hoặc ít nhất là không r ràng
Tuy nhiên, vì TFP đo lường phần sản lượng đầu ra không do các yếu tố đầu vào hữu hình, cho nên ý tưởng đầu tiên hiện lên trong suy nghĩ của chúng ta đó là những tác động này có thể xuất phát từ bên trong doanh nghiệp và từ môi trường bên ngoài Goldberg và các cộng sự (2005) cho rằng TFP có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chất lượng quản lý, biện pháp khuyến khích, quản trị doanh nghiệp, các chính sách của chính phủ và các yếu tố khác từ môi trường đầu tư
Trang 18Vấn đề này đã được tranh luận trước đó rằng trong môi trường đầu tư cấp tỉnh còn có một số yếu tố khác cũng có tác động đến TFP, chẳng hạn như chi phí không chính thức, sau khi loại trừ phần đóng góp của các yếu tố đầu vào chúng ta nhận thấy rằng nó có tác động đến TFP Nếu tác động này tồn tại và có ý nghĩa thống kê, thì khi đó việc tìm ra những gì chưa được đo lường bởi TFP sẽ quan trọng hơn là xác định những gì mà nó đã được đo lường Do đó, cần phải lưu ý rằng một biến đại diện cho môi trường đầu tư chẳng hạn như chi phí không chính thức Nó không
có liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Vì vậy chi phí không chính thức sẽ được xem là một biến của TFP
Mối quan hệ giữa TFP ở cấp độ doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế là hiển nhiên, chẳng hạn như nghiên cứu của Goldberg và các cộng sự (2005) đã cho thấy gia tăng TFP của các doanh nghiệp là một đặc trưng thiết yếu của tăng trưởng kinh
tế Trên thực tế, các quốc gia giàu có là những nước có năng suất cao Bởi vì TFP ở cấp độ doanh nghiệp cao hơn sẽ gắn liền với sản lượng đầu ra của nền kinh tế cao hơn Trong một vài phạm vi, khi đề cập đến TFP ở cấp độ doanh nghiệp, có nghĩa là chúng ta đang nói đến khả năng chuyển đổi yếu tố đầu vào thành đầu ra của nền kinh tế Vì vậy, TFP ở cấp độ doanh nghiệp có thể là một sự phản ánh gián tiếp tốt nhất cho hiệu quả hoạt động sản xuất của nền kinh tế và có nhiều triển vọng cho việc gia tăng sản lượng đầu ra của một quốc gia trong dài hạn
1.3 Các nhân tố tác động đến TFP
1.3.1 Tuổi của doanh nghiệp
Yếu tố đầu tiên được k vọng có tác động đến TFP đó là tuổi của doanh nghiệp Tuổi của doanh nghiệp có thể tác động tích cực đến TFP nhờ vào việc học hỏi thông qua quá trình hoạt động, có nghĩa là doanh nghiệp sẽ có năng suất tăng dần theo số năm hoạt động của nó Điều này được thể hiện thông qua đường cong học hỏi (learning curve) Bởi vì các doanh nghiệp lâu năm có thể có kinh nghiệm nhiều hơn
Trang 19Bên cạnh đó, doanh nghiệp hoạt động lâu năm có thể có năng suất cao hơn nhờ vào lợi thế kinh tế theo quy mô Điều này ngụ ý rằng ở mức sản lượng lớn hơn sẽ làm giảm chi phí trung bình dài hạn Thông thường các doanh nghiệp trẻ chỉ chiếm một thị phần nhỏ nên quy mô sản xuất thấp Ngược lại, các doanh nghiệp lâu năm
có thể mở rộng dần quy mô sản xuất của mình đến mức tối ưu và từ đó hưởng được lợi thế kinh tế theo quy mô
Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện lợi thế kinh tế theo quy mô và đường cong học hỏi
Ghi chú: Hình 2.2 cho thấy, các doanh nghiệp hoạt động lâu năm có thể gia tăng được mức sản
lượng từ Q 1 lên Q 2 , chi phí trung bình dài hạn sẽ giảm từ AC 1 xuống AC 2 , điều này thể hiện lợi thế kinh tế theo quy mô của doanh nghiệp Bên cạnh đó, thông qua việc học hỏi từ quá trình hoạt động, các doanh nghiệp lớn tuổi sẽ có những kinh nghiệm tốt và biết cách sản xuất hiệu quả hơn, điều đó
làm cho đường chi phí trung bình dài hạn dịch chuyển từ AC thành AC’ Kết hợp tất cả các lợi ích nêu trên các doanh nghiệp lâu năm sẽ có được mức chi phí trung bình dài hạn là AC 3
Tuy nhiên, các doanh nghiệp trẻ hơn cũng có thể đạt được hiệu quả cao nhờ áp dụng công nghệ hiện đại, ý tưởng mới và quy trình hiệu quả hơn cho thị trường, chú trọng đáp ứng nhu cầu mới của người tiêu dùng Do đó, kinh nghiệm và những mối quan hệ khách hàng lâu dài có thể không quan trọng bằng các tiêu chuẩn khác như khả năng thay đổi, thích ứng với công nghệ mới và khả năng đáp ứng được nhu cầu mới của người tiêu dùng (Subramanian cùng các cộng sự, 2005) Vì vậy tác động của yếu tố tuổi tác đến năng suất của doanh nghiệp sẽ không r ràng
Trang 201.3.2 Mức độ sử dụng năng lượng
Sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào là một trong những nguyên nhân thúc đẩy tổng năng suất của doanh nghiệp Bên cạnh vốn, lao động và nguyên vật liệu thì năng lượng (điện, ga và nhiên liệu) cũng là đầu vào tương đối quan trọng để doanh nghiệp hoạt động Mức độ sử dụng năng lượng được đánh giá dựa trên chỉ số giữa tổng chi phí tiêu dùng năng lượng với tổng doanh thu của doanh nghiệp Chỉ số này cao cho thấy doanh nghiệp chi tiêu cho năng lượng nhiều hơn một cách tương đối, điều này đồng nghĩa với việc hiệu quả sử dụng năng lượng thấp và làm cho năng suất của doanh nghiệp không cao bởi vì chi phí cao hơn ứng với cùng một mức doanh thu Ngược lại, chỉ số này thấp cho thấy doanh nghiệp sử dụng năng lượng hiệu quả và thúc đẩy gia tăng năng suất Tác động này đã được kiểm chứng bởi Santosh Kumar Sahu và Krishnan narayanan (2011) Dấu k vọng của biến mức độ
sử dụng năng lượng là âm
1.3.3 Định hướng xuất khẩu
Việc xuất khẩu sang thị trường thế giới sẽ tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực từ việc học hỏi những kinh nghiệm thông qua hoạt động xuất khẩu, từ đó tạo động lực thúc đẩy cho các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ để đáp ứng được những yêu cầu của người tiêu dùng và để cạnh tranh với các doanh nghiệp bên ngoài Điều này sẽ thúc đẩy TFP của doanh nghiệp Dấu k vọng là dương
1.3.4 Loại hình doanh nghiệp
Mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có những đặc trưng, điều kiện hoạt động khác nhau và những ràng buộc cũng như ưu đãi từ chính phủ cũng khác Chính những khác biệt này đã làm cho năng suất giữa các loại hình doanh nghiệp trở nên khác nhau Bài nghiên cứu sẽ xem xét sự khác biệt về năng suất giữa nhóm hộ gia đình
so với nhóm doanh nghiệp Các hộ gia đình thường có đặc điểm là kinh doanh tự phát, không có tư cách pháp nhân, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, không được xuất khẩu, không được phát hành chứng khoán và khó tiếp cận
Trang 21được những chính sách ưu đãi của chính phủ giống như các doanh nghiệp Do đó,
có thể giữa hai loại hình này có thể có sự khác biệt về tổng năng suất Nguyên nhân của sự khác biệt này xuất phát từ bản thân mỗi doanh nghiệp, vì vậy nó được xem là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng lên yếu tố năng suất tổng hợp
1.3.5 Vốn xã hội của doanh nghiệp
Nguồn lực trong doanh nghiệp không chỉ là các tài sản hữu hình mà còn là các tài sản vô hình (Itami, 1987) Đã có nhiều nghiên cứu cho rằng các giá trị tài sản vô hình có tác động đến hiệu suất của doanh nghiệp thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực hữu hình Nhiều nghiên cứu gần đây đã đề cập đến một nguồn lực vô hình tồn tại trong các mối quan hệ xã hội của cá nhân và tổ chức, nguồn lực đó gọi
là vốn xã hội
Có nhiều quan điểm khác nhau về vốn xã hội Tuy nhiên, chúng không mâu thuẫn nhau mà bổ sung cho nhau Nhìn chung, vốn xã hội có các đặc trưng cơ bản sau: (1) Vốn xã hội chỉ tồn tại khi cá nhân hoặc tổ chức có tham gia vào các quan hệ
xã hội (2) Các cá nhân hay tổ chức tham gia mạng lưới đều nhận được lợi ích từ mạng lưới này, đó là sử dụng hiệu quả nguồn lực hoặc có nhiều cơ hội tiếp cận các nguồn lực khác như vật thể, tài chính, con người và một số nhân tố khác (3) Các đặc trưng của mạng lưới xã hội bao gồm nghĩa vụ và k vọng dựa trên niềm tin, các chuẩn mực được thừa nhận, sự hỗ trợ lẫn nhau
Như vậy, vốn xã hội được hiểu là những lợi ích nhận được từ mạng lưới xã hội Đây là những điều kiện thuận lợi để chủ thể tham gia huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác nhau như vốn vật thể, vốn tài chính và vốn con người
Trang 22ngắn thời gian cho những thủ tục pháp lý, tiếp cận với những dịch vụ công và một
số lợi ích khác Mặc dù, đây là những khoản chi phí của doanh nghiệp, nhưng lợi ích có được từ những khoản chi này có thể sẽ lớn hơn chi phí đã bỏ ra Do đó, tác động từ hành động này có thể tác động tích cực đến tổng năng suất của doanh nghiệp Tác động này đã được Liudmila Tuhari (2012) kiểm chứng
1.3.7 Khu vực doanh nghiệp hoạt động
Khu vực hoạt động của doanh nghiệp cũng góp phần tác động đến năng suất của doanh nghiệp Những vùng miền khác nhau sẽ có những điều kiện kinh tế, xã hội và nguồn lực khác nhau Chúng có thể mang lại những thuận lợi cho các doanh nghiệp hoặc cũng có thể gây ra những trở ngại cho bất k doanh nghiệp nào hoạt động trong đó Do đó, ở những vùng miền khác nhau có thể năng suất của các
doanh nghiệp cũng sẽ khác nhau
Hiệu quả hoạt động
Số lượng mối quan
Khu vực hoạt động
Hiệu quả
sử dụng năng lượng
Vốn
xã hội
Loại hình doanh nghiệp
Chi phí không chính thức
Trang 231.4 Các nghiên cứu liên quan
Sự gia tăng năng suất sản xuất lên cấp độ cao hơn không chỉ là kết quả của công nghệ cao mà nó còn phản ánh sự gia tăng tính hiệu quả trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào nhờ phát triển nguồn nhân lực và nâng cao trình độ quản lý Theo Bhatia (1990), có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất như trình độ công nghệ và nhân khẩu học Bên cạnh đó, các yếu tố khác như phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ quản lý và chuyển dịch cơ cấu thể chế cũng có thể ảnh hưởng đến năng suất Ông cho rằng trình độ công nghệ thấp và thay đổi nhân khẩu học xã hội không
ổn định làm cho năng suất ở Ấn Độ thấp hơn so với Hoa K và Vương quốc Anh Ngoài ra, ông còn chỉ ra rằng tính hiệu quả bị ảnh hưởng bởi yếu tố điều kiện làm việc và kinh tế - chính trị - xã hội
Maisom và Arshad (1992) đã sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát ngành sản xuất của Malaysia trong giai đoạn 1973-1989 để xem xét các bộ phận cấu thành trong tốc
độ tăng trưởng TFP và phát hiện rằng TFP tăng mỗi năm, nhưng mức đóng góp vào tốc độ tăng trưởng sản lượng vẫn còn nhỏ Trong nghiên cứu này, hai tác giả cũng nhận thấy rằng TFP của công ty nước ngoài lớn hơn so với công ty nội địa và đã đi đến kết luận rằng các nhà đầu tư nước ngoài đạt được lợi ích cao hơn nhờ có công nghệ tiên tiến
Một trong những yếu tố thuộc môi trường đầu tư cũng có tác động đến TFP của các doanh nghiệp đó là chi phí không chính thức Theo nghiên cứu của Liudmila Tuhari (2012), ông đã phát hiện ra rằng vận động hành lang (lobbying) của doanh nghiệp có tác động tích cực đến TFP, cứ mỗi 1% gia tăng trong mức chi cho vận động hành lang sẽ thúc đẩy tốc độ tăng trưởng TFP tăng 0,057% Nhìn chung, những doanh nghiệp có chi cho những khoản vận động hành lang này sẽ có năng suất cao hơn so với những doanh nghiệp không chi Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng dữ liệu bảng của 7466 doanh nghiệp ở Mỹ giai đoạn 2001 – 2010
Trang 24Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu ước tính TFP ở cấp độ ngành với kiểu dữ liệu chéo Mặc dù số lượng các nghiên cứu loại này không nhiều nhưng lại hữu ích cho những trường hợp không thể có được dữ liệu theo thời gian Ngoài việc cho thấy các yếu tố nào có tác động đến TFP, các nghiên cứu này còn mang đến một hệ thống các cách thức đo lường TFP theo dữ liệu chéo
Nghiên cứu của Subramanian, Uma, William P Anderson và Kihoon Lee (2005), ước tính tác động của môi trường đầu tư đến TFP cho Trung Quốc và Brazil Các tác giả đã tiến hành phân tích theo hai bước Đầu tiên, giá trị TFP được ước tính bằng cách hồi quy hàm sản xuất Cobb-Douglas với dữ liệu chéo Tiếp theo,
họ đánh giá tác động của các chỉ số thuộc môi trường đầu tư đến TFP của doanh nghiệp Các tác giả nhận thấy rằng sự chậm trễ trong các thủ tục hải quan và sự gián đoạn của các dịch vụ công có tác động tiêu cực đến TFP Ngược lại, việc sử dụng thư điện tử lại có tác động thúc đẩy TFP Và các tác giả cũng nhận thấy doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động hiệu quả hơn doanh nghiệp nhà nước Đây là một trong những nghiên cứu tham khảo quan trọng của bài viết này Nó mang lại cách thức để ước tính TFP Ngoài ra, nó còn cho thấy được một loạt các yếu tố có tác động đến TFP của các doanh nghiệp
Bên cạnh đó còn có nghiên cứu của Trần Quang Trung và Trần Hữu Cường (2010), các tác giả xem xét tác động của môi trường đầu tư đến TFP trong lĩnh vực nông nghiệp ở Hà Nội Trong nghiên cứu này các tác giả cũng sử dụng dữ liệu chéo
và kỹ thuật ước tính TFP tương tự như cách thực hiện trong nghiên cứu của Subramanian, Uma, William P Anderson và Kihoon Lee (2005) Tuy nhiên, các tác giả sử dụng hàm sản xuất với ba yếu tố đầu vào là vốn, lao động và nguyên vật liệu Santosh Kumar Sahu và Krishnan narayanan (2011) đã xem xét mối quan hệ giữa TFP và mức độ sử dụng năng lượng trong lĩnh vực sản xuất của Ấn Độ Trong nghiên cứu này các tác giả sử dụng dữ liệu chéo được thu thập năm 2009 và phương pháp kinh tế lượng được dùng để ước tính TFP Hàm sản xuất có dạng hàm Translog với bốn yếu tố đầu vào là vốn, lao động, nguyên vật liệu và năng lượng
Trang 25Kết quả cho thấy rằng lao động và nguyên vật liệu đầu vào giữ vai trò quan trọng hơn so với vốn và năng lượng Ngoài ra, tuổi của doanh nghiệp, mức độ xuất khẩu
và nhập khẩu công nghệ có tác động tích cực đến TFP, trong khi hình thức sở hữu, mức độ sử dụng năng lượng, mức độ nghiên cứu và phát triển lại có tác động tiêu cực đến TFP Hơn nữa, nghiên cứu cũng nhận thấy rằng những doanh nghiệp đạt hiệu quả trong việc sử dụng năng lượng thì cũng có TFP cao hơn
Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu về tác động của vốn xã hội đến hoạt động kinh tế ở cấp độ ngành Vốn xã hội tác động có ý nghĩa đến hoạt động của doanh nghiệp chẳng hạn như: vốn xã hội ảnh hưởng đến tinh thần kinh doanh (Cheng-Nan Cheng, Lun-Cheng-Tzeng, Wei-Min OU và Kai-TiChang, 2006); vốn xã hội ảnh hưởng đến hiệu suất kinh tế (Terrence Casey, 2002; Woolcock, 2001; Narayan và Princhett, 1999); vốn xã hội ảnh hưởng đến cơ hội và sự thành công của công ty (Robyn Davis, 2006; Bart Minten và Marcel Fafchamps, 1999)
Như vậy, bài viết đã hoàn thành việc xây dựng cơ sở lý luận cho toàn bộ bài nghiên cứu Đầu tiên, căn cứ xác định DNNVV tại Việt Nam được trình bày khát quát dựa trên Nghị định 56/2009/NĐ-CP (2009) Chuyển sang lý thuyết về TFP, hầu hết các nhà kinh tế học đều thừa nhận rằng TFP chính là phần đóng vào sản lượng đầu ra mà không do các yếu tố đầu vào hữu hình tạo nên Tiếp theo, nền tảng
lý luận cho từng nhân tố tác động đến yếu tố năng suất tổng hợp của doanh nghiệp cũng được trình bày cụ thể: Nhóm các nhân tố giúp gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, chẳng hạn như số năm hoạt động của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng năng lượng, định hướng xuất khẩu và loại hình doanh nghiệp Nhóm yếu tố về vốn
xã hội và môi trường hoạt động của doanh nghiệp cũng được k vọng tác động lên yếu tố năng suất tổng hợp Cuối cùng, bài viết cũng đã liệt kê tất cả các nghiên cứu
có liên quan đến chủ đề này
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này bao gồm bốn nội dung chính Đầu tiên, bài viết sẽ trình bày các vấn đề liên quan đến việc lựa chọn hàm sản xuất Sau đó, bài viết sẽ khái quát lại các phương pháp ước tính TFP đã được thực hiện từ trước đến nay Phần tiếp theo được trình bày sẽ là mô hình nghiên cứu và cuối cùng là phần mô tả biến
2.1 Lựa chọn hàm sản xuất
Mở đầu cho chương phương pháp nghiên cứu sẽ là phần lựa chọn hàm sản xuất Đây là vấn đề quan trọng có ảnh hưởng lớn đối với toàn bộ kết quả ước tính của bài nghiên cứu Việc lựa chọn hàm sản xuất không phù hợp sẽ mang lại kết quả tính TFP không chính xác và những ước tính sau đó liên quan đến TFP sẽ không có giá trị
Theo lý thuyết, chúng ta thấy có rất nhiều dạng hàm sản xuất với nhiều đặc trưng khác nhau Do đó, việc lựa chọn hàm sản xuất nào cần phải căn cứ vào các đặc trưng của hàm sản xuất đó và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Trong nghiên cứu này, bài viết sẽ chọn hàm sản xuất Cobb-Douglas để làm nền tảng cho nghiên cứu của mình, vì các lý do sau: Thứ nhất, hàm sản xuất Cobb-Douglas được sử dụng thường xuyên và rộng khắp trong các giáo trình kinh tế học cơ sở cũng như trong nhiều nghiên cứu vì tính chất dễ sử dụng của nó Thứ hai, hàm sản xuất Cobb-Douglas đáp ứng được điều kiện f(0) bằng không, vì khi không có bất k đầu vào nào thì sẽ không có sản lượng đầu ra Thứ ba, hàm sản xuất Cobb-Douglas có tính thiết yếu, nghĩa là bất k một yếu tố đầu vào nào đó bằng không thì sản lượng sẽ bằng không, điều này rất phù hợp với thực tiễn, các yếu tố đầu vào được đo lường là vốn và lao động đây là các yếu tố cần thiết, chúng ta không thể tạo ra sản phẩm khi thiếu một trong hai yếu tố này Thứ tư, năng suất biên của các yếu tố đầu vào trong sản xuất giảm dần, hàm Cobb-Douglas đáp ứng được yêu cầu này
Trang 27Hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng như sau:
L K A
Trong đó, Y là sản lượng đầu ra; K và L lần lượt đại diện cho vốn và lao động;
α là tác động riêng phần hay tỷ trọng đóng góp của yếu tố vốn; β là tác động riêng phần của lao động và A phản ánh TFP của doanh nghiệp
Tuy nhiên, việc sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để tính TFP sẽ phải đối mặt với một số hạn chế từ một trong những giả định của mô hình tăng trưởng ngoại sinh của Robert Solow Thứ nhất, thị trường phải cạnh tranh hoàn hảo để giá cả được linh hoạt trong dài hạn Đây là một quan điểm của kinh tế học Tân Cổ Điển Nhờ đó lao động sẽ được sử dụng hoàn toàn và nền kinh tế tăng trưởng hết mức tiềm năng Giá cả lao động (tiền công thực tế) và giá tư bản (lãi suất đi vay) lúc này cũng sẽ linh hoạt Vì thế, có thể kết hợp hai yếu tố này để sản xuất một cách tùy thích Thứ hai, nền kinh tế đóng và không có sự can thiệp của chính phủ Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam, không thể có được môi trường cạnh tranh hoàn hảo để đáp ứng giả thiết thứ nhất Ngoài ra, nền kinh tế Việt Nam còn chịu sự can thiệp lớn từ chính phủ
Một hạn chế khác của hàm sản xuất Cobb-Douglas đó là độ co giãn của các yếu tố đầu vào không đổi Trên thực tế, chúng sẽ thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào điều kiện công nghệ và hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, nghiên cứu này không
sử dụng số liệu theo thời gian nên ảnh hưởng từ hạn chế này không quan trọng Ngoài ra, với hàm sản xuất Cobb-Douglas chúng ta chỉ xem xét được tác động riêng phần của từng yếu tố đầu vào đến sản lượng đầu ra, mà không thấy được tác động tổng hợp của các yếu tố Trên thực tế, các yếu tố đầu vào này không thể tự vận động nội sinh mà tạo ra sản lượng, mà phải tương tác và kết hợp với nhau tạo ra sản lượng
Trang 282.2 Đo lường yếu tố năng suất tổng hợp
TFP có thể được đo lường bằng nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, phương pháp lựa chọn sẽ phụ thuộc vào câu hỏi nghiên cứu và bản chất của dữ liệu
có s n (xem Beveren, 2007; Mawson cùng các cộng sự, 2003; Cororaton và Caparas 1999) Thoạt nhìn, các biện pháp này dường như xuất phát từ định nghĩa đơn giản
về TFP, điều này sẽ trở nên dễ dàng cho dù phương pháp nào được sử dụng Tuy nhiên, cho dù định nghĩa của TFP là đơn giản, nhưng nó được cảnh báo trong rất nhiều tài liệu rằng việc đo lường TFP sẽ rất khó khăn (xem Beveren, 2007; Arnold, 2005; Mawson cùng cộng sự, 2003)
Sau đây bài viết sẽ khát quát lại các phương pháp ước tính Vì phương pháp ước tính phụ thuộc một phần vào đặc tính dữ liệu mà chúng ta có Do đó, các phương pháp ước tính sẽ được chia làm hai nhóm chính Nhóm các cách tính được dùng với dữ liệu bảng và nhóm còn lại dùng cho dữ liệu chéo
2.2.1 Ước tính TFP với dữ liệu bảng (panel data)
Trong dữ liệu bảng mỗi biến sẽ có rất nhiều giá trị quan sát được thu thập theo thời gian Vì vậy dữ liệu bảng sẽ có quy mô cả về không gian lẫn thời gian Đối với loại dữ liệu này có bốn phương pháp ước tính TFP Thứ nhất là phương pháp hạch toán tăng trưởng Tiếp đến là phương pháp chỉ số Translog (hay còn gọi là phương pháp Tornquist) Phương pháp thứ ba, hàm sản xuất Cobb-Douglas được dùng để ước tính TFP bằng công cụ kinh tế lượng và cuối cùng là phương pháp biên ngẫu nhiên (stochastic frontier) Các phương pháp sẽ được thảo luận sau đây:
2.2.1.1 Phương ph p h h o n ng ư ng
Phương pháp này vừa áp dụng được cho những thay đổi theo từng năm vừa có thể áp dụng được cho cả những thay đổi bình quân trong 3 năm của các biến số Phương pháp này sử dụng phương trình sau:
g TFP i g Y i g L i g K i
Trang 29Trong đó, g TFPi là tốc độ tăng trưởng của TFP của doanh nghiệp thứ i, g Y i,
g L i và g K i lần lượt là tốc độ tăng trưởng của giá trị gia tăng, lao động và vốn của doanh nghiệp thứ i, α và β lần lượt là tỷ trọng đóng góp của lao động và vốn vào giá trị gia tăng
u điểm của phương pháp này là dễ thực hiện, những vấn đề thường gặp trong phân tích hồi quy cũng sẽ không xảy ra Tuy nhiên, để kiểm tra ý nghĩa thống kê của những ước tính này thì không thể thực hiện được
2.2.1.2 Phương ph p h n og
) ln (ln
) ln (ln
) ln
ta có thể dễ dàng kiểm soát được việc tính toán Tuy nhiên, tương tự như phương pháp hạch toán tăng trưởng, kết quả ước tính được không thể kiểm tra được ý nghĩa thống kê
2 Phương ph p inh ư ng
Phương pháp này sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas:
i i i
Trang 30Phương pháp này có thể được áp dụng cho cả hai kiểu dữ liệu Thứ nhất, dữ liệu không bị ràng buộc chặt chẽ bởi giả định lợi tức không đổi theo quy mô Và loại thứ hai là dữ liệu với giả định lợi tức không đổi theo quy mô Giả định này ngụ ý rằng: α + β = 1
Thuận lợi của phương pháp này là kết quả ước tính có thể kiểm tra được ý nghĩa thống kê của nó Tuy nhiên, kết quả này chỉ ước tính được TFP bình quân cho khoảng thời gian ước tính Sự biến thiên của TFP không thể phân tích được, vì vậy khó có thể kiểm soát được việc ước tính
2.2.1.4 Phương ph p i n ng nhi n o h i on i
Phương pháp này cũng dựa vào kỹ thuật kinh tế lượng để ước tính TFP Tuy nhiên, những phân tích đằng sau phương pháp này sẽ khác biệt hơn so với phương pháp kinh tế lượng Trong phương pháp kinh tế lượng, một trong các giả định cần
có là khu vực kinh tế này đang hoạt động ở mức tiềm năng, nghĩa là nó đang hoạt động ở mức giới hạn sản xuất của nó Vì thế, vấn đề về hiệu quả công nghệ sẽ không được xem xét r ràng Ngược lại, trong phương pháp biên ngẫu nhiên không
có giả định này
Phương pháp biên ngẫu nhiên không nhằm mục đích tính TFP mà nó được dùng để ước tính tính hiệu quả về công nghệ ở từng khu vực kinh tế, nó được thể hiện dưới hình thức là các hệ số Những hệ số này cho chúng ta biết một khu vực kinh tế có hoạt động ở mức giới hạn sản xuất của nó hay không Nếu hệ số này là 100% thì khu vực kinh tế đó đang hoạt động ở mức giới hạn sản xuất của nó Và nếu nhỏ hơn 100% thì nó đang hoạt động dưới mức tiềm năng Giới hạn sản xuất được tính toán dựa vào dữ liệu về giá trị gia tăng và các yếu tố đầu vào của từng khu vực sản suất Hàm sản xuất có dạng: Y t F fX t,t
Trong đó YF
t là sản lượng đầu ra ở mức tiềm năng tại bất k một khoảng thời gian t cụ thể nào đó, và Xt là vectơ các yếu tố đầu vào Các điều kiện ràng buộc đó là: f’ > 0 và f’’< 0
Trang 312.2.2 Ƣớc tính TFP với dữ liệu chéo (Cross-Section Data)
Trong dữ liệu chéo mỗi biến sẽ có nhiều giá trị quan sát được thu thập tại cùng một thời điểm Dữ liệu loại này không có quy mô về thời gian Do đó, tác động từ việc thay đổi công nghệ rất khó đánh giá được bởi vì thời gian xem xét ngắn Tuy nhiên, chúng ta vẫn ước tính được TFP và giá trị TFP tính được sẽ phản ảnh tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hơn là sự thay đổi công nghệ Phương pháp thường được sử dụng là phương pháp kinh tế lượng Hai dạng hàm dùng để ước tính TFP đó là hàm Cobb-Douglas và hàm Translog Đầu tiên chúng ta sẽ xem xét hàm sản xuất Cobb-Douglas
Y (2.1)
Trong đó, Yi là giá trị gia tăng của doanh nghiệp thứ i; Ki và Li lần lượt đại diện cho yếu tố đầu vào là vốn và lao động, α là độ co giãn của vốn theo sản lượng
và β là độ co giãn của lao động theo sản lượng
Lấy logarit phương trình (2.1) ta được phương trình hồi quy tuyến tính sau:
ln Yi ln TFPi ln Ki ln Li (2.2) Hồi quy phương trình (2.2) chúng ta tính được hệ số α và β, bài nghiên cứu sẽ
áp dụng phương trình (2.3) bên dưới để tính tổng năng suất các yếu tố
Trang 322.2.2.2 Hàm ản x ấ n og (transcendental logarithmic)
Đây là dạng tổng quát hóa của hàm sản xuất Cobb-Douglas Hàm Translog với bốn yếu tố đầu vào đã được Santosh Kumar Sahu và Kishnan Narayanan (2011) sử dụng khi đánh giá mối quan hệ giữa TFP với mức độ sử dụng năng lượng trong lĩnh
vực sản xuất của Ấn Độ, hàm số có dạng như sau:
2 2
ln 2
1 ln
ln ln
2 1
ln ln ln
ln ln
2 1
ln ln ln
ln ln
ln ln
2 1
ln ln
ln ln
ln
M M
E E
M L E
L L
M K E
K L
K K
M E
L K
Y
MM EM
EE
LM LE
LL
KM KE
KL KK
M E
L K
Trong đó, Y là sản lượng đầu ra, K là vốn, L là lao động, E là năng lượng và
M là các nguyên vật liệu TFP chính là phần dư ước tính được từ hàm số trên Trong nghiên cứu này, để ước tính TFP bài viết sẽ kế thừa phương pháp đã được Subramanian Uma, William P Anderson và Kihoon Lee (2005) sử dụng, vì hai lý do: Thứ nhất, nghiên cứu sử dụng dữ liệu chéo Thứ hai, dữ liệu này chứa đựng các thông tin của DNNVV trong vòng một năm, đây là khoảng thời gian rất ngắn, tất cả các doanh nghiệp có thể chưa cải thiện được công nghệ sản xuất Kết quả là, sự thay đổi của TFP có thể là do sự thay đổi tính hiệu quả trong sản xuất hơn
là sự thay đổi công nghệ, đây là điều mà nghiên cứu này muốn tập trung khai thác
Ngoài ra, vì nghiên cứu này được thực hiện dựa trên bộ dữ liệu của 19 ngành sản xuất khác nhau Mỗi ngành sản xuất có thể có kết quả hoạt động khác nhau và được biểu diễn bởi các hàm sản xuất không giống nhau Do đó, để kiểm soát yếu tố ngành bài viết sẽ đưa vào hàm hồi quy 18 biến giả để đại diện cho 19 ngành sản xuất khác nhau trong bộ dữ liệu
Trang 33
2.3 Mô hình nghiên cứu
Để đánh giá các yếu tố tác động đến TFP của các DNNVV, bài nghiên cứu sẽ dùng biến phụ thuộc là lntfp thu được từ phương trình tuyến tính (2.3) Từ cơ sở lý luận đã trình bày trong Chương hai, chúng ta có được một hệ thống các chỉ số có thể tác động đến TFP như sau:
),
,
,,
,,
(
Khuvuc ChiphiKCT
Vonxahoi
Loaihinh Xuatkhau
Nangluong TuoiDN
g TFP
Giả định mô hình nghiên cứu có dạng tuyến tính, khi đó chúng ta có phương trình hồi quy (2.4) như sau:
i i i
i i
i
i i
i i
Khuvuc Khuvuc
ChiphiKCT Vonxahoi
Loaihinh
Xuatkhau Nangluong
TuoiDN TFP
ln
lnln
ln
8 7
6 5
4
3 2
1 0
(2.4)
Bởi vì nghiên cứu được thực hiện trên dữ liệu chéo, nên các biến định lượng sẽ được lấy logarit để hạn chế khả năng vi phạm hiện tượng phương sai thay đổi
2.4 Mô tả biến
TuoiDN: Biến định lượng thể hiện số năm tồn tại của doanh nghiệp, được tính
từ thời điểm bắt đầu thành lập đến thời điểm khảo sát là năm 2009
Nangluong: Biến định lượng cho biết mức độ sử dụng năng lượng của doanh nghiệp Yếu tố này được đo lường bằng cách chia tổng chi phí điện, ga và nhiên liệu cho tổng doanh thu
Xuatkhau: Biến giả cho biết doanh nghiệp có xuất khẩu hay không Biến này
sẽ nhận hai giá trị: 1 sẽ đại diện cho nhóm doanh nghiệp có xuất khẩu và 0 sẽ đại diện cho nhóm còn lại
Trang 34Loaihinh: Biến giả cho biết hình thức pháp lý của doanh nghiệp, nhằm phân biệt giữa nhóm hộ gia đình với nhóm doanh nghiệp Biến này cũng nhận hai giá trị:
1 sẽ đại diện cho nhóm hộ gia đình và 0 sẽ đại diện cho nhóm doanh nghiệp
Vonxahoi: Biến số khoảng phản ảnh mạng lưới xã hội của doanh nghiệp Biến
này nhận bốn giá trị: 1 sẽ đại diện cho các doanh nghiệp có từ không đến bốn mối quan hệ (trong cùng lĩnh vực), 2 đại diện cho nhóm doanh nghiệp có từ năm đến chín mối quan hệ, 3 đại diện cho nhóm doanh nghiệp có từ mười đến mười chín mối quan hệ và 4 sẽ đại diện cho nhóm doanh nghiệp có từ 20 mối quan hệ trở lên ChiphiKCT: Biến số khoảng phản ảnh tác động của chi phí không chính thức đến tổng năng suất của doanh nghiệp Bài nghiên cứu sẽ dùng số lần chi các khoản chi phí không chính thức để thay cho số tiền thực tế đã chi vì không có số liệu cụ thể Biến này nhận năm giá trị: 1 sẽ đại diện cho nhóm doanh nghiệp không có chi lần nào, 2 đại diện cho nhóm doanh nghiệp có chi một lần, 3 đại diện cho nhóm doanh nghiệp chi từ hai đến năm lần, 4 đại diện cho nhóm doanh nghiệp chi từ sáu đến mười lần và 5 đại diện cho nhóm doanh nghiệp có chi trên mười lần
Khuvuc1 và Khuvuc3: Hai biến giả, cho biết tỉnh/thành doanh nghiệp hoạt động Khuvuc1 đại diện cho các doanh nghiệp ở Hà Nội và Hồ Chí Minh Khuvuc3 bao gồm Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Long An Doanh nghiệp ở khu vực hai bao gồm Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng và Nghệ An được chọn làm cơ sở để
so sánh
Trang 35Bảng 2.1: Tóm tắt các yếu tố kỳ vọng có tác động đến TFP của doanh nghiệp
Biến Dấu k vọng Diễn giải
lnTuoiDN +/- Logarit số năm hoạt động của doanh nghiệp tính từ lúc
bắt đầu thành lập đến thời điểm khảo sát lnNangluong _ Logarit tỷ số giữa chi phí tiêu thụ năng lượng với tổng doanh thu Xuatkhau + Biến giả cho biết doanh nghiệp có tham gia xuất khẩu hay không
1: Có – 0: Không có Loaihinh +/- Biến giả cho biết trạng thái luật pháp của doanh nghiệp:
1: Hộ gia đình – 0: Doanh nghiệp lnVonxahoi + Logarit mạng lưới quan hệ với những người cùng lĩnh vực lnChiphiKCT + Logarit số lần chi các khoản chi phí không chính thức
Khuvuc1 +/- Biến giả cho biết tỉnh/thành phố mà doanh nghiệp hoạt động:
1: Khu vực một (Hà Nội và Hồ Chí Minh) 0: Khu vực hai (Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng và Nghệ An) Khuvuc3 +/- Biến giả cho biết tỉnh/thành phố mà doanh nghiệp hoạt động:
1: Khu vực ba (Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Long An) 0: Khu vực hai
Nguồn: tổng hợp từ bài viết
Như vậy chúng ta vừa điểm qua chương phương pháp nghiên cứu Trong chương này, những căn cứ mang tính lý thuyết cũng như thực nghiệm cho việc lựa chọn mô hình nghiên cứu và cách tính TFP đã được trình bày cụ thể Đầu tiên, hàm sản xuất Cobb-Douglas được chọn để ước tính TFP cho DNNVV vì nó đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản của hàm sản xuất và vì tính dễ sử dụng của nó Tuy nhiên, nó còn tồn tại một số hạn chế, chẳng hạn như tỷ trọng đóng góp của các yếu
tố đầu vào không đổi, trên thực tế chúng có thể thay đổi theo thời gian hoặc là có sự khác biệt giữa các ngành Bên cạnh đó, hàm sản xuất này chỉ xem xét đóng góp của các yếu tố đầu vào cho sản lượng đầu ra một cách riêng lẻ, mà không thể hiện được
sự kết hợp lẫn nhau của chúng trong quá trình sản xuất Ngoài ra, nó còn phải chịu những hạn chế từ các ràng buộc của mô hình tăng trưởng ngoại sinh, đó là môi trường cạnh tranh hoàn hảo, chính phủ không can thiệp vào thị trường
Trang 36Trong phần thứ hai, bài viết đã khái quát lại các cách tính TFP Từ đó, chọn ra phương pháp phù hợp Căn cứ để chọn lựa sẽ phụ thuộc vào dữ liệu nghiên cứu Đối với dữ liệu bảng, bài viết đã trình bày sơ lược bốn phương pháp đã từng được sử dụng trong các nghiên cứu trước đó trên thế giới, đó là: Phương pháp hạch toán tăng trưởng, phương pháp chỉ số Translog, phương pháp kinh tế lượng và phương pháp biên ngẫu nhiên Đối với dữ liệu chép, phương pháp phổ biến là phương pháp kinh
tế lượng, hồi quy hàm sản xuất để ước tính TFP Vì vậy, với dữ liệu chéo có được bài viết này sẽ hồi quy hàm Cobb-Douglas bằng phương pháp kinh tế lượng Cuối cùng, các biến độc lập có được từ nền tảng lý thuyết của Chương một cũng được
mô tả chi tiết trong phần này
Trang 37CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ DNNVV VÀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Trong chương này, bài viết sẽ trình bày tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của các DNNVV Ngoài ra, bài viết cũng sẽ phân tích tình hình chung của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 để có cái nhìn toàn diện về bối cảnh mà trong
đó các DNNVV đang hoạt động, đồng thời bài viết cũng xem xét những hiện trạng
đó ảnh đến các doanh nghiệp này ra sao
3.1 Quá trình hình thành và phát triển các DNNVV
Trong những năm qua, DNNVV nước ta đã phát triển nhanh chóng Tình hình phát triển DNNVV được thể hiện trong Bảng 3.1 Năm 1999 luật doanh nghiệp được ban hành và áp dụng vào năm 2000 với những thay đổi về thủ tục hành chính, nên số lượng doanh nghiệp đã tăng lên nhanh chóng Bảng 3.1 còn cho thấy số doanh nghiệp mới đăng ký trong sáu năm (2000-2005) ước tính cao gấp bốn lần so với chín năm trước đây (1991-1999) và số vốn đăng ký tăng gấp 12 lần Năm 2006
so với năm 2005 tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp giảm còn 16% năm, tốc độ tăng vốn là 32% Tốc độ tăng vốn đã tăng đột biến lên 313% năm 2007 so với năm 2006, tốc độ tăng vốn đăng ký này là do tốc độ tăng vốn của công ty cổ phần (tăng 325%)
Sự tăng nhanh về vốn này là do ba nguyên nhân Thứ nhất, do sự tác động của luật doanh nghiệp năm 2005, kế hoạch phát triển DNNVV bắt đầu từ năm 2006 được chính phủ phê duyệt và thực hiện, chỉ thị 40 (năm 2006) về đẩy mạnh và phát triển doanh nghiệp dân doanh Thứ hai, do năm 2007 là năm thành công của thị trường chứng khoán, nhiều chủ doanh nghiệp thành công trên thị trường chứng khoán đã chuyển sang mở công ty kinh doanh Thứ ba, các doanh nghiệp đã hoạt động thực chất hơn Họ đăng ký vốn hoạt động sát với thực tế nhu cầu hoạt động hơn Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế nên số lượng doanh nghiệp thành lập năm 2008 tăng lên không đáng kể chỉ 2% so với năm 2007, tốc độ tăng về vốn là 19%
Trang 38Bảng 3.1: Số lƣợng các DNNVV đăng ký kinh doanh qua các giai đoạn
Giai đoạn Số lượng doanh nghiệp Vốn (triệu đồng)
Nguồn: Cục phát triển doanh nghiệp, Bộ kế hoạch đầu tư năm 2009
3.2 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
Sau khi tiến hành đổi mới năm 1986, nền kinh tế của Việt Nam đã được cải thiện và đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhờ vào việc thay đổi tư duy kinh tế, áp dụng cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế mà đỉnh cao là việc ký hiệp định Thương mại Việt-Mỹ năm 2001 và hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm 2006 Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một nền kinh tế hỗn hợp với nhiều thành phần kinh tế khác nhau và chịu sự can thiệp của Nhà nước ở mức độ cao thông qua các biện pháp quản lý giá cả kiểu hành chính
Hoạt động kinh doanh không chính thức ở mức độ cao là kết quả của các yếu
tố vừa chủ quan vừa khách quan của nền kinh tế, về mặt cơ cấu có thể cản trở các mục tiêu phát triển của Việt Nam Hoạt động kinh tế không chính thức lan rộng cho thấy một môi trường có quá nhiều quy chế trong khi việc thực thi pháp luật còn thiếu hiệu quả Nó còn có nghĩa là các quy định luật pháp không mang tính bắt buộc, do vậy chúng không còn là các công cụ điều tiết hiệu quả trong chính sách
của chính phủ
3.2.1 Kinh tế vĩ mô và tài chính năm 2008
Năm 2008, kinh tế-xã hội Việt Nam diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới
và trong nước có nhiều biến động, giá dầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những tháng giữa năm Điều này
Trang 39đã làm cho giá cả của hầu hết các mặt hàng trong nước gia tăng ở mức cao Bên cạnh đó, lạm phát cũng xảy ra tại nhiều nước trên thế giới Khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm; thiên tai, dịch bệnh đối với cây trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư
Bảng 3.2: Các chỉ số kinh tế cơ bản của Việt Nam 2008
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tăng trưởng GDP thực (%) 6,9 7,1 7,3 7,8 8,4 8,2 8,5 6,2
CPI (% thay đổi) 0,8 4,0 3,0 9,5 8,4 6,6 12,6 19,9
Xuất khẩu (tỷ USD) 15,0 16,0 20,0 26,0 32,0 39,0 48,0 62,0
Nhập khẩu (tỷ USD) 16,0 19,0 25,0 31,0 36,0 44,0 62,0 80,0
Nhập siêu (tỷ USD) -1,0 -3,0 -5,0 -5,0 -4,0 -5,0 -14,0 -18,0
FDI-thực hiện (tỷ USD) 2,4 2,5 2,6 2,8 3,3 4,1 8,0 11,5
Kiều hối (tỷ USD) 1,8 2,1 2,7 3,2 3,8 4,7 5,5 7,2
Giá USD (% thay đổi) 3,8 2,1 2,2 0,4 0,9 1,0 -0,3 6,3
Giá Vàng (% thay đổi) 5,0 19,4 26,6 11,7 11,3 27,2 27,3 6,8
Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục thống kê Việt Nam 2010
3.2.1.1 ng ư ng inh
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007 Trong đó, khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2% Trong 6,23% tăng trưởng chung của nền kinh tế, khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,68 điểm phần trăm, công nghiệp xây dựng đóng góp 2,65 điểm phần trăm và dịch vụ đóng góp 2,9 điểm phần trăm
Do tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới, mức tăng trưởng kinh tế năm
2008 thấp nhất kể từ năm 2001 đến 2008, điều này cho thấy môi trường kinh doanh năm 2008 không còn thuận lợi như các năm qua, gây ra nhiều khó khăn và trở ngại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp Bên cạnh đó công
ăn việc làm của người lao động trở nên không ổn định khi nền kinh tế tăng trưởng
Trang 40chậm Nhu cầu tiêu dùng trong nước có khả năng giảm vì người tiêu dùng thận trọng hơn trước những quyết định chi tiêu của mình
Bảng 3.3: Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 theo giá so sánh 1994
Ngành Tốc độ tăng so với năm trước (%) Đóng góp
của mỗi khu vực năm 2008 (%)
2006 2007 2008 Nông nghiệp 3,69 3,40 3,79 0,68
Lạm phát tăng cao đã làm cho chi phí của hầu hết các yếu tố đầu vào sản xuất của doanh nghiệp gia tăng Với mức sản xuất như cũ, doanh nghiệp phải mất nhiều chi phí hơn Buộc doanh nghiệp phải tăng giá sản phẩm của mình, từ đó giảm tính cạnh tranh của hàng hóa Mặt khác, việc lạm phát tăng cao cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước Giá cả của hầu hết các hàng hóa trong nước tăng cao buộc người tiêu dùng phải cân nhắc và suy xét cẩn thận trước những quyết định tiêu dùng của mình Bên cạnh đó, giá cả tăng tương đối so với hàng hóa nước ngoài
sẽ hạn chế phần nào nhu cầu của người nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu trong nước, ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng hơn đối với các doanh nghiệp không
có các hợp đồng mua bán dài hạn với nước ngoài