Tới nay, theo kết quả điều tra thỡ cỏc DNVVN đó tạo ra tổng sản phẩm chiếm gần 80% GDP, chiếm 79% lực lượng lai động của cả nước, gúp 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, chủ yếu là xuất khẩu g
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong cỏc nền kinh tế hiện nay, kể cả cỏc nền kinh tế phỏt triển, cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đều cú vai trũ hết sức quan trọng Nú khụng chỉ tạo ra một tỷ lệ GDP đỏng kể, mà cũn gúp phần tạo ra nhiều cụng
ăn việc làm cho xó hội, tận dụng và khai thỏc tốt cỏc tiềm năng và nguồn lực tại chỗ Vỡ vậy nhiều nước trờn thế giới đó cú chớnh sỏch hỗ trợ và phỏt triển cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ở nước ta, nhất là trong thời kỳ đổi mới và chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, cỏc DNVVN đó cú những bước phỏt triển nhanh chúng Tới nay, theo kết quả điều tra thỡ cỏc DNVVN đó tạo ra tổng sản phẩm chiếm gần 80% GDP, chiếm 79% lực lượng lai động của cả nước, gúp 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, chủ yếu là xuất khẩu gạo, thủy sản, cà phờ, chố… kết quả này cú được là do nhà nước ta đó nhận thức được vai trũ của cỏc doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong điều kiện phỏt triển kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa Từ đú nhà nước đó cú những chớnh sỏch ưu đói, hỗ trợ phỏt triển cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mặc dự vậy, trờn con đường phỏt triển của cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ cũn gặp rất nhiều khú khăn trở ngại: trỡnh đọ cụng nghệ sản xuất cũn lạc hậu, khả năng cạnh tranh trờn thị trường trong nước và quốc tế thấp, trỡnh độ quản
lý yếu kộm, khú khăn trong việc tiếp cận với cỏc nguồn vốn đầu tư…
Vậy, phải làm gỡ để khắc phục những khú khăn, vướng mắc của cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay? Cú rất nhiều cỏc giải phỏp để giải quyết những khú khăn và tồn đọng đú, giỳp cho cỏc DNVVN phỏt triển đỳng với tiềm năng và vị trớ của nú trong nền kinh tế thị trường Qua một thời gian nghiờn cứu tỡm kiếm tài liệu, em đó chọn đề tài: "Một số giải pháp huy
động vốn nhằm thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ"
Trang 3Trong phạm vi bài viết này em chỉ đề cập đến những khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn tại các DNVVN ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa
ra một số giải pháp huy động vốn để thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn tới
Mặc dù đã cố gắng thu thập tài liệu thông tin nhằm nghiên cứu và viết bài, nhưng do tầm hiểu biết và thu thập được còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Phần I Thực trạng vấn đề huy động vốn của
các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
i Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế việt nam
1 Khái niệm, vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
300 lao động Ở mỗi nước, người ta cú tiờu chớ riờng để xỏc định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mỡnh
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ -CP ngày 30/6/2009 của Chớnh phủ, Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở kinh doanh đó đăng ký kinh doanh theo quy định phỏp luật, được chia thành ba cấp: siờu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mụ tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xỏc định trong bảng cõn đối kế toỏn của doanh nghiệp) hoặc số lao động bỡnh quõn năm (tổng nguồn vốn là tiờu chớ ưu tiờn) Đối với những ngành khỏc nhau, tiờu chớ về vốn và lao động cũng khỏc nhau Cụ thể như sau:
Trang 5Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng
nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
Nông, lâm nghiệp
I.2 Vai trß cña Doanh nghiÖp võa vµ nhá:
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong thời gian qua có những bước tiến khá mạnh, đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội trong cả nước trên cả lĩnh vực kinh tế và xã hội
I.2.1 Về kinh tế
Thứ nhất, SME chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các Doanh nghiệp cả nước và xu thế gia tăng ngày càng mạnh mẽ Đối với các nước công nghiệp phát triển cao như Đức, Nhật Bản, Mỹ tỷ lệ DNN&V trong tổng số doanh
Trang 6nghiệp chiếm trên 98%; lao động trong khu vực DNN&V cũng chiếm tỷ lệ đáng kể, ở Đức và Nhật lần lượt là 55% và 70% DNN&V được coi là xương sống của sự phát triển kinh tế các quốc gia này Ở Việt Nam, Doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng gia tăng rõ rệt: DNNVV năm
2006 chiếm 97,2% và tăng lên 97,4% trong năm 2007, đặc biệt năm 2009 tỷ
lệ này đã tăng lên đến 98% tổng số các doanh nghiệp khu vực nhà nước, khu vực ngoài quốc doanh và khu vực vốn đầu tư nước ngoài (Nguồn: Tổng cục thống kê)
Những năm gần đây, trung bình ở Việt Nam mỗi năm có khoảng 40 đến
50 nghìn SMEs đăng ký họat động Hiện tại có khoảng hơn 380 nghìn SMEs
đã đăng ký và họat động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, và mục tiêu đến năm 2010 là 430 nghìn SMEs với tốc độ tăng trưởng trung bình 22% một năm
Nguồn:Tổng cục thống kê
Trang 7Nguồn: Tổng cục thống kê
Theo số liệu năm 2008 từ nguồn Tổng cục thống kê thì ở Khu vực nhà nước, 66,8% là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ; DNNVV chiếm 99% tổng số các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và 79,2% tổng số Doanh nghiệp vốn đầu
tư nước ngoài
Cũng năm 2008, số lượng SMEs tại khu vực ngoài quốc doanh với tỷ lệ 97% tổng số các DN vừa và nhỏ cả nước chứng tỏ hầu hết các DN khu vực ngoài quốc doanh ở Việt Nam hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thứ hai, SME đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tếvà các nguồn thu nói chung Ở Mỹ, các DNN&V đóng góp hơn một nửa GDP; 50%
ở Nhật Bản: 42% ở Indonesia: 38,9% ở Philippines… DNN&V tham gia hoạt động xuất khẩu và chiếm tỷ trọng dáng kể trong kinh nghạch xuất khẩu, từ 25%-40% Cụ thể: Đài Loan 55,9% kinh ngạch xuất khẩu trong công nghiệp; Singapore: 9,3% trong công nghiệp và 33,5% trong thương mại, Trung Quốc: DNN&V đóng góp khoảng 50% GDP, kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% kinh ngạch xuất khẩu cả nước
Trang 8Ở Việt Nam, theo đánh giá của Viện nghiên cứu và quản lý Trung ương, khu vực DNNVV đã đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân Hiện nay, DNNVV đóng góp khoảng 1/3 GDP của cả nước, 31% giá trị sản xuất công nghiệp; chiếm 78% mức bán lẻ của ngành thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa (nguồn: Tổng cục thống kê) Trong nhiều ngành sản xuất và dịch vụ khác các SMEs cũng chiếm một tỉ trọng đáng kể.DN VVN còn giữ vai trò “thanh giảm sóc cho nền kinh tế” Ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những “nhà thầu phụ” cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng “thầu phụ” tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định DNN&V là nơi đóng góp ngân sách lớn cho nhà nước (thông qua thuế) để nuôi bộ máy nhà nước, lực lượng vũ trang và cho đầu tư hạ tầng cơ sở của nền kinh tế, các khoản chi tiêu dịch vụ công phục vụ xã hội Tìm số liệu đóng góp NS
Thứ ba, hỗ trợ doanh nghiệp lớn và bảo đảm lượng hàng hóa tiêu dùng khá lớn cho xã hội: DNN&V phát triển trong các ngành công nghiệp thứ cấp
có thể bổ trợ các ngành công nghiệp lớn, cung cấp đầu vào cho các ngành này
và tạo sự cạnh tranh cần thiết để đẩy mạnh quá trình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trên toàn quốc
Do quy mô nhỏ và khả năng linh hoạt nên DNN&V có thể sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, máy móc thiết bị, công cụ và các linh kiện cần thiết cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, các ngành thủ công nghiệp
Thứ tư tạo dựng các “vườn ươm” tài năng kinh doanh và chuyển giao khoa học-công nghệ: Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào những nhà sáng lập ra chúng Các DNNVV phải luôn luôn thích nghi trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt Đó là sức
ép lớn buộc những nhà điều hành phải có tính linh họat cao, dám nghĩ, dám
Trang 9làm và chấp nhận sự mạo hiểm Từ đó, các DNNVV là cái “nôi” của các tài năng quản trị kinh doanh Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào sự có mặt của đội ngũ này, và chính đội ngũ này sẽ tạo ra một cơ cấu kinh tế năng động, linh hoạt phù hợp với thị trường.
Thứ năm, là trụ cột kinh tế địa phương Các DNNVV có mặt hầu hết ở các vùng, địa phương Chính điều này giúp cho doanh nghiệp tận dụng và khai thác nguồn lực tại chỗ Điều này có thể được chứng minh thông qua nguồn lực lao động trong các DNNVV ở Việt Nam: tính đến đầu năm 2008, DNNVV đã sử dụng gần ½ lực lượng sản xuất phi nông nghiệp (49%) trong
cả nước, và một số vùng nó đã sử dụng tuyệt đại đa số lực lượng này (nguồn: trang web Bộ tài chính Việt Nam) Ngoài lao động, các DNNVV sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguồn nguyên liệu trong vùng để phục
vụ sản xuất kinh doanh
Hơn nữa, việc tận dụng thế mạnh địa phương giúp các DNNVV góp phần giữ gìn và phát huy làng nghề truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc.Thứ sáu, giúp cho nên kinh tế năng động hơn Do lợi thế quy mô là vừa
và nhỏ năng động, linh họat, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với các hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
I.2.2 Về xã hội
Thứ nhất, SME là nơi t ạo nhiều việc làm cho người lao động Thực tế cho thấy, tòan bộ các DNNVV đặc biệt là các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm cho toàn bộ các lĩnh vực Theo số liệu nguồn Tổng cục thống kê Việt Nam, đến năm 2008 đã gần 4 triệu lao động làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tỷ trọng 47% lao động trên phạm vi cả nước Từ năm 2006 đến năm 2008, số lượng
Trang 10lao động có việc làm tăng trên 1 triệu lao động trong khu vực DN vừa và nhỏ đồng nghĩa với việc tăng từ 41% đến 47% lực lượng lao động cả nước.
Năm Số lao động làm việc tại SME
KV Nhà nước
KV ngoài quốc doanh
KV vốn đầu
tư nước ngoài
Ngoài ra, do đặc tính phân bố rải rác của chúng Các doanh nghiệp loại này thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là với các vùng sâu, vùng
xa, vùng chưa phát triển kinh tế, với các đối tượng lao động có trình độ tay nghề thấp Nhờ vậy chúng vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần giảm dòng người chuyển về thành phố tìm việc làm
Thứ hai, tăng thu nh ập, nâng cao mức sống cho lao động và đóng góp nguồn thu ngân sách.Từ năm 2006 đến 2008, tổng nộp ngân sách của doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên đáng kể, bên cạnh đó tỉ lệ nộp ngân sách cũng tăng lên từ 31% năm 2006 lên tới 43% năm 2008 (nguồn: Tổng cục Thống kê)
Trang 1160 nghỉn tỷ, 90 nghỡn tỷ và 127 nghỡn tỷ đồng là những con số ấn tượng của cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đúng gúp vào ngõn sỏch nhà nư ớc theo cỏc năm 2006, 2007 và 2008 (nguồn: Tổng cục Thống kờ).
2 Thực trạng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn hiện nay.
Cơ chế cạnh tranh của nền kinh tế thị trờng và tình hình khủng hoảng tài chính, kinh tế của các nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới đã có tác động,
ảnh hởng không nhỏ tới các Doanh nghiệp và làm cho các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở nớc ta bộc lộ những mặt hạn chế và gặp không ít các khó khăn như sau:
- Việc đầu t vào các lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất không bằng đầu
t vào các hoạt động kinh doanh, thơng mại, dịch vụ của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đây là mặt tồn tại trong thực trạng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạn chế phần nào vai trò của loại hình Doanh nghiệp này trong phát triển kinh
tế Điều đó còn phản ánh sự bất cập của chính sách vĩ mô, thiếu một chiến lợc phát triển kinh tế lâu dài Mặt khác do tình trạng hàng biên giới, hàng đã qua
sử dụng, hàng nhậph lậu tràn ngập trên thị trờng với giá rẻ cũng là rào cản việc thu hút các nhà đầu t trong nớc
- Trình độ công nghệ, trang thiết bị, máy móc vừa cũ, vừa lạc hậu lại không đồng bộ đã hạn chế rất lớn khả năng cạnh tranh của các Doanh nghiệp
và và nhỏ nớc ta
Trang 12- Lực lợng công nhân kỹ thuật và lao động lành nghề đợc đào tạo còn quá
ít, hạn chế cả trình độ hiểu biết lại biến động, nên việc quản lý và sử dụng lao
động vô cùng khó khăn, cộng với đội ngũ cán bộ thiếu kỹ năng quản lý dẫn
đến hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp vừa và nhỏ không cao, năng suất lao động thấp, thu nhập không ổn định
- Các chính sách vĩ mô, vi mô nhằm hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế, nặng về hình thức, thiếu hớng dẫn cụ thể nh chính sách đối với Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, chính sách vay vốn tín dụng với lãi suất u đãi nhằm giải quyết việc làm cho ngời lao động, các hệ thống thông tin, các dịch vụ t vấn về mặt hàng, thị trờng, công nghệ, thiết bị,m luật pháp, thông lệ quốc tế về kinh doanh không đáp ứng đợc các nhu cầu của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Những khó khăn phiền toái đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ xung quanh các thủ tục hải quan, thuế, nhà đất vẫn còn là nỗi lo lắng, băn khoăn của các Doanh nghiệp
- Cuối cùng là tình trạng thiếu vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đây là vấn đề đáng lo ngại nhất Đa số các Doanh nghiệp hiện không có đủ
điều kiện thế chấp theo yêu cầu của ngân hàng để vay vốn, tỷ trọng vốn vay ngân hàng của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ chiếm 20% nhu cầu vốn hoạt
động Nhìn chung các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đều dựa vào nguồn vốn tự có
là chính hoặc huy động từ nhân thân, bạn bè Việc các Doanh nghiệp vừa và nhỏ không sử dụng đợc nguồn vốn tín dụng là hạn chế lớn nhất đối với sự phát triển của loại hình Doanh nghiệp này
Những khú khăn của cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay, cú thể thấy qua cỏc con số sau đõy:
Năm 2011, do tỡnh hỡnh kinh tế khú khăn, giỏ nguyờn liệu đầu vào liờn tục tăng, sản phẩm tiờu thụ chậm, tồn kho nhiều, số DNNVV giải thể, ngừng hoạt động, phỏ sản tăng nhiều éiều này đặt ra cho cỏc bộ, ngành và địa phương cần cú những giải phỏp đồng bộ để thỏo gỡ khú khăn, tạo điều kiện
Trang 13thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh để DNNVV phát triển bền vững.
2.1 Chất chưa tương xứng với lượng
Theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, năm 2011, cả nước có 77.548 DN đăng ký thành lập mới, giảm 7,2% so năm 2010 Có 53.972 DN giải thể, ngừng hoạt động, tăng 24,3% so năm trước Riêng hai tháng đầu năm, có: 10.119 DN đăng ký thành lập mới với tổng số vốn 55.674 tỷ đồng; có 2.759 DN giải thể, ngừng hoạt động; 2.763 DN bị thu hồi giấy phép hoạt động Tính đến hết năm
2011, cả nước có 623.700 DN đăng ký hoạt động, hầu hết trong số này là DNNVV Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) Cao Sĩ Kiêm, hiện cả nước có gần 500 nghìn DNNVV, chiếm hơn 97% tổng số DN Các DNNVV tạo ra 45 đến 50% khối lượng hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đóng góp 20% cho ngân sách nhà nước, thu hút 56%
số lao động trong các DN Ðây là một trong những yếu tố đóng góp tích cực vào an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo bởi với tính linh hoạt, các DN này có thể đi vào tận các vùng, miền
Theo Sở Kế hoạch và Ðầu tư tỉnh Ðồng Nai, năm 2011, trên địa bàn tỉnh
có hơn 230 DNNVV phá sản, tác động tiêu cực tình hình sản xuất, chiến lược kinh doanh của gần 12 nghìn DNNVV đang hoạt động tại Ðồng Nai Ðến ngày 15-2-2012, Ðà Nẵng có 12.703 DNNVV đang hoạt động với tổng số vốn đăng ký 59.939 tỷ đồng, đóng góp gần 50% tổng thu ngân sách xã hội cho Ðà Nẵng, giải quyết hơn 80% việc làm mới Do tác động của lạm phát và suy giảm kinh tế, trong năm 2011 và hai tháng đầu năm 2012, Ðà Nẵng có 34
DN ngừng sản xuất, 330 DN giải thể và 944 DN không hoạt động, bỏ trụ sở, đóng mã số thuế Thực tế, số DN làm ăn ổn định và có tăng trưởng khoảng 10%, khoảng 70% gặp khó khăn, phải tạm dừng mở rộng hoặc thu hẹp sản xuất Còn tại Vĩnh Phúc, năm 2012, ước tính sẽ có từ 20 đến 25% số DN trên địa bàn phải ngừng hoạt động
Theo dự đoán của VINASME, năm 2012 này, các DNNVV vẫn tiếp tục
Trang 14gặp khó khăn hơn nữa Nhiều DN sẽ phải đình trệ, giải thể, phá sản Phần lớn những DN khó khăn sẽ thu hẹp sản xuất Ước tính chưa đầy đủ, khoảng 30%
số DNNVV có khả năng giải thể, đình trệ hoặc phá sản
2.2 Khó nhất là nguồn vốn
Khó khăn lớn nhất đối với các DNNVV là vốn Theo VINASME, có tới 80% số DNNVV có vốn điều lệ dưới bảy tỷ đồng Khoảng 90% số DN phải đi vay vốn ngân hàng Việc tự huy động vốn để đầu tư phát triển sản xuất là rất khó khăn do hầu hết các DN này không đủ tư cách, điều kiện để vay ngân hàng, hay tiếp cận các tổ chức tài chính quốc tế, càng khó tham gia vào thị trường vốn (chứng khoán, phát hành cổ phiếu ) Ngoài các lý do khiến các DNNVV không được hưởng các hỗ trợ tài chính tín dụng (do không có tài sản bảo đảm, không có phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi, hồ sơ vay vốn không hợp lệ ) thì có tới 48% số DNNVV bị ngân hàng từ chối cho vay vốn mà không rõ lý do Ðiều này cho thấy sự thiếu minh bạch và không thống nhất trong thủ tục, quyết định cho vay của các ngân hàng thương mại đối với các DN này
Ðối với việc bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, mặc dù Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành các quyết định liên quan việc thành lập và hoạt động của Quỹ, song theo đánh giá của
Bộ Tài chính, đến nay có rất ít địa phương ban hành quyết định thành lập quỹ, hơn nữa, các kết quả còn rất hạn chế do gặp nhiều khó khăn Tuy Chính phủ
đã thành lập một số quỹ như Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ, hỗ trợ xúc tiến đầu tư, phát triển HTX, hỗ trợ đầu tư phát triển nhưng có thể thấy các quỹ này đều là quỹ chuyên ngành, nhằm mục đích đẩy mạnh hoạt động của một ngành, lĩnh vực cụ thể Vì vậy, việc tiếp cận các quỹ này rất khó khăn do các DNNVV chưa phải là đối tượng thụ hưởng trực tiếp Việc thành lập Quỹ phát triển DNNVV là rất bức thiết
Trang 15nhưng đến nay vẫn chưa hình thành được.
2.3 Khó khăn về cơ chế, chính sách, nguồn nhân lực
Thời gian qua, Chính phủ ban hành nhiều chủ trương, cơ chế chính sách nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các DNNVV phát triển thông qua đơn giản hóa các thủ tục hành chính, thực hiện các chính sách, chương trình trợ giúp DNNVV nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận tài chính Các chính sách, chương trình trợ giúp đã được triển khai trên nhiều lĩnh vực (tài chính, mặt bằng sản xuất, công nghệ, xúc tiến, mở rộng thị trường, thông tin,
tư vấn, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ) và trong thời gian khá dài Tuy nhiên, theo đánh giá chung, hiệu quả của việc thực hiện các chính sách, chương trình chưa cao Một trong những lý do là các DNNVV thường gặp phải là khó khăn về tiếp cận mặt bằng sản xuất Cả nước có rất nhiều khu công nghiệp nhưng rất ít khu dành cho DNNVV Các nhà đầu tư thường ưu ái các DN lớn thuê với diện tích lớn Trong khi DNNVV nếu có vào cũng không hợp vì nhu cầu diện tích nhỏ, trong khi giá thuê lại quá đắt Do không có chương trình, chính sách hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh dành riêng cho DNNVV nên các DN này vẫn gặp nhiều khó khăn
Một ví dụ điển hình, ngành chế biến gỗ gần đây gặp nhiều khó khăn khiến nhiều công ty từ giữa năm 2011 đến nay phải hoạt động cầm chừng, thậm chí một số DN phải đóng cửa Ngoài ra, phần lớn các DNNVV Ðồng Nai gặp khó khăn thiếu mặt bằng để mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ hiện đại, tăng sức cạnh tranh của từng sản phẩm với các DN của nước ngoài Nhiều DNNVV đã đi các khu công nghiệp trên địa bàn Ðồng Nai, hoặc các nơi khác để tìm thuê đất nhưng chưa được Nếu thuê lại mặt bằng của các nhà đầu tư khác thì không đáp ứng được nhu cầu, vì chất lượng hạ tầng thấp, quy
mô nhà xưởng xây dựng sẵn không phù hợp thực tế sản xuất của DN Mặt khác, giá thuê mặt bằng, giá điện nước cao, làm tăng thêm gánh nặng cho chi
Trang 16phớ sản xuất, là rào cản cho những DNNVV muốn phỏt triển, mở rộng.
Chất lượng nguồn nhõn lực cũng là vấn đề khi mà lao động trong DNNVV vừa yếu lại thiếu Số lượng được đào tạo chỉ chiếm chưa đến 30% tổng số lao động Việc đào tạo chỉ mang tớnh thời vụ, trước mắt, chưa mang tớnh lõu dài Trỡnh độ quản lý, quản trị DN của lónh đạo cỏc DNNVV cũng cú vấn đề Về điểm này, ngay tại Việt Trỡ nhưng đơn vị rất khú khăn trong việc tuyển lao động phổ thụng vỡ đang cú tỡnh trạng "thừa thầy thiếu thợ" Hơn nữa, lao động phổ thụng thường xuyờn "nhảy việc", ớt gắn bú lõu dài với DN.Trỡnh độ khoa học - cụng nghệ và năng lực đổi mới trong cỏc DNNVV cũn hạn chế Số lượng cỏc DNNVV hoạt động trong lĩnh vực khoa học - cụng nghệ rất ớt
ii Tình hình huy động vốn của các doanhnghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
1 Khái niệm
Vốn nói chung đợc hiểu là một khoản tiền ban đầu hay số tài sản tích lũy thuộc sở hữu cá nhân hay một đơn vị, nó khác với khoản lợi nhuận và thu nhập phát sinh từ đó Nh vậy, theo nghĩa rộng thì vốn là những tài sản tích luỹ
đợc đóng vai trò là yếu tố đầu vào cảu quá trình sản xuất Theo quan niệm đó thì cả tài nguyên, đất đai, lao động, tri thức, tay nghề tinh xảo cũng đợc coi là vốn sản xuất Với quan niệm nh vậy nên trong quá trình liên doanh với nớc ngoài, phía Việt Nam góp đất vào kinh doanh cũng đợc coi là vốn
Theo nghĩa hẹp, vốn là một trong các nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất (bao gồm: Tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, công nghệ, quản lý) theo nghĩa đó, vốn nh là khoản tiền ứng trớc để mua máy móc, thiết bị, nhà xởng,
đất đai, thuê quản lý, mua nguyên vật liệu, thuê công nhân phục vụ quá trình sản xuất
Cỏch phõn loại nguồn vốn: Nguồn vốn được chia thành
•Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm:
Trang 17- Vốn gúp ban đầu
- Lợi nhuận khụng chia
- Tăng vốn bằng phỏt hành cổ phiếu mới
•Nguồn vốn nợ, bao gồm:
- Nguồn vốn tớn dụng ngõn hàng và tớn dụng thương mại
- Phỏt hành trỏi phiếu cụng ty
2 Thực trạng vấn đề huy động vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Khi chuyển sang cơ chế thị trờng, tình hình khá phổ biến ở hầu hết các Doanh nghiệp là tình trạng thiếu vốn Đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tình trạng thiếu vốn là một tất yếu không thể tránh khỏi Sự thiếu vốn còn do nhiều Doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh thấp, thậm chí có nơi có lúc không
có hiệu quả, làm cho vốn hao hụt, mất dần (ăn vào vốn), tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, nợ nần lòng vòng, dây da giữa các Doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế đang diễn ra rất nghiêm trọng Nhng đáng chú ý nhất là sự thiếu vốn t-
ơng đối đang diễn ra trên bình diện rộng và khá gay gắt Đó là những trờng hợp Doanh nghiệp có yêu cầu mở rộng kinh doanh hoặc yêu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao chất lợng sản phẩm, để có thể đứng vững trong cạnh tranh phát triển, nhng không có nguồn cung ứng vốn (vốn trong dân không huy động đợc, vốn ngân hàng cho vay rất hạn chế ở Hà Nội hiện tại chỉ có khoảng 5% Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh đợc vay vốn ngân hàng; 1,9% Doanh nghiệp vay vốn từ các hợp tác xã tín dụng Những cản trở ở tầm vĩ mô dẫn đến việc cung ứng vốn cho Doanh nghiệp hiện nay đang trở thành vấn đề bức xúc Mặt khác cha có thị trờng vốn dài hạn, thị trờng tài chính bảo đảm thu hút mọi nguồn vốn xã hội
để đáp ứng nhu cầu vốn của Doanh nghiệp
Khú khăn, ỏch tắc lớn nhất trong DNNVV hiện nay là vốn Chỉ cú 30% cỏc doanh nghiệp tiếp cận được vốn ngõn hàng nhưng chỉ vay được đến 30%
số vốn cần, khú khăn về thủ tục khiến cho nhiều doanh nghiệp khụng tiếp cận được nguồn vốn này Trong khi đú, tỡnh trạng chung của cỏc doanh nghiệp
Trang 18nhỏ và vừa là phải vay với 80 - 90% số vốn cần thụng qua ngõn hàng và cỏc
tổ chức tớn dụng lại bị khống chế bởi mức tăng tớn dụng năm nay (dưới 20%) chỉ bằng trờn một nửa số vốn bỡnh quõn nhiều năm qua
Ta có thể phân chia nguồn vốn cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ thành hai loại đó là: Nguồn vốn chủ sở hữu, vốn nợ Để cụ thể hơn cú thể đi vào xem xét thực trạng của Doanh nghiệp vừa và nhỏ với các nguồn vốn này:
2.1 Vốn chủ sở hữu:
Đối với mọi loại hỡnh doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu bao gồm cỏc bộ phận chủ yếu:
- Vốn gúp ban đầu
- Lợi nhuận khụng chia
- Tăng vốn bằng phỏt hành cổ phiếu mới
2.1.1 Vốn gúp ban đầu
Là loại vốn thờng đợc tạo ra từ vốn riêng của các nghiệp chủ vốn đóng góp của các cổ đông, bạn bè, họ hàng Nguồn vốn này chiếm khoảng 5 - 10% vốn luân chuyển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thực tế ta thấy hiện nay các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thờng sử dụng phần lớn nguồn vốn này vào việc kinh doanh chiếm khoảng 47,2% trên tổng
số vốn toàn Doanh nghiệp
Để huy động đợc nguồn vốn này, Doanh nghiệp đã gặp phải rất nhiều khó khăn:
- Do đặc điểm của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là ở chỗ ngời chủ Doanh nghiệp chỉ có phơng tiện tài chính ở một mức độ nhất định và họ không thể bỏ
ra nhiều hơn số vốn mà họ đã đóng góp vào Doanh nghiệp đợc
- Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thờng có công nghệ lạc, kinh doanh thua
lỗ là một cản trở cho các chủ Doanh nghiệp bỏ thêm vốn vào kinh doanh
- Môi trờng kinh doanh, môi trờng đầu t, chế độ pháp lý không ổn định cha khuyến khích tạo điều kiện cho các chủ Doanh nghiệp kinh doanh
Vì vậy mà nguồn vốn này cha đợc tận dụng một cách triệt để, lợng tiền
Trang 19“chÕt” vÉn n»m trong tói cña ngêi d©n kh¸ lín.
2.1.2 Lợi nhuận không chia
Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của donah nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là
bộ phận lựi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia – nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại (retained earnings), họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại
đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện đc nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu
tư Tuy nhiên đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các
cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần ( cổ tức) nhưng bù lại , họ có quyền
sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty
Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ Điều này một mặt, khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu tron gthowif kỳ trước mắt (ngắn hạn) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng khôn gđủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút
Trang 20Khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, chính sách phân phối cổ tức của công ty cổ phần phải lưu đến một số yếu tố có liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của thị giá cổ phiếu của công ty, tâm lý và đánh giá của công chúng về
Các Dn khi muốn phát hành chứng khoán ra công chúng thì phải nộp đơn đăng ký cho ủy ban chứng khoán nhà nước, ủy ban sau khi xem xét các điều kiện đầy đủ thì DN mới được phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) Theo luật hiện nay thì đk phát hành cổ phiếu là:
1 DN có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm ĐK chào bán từ 10 tỷVND trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán
2 Hoạt động KD của năm liền trước năm đk chào bán phải có lãi đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đk chào bán
3 Có phương án phát hành và phươngán sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được đại hội cổ đông thông qua
ĐK niêm yết cổ phiếu tại sở giao dịch chứng khoán( chú ý phân biệt giữa điều phát hành và điều kiện niêm yết)
1 là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80tỷ VND trở lên đối với sàn tpHCM và từ 10tỷ trở lên đối với sàn HN
Trang 212 Họa động KD 2 năm liền trước năm ĐK niêm yết phải có lãi và không
có lỗ lũy kế tính đến năm đk niêm yết
3 Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100
cổ đông nắm giữ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không đủ điều kiện niêm yết trên thị trường tập trung hiện nay nên họ không có khả năng tiếp cận thị trường này Theo kết quả thăm dò về ""Khả năng tham gia TTCK của doanh nghiệp vừa
và nhỏ"" của UBCKNN mới đây cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều muốn huy động vốn qua TTCK => Rất cần xây dựng một TTCK cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ( một thị trường cho các doanh nghiệp từ 5- 10
Vay vốn ngân hàng và các tiện ích
- Thủ tục Vay vốn ngân hàng thật đơn giản và nhanh gọn cùng lãi suất cạnh tranh
- Khoản vay lên đến 70% giá trị thẩm định tài sản
- Thời hạn vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
- Trả lãi ít hơn với phương pháp tính lãi theo số dư nợ giảm dần
- Loại tiền vay bằng đồng Việt Nam
- Tài sản bảo đảm: bất động sản thuộc sở hữu người vay vốn hoặc do bên
Trang 22Theo điều tra gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ có 1/3 DNVVN
có khả năng tiếp cận nguồn vốn NH, 1/3 khó tiếp cận và 1/3 không tiếp cận được Không ít DNVVN cho rằng, thủ tục các NH đặt ra là ‘quá sức’ đối với
họ Ngay cả khi có chính sách ưu đãi của Chính phủ cũng chỉ có 5-10% số DNVVN được vay
Thêm vào đó, lãi suất cho vay của các ngân hàng quá cao (có nơi lên tới 27%) và việc gia tăng các loại phí của các NH cũng đang ảnh hưởng rất lớn đến các DN thực sự cần vay vốn để sản xuất kinh doanh Không ít DN đã thu hẹp hoặc tạm dừng sản xuất vì không vay được vốn
Mặc dù tín dụng ngân hàng vẫn là kênh truyền thống được ưa chuộng, nhưng các DN cho rằng lạm phát và lãi suất cao, cộng với tỷ giá không ổn định và thắt chặt cho vay và hạn mức tín dụng quá khắt khe của các ngân hàng đang là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới khả năng huy động vốn của DN
Có tới 40% DN cho rằng khó khăn lớn nhất mà họ phải đối mặt là lãi suất và các loại phí đi vay quá cao, đồng thời, khó đáp ứng điều kiện cho vay của các nhà đầu tư hay bên cung ứng vốn
2.2.2 Phát hành trái phiếu công ty
Phát hành trái phiếu đang là kênh giúp nhiều DN huy động vốn hiệu quả,
Trang 23song kênh này vẫn chưa được nhiều DN quan tâm chú trọng Thông qua phát hành trái phiếu, DN có thể tránh bị pha loãng cổ phiếu, được hưởng ưu đãi thuế đối với vốn vay và giảm chi phí sử dụng vốn Đặc biệt, nếu phát hành trái phiếu chuyển đổi, DN chỉ phải trả mức lãi suất rất thấp, thậm chí là không phải trả lãi.
Về mặt dài hạn, DN vẫn có nhiều thuận lợi để tiếp cận vốn trên thị trường trái phiếu Do đó, cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước, trái phiếu sẽ ngày càng trở thành kênh huy động vốn hiệu quả và quan trọng đối với các DN quy mô lớn trong những năm tới đây
Lý giải nguyên nhân, thứ nhất, hệ thống hành lang pháp lý đối với hoạt động phát hành trái phiếu của DN đã được ban hành và đang dần hoàn thiện, giúp DN có cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp cận nguồn vốn trên TTCK Thứ hai, các chính sách khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển thị trường của Chính phủ, trong đó nổi bật là chính sách ổn định kinh tế vĩ mô hiện đang thực thi, được nhiều chuyên gia đánh giá cao và hy vọng đem lại hiệu quả tích cực trong thời gian tới Thứ ba, nhu cầu nắm giữ đa dạng các sản phẩm đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường ngày càng cao nhằm gia tăng lợi nhuận và hạn chế rủi ro Thứ tư, các NHTM và CTCK cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính giúp phân phối trái phiếu của DN đến tay nhà đầu tư một cách hiệu quả
Ngoài ra, sự tham gia tích cực của Hiệp hội thị trường trái phiếu (VBMA), các công ty tư vấn luật và công ty định hạng tín nhiệm, đang góp phần vào sự phát triển đúng hướng của thị trường, tạo cơ hội cho các DN tiếp cận hiệu quả thị trường trái phiếu
Giá trị trái phiếu đang lưu hành ước chừng khoảng 16 tỷ USD Lượng trái phiếu DN chiếm tỷ trọng nhỏ (10%), còn lại 90% là trái phiếu Chính phủ Thực tế đã chứng minh, DN phát hành trái phiếu phải xây dựng được nền tảng nhà đầu tư Thế nhưng, DN phát hành trái phiếu có nhiều nhà